|
1. Bayle và anh Việt cộng
chịu chơi
Năm 1965 tôi có hai người bạn thân. Người thứ nhất là Bayle,
lính thuỷ đánh bộ Mỹ và người thứ hai là một Việt cộng.
Việt cộng này không đi dép râu, không đội nón tai bèo mà để
tóc dài, hút Bastos xanh và uống Whisky. Anh ta là Trần
Quang Long, thi sĩ.
Còn gã lính thuỷ đánh bộ Mỹ là một thanh niên da trắng, tóc
nâu, vừa tốt nghiệp đại học Yale thì bị thảy qua chiến
trường Việt Nam. Hắn cũng thích Whisky và chơi ghita cổ
điển. Tôi cũng chơi nhạc cổ điển nên hắn khoái tôi.
Thường tới nhà. Ăn ngủ ở đó.
Nhớ bồ, khóc lóc cũng ở đó.
Bayle chơi nhạc flamenco của Sabicas rất bốc, nhưng hắn lại
thích nghe tôi chơi những tác phẩm của Tarrega. Hắn nói mỗi
lần nghe Tarrega tao buồn quá.
Ngày kia khi tôi vừa tiễn hắn ra đầu hẻm thì một viên cảnh
sát áo trắng đến. Ông ta hỏi:
"Thằng Mỹ nào vậy?"
"Bạn của tôi."
"Nó vô trong xóm lao động làm gì?"
"Vô chơi."
Viên cảnh sát ghé tai tôi:
"Em dại lắm. Dẫn nó vô xóm lao động lỡ bị Việt cộng ám sát
thì em sẽ tù rục xương."
Nhưng Bayle vẫn đến. Anh ta có thể ăn bất cứ món gì mà người
Việt ăn được, nhất là những đặc sản Bình Định như chim mía,
nem Chợ Huyện, mắm cua…
Trần Quang Long và Bayle không biết nhau, không thù nhau,
không thân nhau. Còn tôi thì thân cả hai người.
Long dụ tôi theo Việt cộng. Rồi cùng Long tổ chức những cuộc
biểu tình rộng lớn chưa từng có tại Qui Nhơn vào mùa Hè năm
1965.
Long là một anh chàng cộng sản rất quậy. Tôi cũng quậy. Chơi
xả láng với cảnh sát, với dùi cui ma trắc, lựu đạn cay và
nhà tù. Còn Bayle thì không biết gì cả nhưng anh ta đã chết
ngay trên đường phố. Long bị đánh gãy chân còn tôi bị tống
ra đảo Phước Lý cùng với một thằng bạn có tên là Dã Nhân.
Bayle chết không thù hận. Hồn nhiên như đứa trẻ. Tôi nhớ
những ngón tay của anh ta thon dài tái nhợt trên nền xi măng
lấm lem. Đó là những ngón tay tài hoa từng cùng tôi đánh
thức dòng nhạc trữ tình của Tarrega mà anh ta rất thích. Lúc
Bayle chết, tôi và Trần Quang Long đang nằm trong quân y
viện Qui Nhơn, bệnh viện của những người lính Sài Gòn.
Bayle chết cùng ngày với một ông già Việt Nam.
Đó là cha của Dã Nhân.
♦
Nhưng chúng ta hãy trở lại cuộc biểu tình hai chục ngàn
người - lên án Nguyễn Cao Kỳ cho máy bay ném bom các chùa
chiền ở Đà Nẵng - do Trần Quang Long, Dã Nhân và tôi tổ chức.
Khi đêm xuống, cảnh sát tấn công vào ngôi trường tiểu học
nơi chúng tôi đang cố thủ. Chúng bắn nát các bóng đèn. Bóng
tối trùm xuống. Khói cay tràn ngập khắp nơi, chảy cuồn cuộn
vào cổ họng như những con bọ nóng rát. Báng súng đánh phủ
đầu giữa tiếng la hét của các nữ sinh.
Nhưng trận đòn thù ác liệt nhất vẫn chỉ tập trung vào một
người.
Khi tôi đỡ Long nằm xuống thì nghe một tiếng động nhỏ. Tôi
xắn ống quần Long lên, thấy chỗ vết thương có một cái khớp.
Đó là chỗ xương gãy. Máu ở đó trào ra, không mạnh nhưng cầm
hoài không được. Tôi gọi y tá trong trại giam đến chích
thuốc cầm máu. Chúng chích cho Long mấy mũi mà vẫn không cầm
được máu. Sáng hôm sau chân Long sưng tấy lên và mặt anh tái
mét. Chân sưng to làm ống quần Long căng cứng, Long day trở
khó khăn nhưng anh không kêu. Long bảo tôi:
"Xé giúp mình cái ống quần."
Tôi xé theo đường chỉ may, xé toạc lên tới đùi. Vải quần đẫm
máu đã khô cứng lại, dày cộm. So với chân bên kia, chân bị
thương thật dễ sợ. Xé ống quần rồi, thấy nó như phồng thêm
lên. Thế mà vết thương vẫn không ngừng rỉ máu. Trưa đó, một
chiếc xe bít bùng đến và chúng đặt Long lên băng ca, khiêng
bỏ lên xe, đóng sập cửa lại.
Tôi bị còng tay và đẩy lên một chiếc tàu nhỏ của hải quân.
Cùng đi với tôi có Dã Nhân, một Phật tử cao lêu khêu và đen
đúa như con khỉ đột.
Mặt biển buổi trưa phẳng lặng và sáng như một mảng kim loại.
Con tàu nhỏ tròng trành. Hai người nằm ngủ vùi trong khoang
tàu bẩn thỉu cạnh những cuộn dây thừng to. Xế chiều tàu cập
bến một hòn đảo nhỏ giữa biển. Vẻ đẹp của biển hoàng hôn làm
tôi tỉnh táo trở lại. Tôi ngồi cạnh Dã Nhân hút thuốc lá và
nhìn ra biển. Dã Nhân ngồi hát. Biển im, tiếng hát nghe rất
rõ trong cơn gió nhẹ, trong tiếng kêu rít rít của mấy con
yến trắng.
Bóng những người lính Sài Gòn đi lại trên cồn cát, mũi súng
M16 đâm thẳng lên như những nét kiếm thẳng tắp. Họ cử động
cũng chậm chạp, câm lặng và uể oải. Một viên hạ sĩ đến và ra
lệnh:
"Tắt thuốc lá đi nếu không muốn Việt cộng bắn trúng ngay
mặt."
Dã Nhân búng tàn thuốc lá lên không và cho hai tay vào túi
quần. Viên hạ sĩ quan ra hiệu cho chúng tôi đi theo anh ta
đến cái lều vải nhỏ để lãnh mùng mền.
Toán quân leo lên ngọn đồi thấp. Họ leo mất nửa tiếng đồng
hồ mới lên được tới đỉnh đồi. Mệt mỏi.
Cùng lúc ấy, Trần Quang Long bị gởi đi Tây Nguyên với vết
thương còn rịn máu. Có lẽ anh cũng đang nằm nhìn mặt trăng
vàng bệt này trong một khu rừng nào đấy và ở đó cũng có
những người lính gác đi đi lại lại.
♦
Tôi và Dã Nhân được đưa về đất liền trên một chiếc ghe đánh
cá nhỏ của dân chài. Chúng tôi được giải giao về ty cảnh sát
và trả tự do một cách nhanh chóng, không bị hạch hỏi hay làm
thủ tục giấy tờ gì rườm rà.
Về đến nhà tôi được biết hai cái tin quan trọng: Trần Quang
Long cũng được đưa từ Tây Nguyên về nằm điều trị tại quân y
viện Qui Nhơn và tôi đã có kết quả đậu tú tài hai.
Lúc ấy ngoài phố có nhiều tiếng huyên náo. Những người đi xe
đạp và xe gắn máy đều bị chặn lại. Một đoàn xe Falcon đen
bóng đang từ dưới đường Gia Long chạy lên, đậu ngay trước
lầu Việt Cường. Trên xe bước xuống toàn sĩ quan tướng tá Mỹ.
Bọn quân cảnh Mỹ bồng súng chào. Các sĩ quan Mỹ đi thẳng vô
phòng khách của toà cao ốc nơi được thuê làm đại bản doanh
của quân đội Mỹ đóng ở Qui Nhơn. Trong bãi đậu xe có tới
trên dưới ba mươi chiếc xe vừa Falcon vừa Jeep lùn.
Chúng tôi rẽ đám đông, trở về căn nhà của Dã Nhân trên bờ
đầm Thị Nại. Ba Dã Nhân là một ông già thấp bé nhưng chắc
chắn. Tôi ngồi coi ông vá lưới trong khi chờ Dã Nhân thay
quần áo.
"Mày sửa soạn đi đâu đấy? Ông già hỏi."
"Con đi với bạn vô bệnh viện thăm thầy Long."
♦
Long xanh xao hơn trước. Cái chân gãy đã được băng bột và
trên lớp băng trắng cứng ngắc ấy, Long đã vẽ đầy hoa hippy.
"Đưa cho mình cái xe lăn."
Long khá to con nên phải cố gắng mới đỡ anh vào xe được.
Ngồi vào xe, Long trông có vẻ phong độ hơn là nằm trên
giường, giống hệt như anh đã leo lên được trên lưng ngựa.
Anh đẩy mạnh hai bánh cho chiếc xe lăn đi một đoạn dài, rồi
cười ha hả.
"Bây giờ mình giống hệt đứa con nít mới tập đi, Long nói.
Cho mình một điếu thuốc."
Long đánh diêm, bàn tay khum khum che ngọn lửa nhỏ, đầu
nghiêng qua một bên. Có tiếng gõ cửa.
Khách là đồng bào Phật tử. Họ đến thăm người lãnh tụ phong
trào đấu tranh chống Mỹ Thiệu Kỳ đàn áp Phật giáo. Từ hôm
Long được chuyển về điều trị tại đây, đã có biết bao nhiêu
lượt tín đồ Phật giáo đến thăm anh như thế. Trong suy nghĩ
của họ thì Long là một Phật tử dũng cảm sẵn sàng xả thân vì
đạo pháp, sẵn sàng "chết dưới chân thầy".
Xế chiều, Dã Nhân về. Tôi đẩy xe lăn ra đứng nơi hành lang
ngó ra biển. Biển cũng buồn và gió thì cứ lồng lộng. Tiếng
sóng vỗ nghe ì ầm, dữ dội, nhưng vẫn cứ buồn, vẫn cứ thấy xa
thẳm mơ hồ mặc dù những ngọn sóng kia chỉ cách chỗ hai người
có một hàng dương. Long nói:
"Niên khóa tới chắc mình sẽ bị đổi đi nơi khác."
"Đi đâu?"
"Chưa biết được, nhưng chắc là nó không để mình dạy ở đây
nữa. Còn em, em sẽ vào đại học nào?"
"Chắc là Sài Gòn."
"Sài Gòn là nơi phong trào sinh viên rất mạnh. Đời em sẽ
trưởng thành ở môi trường đó. Mình vẫn hy vọng chúng ta sẽ
gặp nhau ở đó."
Có tiếng ai ca vọng cổ ở đầu hành lang. Phía ấy lô nhô mấy
cái bóng trắng. Thấy Long và tôi đứng gần, họ gọi:
"Lại đây chơi, mấy anh."
Long bảo tôi đẩy xe lại gần họ. Đó là những người lính còn
rất trẻ và trông có vẻ quê mùa tội nghiệp. Hai người cụt
tay, một người khác chân bị cưa lên tới quá đầu gối. Người
thứ tư bị băng kín một con mắt. Họ xa nhà, nhớ người thân
nên ngồi lại với nhau hát vọng cổ. Thấy Long băng bột, họ
hỏi:
"Anh đụng trận nào vậy?"
Long cười, nói:
"Tôi cũng giống như các anh. Mình là người Việt Nam, có muốn
đánh nhau đâu nhưng vẫn cứ ăn đạn. Cũng may là không đến nỗi
phải cưa. Anh em ở tỉnh nào?"
"Dạ, tụi em ở Bến Tre. Có thằng ở Sa Đéc nhưng đều là lính
của sư đoàn 22."
Long tiếp lấy mấy hạt đậu rang trên tay người lính trẻ. Rồi
anh bảo tôi:
"Về mở tủ. Lấy nhiều nhé."
