Bài đăng trong tập "Trong ngần bóng gương"
Kỷ yếu mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi, nxb Tri thức, 2006

 

Nhân dịp mừng thọ GS Đặng Đình Áng 80 tuổi,

Tôi chỉ gặp GS Đặng Đình Áng có một lần, cách đây đã lâu lắm (có lẽ vào 1983?), cùng ăn cơm ở nhà học giả Hoàng Xuân Hãn ở Orsay, ngoại ô nam Paris; (mà hôm đó cũng có cả các GS Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu và các anh chị em trong Nhóm Toán của Hiệp hội khoa học và kỹ thuật ở Pháp). Chuyện trò làm quen, nhưng không có nhiều thì giờ để trao đổi với ông; tuy vậy lần gặp gỡ duy nhất ấy đã đủ để lại cho tôi một ấn tượng tốt, một thiện cảm lớn, nhất là "tiếng lành đồn xa" về ông, tôi đã được nghe từ nhiều năm trước. Sau đó, cũng có một vài lần ông có nhã ý gọi điện hoặc có thư từ hỏi thăm khi ghé qua Pháp. Hôm nay, góp phần mừng thọ ông 80 tuổi, tôi không viết về thân thế, về sự nghiệp, về tài năng, tài nghệ, về sở thích, vv. của ông, vì những cái đó, đã có bạn bè, đồng môn, đồng nghiệp, môn đệ của ông làm tốt hơn tôi. Tôi chỉ xin viết vài lời về Giáo dục Đào tạo. Tôi muốn được nói với ông: "Tôi không chắc là những ý của tôi – người sống ở xa – đã trùng hợp với những ý của Anh – người tại chỗ – nhưng tôi dám chắc rằng Anh đã nhiều năm trăn trở, cố gắng, vật lộn, để đóng góp hết sức mình với nền Giáo dục Đào tạo nuớc nhà. Chúc Anh đủ thì giờ để thấy những kết quả của cuộc chấn hưng – hay ít nhất là cuộc khởi đầu chấn hưng thực sự – của nền Giáo dục Đào tạo, vì đất nước ta có đủ tiềm năng vật chất và trí tuệ để làm việc đó, nếu có sự quyết tâm".

Bùi Trọng Liễu

Nguyên Giáo sư Đại học (Paris, Pháp)

 

Nói về Giáo dục Đào tạo

 

Tôi đã phát biểu những ý kiến của tôi về Giáo dục Đào tạo, đã từ mấy chục năm nay, ngay trước ngày hòa bình trở lại trên đất nước ta, thoạt tiên là qua những thư hoặc lời phát biểu điều trần tới các nhà lãnh đạo ở cái thuở mà còn rất ít người có điều kiện hoặc có ý muốn làm việc này; tiếp theo là những kiến nghị trên báo, trên sách và phương tiện truyền thông khác, khi thời thế đã cho phép, và tôi còn "lải nhải" nói đi nói lại mãi đến tận ngày nay. Hơn ba mươi năm là một thời gian rất dài trong một đời người –  giữa nàng Kiều và chàng Kim Trọng chỉ «mười lăm năm ấy" [mà đã] "biết bao nhiêu tình", huống hồ đây đã vượt quá hai lần "mười lăm năm" – tôi chẳng còn gì hoàn toàn mới mẻ để mà nói, trong đó có những ý khi mới được chớm thực hiện đã bị lái đi theo đường khác, có ý đã trở thành ý của người khác – một điều rất đáng mừng miễn là nó đừng bị lạc hướng trong thực hiện – có ý đã hòa đồng với ý của một tập thể, vv. Vậy ở đây, tôi xin được nhắc lại, với sự cập nhật ngôn ngữ và nội dung cho hợp với thời thượng, một số điều vẫn còn dang dở tuy đã nói đi nói lại nhiều lần.

 

I. Về mục tiêu của việc học

 

Về mục tiêu của việc học, khởi thủy tôi đã điều trần nội bộ, với những ý cứ luôn luôn ám ảnh tôi: đừng "cấm học" như một hình phạt; đừng dùng bằng cấp để thưởng công; nếu cần nâng đỡ các thành phần cơ bản thì chỉ nên tạo điều kiện thuận lợi (vật chất và "phụ đạo") cho việc học được dễ dàng, nhưng chớ nhân nhượng nếu không đủ trình độ; đừng dùng lý lịch gia đình để quyết định việc "cho phép" học hành. Nghĩ thì như vậy, nhưng phát biểu được ra thành lời, dù là nói bóng gió, đâu có phải là chuyện dễ. Mãi đến thời đổi mới, vào tháng 4/1987, giáo sư Phan Đình Diệu và tôi mới có dịp có viết chung một bài báo, với đầu đề là "Góp ý kiến về việc học", đăng trên báo Tổ Quốc số tháng 11/1987, rồi báo Nhân Dân đăng ngày 27/12/1987 và báo Tuổi Trẻ đăng ngày 29/11/1987. Tôi muốn nhắc lại đây mấy ý về việc học trong bài báo đó:

1.- Mục tiêu thứ nhất là tạo lập một cơ sở tri thức, văn hoá cho con người và xã hội.

a/ "Học" là một đòi hỏi của xã hội, bởi vì một xã hội tiến bộ chỉ có thể là tập hợp của những con người có trình độ hiểu biết cao.

b/ "Học" là một nhu cầu tri thức của mỗi cá nhân: nhu cầu đó cần được đáp ứng vì nó dựa trên quyền được hiểu biết của mỗi người.

