Phần trình bày của nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại William
Joiner Center (Boston, Massachusetts, Mỹ)
Tôi viết về những người cam chịu lịch sử
Bùi Ngọc Tấn
Tôi
muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính
xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh
một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các
cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham
gia chiến tranh bằng việc đi tù.
Lịch sử một đất nước, một dân tộc thường
được biết đến như lịch sử những cuộc chiến
tranh. Lịch sử Việt Nam càng chứng tỏ điều
ấy. Những cuộc chiến tranh chống phong kiến
phương Bắc (Trung Hoa), những cuộc chiến
tranh với Chiêm Thành, và những cuộc chiến
tranh “mở mang bờ cõi”. Đó là chưa kể những
cuộc nội chiến như Trịnh - Nguyễn phân tranh
kéo dài bao nhiêu năm tháng.
Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã
trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh
chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ,
chiến tranh chống Pôn Pôt (Pol Pot) ở biên
giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc
ở biên giới phía Bắc.
Chiến tranh đã kết thúc trên 30 năm, đã lùi
xa. Đã được tổng kết, sẽ còn được các bên
tham chiến tiếp tục tổng kết. Tổng kết và
vinh danh những người đã ngã xuống. Nước Mỹ
dựng bức tường Việt Nam, ghi tên hơn 5 vạn
binh sĩ hy sinh. Và ở Việt Nam, biết bao đơn
vị anh hùng, cá nhân anh hùng đã được tuyên
dương...
Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến
tranh, chính xác hơn là nói đến những người
tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa
từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết,
các buổi hội thảo, những người tham gia
chiến tranh bằng việc đi tù. Những người
đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh
mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với
kinh nghiệm sống trong một đất nước liên
tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu
chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ
nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù.
Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và
Nguyễn Chí Thiện tại cầu Golden Gate, San
Francisco tháng 5/2009. Ảnh: Đàn Chim Việt
Trong chiến tranh, việc gìn giữ hậu phương
là vô cùng quan trọng. Hậu phương là gốc rễ,
là cội nguồn, là căn cứ bảo đảm sống còn cho
tiền tuyến, cho chiến đấu và chiến thắng.
Khẩu hiệu: Dù phải đốt cháy dẫy Trường Sơn
cũng vẫn chiến đấu tới thắng lợi hoàn toàn
đã thể hiện rõ quyết tâm của miền Bắc giành
chiến thắng bằng bất kỳ giá nào. Sự có mặt
của 50 vạn sĩ quan và binh lính Mỹ cùng quân
đội các nước đồng minh như Nam Triều Tiên,
Úc,... tại miền Nam Việt Nam đã đẩy miền Bắc
Việt Nam vào những năm tháng cực kỳ gay go
gian khổ: Dốc toàn bộ nhân lực, vật lực, hy
sinh tất cả cho cuộc chiến.
Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền
Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu
phương. Những người đã từng cộng tác với
Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu
lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản,
những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp,
du thủ du thực,... tóm lại tất cả những gì
là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê
của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập
trung cải tạo và đó được coi là một biện
pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý
nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả
vào mục tiêu chung.

Tác giả và Nguyễn Chí Thiện
trước tượng đài Joseph Baerman Strauss,
cầu Golden Gate, San Francisco tháng 5/2009.
Ảnh: Đàn Chim Việt
Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được
quên những người đó. Họ đã góp phần vào
chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự
đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!
Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là
sự tự hào nhục nhã.
Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.
Lịch sử phải viết về họ.
Văn học phải viết về họ.
Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan
điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn
được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel
văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10
tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ:
“Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể
phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta
phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không
anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của
mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường
với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi
anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là
nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ.
Nhưng sự im lặng của một người tù không quen
biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong
nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng
thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc
quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt
lên để không quên sự im lặng đó và làm cho
nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ
thuật.”
Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm
bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.
Cuộc đời sáng tác của tôi chia ra làm 2 thời
kỳ.
1)
Thời kỳ đầu tiên: Từ năm 1954 tới tháng
11 năm 1968, nghĩa là từ lúc bắt đầu nghề
viết văn tới khi tôi bị bắt đưa đi tập trung
cải tạo.