Tôi đem quà đến. Những người lính sửng sốt. Long nói:
"Mình có nguyên một tủ quà, không cách gì ăn cho hết. Xin
các bạn hãy ăn giúp mình nhé. Và đem về chia cho những anh
em khác, nhất là những người bị thương nặng."
Xử sự của Long làm họ đổi cách xưng hô, một người nói:
"Cám ơn đại uý. Đại uý cho tụi em nhiều quá."
Long cười khà khà. Tôi đẩy xe đưa Long về phòng. Và khi tôi
vừa đỡ Long nằm xuống giường thì một tiếng nổ vang rền dữ
dội, từ phía thành phố vọng lại.
Sau đó là một phút im lặng ghê gớm.
"Chuyện gì vậy?"
Có tiếng hỏi nhau xì xào ngoài hành lang.
Tôi nhìn Long, sửng sốt. Long nghiêng người qua, nói nhỏ vô
tai tôi:
"Đặc công!"
♦
Bayle đã chết trong tiếng nổ long trời đó. Nhưng lúc ở trong
bệnh viện tôi không hề biết. Tôi cũng không biết là ba của
Dã Nhân cũng đã chết trong đêm kinh hoàng ấy.
Lúc bấy giờ đã khuya, trời tối đen. Sau tiếng nổ là một sự
im lặng ghê gớm. Tiếng gió hú ngoài biển càng làm cho sự im
lặng thêm man rợ. Nhưng chỉ một lát sau đã nghe tiếng máy
bay trực thăng quần đảo trên đầm Thị Nại. Rồi từng loạt đạn
đại liên M60 trút xuống đầu những ngọn sóng. Bầu trời bị
chấn động, rạn vỡ, tan nát. Những cơn gió rách tả tơi. Những
ngọn sóng toé máu. Thuyền đánh cá vung vãi như giẻ rách.
Người chết không một lời kêu cứu. Cuộc trả đũa tàn khốc và
mù loà. Tiếng động cơ máy bay và đạn pháo thì gầm thét nhưng
cái chết thì câm lặng, tắt nghẹn, chìm khuất.
Sáng hôm sau tôi đến lầu Việt Cường, nơi đặt Tổng Hành dinh
của quân đội Mỹ. Toà cao ốc này sụm xuống như một cái đèn
xếp. Lộ ra một mảng trời đục. Hôm qua, nơi đây cảnh sát đã
dọn đường cho phái đoàn quân sự cao cấp Mỹ đến họp. Và sáng
nay những người cảnh sát này lại đến, cùng với quân cảnh Mỹ,
cô lập khu vực này lại cho công binh Mỹ dùng cần cẩu bốc
những tảng bê tông lên và chui vào lấy xác.
Tôi len lỏi vào đám đông. Đột nhiên tôi nhìn thấy Bayle nằm
lẫn trong đống xác lính Mỹ vừa được kéo ra xếp hàng trên nền
đất.
Bayle nằm sấp, mặt nghiêng về một bên, mũi dập nát và đầy
máu. Nhưng tôi nhận ra anh nhờ hai bàn tay. Cũng giống như
hai bàn tay tôi – bàn tay của người chơi đàn ghita cổ điển –
tay phải để móng dài, tay trái đầu ngón tay bè ra và chai
cứng. Trong số những tác phẩm của Tarrega mà Bayle thường
chơi có bài “Giọt nước mắt” (Lagrima). Bây giờ giọt nước
mắt đang chảy trên má tôi.
Lúc ấy Dã Nhân xuất hiện và kéo tôi chạy ra đầm Thị Nại.
Một đám đông đang tụ lại bên hàng rào kẽm gai. Viên cảnh sát
ra lệnh cho các tù nhân đem băng ca xuống bãi cát. Mấy cái
xác nằm lẫn trong rác rưới và vỏ sò. Mấy chiếc máy bay phản
lực còn bay vòng ngoài biển, phía trên những ngọn núi còn
phủ đầy khói.
Bãi cát ở thụt sâu dưới thấp. Mấy xác chết nằm im lìm như
những vết đen trên một nền cát xám ngoét. Những người đến
xem đứng dọc theo hai bên đường ray.
Khi xác chết được khiêng lên thì mọi người đều im lặng.
Không một âm thanh nào ngoài tiếng động cơ của chiếc máy bay
thám thính L19 đang trinh sát trên cao.
Nạn nhân là một người đàn bà và hai người đàn ông. Cái cổ
người đàn bà nát bấy, sạch hết máu và thịt đã xơ xác ở miệng
vết thương. Cánh tay người đàn ông thì gãy quặt ra đàng sau,
co quắp. Chiếc xe chở xác trờ tới. Những người có thân nhân
đánh cá ngoài biển đêm qua hấp tấp chạy lại chỗ xe đậu để
xem mặt các nạn nhân. Một phụ nữ nhận ra xác chồng mình liền
ngất đi, ngã xuống đường cái, đám đông bu lại lo cứu chữa.
Mấy đứa trẻ con khóc nức nở lẫn trong tiếng chó sủa inh ỏi.
Dã Nhân cúi sát xuống xác chết của người đàn ông để nhìn cho
rõ nhưng không phải cha mình, người này còn quá trẻ. Anh
quay lại, nắm lấy tay tôi, mắt đỏ ngầu.
Chiếc xe chở xác bỏ đi, những người lính và những người đứng
xem cũng về hết. Tôi và Dã Nhân trở về dọc theo đường sắt.
♦
Hôm sau, gia đình Dã Nhân được chính quyền gọi đến nhận xác.
Vì chờ lâu ngày nên xác cha anh được liệm sơ sài trong một
chiếc quan tài gỗ.
Tôi chỉ còn nhớ vài hình ảnh rời rạc ở nghĩa địa. Cái huyệt
đào trong vùng đất có nhiều sạn. Những cánh tay nổi gân sạm
đen của những bác xích lô đang cố gắng hạ chiếc quan tài
xuống huyệt. Mấy người thầy cúng tụng niệm lâm râm.
Ở nghĩa địa ra, Dã Nhân và tôi đi bên nhau im lặng. Buổi
chiều toả sương trắng trên mặt biển.
Con đường nhựa loang lổ ánh sáng vàng đục.
Quán cóc bên đường.
Dã Nhân im lặng rất lâu trước ly rượu đế. Hơi men nồng làm
da mặt anh căng ra. Anh rót thêm rượu vào ly, đốt một điếu
thuốc rồi bảo tôi:
"Uống đi. Tao cần mày uống."
Nói xong anh lại uống nữa. Mắt mờ đục. Khuôn mặt trắng trẻo
của cô gái thì bất động, mơ hồ, cái mỉm cười lướt qua trên
môi.
Tiếng chuông đổ dài, ngân nga rồi dồn dập như một con nước
chảy ập xuống dốc cao.
Hai người đi về phía biển. Dã Nhân đã say mèm. Tôi phải dìu
bạn vào một căn nhà bỏ hoang ngoài xóm cá. Căn nhà xiêu đổ,
mái tranh bị gió cuốn tróc ra. Chiếc giường tre khá rộng
không có chiếu. Dã Nhân nằm vật xuống, nôn mửa thốc tháo rồi
ngủ thiếp đi.
Tôi thức dậy lúc nửa đêm. Dã Nhân khóc. Anh co quắp lại, úp
mặt trong tay, thân thể rung chuyển mỗi lần anh nấc lên. Tôi
đã tỉnh rượu, cảm thấy gió biển mát lạnh trên hai gò má. Tôi
nằm im, vuốt ve mãi mu bàn tay khô khan của Dã Nhân, nghe
tiếng sóng vỗ dạt dào bên ngoài, tiếng trở mình âm thầm của
biển đêm.
Trở lại mục lục
2. Huế, những cây vả và sương mù
Tôi đến với Huế mà không hẹn trước. Lẽ ra tôi đã theo Trần
Quang Long vào Nam nhưng cuộc đời sinh viên của tôi lại bắt
đầu ở Morin, bên này cầu Tràng Tiền. Chính quyền Sài Gòn lúc
đó muốn phân tán lực lượng nòng cốt của phong trào học sinh
ở Quy Nhơn nên đã thuyên chuyển các thầy “Việt cộng nằm
vùng” mỗi người đi mỗi ngả. Trần Quang Long về dạy ở Cần
Thơ, thầy Thông lên Tây Nguyên và Lê Phước Cương về Quảng
Trị.
Cương nói:
"Em nên về Huế và ở nhà tôi. Long sắp lấy vợ, ở với Long
không tiện đâu."
Thế là tôi đi Huế.
Bây giờ, Huế đã xa lắc nhưng khoảng trời xanh ngắt của những
đêm trăng Vĩ Dạ vẫn ở trong tôi cùng với những buổi sáng
lạnh lẽo, mưa dầm, nước sông Hương tràn qua Đập Đá.
Đi bộ 5 cây số từ Vĩ Dạ lên Morin, mò mẫm qua Đập Đá như đi
trên mặt sông. Huế dày đặc sương mù. Đứng bên Morin nhìn qua
bên kia sông chẳng thấy chợ Đông Ba đâu cả. Thành quách cũng
mờ ảo, chìm khuất trong vô định, hiu hắt khói sóng.
Tôi ra Huế “làm cách mạng” mà như đi vào cõi huyễn mộng phù
du của một thời vàng son xa hút. Có người chê tôi, bảo:
“Mày làm cách mạng cái kiểu gì vậy?” Tôi cũng không biết
đó là kiểu gì. Có thể đó là kiểu của Phạm Thái của Trần
Quang Long. Kiểu đó dở hay hay, không biết được, nhưng nó
trong sạch, nó hồn nhiên. Cho tới bây giờ, khi các anh đã
trở thành những ông quan cách mạng, những ông tư sản đỏ, thì
tôi vẫn là kẻ si tình đi tìm đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Các anh từng hỏi tôi: “Mày làm cách mạng cái kiểu gì vậy?”
Còn bây giờ thì tôi hỏi các anh:
"Các anh làm cách mạng cái kiểu gì vậy?"
Câu hỏi của các anh tôi đã trả lời rồi. Còn câu hỏi của tôi.
Các anh có trả lời được không? Có dám trả lời không hay vẫn
phớt lờ. Và âm thầm chia nhau cái miếng thịt Việt Nam béo bở
này?
Tôi là một chàng thi sĩ ngốc nghếch nên vẫn nhớ những ngày
mưa dầm dề trên phố Huế, những buổi sáng sương mù, những cây
vả lùn, lá to như cái sàng gạo và trái thì bự như quả cam
sành, bổ làm đôi, trong ruột có những cái nhuỵ màu tím sẫm.
Một năm ở Huế tôi làm được gì trong “cuộc đời hoạt động cách
mạng” của tôi? Móc nối vài người, hẹn hò vài cô giao liên
trong Hồ Tịnh Tâm, học tập lén lút vài khóa chính trị sơ
đẳng. Chẳng là gì cả. Toàn bộ thời gian là mơ mộng và ôm ấp
cái lạnh cắt da của mùa Đông. Mùa Đông tôi chỉ có một cái áo
lính kaki dày cộm. Tôi đem nhuộm đen cho khác với màu của
anh lính Sài Gòn.
Sau những biến cố đẫm máu thời Ngô Đình Diệm, Huế đã co lại.
Khi tôi đến, thì Huế như cô gái nhỏ ngái ngủ cuộn mình trong
chiếc mền dày cũ kỹ, nhõng nhẽo. Huế dẫn tôi đi trên những
con đường rợp bóng cây, những bãi cỏ dày bên bờ sông Hương.
Tôi thường ngồi lại trên những rễ cây già bò xuống mé nước,
nghe con sóng nhỏ róc rách, thủ thỉ, ân ái. Tôi gặp Huế
tháng Chín năm 1965, năm tôi hai mươi tuổi còn Huế thì mười
tám.
Chúng tôi yêu nhau, khờ dại và âm thầm.
Suốt một năm ở Huế tôi không có người bạn gái nào cả. Thoáng
qua vài cái tên như Khuê mặc áo dài tơ sống màu hoàng yến,
cao và ốm. Như Bích lúc nào cũng mặc đồ trắng và lúc nào
cũng nhìn tôi, cái thằng cha muôn đời chỉ có mỗi một chiếc
áo lính kaki nhuộm đen dày cộm.