2.- Mục tiêu thứ nhì là việc đào tạo chuyên môn nghề nghiệp:

a/ Đào tạo chuyên môn nghề nghiệp để đáp ứng cho các khu vực sản xuất, kinh tế, hành chính và cho các hoạt động xã hội khác của đất nước.

b/ Cho mỗi cá nhân một (hay những) chuyên môn nghề nghiệp, để mưu cuộc sống (và để thực hiện vai trò của mình trong chỗ đứng của mình trong xã hội).

Hai mục tiêu đó tạm gọi tắt là mục tiêu "kiến thức" và mục tiêu "nghề nghiệp" quan hệ với nhau, nhưng phải được phân biệt, và không nên xem  là đồng nhất.

Thu ấy, chúng tôi cũng đã nhấn mạnh:

1.- Trong sự phát triển của một nước, trình độ văn hoá, khả năng học hỏi và sự hiểu biết chung của quần chúng, cũng như của lãnh đạo, đóng một vai trò quan trọng, chứ vấn đề không chỉ phụ thuộc vào có bao nhiêu kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, vv. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, yêu cầu hiểu biết chung để trở thành một người "có văn hoá", một xã hội "có văn hoá" càng ngày càng cao.

2.- Không thể tách rời trình độ đào tạo nghề nghiệp trong một nước ra khỏi trình độ chung của thế giới: thời đại hiện nay là thời đại của trao đổi, phân công, cạnh tranh. Cần phân biệt tư tưởng "không ỷ lại" với tư tưởng sai lầm "tự cấp, tự túc" đưa đến việc đóng cửa và dàn đều ở một trình độ thấp, chất lượng kém. Trong đào tạo nghề nghiệp ngày nay, cũng như trong vấn đề sản xuất, cần có lựa chọn trọng điểm, trọng tâm và bảo đảm chất lượng cao.

3.- Phải phân biệt giữa ba vấn đề: học, học vị và vị trí nghề nghiệp trong xã hội. Mặc dù ba vấn đề đó liên quan mật thiết với nhau, không thể lẫn lộn hoặc để nhập nhằng rằng cứ học là sẽ có học vị, cứ có học vị là sẽ có vị trí nghề nghiệp. Nếu không thì học vị sẽ không đánh giá đúng trình độ hiểu biết, và vị trí nghề nghiệp sẽ không tương xứng với thực lực. Và từ đó sẽ xảy ra sự hỗn loạn trong phát triển và sử dụng trí tuệ. Sự hỗn loạn đó sẽ có những hậu quả rất lâu dài, kéo theo những hỗn loạn khác trong kinh tế, luân lý, xã hội, văn hoá, vv.

            Ngày nay, đọc lại mấy dòng viết đó, tôi không thấy là thừa, và dường như vẫn còn mang tính thời sự. Vì vậy mà gần đây, tôi còn cố phát biểu tiếp về "Một nền giáo dục đào tạo lành mạnh" (Thời Báo Kinh tế Sài gòn đăng một phần ngày 16/2/2006, Tia Sáng đăng ngày 20/2/2006) như sau:

Một vế trong vấn đề phát triển bền vững là phải có một nền Giáo dục đào tạo (GDĐT) "lành mạnh". Điều này đã đem ra bàn cãi nhiều rồi, và hầu như đã được sự đồng thuận, bởi vì trong thời đại xã hội tri thức và thông tin này, trong khung cảnh toàn cầu hóa mà sự cạnh tranh luôn luôn hiện diện, "trình độ biết việc" và "giá trị của tay nghề" càng ngày càng là những tiêu chuẩn phân định trong cuộc chạy đua kiếm khách mua hàng, và hơn thế nữa, bao trùm lên cả vấn đề kinh tế, sự cạnh tranh toàn cầu còn là sự tranh đua của bản thân các xã hội. Nhưng thế nào là "lành mạnh"?

Theo tôi, nói tóm tắt, một nền GDĐT "lành mạnh" là: một nền GDĐT có sứ mạng rõ rệt, mang mục tiêu khả thi, trung thực, mang tính khoa học, phân minh, bảo đảm được hiệu quả ích lợi cho đất nước, bảo đảm được sự công bằng cho mọi thành viên trong xã hội , vv.