Trong thời kỳ này, những sáng tác của tôi
đều ca ngợi con người mới cuộc sống mới, ca
ngợi Đảng Cộng Sản Việt Nam, ca ngợi những
người làm ra lịch sử. 14 năm đầu tiên, tôi
viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ
nghĩa, mô tả cuộc sống dưới sự lãnh đạo của
Đảng, đang phát triển, đang đi lên, một xã
hội không có bi kịch như nhà thơ Tố Hữu,
người lãnh đạo văn nghệ Việt Nam đã khẳng
định.
2) Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1990 tới nay.
Đây là thời gian tôi viết về những người cam
chịu lịch sử, về những thân phận bé nhỏ, về
những người cố gắng tồn tại giữa những bánh
xe của lịch sử, đặc biệt là những phận người
rơi vào thảm cảnh tù đầy, những người chịu
sự khinh bỉ của xã hội.
Về hai thời kỳ này của tôi, nhà phê bình văn
học Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn Học VN) đã có
một cái nhìn tổng thể như sau:
Năm 1995, sau 27 năm bị ngắt tiếng, “bị văng
ra ngoài quỹ đạo”, Bùi Ngọc Tấn đã từ một
hiện thực khác trở về. Và văn ông bây giờ là
nói về một hiện thực khác và từ một hiện
thực khác mà nhìn lại. Viết hồi ức, chân
dung, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật
chính trên các trang văn của Bùi Ngọc Tấn là
chính ông và những người bạn cùng thế hệ
được soi chiếu từ hai phía của một khoảng
thời gian đã thành vạch phân cách đời người
đời văn: 5 năm (1968 - 1973). Con dấu đóng
giáp lai văn nghiệp Bùi Ngọc Tấn mang số
hiệu CR 880
(CR 880 là số tù của tôi - BNT).
Thời kỳ viết văn thứ hai tới nay, tôi đã
công bố hai tập truyện ngắn, hai tập hồi ký
và hai quyển tiểu thuyết.
Những truyện ngắn của tôi đều viết về “những
người cam chịu lịch sử”:
Một người có công với cách mạng bị nghi vấn,
tất cả bạn bè đều xa lánh anh ta. Quấn quít
trung thành với anh ta chỉ còn một con chó.
Một chị gái điếm chuyên phục vụ đám ăn mày.
Một anh tù bị giải đi trong một ô xà lim bịt
kín trên xe com măng ca, trên một quãng
đường 30 km nhưng từ sáng đến tối mới tới
nơi, cực kỳ hoang mang vì những người áp tải
thỉnh thoảng lại dừng lại để bắn chim mà anh
ta không biết vì sao.
Một anh tù đi họp hội trường, gặp lại thầy
cũ bạn cũ, từ dưới đáy xã hội, anh ta trở
lại bậc thang học giỏi nhất lớp của mình.
Nhưng khi cuộc họp mặt vừa tan, anh ta đã
trở về vị trí “phó người” trong xã hội.
Một giám đốc bị bắt oan, vào tù bị “đầu gấu”
đánh đập và bắt khoả thân đứng làm Nữ thần
Tự Do, khao khát được như những người khác
là chăn và giữ mấy con kiến trong một vòng
tròn trên nền buồng giam nhưng không được
“đại bàng” cho phép. Chỉ đến khi ra tù ông
mới có thể thực hiện khát vọng ấy:
Cài trái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra
một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến, thả lũ
kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên
bàn. Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những
các vidit (có rất nhiều - trong ngăn kéo của
khách và của ông) chặn chúng lại. Thỉnh
thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc.
Và khoả thân trên ghế. Đứng thẳng. Mắt hướng
về phía xa. Tay giơ cao. Như nữ thần Tự Do.
Tôi xin phép được nói một chút về quyển tiểu
thuyết Chuyện Kể Năm 2000 của tôi. Đó là bộ
tiểu thuyết của đời tôi, bộ tiểu thuyết mang
đậm chất tự sự của tôi. Chuyện một nhà báo
đồng thời là một người viết văn mang tên
Nguyễn Văn Tuấn bị bắt tập trung cải tạo
trong thời gian chiến tranh chống Mỹ (1968
-1973).
Cuộc sống trong tù của anh ta không có gì
đáng nói ngoài nỗi đau ê ẩm gặm nhấm tim
anh. Đó là một chuỗi dài những ngày xam xám,
nhờ nhờ, bợt bạt. Như thứ ánh sáng lọt qua
lỗ thông hơi vào xà lim những buổi chiều tà.
Anh tù mười ngày cũng như anh tù mười năm.
Một hiện tượng buồn thảm lặp đi lặp lại.