Có một gã trai trẻ, ốm nhách, đeo kính cận gọng to. Gã cũng
mặc áo kaki như tôi nhưng đó là chiếc áo thanh niên cộng
hoà của ông Ngô Đình Nhu. Chiếc áo màu xanh nước biển
không biết gã xin được của ai, mặc thay cho áo lạnh. Gã cũng
là một nhà thơ vĩ đại như tôi vậy. Nhà nghèo. Ở An Cựu. Tôi
dụ gã theo cộng sản, gã nói:
"Tao làm thơ. Không làm cách mạng."
Dù vậy gã cũng từng là bạn của những nhà cách mạng sinh viên
nổi tiếng ở Huế thời đó như Trần Vàng Sao, Tần Hoài Dạ Vũ,
Thái Ngọc San…
Tôi thương gã vì chúng tôi cùng nghèo, cùng thu mình lại
trong giảng đường thênh thang của khu Morin quý tộc cũ. Gã
tặng tôi bốn câu này:
Năm một chín sáu lăm
Bước chân vào đại học
Ôi vàng son, vàng son
Tôi ôm mặt đứng khóc.
Có
lẽ sau giải phóng gã cũng đã hơn một lần “ôm mặt đứng khóc”
như thế. Tội nghiệp người bạn tốt. Tội nghiệp chúng ta quá,
Phụng hỉ!
Bây giờ mi đang làm gì? Ở đâu? Không hề thấy tên mi trong
đám quan lại ở Huế.
Với tôi, bây giờ Huế không còn lại gì ngoài những kỷ niệm lẻ
loi, vụn vặt và buồn về một người thầy đã chết. Sao Cương
lại chết trẻ như vậy? Ngoài năm mươi. Gần mười năm ở rừng.
Cuộc sống trong những chiến khu ở miền Trung gian khổ hơn ở
miền Nam rất nhiều. Tôi không từng đến những chiến khu ấy
nhưng nghe Cương kể lại, nghe Hoàng Phủ Ngọc Phan kể lại,
thấy thừa mứa bom đạn nhưng cạn kiệt lương thực, thực phẩm.
Rồi bệnh tật, muỗi mòng. Có lẽ vì đường tiếp tế của miền
Trung không được thuận lợi như ở miền Nam. Năm 1967, khi về
học vũ trang ở Sa Đéc để chuẩn bị cho Tết Mậu Thân, tôi thấy
đời sống ở chiến khu đó chẳng khác gì một làng quê ngoài
vùng tạm chiếm. Tôi sẽ trở lại những kỷ niệm ở các vùng căn
cứ Sa Đéc, Cần Giuộc, Long Khánh… vào một dịp khác.
Cương vướng chất độc màu da cam ở Trường Sơn nhưng có lẽ anh
không hay biết. Hai mươi năm sau, vào khoảng năm 1990 chất
độc phát tán làm anh suy sụp. Anh tập Dịch Cân Kinh
thường xuyên và nói rằng có hiệu quả, nhưng ít lâu sau bệnh
trở nặng phải đưa vào Bệnh viện Thống Nhất. Tôi vào thăm
anh. Cả hai anh em đều buồn, không phải vì bệnh, không phải
vì sinh tử phù du mà vì thế sự.
"Anh đi Pháp có vui không?" Tôi hỏi.
Cương cười, trầm lặng.
"Đó chỉ là cái kế điệu hổ ly sơn của chúng nó."
Một tổ chức văn hóa của Pháp mời Cương sang. Chính quyền cho
đi nhưng chỉ nói miệng, không có văn bản. Cương thì chỉ muốn
xa rời cái đám nông dân Hồng Vệ binh rùng rợn ấy nên anh đi
liền. Ba tháng ở châu Âu, chi phí do nước bạn tài trợ. Khi
trở về thì bị khai trừ Đảng. Hỏi tại sao, thì họ đáp: “Ba
tháng không sinh hoạt Đảng coi như tự ý ra khỏi Đảng”. Câu
đó có ghi trong điều lệ.
Cương mất Đảng, mất luôn chức Giám đốc Sở Giáo dục. Sau đó
ít lâu, anh qua đời. Tôi không biết tin ấy kịp thời và tôi
cũng không thể đến viếng anh lần cuối vì lúc ấy tôi đang ở
Mỹ.
Trở lại mục lục
3. Những ánh lửa đốt đồng
Tháng Chín năm 1966 tôi rời Huế vào Sài Gòn, hoạt động trong
phong trào sinh viên Khu Sài Gòn - Gia Định. Và căn cứ địa
cách mạng đầu tiên tôi đến là Cần Giuộc.
Cần Giuộc đón người đồng chí nhỏ của mình bằng gió tràn trề
tuôn chảy từ mặt đất, lướt nhanh trên sóng lúa, xô giạt về
phía chân trời bất tận.
Cần Giuộc khác với đồng quê miền Trung vì nó đầy chân trời.
Và đầy gió. Một thế giới không có núi, không có rừng, không
có biển, nhưng vây quanh tôi là sa mạc lúa xanh và cỏ.
Tôi thì đứng lặng mà gió thì cứ trào lên từ những lỗ chân
lông của đất, từ những gốc rạ, những kẻ nứt ẩn giấu bên dưới
lá cỏ thấp.
Buổi chiều đó tôi thấy như mình đang trở về quê nhà dù trạm
đầu tiên của vùng căn cứ này chỉ là một túp lều tranh xơ
xác. Nhưng tôi đã đứng ngây dại bên khung cửa xiêu vẹo ấy
nhìn gió lùa trên mái tranh mà rưng rưng nước mắt.
Tôi đã không có món quà nào cho Cần Giuộc nhưng Cần Giuộc đã
trao cho tôi niềm xúc động thần thánh của một tình yêu cách
mạng đầu đời.
Khi bóng tối trùm xuống túp lều nhỏ thì tôi mới bước vào
trong ánh đèn dầu long lanh như một giọt nước đặt giữa tấm
ván thô. Cùng ăn cơm với tôi là một người đàn bà gầy yếu
trạc ngoài năm mươi. Bà nói:
"Ăn xong cậu nghỉ một lát, đến khuya sẽ có người dẫn đi."
Tôi ăn rau luộc và một chút cá kho mặn. Người đàn bà thì
lặng lẽ, chậm chạp và nhẹ tênh.
"Lần sau vô cứ cậu đừng mang giày bata trắng. Người ta sẽ
biết cậu là dân thành thị."
Người đàn bà bưng mâm ra sau nhà. Tôi muốn bước ra ngoài đêm
lần nữa nhưng bà bảo tôi đi nghỉ.
Tôi nằm nghe gió. Vẫn rộn ràng như đàn chim thiên di. Vẫn
như ngàn cánh nhỏ xao động quanh chiếc lều tranh rách nát.
Cứ thế, gió rù rì suốt đêm như đàn trẻ nhỏ.
Tôi đã ngủ trong tiếng thì thầm bất tận ấy.
♦
Tiếng gọi phát ra từ dưới hầm trú pháo.
Không biết dì Tư đi đâu mà không trả lời. Hầm trú sâu và rất
kiên cố với mái hình chữ A làm bằng những thân cây to, đắp
đất lên trên. Tôi nằm cách miệng hầm chừng bốn năm mét và
hoàn toàn không ngờ lại có người dưới đó.
"Cô Tư ơi!"
Không ai trả lời. Tôi ngồi dậy. Và cầm cái đèn dầu, lần mò
xuống hầm.
Một người đàn ông mặc bà ba đen đang lần theo vách hầm tiến
lại phía các bực cấp. Dường như ông đang bị thương khá nặng.
Tôi ghé vai vào nách ông, dìu ông đi. Nhưng vì ông to con
quá nên tôi loạng choạng. Chúng tôi bước từng bước lên những
bực cấp bằng đất sét ẩm ướt và lên được mặt đất. Lúc ấy
trăng khuya đã lên, mờ ảo như sương đục. Tôi phải rất khó
khăn khi đỡ ông ngồi xuống cầu cá tra. Vết thương của ông ở
hông bên trái.
"Cậu vô nhà đi."
Nhưng tôi không dám bỏ ông ngồi một mình trên cái nhà vệ
sinh ọp ẹp đó. Tôi ngồi đối diện để giữ hai vai ông.
Dưới ánh trăng mờ đục, tôi nhận ra một khuôn mặt vuông vức,
mày rậm, râu mọc tua tủa như Lý Quỳ ở Lương Sơn Bạc.
Gió đã lặng. Hình như những cánh đồng đang nằm im, đợi sương
xuống.
Chúng tôi trở vô nhà nhưng dì Tư vẫn chưa về. Người đàn ông
muốn nằm trên ván một lát.
Rồi dì Tư bước vô, bà nói:
"Không thấy giao liên ra, tui phải đi tìm. Đồng chí xuống
trăng-sê đi."
Tôi cùng dì đỡ người thương binh xuống hầm.
Lát sau giao liên tới. Và dẫn tôi đi.
Đi được nửa tiếng, bỗng thấy lửa cháy rần rần trước mặt.
"Gì vậy?"
"Đốt đồng."
Với tôi, đó không phải là một đám cháy mà là một bức tranh
huy hoàng, giăng ngang chân trời. Trong đêm đen thầm lặng
yên ngủ bỗng bừng lên một bình minh lạ thường, một bình minh
của thế giới khác, rực rỡ, giàu có và lộng lẫy.
Lửa trải dài như một rừng hoa đỏ thắm, long lanh trong bóng
tối dày đặc của đất đen, của những cây chồi đen và đường
chân trời đen.
Đó là sự bừng tỉnh của đất, mới mẻ, hùng tráng như một thế
lực tiềm ẩn ngàn đời đang phát tiết tinh hoa. Lửa bùng cháy
ngây ngất và say đắm như thế giới mà cô Lọ Lem tìm đến lúc
đêm khuya.
Tôi thảng thốt nhìn, ngạc nhiên vì vẻ đẹp của lửa trong đêm
tối. Tôi đã từng bị mê hoặc bởi những bếp lửa nhỏ trong
những buổi sáng lạnh lẽo mưa phùn ở miền trung hay trên một
đồi trà ở cao nguyên. Lửa ở đó thân mật như người bạn tình,
như con thú nhỏ quấn quýt... nhưng không ở đâu lửa lại có vẻ
đẹp hoang dã, sang trọng, mạnh mẽ, vừa lãng mạn, vừa dữ dội
như lửa đốt đồng trong đêm hôm ấy.
Ngọn lửa đó vừa khai sinh một thế giới khác, một ý niệm
không gian và thời gian khác, tách biệt hẳn cái không gian
ba chiều quen thuộc và buồn tẻ mà ta đang sống. Đó là ngọn
lửa thần bí của thiên đường mà suốt đời có lẽ tôi chỉ một
lần được gặp.
Cần Giuộc đã đón tuổi thanh xuân tôi bằng gió và lửa cháy.
Đó là mối tình đầu rực rỡ.
♦
Ngoài ra tôi không có mối tình nào khác. Tình yêu ơi! Sao mà
phù phiếm và bạc bẽo vậy? Một lô đàn bà con gái từ trí thức
cho đến biết đọc biết viết, từ nữ tu sĩ cho đến gái lầu
xanh. Từ mười chín cho đến năm mươi ngoài. Những con số ấy
không là gì cả. Chúng tồn tại bên ngoài tình yêu. Mà hình
như cũng chẳng có tình yêu. Chẳng có Thuý Kiều hay Juliette,
chẳng có sinh tử tương hứa.
Nhân vật của Kim Dung yêu đủ kiểu hay ho. Nhân vật trong
tiểu thuyết của tôi yêu cũng rất liều mạng. Nhưng đời tôi
thì không có mối tình nào cho ra hồn. Những quý cô, quý bà
của tôi bây giờ đều có gia đình vì thế trong cuốn tự truyện
này tôi không tiện nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng “nhá máy“ một
chút, chớp tắt vài dòng, lập lòe vài giây gọi là khơi dậy
chút hoài cảm như kiểu Đỗ Mục, sau mười năm, chợt tỉnh giấc
mộng Dương Châu, thấy đời mình chẳng còn gì ngoài một tiếng
bạc tình ở chốn lầu xanh.
Thập niên nhất giác Dương Châu mộng
Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh
Về
sau này tôi có quen một cô gái mười chín tuổi. Cô ta cho tôi
tất cả nhưng cũng gần như là không cho gì. Mới bước qua tuổi
vị thành niên, học vấn vừa xong bậc tiểu học, ngây thơ, nhí
nhảnh. Đùa giỡn như con nít, vậy mà nói:
"Thà mình phụ người ta chớ đừng bao giờ để người ta phụ
mình."