Vì giới hạn của câu chữ, tôi chỉ xin nêu vài nét chính với thí dụ minh họa tập trung vào nền Giáo dục đại học:

Sứ mạng của đại học là gì, và tại sao ở mức độ đó, giảng dạy lại phải gắn liền với nghiên cứu khoa học? (Tôi dùng từ "đại học" theo nghĩa tôi vẫn dùng từ trước đến nay, nghĩa là bao trùm cả cái gọi là "sau đại học" nữa, như Luật giáo dục 1/1/2006 rốt cục đã công nhận trong điều 4.d/ chương I).  Nói vắn tắt bằng một câu: sứ mạng của đại học là mở rộng biên thùy của sự hiểu biết, mang sự hiểu biết (đã, đang và sẽ có được) vào cuộc sống; do đó từ nghiên cứu cơ bản, tìm cách chuyển sang nghiên cứu ứng dụng, rồi sau đó tìm cách đưa vào sử dụng đại trà (thí dụ như khâu công nghệ của một số ngành, có liên kết với các doanh nghiệp), song song với sự chuyển giao hiểu biết. Từ sứ mạng đó, mới định ra mục tiêu, qui chế, mới phân biệt phần kiến thức cơ bản và phần đào tạo nghề nghiệp, mới đưa những phương tiện tài chính và vật chất vào để thực hiện, mới tính toán sao cho cân đối ngành nghề hợp với nhu cầu, mới phân chia vai trò của công lập và tư lập, vv. Sức mạnh của các nước phát triển cao hiện nay chính nhờ ở quan niệm đại học như vậy, dựa trên cơ sở một niềm tin lành mạnh vào khoa học. Nó khác xa với một quan niệm về một nền đại học nào đó tồn tại trong một số người Việt Nam, kiểu: "đại học" là nơi nhắm đào tạo ra những "danh nhân", mà thời thịnh thì giúp vua trị dân, thời suy thì vinh thân phì gia; thậm chí ngày nay còn có ý đòi hỏi nơi đó phải là nơi có những phương tiện đồ sộ, và tụ tập những nhân vật có chức danh cao quí (!), nhưng mục tiêu thì lu mờ. Nguy cơ vụng sử dụng sẽ là: để tự tồn tại, một số nhân vật phải bày ra những công trình nghiên cứu để chứng minh sự cần thiết của mình, và rồi chuyển giao sự hiểu biết về những phát minh vô bổ của mình cho những sinh viên chen đua vào học để có bằng cấp nhắm kiếm được một địa vị xã hội, và rồi cứ quay vòng như vậy… Một quan niệm sai lạc như vậy không thể tạo ra những con người "biết việc" và những "tay nghề có giá trị" cần thiết cho sự phát triển.       

 

II. Về đào tạo người

 

Gắn liền với mục tiêu của việc học là vấn đề đào tạo con người. Trong bài báo "Về ý muốn đào tạo nhân tài"  đăng trên Tia Sáng số tháng 9/2004 – sau khi bày tỏ sự dè dặt của tôi đối với một định nghĩa nào đó về "nhân tài"  khá thông dụng ở một số người: họ đánh đồng "nhân tài" với người có bằng cấp cao, thật hay giả – tôi có viết:

Tôi thiết tưởng một nền giáo dục đào tạo (GDĐT) "hay"  cho một xã hội "bình thường" – ở đây, "bình thường" không phải là "tầm thường", mà nghĩa là "lành mạnh" – là giáo dục được những con người "bình thường" thành những công dân "bình thường", đào tạo họ thành những con ngưòi "biết việc", đảm nhiệm tốt những công việc "bình thường". Trong một xã hội bình thường như vậy, lương đủ sống làm cho ai cũng đảm nhiệm công việc của mình, không phải làm thêm để kiếm của; xã hội ổn định, nên con người không phải lo tích lũy riêng cho mình, rồi cho con mình, rồi cho cháu mình một cách vô tận; giàu nghèo không chênh lệch quá đáng cho nên tình người tồn tại, vv. Trong xã hội bình thường đó, bằng cấp đánh giá đúng được trình độ hiểu biết, chức danh phù hợp với nhiệm vụ, luật pháp cho phép và bảo đảm cho những người làm ăn lương thiện phát huy được tài năng của họ, và nhân tài t đó mà có. Trong một xã hội bình thường đó, ngành nghề nào cần được tăng cường thì chỉ cần tăng số sinh viên, số người học nghề, số nghiên cứu sinh, và trang bị thêm phương tiện cho ngành đó, mà chẳng cần bàn luận dài dằng dặc về trình độ nào, hạch xát như thế nào, tính số năm dài ngắn như  thế nào, để có được nhân tài. Ngược lại, một nền GDĐT «dở", là một nền GDĐT chỉ nhắm khuyến khích con người nuôi dưỡng ý tưởng trở thành những danh nhân bản xứ, danh nhân sở tại… Tôi thiết tưởng ngày nay, đất nước không thể thịnh vượng hơn nếu chỉ cứ  nhắm tăng số anh hùng được bàu, tăng các kỳ thi đua  (bởi vì cao thấp cũng chỉ là tương đối, "trong nhà nhất mẹ nhì con"), nếu chỉ qui định rằng đang ở chức vụ này thì phải có bằng cấp kia (bởi vì người ta sẽ tìm cách mua bán bằng cấp, giả mạo trong thi cử, dối trá trong việc làm luận văn, rồi sinh ra đạo văn, đạo ý, đạo ngôn, …), nếu chỉ nhắm nhng tiêu chí kiểu bao nhiêu trường, bao nhiêu thày, bao nhiêu trò, bao nhiêu năm (bởi vì sẽ rơi vào cái cảnh nói dối theo thống kê, chạy theo thành tích). Và người ta dùng mọi biện pháp, thường là bất chính, để có được mảnh bằng để rồi tranh giành nhau để lấy địa vị xã hội, để ăn trên ngồi trốc.