Cuộc sống tẻ nhạt đơn điệu càng đơn điệu, tẻ
nhạt vì không ai tin ai. Người tù này nhìn
người tù khác bàng con mắt nghi ngờ. Ai cũng
có thể là ăng ten, là chỉ điểm. Không ai cởi
mở cùng ai. Bụng cứ liền rốn. Mỗi người là
một vòng tròn khép kín. Thật khó viết. Rất
dễ nhạt. Tôi cố gắng vượt qua khó khăn ấy,
nói lên điều ghê sợ ấy trong cuốn tiểu
thuyết của tôi. Nó bàng bạc khắp trong quyển
truyện.
Rất khó cho tôi khi muốn kể lại nội dung
Chuyện Kể Năm 2000. Đây là một cuốn tiểu
thuyết không có cốt chuyện, chỉ có thể trực
tiếp đọc nó. Đây là những cuộc đời bất hạnh
tồn tại bên nhau, mỗi người mang một nỗi
niềm riêng, một hoàn cảnh riêng, một lý do
riêng để đến với nhà tù. Nhưng nội hàm của
nó rộng hơn nhiều. Đằng sau các nhà tù, là
cả một xã hội thời chiến tranh gian khổ khó
khăn, thiếu thốn. Là cách quản lý xã hội
thời chiến trong những ngày gay go ác liệt
nhất, nghĩa là một nền chuyên chính vô sản
được nâng lên một cấp độ mới. Bị nghi có
những tuyên truyền chống Đảng Cộng Sản, nhà
văn, nhà báo Nguyễn Văn Tuấn bị biệt giam xà
lim, rồi lê chân hết nhà tù này đến nhà tù
khác. Gần 5 năm sau, Tuấn được tha, không
kết án, không buộc tội. Cuộc sống hậu tù của
Tuấn gay go không kém những ngày sống trong
tù. Nhất là khi ông trưởng công an quận gọi
anh ta ra đồn, tuyên bố thẳng:
- Chúng tôi không cho anh đi làm. Tôi đã chỉ
thị cho tiểu khu rồi. Tiểu khu không cấp
giấy cho anh.
Sống dưới đáy xã hội, Tuấn nghiền ngẫm công
lao của hắn đã đi tù để góp vào chiến thắng,
và âm thầm giữ trong lòng nỗi “tự hào nhục
nhã” của mình. Hắn có những thói quen mới:
Ngồi ở đâu cũng cố ngồi thu nhỏ lại, gãi
tai, nói chuyện với ai cũng gãi tai, kể cả
nói chuyện với con, và không thể nào quên
được những ngày tù tội. Thế rồi
“điều khủng
khiếp nhất đã đến với hắn suốt một thời gian
dài sau đó. Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như
gặp lại bạn tù cũ. Nhìn những người trên
đường, hắn giật mình: “Quái nhỉ, ở trại nào
nhỉ. Quen quá. Không biết đã gặp ở đâu rồi.
Được về bao giờ nhỉ”.
Đó là một cảm giác kỳ lạ. Hắn luôn gặp những
khuôn mặt tù quen quen. Những khuôn mặt tù
ngờ ngợ. Không biết ở trại nào. Hẳn họ cũng
như hắn. Mới được ra trại. Thoạt đầu hắn cho
là hắn mắc bệnh quên. Trí nhớ hắn suy giảm,
nên hắn không nhớ được những người bạn tù
ấy. Nhưng rồi hắn giật mình: “Chẳng lẽ nhiều
người đi tù về đến thế? Đất nước lắm người
đi tù đến thế?”
Và hắn hoảng lên: “Mình hỏng mất rồi! Đầu óc
mình hỏng mất rồi!”
Cùng với Tuấn là già Đô, một Việt kiều sống
tại Pháp, bỏ cả người vợ Pháp và cô con gái
nhỏ, nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc về Việt
Nam, xây dựng đất nước. Già bị tập trung cải
tạo vì đã thẳng thắn đấu tranh với cấp trên,
và khi bị đuổi việc lại mắc thêm một sai lầm
nữa: Đấu tranh theo kiểu Pháp. Ngồi ngay ở
cổng xí nghiệp, tay cầm một miếng gỗ dán
vuông, có cọc cắm, trên miếng gỗ dán già
viết dòng chữ: “Phản đối giám đốc xí nghiệp
vô cớ sa thải công nhân.” Đó là một hình
thức đấu tranh không thể chấp nhận trong chế
độ xã hội chủ nghĩa. Thế là già vào tù. Khi
được tự do, già về nhà Tuấn đã ra tù trước
già một năm. Hơn hai chục năm già mới lại
được sống trong không khí một gia đình, mới
được ôm một đứa trẻ vào lòng. Già gặp con
Tuấn, một đứa bé lên năm (cũng trạc tuổi cô
con gái bé bỏng của già bên Pháp khi già về
Viêt Nam).