Tôi hỏi:
"Em có biết Tào Tháo là ai không?"
"Là ai?"
"Ông ta có câu nói rất nổi tiếng."
"Câu gì?"
"Đó là câu mà em vừa nói."
"Nhưng đó là câu nói của em mà. Em suy nghĩ như vậy."
Dường như tất cả đàn bà con gái đều suy nghĩ như vậy. Còn
tôi, trong tình yêu, tôi luôn nghĩ ngược lại nên khổ trọc
đầu. Già rồi mà vẫn thất tình, vẫn dại gái. Nhưng thưa quý
ông, đối với đàn bà con gái mà mình khôn quá thì chán lắm.
Mất vui. Bị đàn bà họ lừa mới đã đời. Đáng kiếp. Thấm thía.
Giống như ăn xoài thật chua chấm với muối ớt thật cay. Giống
như ăn wasabi của Nhật Bổn. Buốt thấu não, nước mắt ràn rụa.
Mà sướng.
Hồi còn trẻ tôi nghĩ tình yêu là tất cả nhưng bây giờ thì nó
tụt hạng rồi. Bởi vì thực ra nó không có trên cõi đời.
Tình yêu chỉ là những hoa văn của tình dục.
Dù có làm thơ, viết văn, vẽ tranh, sáng tác nhạc thì cũng
chỉ là trang trí cho tình dục. Thất tình, bị lừa hay là phụ
bạc cũng đều nằm trong phạm trù trang trí ấy. Giống như nêm
gia vị. Cho thêm một chút cay một chút đắng, một chút chua
chát…
Trở lại mục lục
4. Trận đánh không được báo trước

Năm 21 tuổi
Mấy tháng trước trận Mậu Thân tôi về căn cứ để học vũ khí.
Giao liên dẫn tôi đến Sa Đéc vào lúc xế chiều và tôi đi
xuồng máy đến nơi khi trời đã tối mịt.
Buổi học bắt đầu vào sáng hôm sau trên một bờ mương. Người
du kích trải tấm nilông xuống đất và bày biện các loại vũ
khí ra. Súng AK47, B40, lựu đạn, chất nổ TNT, chất nổ C4,
các loại kíp nổ, dây cháy chậm…
Chúng tôi không ai biết rằng lớp học này là để chuẩn bị cho
trận Mậu Thân 1968.
Khi về Sài Gòn, Nguyễn Tấn Tài (sau giải phóng anh làm Chỉ
huy phó Lực lượng Cảnh sát TPHCM) rủ tôi đi “đánh thử một
quả coi sao.” Tôi khoái quá OK liền. Tôi hỏi:
"Bây giờ mình dùng kíp nổ nào? Kíp acid hay kíp thường?"
"Kíp acid là kíp nổ có hẹn giờ, rất hiếm, không nên phí
phạm."
"Mình chơi kíp thường cũng được."
"Mới đánh lần đầu xài kíp thường nguy hiểm lắm. Tui có cách
này rất hay. Cũng giống như kíp hẹn giờ vậy nhưng mình xài
thuốc lá."
"Thuốc lá?"
Nguyễn Tấn Tài rút gói Rubi Queen thảy trên mặt bàn. “Đồ
nghề” của anh gồm một bánh chất nổ TNT, một kíp nổ, một đoạn
dây cháy chậm dài chừng 5 phân, một bao thuốc Rubi và một
bao diêm.
Anh cắt chéo hai đầu dây cháy chậm, dùng những que diêm buột
vòng quanh nó rồi nhét điếu Rubi vô giữa các que diêm.
"Đánh kiểu này nên dùng thuốc Rubi vì nó cháy rất tốt, không
bao giờ tắt nửa chừng."
Nói xong Tài nhét đoạn dây cháy chậm vào kíp nổ và nhét kíp
nổ vào bánh TNT.
"Xong rồi. Tài giải thích, mình sẽ đốt điếu thuốc. Phải mất
ba phút nó mới cháy đến những que diêm. Diêm bốc cháy, dây
cháy chậm cháy theo và nổ."
Đó là cách đánh “hẹn giờ” sáng tạo của dân biệt động thành
Sài Gòn.
Đó là “trò chơi” của hai anh em chúng tôi.
Anh lái chiếc xe Honda 67 màu đen. Tôi ôm trái mìn tự tạo
ngồi phía sau. Chúng tôi từ dưới đường Trần Hưng Đạo chạy
lên. Tôi móc trái mìn trong áo ra, châm lửa đốt điếu thuốc
rồi đặt trái mìn trên bàn chân. Khi đến ngay vọng gác của
Tổng nha Cảnh sát tôi hất nhẹ trái mìn vô hàng rào kẽm gai.
Anh Tài vẫn cho xe chạy bình thường. Không tăng tốc.
Chúng tôi bọc qua đường Hùng Vương. Vẫn chưa nghe tiếng nổ.
"Sao lâu quá vậy?" Tôi hỏi.
Tài quẹo sang đường Trần Bình Trọng. Ngay lúc ấy mìn phát
nổ. Tôi đập mạnh bàn tay lên đùi anh và chúng tôi cùng cười
ha hả.
Chúng tôi tà tà quay lại hiện trường xem kết quả nhưng không
vào được vì cảnh sát đã bao vây. Giao thông tắc nghẽn.
Từ ngoài vòng vây, chúng tôi vẫn nhìn thấy vọng gác bị đánh
sập một bên. Cả một đoạn hàng rào Tổng nha Cảnh sát bị xé
nát. Đó là “chiến công” của hai chúng tôi, những thằng bạch
diện thư sinh tập sự làm biệt động thành!
Sau trận đánh đó tôi được kết nạp Đảng. Người kết nạp tôi là
anh Phạm Chánh Trực hiện là giám đốc một công ty sản xuất
“con chip” của ngành tin học.
Ngày nay, có người vào Đảng bằng hai đầu gối, bằng “cửa sau”
hoặc bằng cái “vốn tự có” của mình.
Tôi đã vào Đảng bằng một trái mìn tự tạo.
Đó là cuộc diễn tập cho trận Mậu Thân 1968, nhưng chúng tôi
- và gần như cả đơn vị Thành Đoàn SGGĐ - không ai ngờ tới.
Thậm chí khi chiến dịch mở màn, nhiều đơn vị, trong đó có
chúng tôi không ai biết chuyện gì!
Như thường lệ, phần lớn những sinh viên gốc miền Trung như
chúng tôi đều về quê ăn Tết. Sáng mồng hai Tết có người nói
“Việt cộng đánh vô Quy Nhơn.”
Quy Nhơn cách nhà tôi 41 cây số. Không biết thực hư. Tôi đi
Quy Nhơn, thấy Ty Thông tin tan nát. Đó là một ngôi nhà lớn
sơn màu đỏ gạch, nằm đối diện sân vận động. Các chiến sĩ
giải phóng đã chiếm toà nhà đó một thời gian ngắn và vì
không có tiếp viện nên bị phản công mãnh liệt bằng xe tăng.
Toà nhà đổ nát. Có lẽ người cũng không còn.
Trưởng Ty lúc đó là nhà văn Võ Phiến. Năm 2004 tôi sang Hoa
Kỳ, có đến thăm ông. Ông đã ngoài tám mươi, vẫn sắc sảo. Ông
nói: “Thế giới này hay lắm. Cũng may tôi còn sống để chứng
kiến những biến động lịch sử đầy kịch tính. Cái thằng Bush
nó giống như kép Thành Được, lí lắc và ưa chơi nổi.”
♦
Sách Lược sử Đoàn và phong trào thanh niên TP Hồ Chí Minh
1954"1975 xuất bản năm 2001 ở trang 98 đã viết về Mậu
Thân như thế này:
“Đêm 30-01-1968 (mồng 2 Tết) cuộc tổng tiến công trên
toàn miền Nam đã nổ ra nhưng mệnh lệnh tiến công không
truyền đạt được tới Thành Đoàn. Tuy vậy sáng sớm ngày
31-01-68 ban thường vụ thành đoàn dưới sự chủ trì của Phan
Chánh Tâm đã họp khẩn, làm công tác vũ trang tuyên truyền,
làm chủ khu vực Bàn Cờ suốt ngày 31/01/68.”
Bốn tháng sau:
“Đợt 2 Mậu Thân, cán bộ Thành Đoàn được bố trí vào 4 khu
vực: Liên phường 3A gồm Bàn Cờ, Vườn Chuối. Liên phường 3B
gồm Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, Chí Hoà. Liên phường 5 gồm
Phú Thọ, Cầu Tre. Liên phường 4A gồm Trương Minh Giảng,
Trương Tấn Bửu.
Ngày 5/5/68 Đợt 2 nổ ra. Tại Bàn Cờ tổ vũ trang tấn công
một xe tuần tiễu địch, Nguyễn Sơn Hà (tức Bảy Thép) hy sinh.
Ba khu vực kia không bắt được liên lạc.”
♦
Tổ vũ trang của chúng tôi nằm trong số “ba khu vực không bắt
được liên lạc” đó.
Tổ gồm 4 người: Tôi, Trương Văn Khuê, Nguyễn Trường và Tám
Nhân. Chúng tôi thuê một căn nhà nhỏ ở sau chợ Trương Minh
Giảng. Vũ khí chúng tôi bọc kín trong ba bốn lớp nilông, gồm
hai khẩu AK47, hai khẩu K54 và một số chất nổ TNT. Truyền
đơn và cờ Mặt trận Giải phóng bọc trong bao nilông khác. Tất
cả được giấu trong lỗ cống sau bếp. Hàng ngày chúng tôi vẫn
đi học, vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng trong tình hình chờ
đợi hồi hộp căng thẳng như vậy thì còn lòng dạ nào mà học.
Trương Văn Khuê và Nguyễn Trường thì tối ngày đánh bài tu lơ
khơ nhưng Khuê đặc biệt thích xì phé và hắn đánh rất giỏi.
Sau này làm giám đốc Nhà xuất bản Trẻ hắn đã có những quyết
định táo bạo trong chủ trương cho tư nhân hợp tác bỏ vốn in
sách. Khuê làm việc đó một cách sáng tạo và đã đem lại lợi
nhuận cho nhà xuất bản rất nhiều. Tiếc rằng anh chết quá trẻ
do bệnh ung thư gan. Nhà tôi ở gần bệnh viện nên tôi đến
thăm anh thường xuyên. Khi mổ gan xong anh cười rất tươi và
nói to với những bạn bè đến thăm:
"Tớ sẽ sống đến 150 tuổi!"
Nhưng chỉ mấy hôm sau là anh xuống sức. Buổi chiều Mai Hương
đến thăm, hỏi có biết ai đây không nhưng Khuê cứ nhắm mắt.
Mai Hương khóc. Đó là giọt nước mắt hiếm hoi của người đồng
chí cũ.
Tại sao tôi nói hiếm hoi?
Vì sau giải phóng bạn bè đối xử với nhau lạt lẽo. Trong vụ
án văn học “Nổi loạn” tôi bị cô lập, nhiều người sợ liên
luỵ, có người còn tệ hơn như phó chủ tịch quận Z Nguyễn
Hoàng, nhạc sĩ Trần Long… tìm cách phủ nhận tác phẩm của tôi
theo luận điệu của công an văn hóa, trong khi báo Diễn
Đàn Paris thì gởi phóng viên đến nhà tôi thực hiện một
bài phỏng vấn dài đăng trên số 28 phát hành tháng Ba 1994
tại Pháp.
Bài phỏng vấn đó đã giúp tôi nói được hết ý nghĩ của mình và
ở một góc độ nào đó nó đã cứu tôi ra khỏi nhà tù.
Dẫu sao vụ “Nổi loạn” cũng giúp tôi xếp loại bạn bè, giúp
tôi biết người nào thương mình, người nào ném đá giấu tay,
người nào đánh người ngã ngựa.
Sau vụ này tôi gần như không giao du với những “đồng chí”
trong phong trào sinh viên cũ.
Giờ đây đám bạn bè cũ chỉ còn lại hai bộ mặt: Một bộ mặt
vênh vang hãnh tiến của những ông quan tư sản đỏ và một bộ
mặt lơ láo của những kẻ hết thời.
Tôi trôi giạt giữa những mặt người ấy vì tôi là một nhà văn
chuyên nghiệp, tôi có thế giới của tôi, cũng giống như Lý
Bạch:
Vấn dư hà sự thê bích san?
Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn
Đào hoa lưu thuỷ yểu nhiên khứ
Biệt hữu thiên địa phi nhân gian
(Có người hỏi ta vì sao lại lên ở trên núi vậy? Ta chỉ cười
mà không đáp. Lòng thanh thản nhìn hoa đào trôi đi giữa
khoảng trời đất cách biệt với thế gian.)
♦
Nhưng tôi phải trở lại cái buổi chiều tháng 5 năm 1968 ấy.
Chín giờ tối chúng tôi họp:
"Đợt 2 Mậu Thân sẽ nổ ra đêm nay. Các đồng chí chuẩn bị lấy
vũ khí truyền đơn và cờ lên sẵn sàng."
Mọi thứ được lôi lên khỏi lỗ cống. Nước không thấm vô được
nhưng những cái bọc nilông thì đầy trùn chỉ. Chúng đeo bám
trong những khe, những nếp gấp làm chúng tôi mất rất nhiều
thì giờ để dọn vệ sinh.
Trương văn Khuê và Nguyễn Trường vẫn chơi bài trong khi chở
đợi giờ G. Tôi và Tám Nhân ngồi chầu rìa.
Mười một giờ đêm. Thành phố vẫn yên tĩnh. Mười hai giờ. Vẫn
không có gì. Một lát sau. Vài loạt súng lác đác ở đâu đó rất
xa. Trương Văn Khuê ném những lá bài xuống bàn. Nguyễn
Trường nhắc lại khẩu lệnh:
"Bộ đội Mười Dũng. Nhớ chưa?"
Mười Dũng là bí danh của anh Phạm Chánh Trực hồi đó làm bí
thư đảng uỷ Thành Đoàn, người đã kết nạp tôi vào Đảng. Anh
là một người nghiêm khắc, kiên cường. Nhiều người trách anh
độc đoán và nhiều tham vọng nhưng với tôi, anh vẫn là một
người bạn tốt. Có lẽ con đường chính trị của anh cũng không
suôn sẻ lắm. Chìm lỉm như một hòn sỏi trong dòng sông danh
lợi đục ngầu.
Chúng tôi đã sẵn sàng. Nhưng thời gian vẫn trôi qua trong
yên tĩnh. Khu vực Liên phường 4A hoàn toàn bất động.
Trở lại mục lục
5. Vụ Huỳnh Tấn Mẫm
Một buổi trưa vào giữa năm 1970 khi tôi đi dạy học về thì
thấy có hai người đàn ông đang ngồi trước hiên nhà, chiếc xe
Honda 67 dựng ngay trước cửa. Tôi nói:
"Sao mấy anh dựng xe giữa lối đi vậy?"
Hai gã nọ chỉ cười. Tôi lách người bước vô. Lập tức một họng
súng chĩa vô lưng. Và đẩy tôi vô trong.
Một căn nhà trống trơn. Im lặng. Hàng xóm không ai hay biết
gì cả. Chúng đang giăng một cái lưới. Và chắc chắn tôi không
phải là con cá đầu tiên.
Tôi ngồi xuống giường. Và để trấn tĩnh, tôi với lấy cây đàn
ghita trên vách.
Tôi chơi rất nhiều tác phẩm kinh điển, nó làm những thằng
công an đang ngồi đón lõng ngoài cửa phải ngạc nhiên mặc dù
tôi biết những thằng ngu đó đã bị tôi tra tấn suốt mấy tiếng
đồng hồ bằng một thứ âm nhạc mà chúng chẳng hiểu cóc khô gì
hết.
Tôi nhịn đói và chơi đàn cho đến xế chiều.
Một chiếc Jeep sơn nửa xanh nửa trắng của cảnh sát vừa đến.
Chúng bịt mắt tôi bằng một dải băng đen, còng hai tay ngoặt
sau lưng và đẩy lên chiếc xe ấy.
Xe chạy qua nhiều đường phố. Tôi lắng nghe tiếng động chung
quanh để cố đoán xem chúng đưa mình đi đâu nhưng chỉ biết là
vẫn còn lẩn quẩn trong nội thành.
Cuối cùng thì chúng giảm tốc độ, quẹo gấp vô một một cái sân
rộng và dừng lại. Tôi bị đẩy xuống xe. Có tiếng người lao
xao và một giọng cười xỏ lá:
"Lại thêm một con cá nữa!
Dường như chúng đã đưa tôi đến một chỗ tối và ẩm thấp. Thằng
công an mở băng vải che mắt cho tôi và vật đầu tiên mà tôi
nhìn thấy là một thân hình to lớn đang nằm ngửa, nhắm mắt,
trên một cái nền xi măng lở lói phía trước cầu tiêu.
Người đó là Dương Văn Đầy, sau này anh làm chủ tịch quận
Nhất và rồi trở thành sếp của ngành du lịch TPHCM. Nhưng lúc
ấy tôi tưởng anh đã chết. Anh bất động. Áo banh ngực. Người
anh đầy thương tích bầm tím. Tôi ngồi xuống định đưa ngón
tay lên mũi xem anh có còn thở không thì một thằng y tá vừa
đến, tay cầm một miếng bông gòn tẩm ête đưa qua đưa lại
trước mũi anh.
Tôi ngồi xuống cạnh đó. Chúng vẫn chưa mở còng cho tôi.
Chung quanh bạn bè tôi nằm la liệt. Nguyễn Tấn Tài, Phùng
Hữu Trân, Lê Thành Yến (Lê Duy Hạnh), Cao Thị Quế Hương,
Trầm Khiêm…
Lúc ấy tôi chưa hiểu địch “biết” tôi tới đâu, đã có ai khai
báo gì tôi chưa, nên tôi ngồi im để thăm dò, nghe ngóng tình
hình.
Bữa cơm chiều được dọn ngay trên nền đất trước cầu tiêu cạnh
chỗ Dương Văn Đầy nằm. Chúng tôi quây quần quanh một đĩa cá
khô mủn ra như củi mục. Trầm Khiêm nói:
"Tụi nó đánh Ba Đầy quá."
Tôi không từng làm việc với Ba Đầy nhưng anh em phong trào
sinh viên học sinh biết nhau gần hết. Hồi ở Đại học xá Minh
Mạng đi ra đi vô vẫn gặp nhau thường. Ba Đầy lúc đó học Y
khoa, hay đi cái xe đạp trành. Anh có tướng “ngũ đoản,” đặc
biệt cái mũi rất to. Khi bị bắt vô cảnh sát quận Nhứt, tụi
công an gọi anh là "thằng lỗ mũi trâu”
Lê Duy Hạnh cũng được Tư Cum “chăm sóc” rất kỹ. Buổi tối
ngồi ngoài sân đồn cảnh sát quận Nhứt, tôi và vài người bạn
tù dùng nước muối bóp chân cho anh. Chúng tím bầm như hai
cây xúc xích khổng lồ. Những giọt nước muối đã khô se đi
thành những tinh thể sáng lóng lánh.
Trưa hôm sau chị Năm, giao liên giữa tôi và Nguyễn Tấn Tài
cũng bị chúng bắt cùng với đứa con trai bốn tuổi.
Tai hại hơn nữa là cái máy chữ của tôi cũng có trong số
“tang vật” tháp tùng chị Năm.
Tư Cum ra lệnh cho bọn đàn em:
"Đưa thằng nhỏ vô viện mồ côi!"
Chị Năm chưa kịp phản ứng thì một thằng công an chìm đã lôi
thằng bé đi. Tôi nhìn chị. Một cái nhìn dài với bao điều
muốn nói. Thằng bé còn nhỏ quá. Nó sẽ sống như thế nào khi
không có mẹ? Còn chị, liệu chị có giữ được bí mật về mối
liên hệ với Nguyễn Tấn Tài và tôi? Chúng chưa đụng tới tôi
nhưng những đồng chí có liên hệ với tôi đều đã bị bắt. Chỉ
cần một trong ba người khai báo là hậu quả khó lường. Tối đó
tôi không ngủ được. Tôi tin anh Tài rất vững vàng, chị Năm
cũng sẽ vượt qua được những đòn tra tấn, và tôi cũng tin tôi
có đủ bản lãnh để bảo vệ tổ chức. Nhưng còn những bằng chứng
cụ thể. Ví dụ như cái máy chữ hiện cũng đang nằm trong tay
cảnh sát. Nếu chúng chộp được cái hóa đơn mang tên tôi thì
cuộc hỏi cung sẽ trở nên “phiền phức” cho cả tôi và chị.
Tối đó chúng lôi tôi vô phòng tra tấn.
Vẫn thằng Tư Cum và một thằng cảnh sát áo trắng ốm nhách. Để
trấn áp, chúng bắt tôi cởi quần và cột một đầu dây điện vào
cơ quan sinh dục, đầu kia kẹp vào dái tai. Dụng cụ tra điện
này được điều khiển bằng một tay quay. Thằng cảnh sát áo
trắng mở màn:
"Thủ trưởng của mày và con Tố Nga là ai?"
Tôi thấy nhẹ người. Vì chúng hỏi cung theo đường dây Tố Nga
là chúng đã không biết gì về tôi cả. Tuy ở chung nhà với Tố
Nga nhưng cả hai chúng tôi đều không biết gì về nhau. Vì thế
câu nói thăm dò này đã để lộ sơ hở của nó. Tôi đáp:
"Tôi không biết gì về việc làm của Tố Nga vì tôi chỉ là
người ăn cơm tháng ở đó."
Nhưng nó vẫn tiếp tục sai lầm:
"Con Tố Nga nó đã khai hết rồi. Mày hãy nói thiệt đi. Mày
thường gặp thằng đi xe đạp để làm gì?"
“Thằng đi xe đạp” là Dương Văn Đầy. Nhưng tôi đâu có làm
việc với Dương Văn Đầy vì thế tôi nói:
"Tôi là tín đô Thiên chúa giáo. Tôi đang dạy học tại một
trường Đạo ở Bà Chiểu. Tôi không biết gì về các hoạt động
của họ."
Tư Cum quay điện mấy vòng làm người tôi giựt tưng tưng như
con rối.
"Sao? Có chịu khai không?"
Nó lại quay. Người tôi bật liên tục lên khỏi ghế, miệng méo
qua một bên.
"Đ.m. Mày ở chung với con Việt cộng mà không biết gì về nó.
Ai mà tin mày!"
"Nhưng tôi biết nói cái gì bây giờ.
"Được. Tao sẽ có cách cho mày nói.
Tư Cum quay liên tục. Tôi bị giựt văng ra khỏi ghế, đập mặt
xuống đất.
Buổi hỏi cung kết thúc ở đó. Tạm thời chúng chưa biết gì về
mối quan hệ giữa tôi, chị Năm và Nguyễn Tấn Tài.
♦
Vụ bắt bớ học sinh sinh viên này là vụ rất lớn xảy ra vào
năm 1970, được dư luận gọi là vụ Huỳnh Tấn Mẫm. Anh Mẫm lúc
đó làm chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Vụ này làm anh
nổi tiếng khắp thế giới như một lãnh tụ sinh viên tiêu biểu.
Nhưng sau giải phóng, chính anh - cũng như Võ Thị Thắng - đã
phải khốn đốn vì sự nổi tiếng của mình. Tôi sẽ trở lại hai
nhân vật này sau. Bây giờ chúng tôi đã bị chuyển về Nha Cảnh
sát Đô thành và tôi muốn nói một chút về người bạn tù, người
“sếp” thân thiết nhất của tôi: Nguyễn Tấn Tài.
Lúc đó Tài và tôi làm công tác vũ trang tuyên truyền và làm
giấy tờ giả cho anh em. Quan hệ giữa hai chúng tôi rất khăng
khít. Anh là một kỹ sư hóa học nhưng rất khéo tay, anh dạy
tôi nghề khắc dấu, kể cả làm dấu nổi bằng những vật liệu đơn
giản nhất. Lúc anh bị bắt, trong nhà anh có cái máy chữ của
tôi. Cái máy này tôi dùng để làm giấy tờ giả và để viết văn
(vì trước đó tôi cộng tác với anh Nguyễn Ngọc Lương, chủ bút
tờ Tin Văn, tôi sẽ có một chương nói về anh Nguyễn
Ngọc Lương và cuộc đời bi kịch của anh). Khi đưa cái máy chữ
cho giao liên đem đi tôi còn “cẩn thận” đưa luôn cái hóa đơn
có tên tôi cho chị. Sự cẩn thận ngốc nghếch đó đã làm cho cả
tôi lẫn anh Tài đều lo sốt vó trong suốt thời gian bị hỏi
cung. Cũng may cả ba chúng tôi đều có bản lĩnh vượt qua
được. Và kẻ địch đã không tìm ra bất cứ mối liên hệ nào giữa
ba người.