Từ một số năm trước, đã thấy manh nha xuất hiện một số hiện tượng không bình thường, và tôi đã có lời can, trước là bằng con đường nội bộ, sau là trên mặt báo như trong các bài báo: "Một Viện Hàn lâm khoa học lúc này ở Việt Nam?", Nông nghiệp Việt Nam 29/11/2001 (để can hư danh); "Bán hàm», Nông nghiệp Việt Nam 15/4/2002, và "Vài phô trương không cần thiết", Nông nghiệp Việt Nam 16/5/2002 (để can đng tôn vinh danh hiệu hão (1)); "Trình tự đảo lộn", Tia Sáng số tháng 7/2002, (can cách làm phi lý: bổ nhiệm vào chức vụ trước rồi mới tổ chức cho "học" và "thi lấy bằng sau"; điều này cũng đã có người nói trước tôi: một nhà giáo dục có phát biểu trong một bài báo cái ý là ngày xưa "thi rồi mới cử" còn ngày nay thì "cử rồi mới thi"), "Vài điểm về tổ chức giáo dục đại học nhìn từ ngoài", Nhân Dân 1/12/1999 và Tia Sáng số 12/1999 (nhắc lại sự mong mỏi của tôi được thấy giáo sư đại học là một "chức vụ"  như các nước vẫn thường làm, chứ không phải là một "hàm" phong để vinh danh, nghĩa là tôi mong mỏi trở lại với cái ý mà tôi điều trần từ năm 1975 với Thủ tướng Chính phủ thuở đó). Nói, nhưng chắc gì đã có người nghe thấy.

 

III. Một lối ra

 

Nhận xét tình hình rồi, mà không đề nghị biện pháp, thì e rằng chỉ hoàn toàn là phiếm luận. Vì thế nên một câu hỏi đáng được chú ý là: trong một xã hội đã "trót không bình thường"  như ở ta, thì giải pháp trong cấp bách phải là gì?

Tôi thiết tưởng, nói gọn vài nét, cái "hướng"  chung phải là: nghiêm phạt những sự gian lận (như cấm thi mươi năm đối với những học sinh quay cóp; có hình án đối với những người tổ chức gian mạo; cất chức những người bao che; truy tố kẻ mạo danh). Những việc ấy sẽ không làm xáo trộn xã hội, mà ngược lại sẽ góp phần mang lại ổn định. Tất nhiên, nói thì dễ, làm thì khó, nhất là trong một số xã hội nơi hạ giới này, thường có một giới thần tiên. Để cho rõ ý, tôi xin kể một giai thoại làm ví dụ: có lời đồn về ông Shah Mohammed Shah Aga Khan (1877-1957), imam (giáo chủ) thứ 48 của cộng đồng Hồi giáo Ismaeli – một cộng đồng một thời khá thịnh ở vùng Pakistan thuở xưa, sau tản mát ở nhiều nước. Nghe kể: Ông rất thích uống rượu sâm banh. Có người hỏi ông rằng: "Đạo Hồi cấm uống rượu, sao Ngài lại uống?». Ông trả lời: "Khi Ta bưng cốc rượu lên đến miệng, thì nó biến thành nước, nên Ta uống được không sao" ! Nếu thật vậy thì ông đúng là thần tiên linh thiêng nơi hạ giới, nên thoát khỏi những qui định. Trở lại lĩnh vực GDĐT, tôi thiết tưởng ít nhất nhà cầm quyền cũng có thể răn đe nghiêm cấm "người trần tục" để cho sự phạm pháp đừng trở thành nhởn nhơ đại trà.