“Già bế bé lên, hít mùi thơm của đứa trẻ.
Trong giây lát già tưởng như mình đang ở Mác
xây (Marseille) hai mươi năm trước. Ôi! Mùi
của trẻ thơ. Già nhận ngay ra nó. Đã mấy
chục năm già vẫn nhận ngay ra nó. Dù ở Địa
Trung Hải hay ven Thái Bình Dương thì cũng
giống nhau cả mà thôi.”
Không chỗ nương thân, không còn con đường
kiếm sống, già viết đơn xin trở lại nhà tù
nhưng không được giải quyết. Già đi ăn cắp
với hy vọng được tập trung cải tạo lần thứ
hai, nhưng không ai bỏ tù già. Thật là thất
bại thảm hại. Già vào mậu dịch vét thức ăn
thừa, già đi bới rác. Và già chết cô đơn
trong một ngôi đình hoang vắng.
Quyển tiểu thuyết của tôi có Giang Văn
Giang, con trai một liệt sĩ anh dũng hy sinh
thời chống Pháp, trở thành trẻ bụi, ăn cắp,
đánh nhau, được đưa vào trường Kim Đồng, nơi
học tập cải tạo các thiếu niên hư hỏng.
Nhưng chính tại đây, từ chỗ chỉ quen biết
một số bạn phố Bờ Sông, Giang đã quen hầu
hết bọn thiếu niên hư trong thành phố và lại
đi tù tiếp.
Còn có Sáng một thanh niên nông thôn, bị
chính quyền xã ghét đưa đi tập trung cải
tạo, 5 lần vượt ngục đều không thoát.
Còn có Nguyễn Văn Phố, một chiến sĩ quân báo
của quân đội cách mạng, bị tình nghi là gián
điệp cho Mỹ, tù 18 năm với câu nói thản
nhiên làm Tuấn rợn người:
- Tôi đi tù năm vợ tôi 33 tuổi, năm nay vợ
tôi 51 tuổi rồi.
Còn có Chí Lồng Sếnh, một anh tù người dân
tộc, gần như không nói, không cười, chỉ im
lặng lao động, bỗng một đêm nằm trong buồng
giam, nghe tiếng nai gộ ngoài thung lũng,
trở mình nằm sấp, nhìn ra bìa rừng ánh trăng
bàng bạc, nói một mình:
- Con nai về ăn lá sắn non đấy.
Nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con, làng bản chỉ gói
gọn trong một câu ngắn ngủi ấy.
Còn có Nguỵ Như Cần tù hơn hai mươi năm,
trông ao cá, một người sống giữa rừng đã gần
biến thành cây cỏ.
Tôi không tra tấn độc giả bằng những cảnh
đời xám xịt u tối tuyệt vọng suốt 800 trang
sách. Theo sự đánh giá của đông đảo độc giả,
Chuyện kể năm 2000 còn là quyển tiểu thuyết
của tình yêu, tình yêu con người và tình yêu
đôi lứa. Tôi đã cố gắng diễn đạt tình thương
giữa những người tù trong những trang viết
về Tuấn và Giang, về già Đô với Tuấn, về món
quà tặng của Lê Bá Di cho Tuấn: Một bãi phân
trâu. Cũng như tôi đã nói lên được phần nào
tình bạn giữa Tuấn và những người cùng nghề
nghiệp văn chương như Lê Bàn, Vũ Mạc, Lê
Bình...
Và tình yêu giữa Tuấn và Ngọc, một tình yêu
chỉ có trong những năm xã hội tốt đẹp sau
chiến thắng chống Pháp 1954 với những đôi
trai gái lãng mạn nồng nhiệt đắm say. Đây là
ngày Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 của họ:
Quốc khánh mùng 2 tháng 9, dậy từ lúc thành
phố còn đang ngủ. Náo nức. Đứng ở cửa chờ
Ngọc. Nhìn sang cánh cửa bên kia đường vẫn
khép. Rồi nàng mở cửa nhẹ nhàng bước ra. áo
dài trắng, quần trắng, đồng phục của trường
đi đón ngày quốc khánh. Hai đứa nắm tay nhau
đi trên đường phố vắng tanh. Không một bóng
người. Như thành phố dành riêng cho ta. Vẫn
chưa thể quen được với ý nghĩ mình có cả một
người con gái để mình yêu quý. Có tên của
người ấy để mình lên tiếng gọi. Cám ơn về
tình em yêu anh. Cám ơn mẹ cha, mẹ cha sinh
em ngày ấy để cho anh mười chín năm sau đó.