Trận đó chính quyền Sài Gòn đã hốt một mẻ lưới khá nặng. Ở
trong tù tôi gặp mặt đủ mọi “anh hào”. Từ Phạm Chánh Trực,
Bảy Hà (sau này là thứ trưởng Bộ Ngoại thương), Lê Thành Yến
(sau này là nhà biên kịch Lê Duy Hạnh), Nguyễn Ngọc Phương,
Dương Văn Đầy. Nguyễn Tấn Tài, Cao Thị Quế Hương, Phùng Hữu
Trân, Huỳnh Tấn Mẫm…
Sau giải phóng, những người không bị dính vụ đó, hoặc những
người cả đời không biết ở tù là gì thường phát biểu linh
tinh, bình phẩm này nọ. Tất cả đều trật lất. Chỉ có những
người bạn tù với nhau là hiểu nhau, đánh giá đúng về nhau.
Và không có gì có thể che giấu được, nhất là sau giải
phóng, tất cả những hồ sơ, những bản cung của từng người đều
còn nguyên trong Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát Đô thành.
Và họ cũng không hề biết những nguyên tắc cơ bản của người
tù chính trị là:
"Nếu địch đã biết ta là cộng sản thì ta phải giữ khí tiết,
không khai báo cho người khác và nếu cần tìm cách đánh lạc
hướng địch."
"Nếu địch chưa biết ta là cộng sản thì ta phải đóng vai một
người dân thường bị bắt lầm.
Như vậy giữ khí tiết trong tù không phải là không khai báo
gì cả (vì ai cũng phải có khẩu cung) mà phải khai báo cách
nào để đánh lạc hướng địch để bảo vệ tổ chức, bảo vệ đồng
đội và bảo vệ chính mình.
Về sau này tôi có dịp làm việc với anh Nguyễn Vĩnh Nghiệp
(nguyên chủ tịch TPHCM) Khi kể về giai đoạn ở tù của mình
anh cũng đã nhấn mạnh ý đó.
Nhân đây, tôi còn muốn nói thêm là: ngay cả những bạn tù đôi
khi cũng hiểu lầm nhau. Ví dụ như anh Huỳnh Tấn Mẫm. Khi mới
bị ném vô Nha Cảnh sát Đô thành, tôi nằm ngay trước cửa
xàlim của anh. Mỗi sáng khi chúng tôi ăn sáng bằng cháo gạo
lức đựng trong cái dĩa bằng nhôm, thì anh Mẫm được cung cấp
một ổ bánh mì thịt và một bịch cà phê sữa đá. Chuyện đó kéo
dài chừng một tuần lễ. Trong số bạn tù có người xì xầm là
anh Mẫm đã bị mua chuộc. Người lại nói là lẽ ra anh Mẫm
không nên nhận những bữa ăn sáng đó.
Một buổi sáng kia, người ta làm vệ sinh nhà tù. Khi cánh cửa
xà lim của anh Mẫm mở ra thì tôi là người đầu tiên nhìn thấy
những ổ bánh mì thịt, những bịch cà phê sữa còn nguyên xi,
nằm lăn lóc dưới đất và đã lên mốc, đã bốc mùi.
Tội nghiệp cho anh Mẫm. Anh là người hiền lành, học giỏi,
nhiệt tình… nhưng sau giải phóng vì đố kỵ, ganh ghét sự nổi
tiếng của anh mà có người đã dìm anh khiến anh không ngóc
đầu lên nổi. Tiếp theo là những rủi ro tiền bạc do bà vợ gây
ra khiến anh tuột dốc. Hồi còn sinh viên tôi và anh ở chung
phòng 4/6 Đại học xá Minh Mạng. Lúc ấy anh học phụ khoa
(gynécologie) năm thứ tư, vào Đảng năm 1968. Năm 1970 anh
nổi tiếng khắp thế giới nhờ vụ bắt bớ quy mô lớn mà tôi vừa
thuật lại ở trên. Vai trò của anh lúc bấy giờ là vai trò
công khai. Anh hoạt động cách mạng ở góc độ công khai có
nghĩa là với bất cứ danh nghĩa nào: Phật giáo, Công giáo hay
Lực lượng thứ Ba tuỳ theo sự chuyển biến của tình hình, tuỳ
theo nhiệm vụ chính trị của từng lúc. Nhưng không hiểu sao
có tin đồn là anh lừng khừng, không dứt khoát tư tưởng và
người ta để anh ngồi chơi xơi nước. Cuối cùng anh bị đẩy đi
Liên Xô học ba cái thứ vớ vẩn gì đó. Rồi anh về nước giữ
chức Phó chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ TPHCM.
Còn bây giờ anh là bác sĩ khoa thẩm mỹ hình như có phòng
mạch ở đâu đó trên đường Cách Mạng Tháng Tám.
Có lẽ anh nghèo. Và trong sạch.
♦
Vụ Huỳnh Tấn Mẫm kết thúc sau những cuộc xuống đường, tuyệt
thực… của đồng bào các giới: học sinh, sinh viên, công nhân,
đồng bào Phật tử… Chính quyền Thiệu biết rõ mười mươi một số
học sinh sinh viên (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm) là đảng viên
cộng sản nhưng họ vẫn phải trả tự do cho những người bị bắt.
Vì bị tra điện nhiều lần nên tôi phải về quê vừa để chữa
bệnh vừa thăm cha mẹ.
Khi tôi bị bắt, mẹ tôi không biết đã xảy ra chuyện gì và tôi
cũng không thể giải thích cho bà hiểu được. Bà vẫn nghĩ tôi
là một ông “cử nhơn” sắp đi làm quan, nhưng không hiểu sao
lại phải ở tù. Tôi chỉ nói:
"Con bị người ta bắt lầm thôi mà."
"Con có thi cử nhơn được không?"
"Được chớ."
Nhưng lúc ấy tôi đã là một đảng viên cộng sản.
Về quê, tôi được bà con đùm bọc, chạy chữa. Đó là gia đình
của thầy tôi – thân sinh của Tám Nhân, một bạn học, một tay
cách mạng đầy cá tính đã cùng với Lữ Phương (một ông thứ
trưởng Bộ Văn hóa) làm điên đầu những tay “Hồng Vệ binh”
trong suốt những năm ở R.
Chăm sóc cho tôi lúc đó còn có gia đình Trần Thiếu Bảo. Hắn
cũng là đảng viên, công tác quân báo. Sau giải phóng hắn là
một sĩ quan công an cấp tá, từng xách roi điện đi đến những
nơi có người nào chống Đảng.
Chị Bốn là chị ruột của hắn đã chăm sóc tôi rất chu đáo. Và
một “địa chỉ đỏ” nữa đó là nhà bà xã tôi. Ông anh vợ tôi hồi
đó cũng là dân phong trào sinh viên. Sau giải phóng ông làm
quan tới chức phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và là chồng
của bà Võ Thị Thắng, sếp ngành du lịch Việt Nam.
Một buổi sáng, khi tôi đi từ Tây Sơn xuống Quy Nhơn thì gặp
một toán quân cảnh xét giấy tờ quân dịch tại cầu Bà Gi. Lúc
ấy giấy hoãn dịch của tôi đã hết hạn do thời gian nằm trong
tù nên tôi bị giữ lại và đưa vào trại lính. Về nguyên tắc
tôi vẫn còn được hoãn dịch một năm nữa vì tôi là sinh viên
Đại học Sư phạm nhưng tụi quân cảnh không hiểu điều đó. Tôi
đã giải thích nhưng chúng không thèm nghe. Mục đích của
chúng là muốn đòi tiền nhưng tôi thì không có tiền.
Và thế là tôi bị đẩy vào một bi kịch mới, một chốn lao tù
mới hoàn toàn khác với cái nơi mà tôi vừa bước chân ra.
Trở lại mục lục
6. Từ nhà tù đến
trại tập trung
Bọn thanh niên bất phục tùng là một đám ô hợp, hỗn
tạp như đất đá, như đống xà bần bẩn thỉu, vứt bừa
bãi trong xó xỉnh ẩm mốc, u ám.
Sau một đêm trần truồng, nằm ngồi ngổn ngang, ngủ gà
ngủ gật trong những phòng giam chật hẹp nhơm nhớp mồ
hôi, nồng nặc hơi người, phân người, nước tiểu… bầy
tù được thả ra sân cho hít khí trời, cho ăn uống,
cho tiếp tục làm các thủ tục, giấy tờ để xếp loại,
hỏi cung, để bạt tai, đá đít, để mắng mỏ, chửi thề…
Bọn cán bộ tên nào cũng cầm một cuốn sổ, mỗi tên phụ
trách một nhóm. Chúng đếm đi đếm lại, ghi chép, cộng
trừ, la hét, đánh đập những kẻ ngồi không ngay hàng,
rồi lại ghi chép, chỉ chỏ. Xong việc cho giải tán.
Lúc đó cửa cổng chính mở ra một bên. Những người đàn
bà bán hàng rong quảy gánh chạy vô trại.
"Cháo dô! Cháo dô!"
Tiếng kêu ấy dấy lên, truyền đi như tiếng vang giữa
hang đá.
Loài người quây quần, cắm cúi, xương xẩu và trần
trụi. Không còn lại gì ngoài những cái miệng lớn húp
chùn chụt thứ nước xúp cay xè tiêu và ớt, nước mắt
nước mũi chảy ròng ròng.
Tôi bị nhốt ở đó mười hai ngày, làm quen với một ông
thợ mộc man khai lý lịch, một tay du đãng nguyên là
lính biệt kích Mỹ. Hắn và tôi đã vạch một kế hoạch
trốn trại, theo đó thì vào lúc 5 giờ sáng, điện tắt,
bọn tôi sẽ leo lên mái nhà nhảy qua hàng rào thứ
nhất. Chúng tôi sẽ lấy bao cát ở đó chất lên các đầu
cọc của hàng rào thứ hai rồi phóng ra đám mía phía
ngoài.
Cuộc đào thoát ấy bị thất bại vì một biến cố bất
ngờ. Ngay lúc chúng tôi chuẩn bị đặt bao cát lên
những đầu cọc thì đồn quân cảnh kế bên nhà lao bị
Việt cộng pháo kích. Tên lính gác lô cốt quay lại.
Cả ba anh em chúng tôi đều bị bắt nhốt trong phòng
tối một tuần lễ.
Mấy ngày sau đó phòng giam nhận thêm bảy người: năm
dân chài, một giáo sư tư thục và một nhà sư.
Nhà sư đó chính là Dã Nhân.
Anh mặc chiếc áo nâu già bạc màu, đầu nhẵn bóng in
nhiều vết cháy của trầm hương, chân đi guốc mộc.
Chúng tôi đều ngỡ ngàng trước cuộc gặp mặt này.
Nhà sư thì khó có thể tượng tượng được rằng một “nhà
cách mạng vĩ đại” như tôi bây giờ phải nằm trong
trại lính. Còn tôi thì cứ ngỡ rằng bạn mình đã tu
thành chánh quả.
Chúng tôi kéo nhau ra ngồi ở góc tường sau trại
giam.
"Sao lại ra nông nỗi này”, Dã Nhân hỏi.
"Xuống đường chống Mỹ bị tù. Giấy hoãn dịch hết hạn.
Bị tống vô đây."
"Còn tôi, mẹ tôi bán bốn con heo một trăm ngàn để
mua một tờ giấy hoãn dịch tu sĩ. Không ngờ đó là
giấy giả."
Khi ôn lại chuyện cũ, Dã Nhân hỏi:
"Thầy Long bây giờ ở đâu?"
"Chết rồi!"
"Sao nghe nói đi vô rừng?"
"Bị bom B52. Chết ở chiến trường miền Đông Nam bộ,
tháng 10 năm 1968."
Chúng tôi sống lại những ngày biểu tình rầm rộ ở Quy
Nhơn. Vụ đánh sập lầu Việt Cường và sau đó là trận
xạ kích tàn khốc của máy bay Mỹ trên đầm Thị Nại,
giết chết hàng trăm ngư dân, trong đó có ba của Dã
Nhân.