Về cách tổ chức, trong tình hình hiện tại rất phức tạp, không đồng đều và đôi khi tự phát của ngành GDĐT của nước ta, một cuộc chấn hưng "toàn bộ"  tất khó thực hiện được. Do đó, xin nhắc lại một trong những kiến nghị của tôi trong thời gian qua là lập ra một [vài] cơ sở đại học công lập hoàn toàn "mới", cỡ nhỏ, đa khoa, không cần đủ các ngành, nhưng đủ các "cấp"  kể cả cấp đào tạo qua nghiên cứu (tiến sĩ), để có sức quản lý cho tốt để làm gương. Đồng thời cứ để cho các đại học khác tiếp tục tồn tại, dù là công lập, dân lập hay tư lập, kệ họ phát triển tốt, hoặc lay lắt, hoặc biến đi, miễn là đừng đi lệch hướng. Việc lập ra những cơ sở mới bên cạnh những cơ sở cũ (đang tồn tại nhưng không đáp ứng được hết những yêu cầu của thời đại) cũng là chuyện đã xảy ra từ thuở xưa đến nay ở nước khác. Do đó, không nên tiến hành cải cách bằng việc đổ ồ ạt những phương tiện vào những cơ sở cũ ghép lại cho có vẻ đồ sộ, (dù cho có cài một vài tính cách "cho là mới" vào đó), vì như vậy là vừa tốn kém vừa ít hiệu quả (như kinh nghiệm cách đây hơn mười năm đã cho thấy, điều mà tôi đã hết sức can thuở đó: rất tốn kém mà không mang lại hiệu quả mong đợi, cứ sai rồi sửa, rồi càng sửa càng sai). Việc lập ra một [vài] đại học nhỏ, nhưng hoàn toàn "mới"  như kể trên, hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế "bình thường", mang tính cách «hoa tiêu"  ("đại học hoa tiêu»), chính là cách tiến hành cuộc chấn hưng có hiệu quả, mà không làm cho các thành phần liên quan bị "hãi". Theo tôi, đó là con đường nhanh nhất, rẻ nhất, thực tế nhất, dẫn tới chấn hưng GDĐT của đất nước. Ý này, nay hình như may mắn đã trở thành ý của một số người khác; nhưng về cách tiến hành thì sự khác biệt khá xa. Theo kinh nghiệm của bản thân, ở nước tôi định cư – và tôi có nhắc lại ý này trong bài báo Tiền Phong đăng ngày 14/10/2005 (2) – tôi nghĩ rằng lẽ ra nên trao việc thực hiện cho một người "đặc nhiệm" (tiếng Pháp gọi là  "chargé de mission"), trong một thời gian có hạn, được toàn quyền lựa chọn thành viên hội đồng khoa học và đồng thời là ban trị sự: họ có nhiệm vụ thành lập cơ sở hành chính và vật chất, soạn thảo văn bản xác định sứ mạng mục tiêu của trường, tuyển chọn nhà giáo đợt đầu, thành lập các ban soạn lập chương trình giảng dạy, tuyển sinh đợt đầu, vv. Nhiệm vụ ngắn hạn của người "đặc nhiệm" và cộng tác viên làm tăng tính cách "vô tư" của họ. Sau đó, chính đội ngũ nhà giáo được tuyển sẽ tự bầu ra các hội đồng, các ban của trường cho các đợt tiếp theo. Lúc đầu thì tầm cỡ khiêm tốn, cứ lẳng lặng mà tiến hành (sau này sẽ khuếch trương), như vậy tránh được sự đố kị; đó là cách làm của "nhà nghèo" mà muốn được việc (ngay nước tôi định cư cũng không dám tự coi là tiền của vô hạn !). Cách làm kể trên khác với cách làm dự án đồ sộ, đất đai rộng, nhà cửa to, ngân quĩ lớn, dễ gây ganh tị, cản trở, "ném vỏ chuối", vì tiền bạc trên thực tế cũng có hạn, mà ai cũng muốn hưởng. Tiếc rằng khuynh hướng chính thức và của một số người  thì lại khác: lập ban trù bị đầy đủ đại diện cả mọi cơ quan, thành phần, ai cũng được hỏi ý và góp ý, người trong nước rồi người ngoài nước  – "[mới] ba người [mà đã] mười ý", e khó tránh được cảnh "đẽo cày giữa đường": khúc gỗ để đẽo cày, trở thành mảnh gỗ gọt cái chìa vôi, rồi teo thành miếng gỗ vót cái tăm xỉa răng). Nhưng là một người đã nghỉ hưu, định cư ở xa, tôi chẳng có cách nào khác là chỉ bộc bạch ý nghĩ của mình mà thôi, kèm theo lời thành thực chúc thành công cho những dự án đồ sộ, nếu mà thực hiện được mà không lãng phí thì tôi mừng cho đất nước quá.

 

IV. Những điều khó hiểu về cách học cách dạy

 

            Từ một khoảng thời gian nay, tôi thấy nhiều thông tin về việc học và dạy quá tải ở mọi cấp trong nước, kể cả tiểu học, về cách học vẹt, về cách thày đọc trò ghi, vv. Thú thật là có những điều tôi không hiểu. Nếu có nơi nào ở hạ giới này mà còn một giới thần tiên, thì tất nơi ấy phải có Thánh kinh, mà người trần tục nơi đó phải học. Đã là Thánh kinh, thì không có chuyện lô-gíc, chỉ có chuyện tin (hay giả bộ tin), và phải học thuộc lòng, vẹt hay không, không có chuyện hiểu hay không hiểu, sáng tạo hay không sáng tạo. Vậy thì hãy tạm gác ra một bên câu chuyện học Thánh kinh, mà chỉ nói để những môn học "trần tục".