Để bây giờ em là của anh. Để em đi bên anh
và để anh yêu. Đi đâu bây giờ em? Còn sớm
quá. Em dịu dàng và tinh khiết như bầu trời
đêm trước lúc rạng đông này. Phố Tô Hiến
Thành trong mơ. Ra tới phố Huế vẫn là trong
mơ. Tay trong tay đi mãi trong phố vắng. Kia
rồi một cửa hàng vừa mở. Mình và Ngọc là
những người đầu tiên bước vào hiệu. Uống cà
phê sữa. Nhìn nhau. Rồi chia tay khi trời
rạng sáng. Nàng đi tới trường. Mình đến Ba
Đình trong khối các cơ quan trung ương.
Buổi trưa nàng lại sang. Nàng đã tắm gội,
tươi tắn lạ thường. Đến chiều hai đứa ra bờ
hồ Hoàn Kiếm, tìm một chỗ ngồi từ lúc mặt
trời vừa lặn để xí một chỗ cho đến tối. Để
bảo đảm được nhìn thấy pháo hoa trên hồ.
Những chùm pháo hoa trên bầu trời mịn như
nhung có lẽ là những gì đẹp nhất, kỳ ảo nhất
mà con người sáng tạo ra. Mình vừa ngước
nhìn pháo hoa vừa quay lại nhìn nàng. Nàng
mở to mắt nhìn trời. Cặp mắt nàng, gương mặt
nàng với bao mầu sắc của pháo hoa ngày hội
lướt qua. Nàng còn kỳ diệu hơn, xinh đẹp hơn
mọi chùm pháo hoa đẹp nhất.
Và đây cuộc sống của họ sau khi kết hôn:
Ngồi bên giấy trắng. Một hạnh phúc tuyệt
vời. Ngọn đèn chiếu một ô sáng. Cẩn thận
hơn, hắn lấy một tờ báo, khoanh thành cái bù
đài, úp chụp xuống để khỏi làm chói mắt vợ
con đang nằm trong màn. Khi vợ con hắn đi
nằm là lúc hắn ngồi bên giấy trắng.
(...)
Ngày đi làm, đêm hắn viết. Hắn có thói quen
thức khuya. Hạnh phúc là được thức khuya
trong yên lặng. Hạnh phúc là những dòng chữ
kín từng trang. Là bóng tối mờ mờ trong
phòng, và ở một góc buồng, màn buông, tiếng
vợ con thở nhẹ nhàng trong giấc ngủ. Hạnh
phúc là lúc đêm khuya cặm cụi, bỗng cảm thấy
có người đứng sau lưng. Buông bút. Ngả người
trên ghế, đầu đã chạm ngay vào ngực vợ. Linh
cảm không nhầm.
Nàng đứng sau lưng tự bao giờ. Nàng đứng im
lặng nhìn mình làm việc. Nàng đưa tay ép nhẹ
đầu mình vào ngực nàng. Đầy đặn. ấm. Mềm.
Mình dụi đầu vào đó và ngước mắt nhìn lên,
thấy rõ dưới cằm nàng có một vết sẹo nhỏ,
chỉ nhìn từ góc độ ấy mới thấy, vết sẹo khi
nàng còn bé tí, bị vập vào miệng chum nước.
Đứng phía sau, nàng ấp hai tay vào cằm mình,
thì thào:
- Đói không?
Gật đầu. Thế là hai vợ chồng khoá trái cửa,
để con ngủ trong màn, đi ăn phở khuya. Ông
hàng phở Ngã Bẩy quen.
Bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của tôi
được nhà Xuất bản Thanh Niên, cơ quan của
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản VN in,
chưa phát hành đã có quyết định cấm, bị thu
hồi tiêu huỷ. Nhưng nó vẫn được in chui hàng
năm ròng sau đó với số lượng mà hiện nay
chưa thể thống kê được (chỉ riêng một người
bán sách ở Hà Nội cũng đã bán 1000 bộ) cũng
như đã được đưa lên mạng để in và phát hành
ở nước ngoài. Ngay lập tức quyển tiểu thuyết
đã gây chấn động, trở thành sách bán chạy
nhất dù phải bán chui ở trong nước và best
seller trong cộng đồng người Việt ở nước
ngoài. Theo chỗ tác giả của nó được biết ở
Canada, nhà xuất bản Thời Mới (Toronto) in 3
lần liên tiếp. Tác giả đã trông thấy 5 bản
in khác nhau của 5 nhà xuất bản ở Mỹ. Tại
Đức, có 2 bản in khác nhau. Tất cả các báo
của cộng đồng người Việt trên các lục địa
đều đăng tải dưới hình thức feuilleton. Đài
BBC đã để ra 3 tháng đọc Chuyện kể năm 2000.
Tôi đã nhận được hàng nghìn bức thư chia sẻ
của những người Việt Nam và cả những người
ngoại quốc từ các lục địa Châu Âu, châu Mỹ,
châu úc và châu á. Tạp chí PEN International
của Hội Văn bút Quốc tế đã trích đăng một
chương. Tác giả của nó được vinh dự là hội
viên danh dự của Hội Văn Bút Quốc tế và hội
viên danh dự Hội Văn Bút Canada. Biết bao
bạn đọc trong nước, ngoài nước đã đến với
tôi. Họ cám ơn tôi và nói rằng tôi đã nói
giúp họ những điều họ hằng suy nghĩ nhưng
không nói được. Trong buổi tôi nói chuyện ở
Viện Goethe Hà Nội, nhiều bạn đọc cảm động,
khóc nức nở không nói được nên lời. Nhà phê
bình văn học Phạm Xuân Nguyên viết:
Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu.
Hình như đây là kết quả của sự kết hợp bản
tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau
những gì đã xẩy đến với ông, nếu văn ông có
giọng cay độc, chua chát cũng là điều dễ
hiểu. Nhưng không! Ngay cả sự trầm tĩnh đôn
hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng
mình, tỏ vẻ. Ông đưa lại cho người đọc những
dòng văn tự nhiên dung dị, khi những oan
trái khổ đau lặn vào sau câu chữ làm nên sức
nặng, chiều sâu của những điều được viết ra.
Một giọng điệu văn chương làm người đọc hiểu
ông, tin ông, đồng cảm với ông và cùng ông
đồng cảm với những phận người, những kiếp
bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là
chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật
của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả
của những điều ông viết ra. Đó là văn chương
của sự thật (...)
Ông đã gánh cây thập ác đi trọn con đường
trần ai của mình.
Không vứt xuống.
Không chạy trốn.
Không gục ngã.
Không dừng bước.
Và dẫu không là Chúa, ông đã được phục sinh.
Còn đây là những đánh giá của nhà văn Nguyên
Ngọc:
“(...) Bùi Ngọc Tấn đã đi xa hơn được rất
nhiều việc mô tả một tấn bi kịch cá nhân,
thậm chí một bi kịch của chế độ - điều mà
một số cuốn sách viết về nhà tù thường rất
tập trung - để nói đến một tình thế phi lí
của cuộc sống, và vô hình trung, cuốn sách
trở thành như một thiên anh hùng ca, khiêm
nhường mà cảm động về con người, con người
có thể đi qua được tất cả những gì xấu xa
đen tối nhất, đi qua tất cả bùn lầy, giữ
vững chất người của mình chống lại tất cả
những thế lực đen tối nhất muốn trừ tiệt
chất người ở con người. Cuốn sách bị cấm,
nhưng bằng nhiều cách vẫn được truyền tay
đọc rộng rãi và tác giả của nó được sự kính
trọng của toàn xã hội.”
Tôi cảm ơn tất cả các bạn đọc đã chia sẻ
cùng tôi.
Cảm ơn trung tâm William Joiner đã tạo điều
kiện để tôi có mặt ở đây hôm nay.
Cảm ơn các bạn đã có mặt cùng tôi tại đây.
Về tác giả: Bùi Ngọc Tấn sinh 1934 ở Thủy
Nguyên, Hải Phòng. Phóng viên báo Tiền Phong
1954-1959. Tác phẩm xuất bản từ 1995 đến
nay: Một thời để mất (Hồi ký 1995), Những
người rách việc (Tập truyện ngắn 1996), Một
ngày dài đằng đẵng (Tập truyện ngắn 1996),
Chuyện kể năm 2000 (2000), Rừng xưa xanh lá
(Chân dung văn học 2002), Biển và chim bói
cá (Tiểu thuyết 2008).
|