Giờ đây, nhìn lại mình, chúng tôi chỉ là những tên
phạm nhân ốm nhom, đen đủi, rách rưới, thảm hại.
Cái nỗi buồn mênh mông ấy tràn đến khi tôi tình cờ
đi ngang qua một chiếc xe du lịch đậu trong sân trại
giam, soi mặt mình trong tấm kính chiếu hậu. Đó là
một bộ mặt quắt lại, mắt trũng xuống, tóc húi cao
gần như trọc. Đó là bộ mặt của một đứa trẻ mồ côi đi
ăn xin ở đầu đường xó chợ. Dã Nhân cũng thế, trên
gương mặt anh không còn nét ung dung tự tại của vị
tì kheo ngồi thiền giữa hoàng hôn và thấy mình hóa
thân thành con hạc bay qua rừng trúc.
Người nào cũng đờ đẫn, thất thần, mệt mỏi.
Rồi tất cả choàng dậy sau hồi còi dài, mắt đỏ ngầu,
nhễ nhại mồ hôi. Tất cả tập họp điểm danh và lãnh
phần ăn chiều.
Một tuần sau, anh em chúng tôi bị chất lên một chiếc
xe GMC có lính vũ trang áp tải đưa đến Trung tâm
Nhập ngũ. Trong chuyến đi ấy có một người chạy thoát
nên số còn lại bị quật báng súng tới tấp vào đầu và
bị buộc phải cúi rạp xuống sàn xe như bầy súc vật.
Xế chiều, chúng tôi đến Trung tâm Nhập ngũ.
Thực chất đó là một trại tập trung.
♦
Đám thanh niên bất phục tùng lủi thủi đi như
những tên ăn mày. Dường như không ai nói một lời nào
cho đến khi ngửa tay lãnh chiếc chiếu nylon màu chàm
và nối đuôi nhau trở về khu dành riêng cho bọn họ.
Lớp “đàn anh” đã được gởi đi các quân trường, số còn
lại là những người tật nguyền đau ốm.
Những người mới đến, mệt mỏi đi tìm chỗ nằm rồi ngủ
thiếp đi trong cơn choáng váng vì đoạn đường dài mà
họ đã vượt qua.
Tên du đãng nằm ngoẻo cổ, cái đầu trọc lóc nhô ra
khỏi cánh tay trần xăm đầy hình nham nhở. Tât cả đều
bất động như khúc cây, như cục đá lăn lóc, vô giá
trị và tàn nhẫn.
Dã Nhân thì lọt thõm trong bộ quân phục rộng thùng
thình và nhàu nát. Trước đây tôi đã quen nhìn Dã
Nhân trong chiếc áo tu sĩ màu nâu già, đầu cạo nhẵn
bóng, bây giờ tự nhiên từ trong cái đống vải màu
xanh cứt ngựa kia bỗng nhô ra một cái đầu, tóc lởm
chởm không có đường ngôi, không có hàng lối. Mặt anh
nghiêng qua một bên, trông như cụt lại và xám đen.
Có lúc tôi cảm thấy Dã Nhân đã biến mất, thay vào đó
là một thằng người nào xa lạ vô danh. Dường như Dã
Nhân đã bị đem đi đâu rồi và người ta đã tráo vào đó
một kẻ khác. Dường như mụ phù thuỷ đã đến từ chặp
tối và biến nhà tu thành một con vượn nhỏ giữa lúc
anh đang ngủ.
Tôi mở mắt thao láo, nhìn đăm đăm vào những con
người đang lăn lóc chung quanh mà không để ý đến
người nằm cạnh mình. Nãy giờ ông ta trùm mền kín
mít, bây giờ đột nhiên run rẩy mạnh đến nỗi chiếc
mền sắp tuột ra khỏi giường. Dường như ông ta không
đủ sức kéo chiếc mền lại, nó đã rớt xuống đất một
nửa. Tôi ngồi bật dậy, định giúp ông, nhưng bắt gặp
một đôi mắt trợn trừng. Đầu của ông lắc lư liên hồi,
hai môi khô cứng, mở hoác ra, méo xệch. Hàm răng
dưới lởm chởm, đôi gò má nhô lên khỏi hai con mắt
sâu hoắm, trắng dã, trợn trừng. Đôi tay chới với,
run bần bật vươn tới trước trong một dáng điệu cố
gắng khốc liệt và tuyệt vọng.
"Bác, sao vậy bác?"
Nhưng ông ta vẫn cứ chới với hai tay, thở hổn hển
đứt đoạn, tưởng chừng như sắp chết ngạt. Một lúc,
ngón tay ông duỗi ra được, chỉ về phía cái biđông
nước.
Tôi mở nắp biđông, định cho ông uống, nhưng vừa mới
đưa cái biđông ra trước mặt thì, bằng hết sức bình
sinh, ông ta vồ lấy, trút xối xả xuống mặt mũi. Cái
miệng há ra, đói khát. Nước xối tràn ra mặt mũi,
ngập cả đôi mắt trắng dã trợn trừng. Mặc kệ, ông vẫn
nuốt ừng ực, cuống quýt, khốn khổ. Lát sau, chiếc
biđông rời khỏi tay, rơi xuống đất, hai cánh tay
cũng rớt xuống chiếu. Ông nằm ngoẻo cổ. Kiệt sức.
Đôi mắt nhắm lại và hơi thở dường như đã biến mất.
Tôi đứng sững, lát sau mới cúi xuống nhặt chiếc mền
lên, đắp lại cho người đàn ông khốn khổ.
♦
Một tuần sau tôi bị điều đi làm việc ở nhà bếp.
Xếp sòng ở đây là một anh hạ sĩ răng vàng. Thấy
chúng tôi bước vô, hắn hỏi:
"Mấy đứa?"
"Tám đứa."
Hắn ra lệnh:
"Thằng nào biết chữ thì ghi tên tất cả lại cho tao
rồi ở luôn trong này mà nấu nướng dọn dẹp, hễ tao
hứng lên là tao điểm danh, sót đứa nào là tao cho
bò."
Tôi làm theo lời gã. Xong việc, gã phát cho mỗi
người một cái xẻng:
"Một đứa lên bếp xúc cơm đổ vô cà mèng, một đứa đem
cà mèng cơm lại đàng kia chồng lên cà mèng canh rồi
xếp lại ngay ngắn."
Bọn thanh niên tuân lệnh răm rắp. Hạ sĩ răng vàng
day sang tôi và Dã Nhân:
"Hai thằng này đi nấu nước trà. Củi ở bên hàng rào,
cây nào ở trên chụm trước, lấy lộn xộn cũng bò
luôn."
Dã Nhân đứng tần ngần bên bể nước, giống hệt chàng
Sạclô, nhìn mệt mỏi xuống những thúng gạo lớn. Bắp
cải, dưa chuột lăn lóc dưới chân.
Tôi nhảy lên thành bể nước, kéo cái thùng sắt.
"Phụ một tay", tôi nói.
Dã Nhân đỡ thùng nước xuống để dưới chân nhưng không
chuyển đi. Anh móc trong túi ra một cái chai nhỏ,
đưa cho tôi. Chai đựng một thứ nước trắng đục như
sữa. Tôi mở nắp ngửi, thấy mùi hăng hăng
"Mủ xương rồng?" Tôi hỏi.
Dã Nhân đưa mắt ngó hạ sĩ răng vàng, gật đầu. Tôi
lại hỏi:
"Ông định làm chuyện đó?"
"Coi như bỏ một con mắt"
"Tại sao không chặt ngón tay trỏ?"
Dã Nhân cười, cái môi thâm mở ra, buồn tênh.
"Tao nghĩ kỹ rồi. Bỏ con bên trái.
Cái giọng lạnh lùng ấy của Dã Nhân, tôi chưa nghe
lần nào. Nó làm tôi sợ. Và tôi càng sợ hơn khi nhìn
thấy cái bóng của bạn mình méo mó dưới đáy bể nước
chao động, không còn ra hình dáng con người.
♦
Mưa giông dữ dội. Đêm nào tôi cũng chui xuống hầm
trốn pháo kích mà ngủ. Hầm được xây bằng những thùng
phuy chứa đầy cát, phía trên nóc lợp vỉ sắt và đổ
cát thật dày. Nước mưa đọng trong cát, rịn xuống,
nhỏ giọt trên mặt đất. Bọn tôi trải chiếu nằm kế
nhau. Tên du đãng thắp ngọn đèn cầy cắm trên cục
gạch.
Nó tựa lưng vô vách hầm, rụt cổ xuống, im lặng hút
thuốc. Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn cầy, nó
trông giống một nhà sư khất thực.
Dã Nhân mơ ngủ nói ú ớ trong xó tối. Anh nằm lim
dim, hai cái chân khẳng khiu cong lại, co ro, xương
bánh chè nhô lên khỏi đầu gối, thân thể lép xẹp như
con cá khô, như một người châu Phi chết đói giữa sa
mạc.
Một hồi còi chợt rúc lên. Dã Nhân mở mắt ra, hỏi:
"Cái gì vậy?"
Tên du đãng đáp:
"Còi thổi tập họp."
Tôi giục:
"Nhanh lên! Nó phạt bây giờ!"
Nhưng hình như Dã Nhân vẫn chưa thoát khỏi cơn mơ.
Mọi người đã chạy ra hết ngoài sân. Mưa vẫn rả rích.
Tiếng tu huýt rúc lên. Tiếng cán bộ la hét.
Dã Nhân bước ra ngoài mưa, như kẻ mộng du.
Tên trung sĩ chặn anh lại, hỏi gay gắt:
"Làm gì bây giờ mới ra?"
"Tôi ngủ quên,"
Một cái tát làm Dã Nhân lảo đảo. Tên trung sĩ hét
lên:
"Cởi quần dài ra! Quỳ xuống đi bằng hai đầu gối từ
đây đến cầu tiêu cho tao."
Hàng trăm thanh niên bất phục tùng đứng im phăng
phắc trong sân sáng choang ánh đèn.
Dã Nhân đứng thất thần như kẻ sắp bị đem đi hành
quyết. Anh cởi bỏ quần dài rồi quỳ xuống nền đất đầy
cát sạn.
Tên trung sĩ ra lệnh:
"Đi!"
Dã Nhân lê tới. Những viên sạn bén nhọn cứa trên hai
đầu gối. Anh cắn răng, cố chịu đựng. Tên trung sĩ
nhảy tới, vung roi ngựa quất tới tấp lên đầu và lưng
Dã Nhân. Anh trợn mắt tiến tới, máu đầm đìa hai đầu
gối, nhuộm đỏ những hòn sạn đau buốt, buộc anh phải
dừng lại. Nhưng cú đạp của tên trung sĩ đã làm anh
chúi mũi. Dấu chiếc giày trận trên lưng anh in rõ
nét như vẽ bằng một thứ bùn đặc sệt.
Dã Nhân gượng dậy, nghiến răng tiến tới trên hai đầu
gối trong nỗi uất hận điên cuồng. Khi đến cuối sân,
anh đứng dậy thì thịt ở hai đầu gối đã rữa nát, máu
chảy ròng ròng xuống hai ống chân.
Anh quay về, chậm rãi, nghiêm nghị, mặt ngẩng lên
như chàng giác đấu vừa hạ con sư tử.
Cái nhìn bốc lửa của anh khiến tên trung sĩ rúng
động. Và để trấn áp cơn sợ lạ lùng vừa ập đến, hắn
hét lên:
"Cho mày nhớ đời!"
Nhưng hắn không thấy bàn tay Dã Nhân đã nắm chặt
lại. Đến quỷ gác cửa địa ngục cũng không dữ hơn anh
lúc ấy. Cái đấm bay tới điên cuồng. Tên trung sĩ ngã
ngửa. Hắn rú lên, đưa hai tay bụm mặt, máu rịn ra
quanh kẽ ngón tay.
"Bắt nó! Bắt nó!"
Ba bốn thằng lính chạy lại. Chúng đánh anh bằng báng
súng. Giày “xô” đạp lên ngực, thúc vào ba sườn. Dã
Nhân bị hất văng đi, nhủi xuống bùn, nhưng anh không
kêu một tiếng.
Một cú đá nào đó đã làm vỡ môi anh, máu ứa ra đầy
miệng. Anh lăn lóc giữa trận đòn thù như đoạn củi
khô. Anh lờ mờ cảm thấy thân thể mình đang tan vỡ
từng mảng đẫm máu.