Ch viết của ta ngày nay là chữ viết theo kiểu chữ cái (alphabet) la-tinh; chữ viết chủ yếu lại theo âm đọc. Tôi nhớ thuở trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945 mấy năm, với phong trào "Truyền bá quốc ngữ" rồi "Bình dân học vụ", những người lớn tuổi mù chữ, đầu óc đã "cứng", cũng chỉ học ba bốn tháng là đọc được viết được. Có một thứ chữ quốc ngữ như ngày nay, là một ưu thế lớn, không phải như thứ chữ Nho mà tổ tiên ta học mượn viết nhờ trong gần một nghìn năm, cũng không phải như thứ chữ Nôm, va khó học vừa "bất nhất" (chưa thành lối chữ nhất định), như tôi có dịp tỏ ý trong bài "Thoáng nghĩ về chữ Nho»,  Nông nghiệp Việt Nam số Tết Nhâm Ngọ 2002 và Tia Sáng số Xuân tháng 2/2002.

Vì vậy, có lẽ phải tìm nguyên nhân những bất cập kể trên ở các môn học, các chương trình học, cách tổ chức học và cách dạy học như tôi đã có dịp viết trong bài "Kỹ thuật giết rồng", Tia Sáng tháng 2/2003 (3) – đó là câu chuyện ngụ ngôn cổ kể việc có người bỏ ngàn vàng đi học nhiều năm thông thạo kỹ thuật giết rồng, rồi không biết tìm đâu ra rồng để mà giết; người xưa dùng chuyện đó để chê việc học những điều vô ích. Về cách học trọng sự bóng bảy bề ngoài trong khi nội dung rỗng tuếch, thì đã nhiều người nói tới, tôi xin bỏ không nhắc lại.  Ở đây tôi muốn đặt "kỹ thuật giết rồng" trong khung cảnh tương quan giữa mục tiêu đào tạo và nội dung việc học, không chỉ bao gồm các môn học không cần thiết cho xã hội, mà còn bao gồm cả quan niệm sai lệch về mức độ hiểu biết cho từng loại tuổi, từng loại người, học thừa để bị hiểu thiếu, đánh giá cao thấp không đúng mức, vv.  Ngày nay, nền kinh tế của nước ta là kinh tế thị trường (dù có định hướng) trong một khung cảnh toàn cầu hóa, GDĐT cần phù hợp với những mục tiêu "cao cả" đặt ra cho toàn xã hội. Mặt khác, trong sự đánh giá lợi hại, cũng nên tránh rơi vào sự cực đoan. Loài người tiến triển được, chính là ở sự biết chuyển giao kinh nghiệm, hiểu biết. Được hưởng những hiểu biết của các thế hệ trước, người thế hệ sau tự đó mới cải tiến và phát minh ra những cái mới và tiến lên thêm trong sự hiểu biết, để rồi truyền đạt lại cho các thế hệ sau nữa. Cho nên đặc biệt đối với tuổi niên thiếu, nên coi đó là tuổi còn phải học tập, chưa phải là lúc sáng kiến, phát minh. Chưa học xong cái mà người ta đã biết, mà đã đòi sáng chế ra cái mới, đó chỉ là cách nhìn của những người không biết. Tất nhiên là không nên học "thuộc mà không hiểu"; nhưng "hiểu mà không thuộc" thì cái hiểu đó cũng chỉ thoáng trong chốc lát rồi bay đi, rồi chỉ để lại cái đầu rỗng tuếch. Cũng liên tưởng đến ví dụ cách đây một số năm, ở một số nước, vài nhà giáo viện lẽ chế biến ra một thứ phương pháp sư phạm "mới", ngăn chặn không cho trẻ em học thuộc lòng: mà một trong những hệ quả là trẻ em không thuộc bản(g) cửu chương; rồi người ta ngạc nhiên là trẻ em không biết làm tính. Hoặc họ đem dạy trẻ em các phép tính cộng trừ nhân chia trong hệ 2,3,4,..., 9 vv., chứ không chỉ trong hệ 10. Cũng lạ. Cùng lắm thì dạy phép tính trong hệ 2 còn có lý do để nói rằng để hiểu phương pháp máy tính, chứ trẻ em học như thế kia để làm gì, khi chưa đến tuổi để hấp thụ được một cách có hiệu quả, mà chỉ có khả năng lặp lại một cách máy móc như những động vật làm xiếc? Mấy người đó giải thích là dạy như vậy để trẻ em sớm tập luyện có óc sáng kiến trở thành nhà nghiên cứu sau này. Nhưng có người vặn lại rằng: trong số học sinh đi học, cùng lắm là độ 1 phần 100 sau này sẽ đi vào nghiên cứu, vậy mà bắt 100 phần 100 học như vậy từ lúc còn thơ;  nếu lý luận theo kiểu đó thì: gần 100 phần 100 trẻ em sau này khi đến tuổi trưởng thành sẽ "làm ái tình", không lẽ đem trẻ sáu, bảy tuổi dạy cho chúng thực tập "làm ái tình"  từ bây giờ sao? Nói tóm lại, là tôi rất hãi mục tiêu đồ sộ, nhắm thành tích hoàng tráng, mà rồi hóa ra đầu voi đuôi chuột. Thà cứ khiêm tốn, liệu cơm mà gắp mắm, có khi rốt cục cũng chẳng thua kém thiên hạ nhiều lắm.

 

V. Công lập và ngoài công lập

 

Ở đây, tôi không có ý nhắc lại câu chuyện cũ – việc tôi gợi ý với năm nhà khoa học trong nước đứng ra xin thành lập Trung tâm đại học "dân lập" Thăng Long năm 1988, có kể trong (3) – tôi cũng không muốn nhắc lại những ý kiến của tôi về giáo dục công lập và giáo dục tư lập nói chung (vì tôi đã viết trong những bài như «Vài suy nghĩ về “công học” và “tư học”" đăng trên Tuần Tin Tức 10/4/1993 và Quê hương tháng 7/1993) (4). Nay vì có vấn đề thời sự, tôi muốn gợi lại một đoạn đề cập đến trường công trường tư trong bài của tôi "Giáo dục đại học: Những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng", cho Hội thảo Đà Nẵng: 28-30/7/2005, và đăng trên báo mạng "Thời Đại Mới" số tháng 11-2005: http://www.thoidai.org/ThoiDai6/200506_BTLieu.htm,  nội dung tóm tắt như sau:  

Hiện nay, một số người nêu những câu hỏi, loại "Có hay không có thị trường giáo dục? Có thể coi giáo dục như hàng hóa không? Với kinh tế thị trường, các nước tiên tiến giải quyết vấn đề GDĐT như thế nào? vv.». Tất nhiên câu trả lời rất phức tạp bởi vì các từ sử dụng phải được hiểu theo nghĩa nào? Thí dụ như: ở nước tiên tiến nào, kinh tế thị trường nào và mục tiêu GDĐT nào? vv.

Rồi để diễn tả ý tưởng, tôi nêu trong bài đó hai "kiểu" tổ chức khá khác nhau, bởi phần nào chúng có thể "điển hình" cho hai "triết lý" về GDĐT trong một xã hội tư bản áp dụng kinh tế thị trường: Mỹ và Pháp. (Tôi không nêu thí dụ các nước khác, vì nói chung, chúng cũng na ná như một trong hai trường hợp dẫn trên). Nói tóm một cách sơ lược, một đằng là nước liên bang, mỗi bang rộng quyền cũng gần như một nước; một đằng là nước có chính quyền tập trung.  Một đằng là kinh tế thị trường tự do, một đằng là kinh tế thị trường phần nào có điều khiển. Một đằng (Mỹ) có nhiều cơ sở giáo dục tư (theo nghĩa không chịu sự quản lý của chính quyền về mặt tài chính, trong khi công lập hưởng một phần sự tài trợ từ ngân sách của chính quyền địa phương hay trung ương, nhưng theo một nguồn, tỉ số công tư ở đại học cũng chỉ khoảng: công lập 77%, tư lập 23%); một đằng (Pháp) thì giáo dục chủ yếu là công lập, nhà nước trợ cấp tài chính nên người đi học trả học phí ít, vì lẽ dân chúng cho rằng tiền bạc của nhà nước là do của cải chung của nhân dân, người dân đóng góp trả thuế, cho nên nhà nước phải gánh GDĐT. Nhưng dù ở Mỹ hay ở Pháp, nói chung, công hay tư, các cơ sở giáo dục đều không có mục đích kinh doanh, chúng hoạt động "không vụ lợi", chúng không phải là những công ty với cổ đông hưởng lợi nhuận. Lợi nhuận nếu có –  thí dụ như do những hợp đồng ký và thực hiện với các doanh nghiệp, hoặc các của cải, như bất động sản do những nhà hảo tâm biếu tặng có thể đầu tư sinh lời –  đều được sử dụng vào việc trang trải các kinh phí và trang bị nghiên cứu hoặc phát triển trường. Trên mặt này, có thể nói là cả hai nơi đều không coi GDĐT là một thứ hàng hóa mua bán kiếm lời. Thêm vào đó, mục tiêu GDĐT của hai nước này không khác nhau mấy, thí dụ như trong Giáo dục đại học không đặt vấn đề "đào tạo nhân tài", mà nhằm trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản nghiêm túc và, ngay từ đó hay sau đó, mang lại cho họ những kỹ thuật nghề nghiệp vững chãi để đi vào thị trường lao động. Tài năng được nảy nở hay không là ở lúc đã vào đời: tài năng cho phép cá nhân có đường tiến thân, đồng thời tài năng được phát huy cũng góp phần làm cho xã hội phồn vinh. Nó khác xa với việc kinh doanh giáo dục, "thuận mua vừa bán" bằng cấp và danh hiệu (hậu quả đương nhiên của việc mở trường vung vãi mà không có đủ một đội ngũ nhà giáo đủ tiêu chuẩn, dựa trên việc tính số lượng mà không tính chất lượng, với những lý luận kỳ dị là cứ có cầu – cầu của người muốn có bằng cấp – thì phải có cung), vv. Nhắc lại tóm tắt như vậy, chứ ở đây, tôi không nhắc lại chi tiết những điều đã viết trong bài đã dẫn.

Tôi chỉ muốn nói thêm: Cụm từ "xã hội hóa" giáo dục hiện đang dùng ở ta là một cụm từ khó hiểu đối với tôi. Ở những nước khác, khi các thành phần của xã hội ngoài chính quyền (phụ huynh học sinh, giới doanh nghiệp, công đoàn,…) "tham gia" vào vấn đề GDĐT, thì là để nói lên những yêu cầu làm lợi ích chung cho xã hội – thí dụ như nhu cầu của doanh nghiệp là như thế nào; chương trình học nên như thế nào để phù hợp với đòi hỏi của xã hội; những giải pháp nào là hợp lý hay những giải pháp nào là phi lý  để bảo vệ trình độ giảng dạy và để có được những bảo đảm tối thiểu về vật chất trường sở, vv. – chứ không phải là chỉ để chuyển gánh nặng tài chính mà Nhà nước "nhường" lên vai người công dân (phải trả học phí nặng, phải cung đốn đủ thứ nhu cầu, từ trường sở cho đến trang thiết bị, sách giáo khoa, vv.). Người công dân đóng thuế cho ngân quĩ nhà nước, vậy ngân quĩ đó dùng để làm gì, nếu mọi chi phí trong cuộc sống, đặc biệt là trong GDĐT, người công dân phải tự cáng hết? Và hình thức giáo dục nào, công lập (nghiêm chỉnh) hay "ngoài công lập" công bằng hơn, và có hiệu quả để giải quyết đối với vấn đề giàu nghèo?

Để kết luận, về GDĐT, nếu không mau chóng chấn hưng thực sự, tôi e rằng đang và sẽ tồn tại trong xã hội ta, một loại người có điều kiện thuận lợi thì "các thủ sở nhu" (được hưởng hết thảy những thức mình cần dùng), trong khi những tầng lớp khác thì "các tận sở năng" (làm cho hết những việc mà tài sức mình làm được).

 

Chú thích:

 

(1) Trong một môi trường GDĐT không lành mạnh, sự "trí trá" tất nhiên phát triển. Có mấy loại: có những người gian lận bằng cấp để có địa vị xã hội; có những người đã có địa vị và danh vọng rồi, thì tiếm xưng để làm oai – như xưng bằng cấp tiến sỹ hạng nặng, chức vụ giáo sư, danh hiệu viện sĩ, vv. mà thực ra họ không có ở nước ngoài, nhất là khi không khí "vọng ngoại" đè rất nặng. Nhưng môi trường kể trên cũng là đất dụng võ cho những "rốn nhân" huêng hoang. (Tôi dịch "nombriliste" –tiếng Pháp nghĩa là người coi mình là "cái rốn", cái trung tâm, của vũ trụ – thành "rốn nhân", tôi dịch ngây ngô nửa ch nửa nôm, cho hợp với khung cảnh). Mới đây, lại xuất hiện một số bài báo, có cả văn tế, thơ phú, chê bai những "tiến sĩ giấy", cụm từ mà các tác giả, với thiện chí, dùng để chỉ những tiến sĩ bằng thật, học giả. Nhưng tôi nghĩ là hơi oan cho "tiến sĩ giấy thật" (nghĩa là những hình nộm bày làm đồ chơi ngày tết trung thu thuở xưa như mấy câu thơTam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến tả:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai,

…………….

Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi !

Oan, bởi vì "tiến sĩ giấy thật" mang lại giải trí chốc lát, nhưng không có khả năng để lại những kết quả có tai họa: không vì chức vụ mà lấy những quyết định ngớ ngẩn, không vì nghiệp vụ mà chuyển giao nhng hiểu biết sai, không có khả năng sản xuất ra những đồng loại mà hậu quả có thể kéo dài nhiều thế hệ.

 

(2) Bài báo này, tôi viết dưới đầu đề "Thành lập một đại học mới", nhưng Tòa soạn của báo, đầy thiện ý, đã tự họ chọn đầu đề «Xây dựng ĐH đẳng cấp quốc tế: Không nên vá víu", có lẽ cho phù hợp với đợt bài và tên gọi thời thượng. Riêng tôi thì nghĩ rằng "đẳng cấp quốc tế" là một thực tế đạt được hay không đạt được, không phải là một nhãn hiệu do mình có thể t phong. Nếu muốn, chỉ có thể áp dụng cách giảng dạy, chương trình học tập, vv. theo nhng tiêu chuẩn quốc tế thường thấy.

 

(3) "Tự sự của người xa quê hương" (Chuyện gia đình và ngoài đời) , Bùi Trọng Liễu, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004. 

 

(4) Có thể tìm thấy các bài báo dẫn trong bài viết này trong các cuốn sách của tôi: "Chung quanh việc Học", nxb Thanh niên, Hà Nội 2004; "Học gần Học xa" , nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.