Cuối cùng, người ta đem đến một chiếc còng sắt. Một
cái lệnh ngắn và gọn được ban ra:
"Nhốt vô chuồng cọp. Một tháng!"
Trở lại mục
lục
7. Con nhện
và Sisyphe
Sau giải phóng Dã Nhân cởi áo tràng, bỏ chùa đi bụi
đời. Dù vậy tôi vẫn coi ông như sư phụ của mình vì
ông rất uyên bác về Phật học và nhiều vấn đề xã hội
khác.
Ông thường hay la cà với đám thợ hồ, thợ mộc và phu
xích lô, chiều chiều lai rai ở mấy cái quán cóc
trong xóm lao động. Nhiều khi say quá mà không chịu
về, ông thường ngồi một mình, mắt mờ đi, nhìn hoàng
hôn tím sẫm sau những mái tôn nám khói. Khi tiên
sinh trở về thì đã chạng vạng tối, có lần sẩy chân
lọt xuống sình. Chòm xóm đến kéo lên, dội nước cho
sạch bùn rồi cõng về nhà. Lại có khi đi ăn giỗ về,
quá chén, vừa bước qua cổng nhà đã ngã vô bụi ớt nằm
bất động mê man đến nỗi kiến lửa cắn nát cánh tay
vẫn không hay. Khi đưa vô bệnh viện thì da tay rộp
lên những bong bóng nước chi chít, còn đầu thì rỉ
máu.
Mấy hôm nay tâm trí Dã Nhân thường bất ổn
Tôi chơi nhạc Trịnh cho ông nghe.
Có một dạo bị mất ngủ, tôi phải nằm điều trị ở Bệnh
viện Y học Dân tộc. Sếp ở đây là bác sĩ Trương Thìn,
anh có một phòng riêng ở đó. Mỗi sáng anh thường đến
bệnh viện vào lúc 9 giờ và tôi mò đến chơi với anh.
Anh có cây ghita rất tốt và tôi đã chơi nhạc Trịnh
theo lối cổ điển cho anh nghe. Anh nói:
"Mình lấy làm lạ tại sao ông bị stress. Một người có
ngón đàn như thế không thể bị stress được."
Tôi tin đó không phải là một lời khen suông để lấy
lòng vì thế tôi vẫn đàn cho Dã Nhân nghe mỗi khi ông
bất an. Tôi muốn đem lại sự thanh thản cho ông bằng
những lời thủ thỉ:
Suối đã từng bàn chân em qua…
Và tiên sinh đã thiếp ngủ.
Tôi đặt cây đàn xuống. Đêm tràn qua cửa sổ. Tôi vẫn
ngồi cho đến khi không còn nhìn thấy hai bàn tay
mình đang đặt trên đầu gối. Dã Nhân cũng chìm khuất,
hoà lẫn trong biển im lặng.
♦
Nửa đêm tiên sinh gọi tôi dậy:
"Ngươi có biết triết học bắt nguồn từ sự sợ hãi
không?"
"Biết. Tư tưởng Phật giáo bắt nguồn từ sinh, lão,
bệnh, tử. Đó là sự sợ hãi."
"Không phải chỉ Phật giáo. Mọi hệ thống triết học
đều bị ám ảnh bởi cái chết và cố gắng vượt qua nó."
Tâm hồn Dã Nhân giờ đã lắng xuống như ly nước để qua
đêm. Trên mặt thì trong sạch tinh khiết nhưng dưới
đáy ly vẫn còn bụi bặm của cả một đời người. Cái cặn
ấy không đổ đi được, không lọc sạch được và sẵn sàng
bị khuấy động.
Tiên sinh không thể ngồi thiền. Tâm của ông không ở
với thân. Nó như con khỉ nhảy nhót không ngừng, nó
như con ngựa chạy. Phật giáo gọi trạng thái này là
“tâm viên ý mã.” Vì thế mà ông thay thiền bằng rượu.
Tôi hỏi tiên sinh:
"Thầy nghĩ gì về Eckhart Tolle?"
"Đời ta có hai lần hạnh phúc. Lần thứ nhất là năm ta
mười tám tuổi, đọc Nam Hoa kinh của Trang Tử
và lần thứ hai năm ta sáu mươi tuổi đọc The Power
of Now của Eckhart Tolle tiên sinh. Đó là những
cuốn sách làm ta sững sờ kinh ngạc."
Tôi nói:
"Thực ra Eckhart Tolle cũng chỉ diễn đạt tư tưởng
của Phật Thích Ca."
"Không sai. Nội dung của cuốn The Power of Now
là sự hiện đại hóa pháp môn Chánh Niệm, một nội dung
rất quan trọng của Bát Chánh Đạo. Ông đã dùng ánh
sáng luận lý của triết học phương Tây để quảng diễn
một cách sâu sắc và cụ thể pháp môn này. Phật giáo
rất coi trọng pháp hành hơn lý thuyết
suông. Và Chánh Niệm là phần quan trọng nhất trong
pháp hành. Thậm chí ta có thể nói đắc đạo hay không
đắc đạo, thành Phật hay không thành Phật, Niết bàn
hay không Niết bàn… cũng đều nằm trong Chánh Niệm.
Và Chánh Niệm chính là cái ‘hiện tiền phi thời gian’
của Eckhart Tolle. Đối với ta, Eckhart Tolle thực sự
là một vị A La Hán."
Cuốn The Power of Now đã được dịch ra tiếng
Việt dưới nhan đề Sức mạnh của hiện tiền phi thời
gian. Đọc cuốn sách này tôi nhớ mấy câu kệ trong
Trung bộ Kinh của Phật giáo Nguyên thuỷ. Câu kệ ấy
như vầy:
Thường sống trong rừng núi
Bậc thánh sống phạm hạnh
Một ngày ăn một buổi
Sao sắc họ thù diệu?
Không than việc đã qua
Không mong việc sắp tới
Sống ngay với hiện tại
Nên sắc họ thù diệu.
Cái mà Eckhart Tolle nhắc đi nhắc lại
trong tác phẩm của ông là “sống ngay với hiện tại”.
Nhưng chính Eckhart Tolle cũng nói rằng trên thế
giới số người đạt tới cảnh giới ấy không nhiều. Vậy
thì tính khả thi của Chánh Niệm, của cái “hiện tiền
phi thời gian” là rất thấp và cái chết vẫn còn đó,
vẫn treo lơ lửng trên phận người như một nỗi sợ hãi
thường trực.
Dã Nhân kể một câu chuyện trong Nam Hoa kinh:
"Khi Trang Tử sắp chết, các học trò ông bàn nhau tổ
chức đám tang. Ông nói: ‘Ta chết đã có bầu trời, mặt
đất làm quan quách. Những vì sao và chim chóc đưa
tiễn ta. Thế thì các ngươi tổ chức đám tang làm gì?’
Học trò thưa: ‘Chúng con sợ diều, quạ rỉa xác thầy.’
Trang Tử nói: ‘Các ngươi muốn cướp cái ăn của diều
và quạ sao?’”
Có phải Trang Tử muốn hiểu cái chết như là một sự
chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác, từ
sinh vật này sang sinh vật khác không?
Tôi nói:
"Nhưng để ngộ được như Trang Tử phải tu nhiều kiếp.
Vậy mà có một loài vật không cần tu luyện nhưng vẫn
ngộ."
Dã Nhân với lấy chai rượu nhưng không còn một giọt
nào. Ông đưa nó lên ánh đèn lù mù rồi thả nó lăn
tròn dưới sàn nhà. Ông hỏi:
"Loài vật nào?"
"Tôi không nhớ nổi cái tên khoa học dài dòng của nó.
Chỉ biết là tôi đã xem một chương trình truyền hình.
Một con nhện cái màu đen. Nó có cái vòi dài và tự đẻ
trứng trên khắp thân thể nó. Hàng trăm cái trứng màu
trắng, chi chít, lốm đốm trên lưng, trên cổ, trên
bụng nó. Đẻ xong thì nó chết. Ít lâu sau những chú
nhện con ra đời và xác của mẹ chúng trở thành kho
thực phẩm nuôi chúng lớn lên. Thầy nghĩ thế nào về
con nhện đó?"
Dã Nhân nói:
"Nó biết chuẩn bị cho mình một cái chết. Đó là cái
chết không sợ hãi, nhẹ nhõm, tự nguyện và tự do."
"Triết học Hiện sinh cũng biện hộ cho một cái chết
tự do."
"Triết học Hiện sinh là triết học của sự phi lý (la
philosophie de l’absurdité). Tại sao phi lý? Vì mọi
người đều là một anh chàng Sisyphe. Cố lăn tảng đá
lên đỉnh núi dù biết rằng khi tới đỉnh thì nó lại
rơi xuống vực. Và anh ta lại phải tiếp tục lăn tảng
đá ấy lên đỉnh núi, để rồi nó lại rơi xuống. Đó là
sự phi lý. Giống hệt con người sống để rồi chết thế
mà vẫn phải sống, vẫn phải lặp đi lặp lại hàng ngàn
năm như anh chàng Sisyphe nọ.
Muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy chỉ còn một
con đường là tự sát. Bởi vì khi tôi tự sát có nghĩa
là tôi đã tự quyết định. Có nghĩa là tôi tự do! Và
tôi chứng minh được rằng tôi hiện hữu.
Con nhện không cần triết lý. Nhưng nó đã tự quyết
định cái chết của mình, nhẹ nhàng, thanh thản và rất
hồn nhiên.
Tại sao con người lại không thể chuẩn bị cho mình
một cái chết hồn nhiên như vậy?
Cái chết của con nhện chẳng phải là nhập Niết bàn
sao? Chẳng phải là đi vào Cõi Trời sao?
Giải mã được cái chết của con nhện thì không cần
triết học, không cần tôn giáo nữa.
Và đó chính là sự Giải thoát."
Tôi im lặng. Tôi chưa hiểu nổi điều mầu nhiệm trong
cái chết của con nhện. Và tôi đưa một câu hỏi rụt
rè:
"Hay con nhện đã hành động theo bản năng?
Dã Nhân cả cười:
"Bản năng? Thường thì sinh vật (kể cả loài người)
chỉ có bản năng sinh tồn (gồm ăn, uống, tình dục,
săn mồi…) chứ không có bản năng hy sinh, không có
bản năng quên mình. Vì đó là những phạm trù thiêng
liêng chứ không phải bản năng. Và ta cho rằng hiểu
được điều mầu nhiệm trong cái chết của con nhện tức
là đã trả lời được câu hỏi lớn của nhân loại mà
không cần phải tự sát theo kiểu của Camus:
Il n'y a qu'un problème philosophique vraiment
sérieux: c'est le suicide. Juger que la vie vaut ou
ne vaut pas la peine d'être vécue, c'est répondre à
la question fondamentale de la philosophie. (Chỉ
có một vấn đề triết học thực sự quan trọng: đó là tự
sát. Hãy xét xem cuộc đời đáng sống hay không đáng
sống, đó chính là trả lời cho vấn đề căn bản của
triết học. Trích Le mythe de Sisyphe,)"
Tôi hỏi:
"Tiên sinh à! Ông nghĩ gì về cái chết của Albert
Camus?"
"C’est le suicide."
"Tự sát sao? Báo chí đưa tin rằng đó là một tai nạn
giao thông mà?”
Dã Nhân uể oải đứng dậy, mở cánh cửa tủ ọp ẹp của
ông, lục lọi trong mớ báo cũ.
"Cậu đọc đi," ông nói nhưng không đưa tờ báo cho tôi
mà lại đeo kính lão vào mắt rồi tự đọc lấy:
"La voiture quitte la route et percute un arbre
qui la borde. Les journaux de l'époque évoquent une
vitesse excessive (130 km/h), un malaise du
conducteur ou l'éclatement d'un pneu, mais René
Étiemble affirme: "J'ai longtemps enquêté et j'avais
les preuves que cette Facel"Vega était un cercueil.
J'ai cherché en vain un journal qui veuille publier
mon article…" (Chiếc xe đã lạc tay lái và đâm
vào một thân cây bên lề đường. Báo chí thời ấy cho
rằng xe đã chạy quá tốc độ - 130 km/giờ-. Tai nạn
xảy ra là do lái xe vụng về hoặc do nổ lốp xe, nhưng
nhà báo René Étiemble thì khẳng định: "Trong một
thời gian dài, tôi đã điều tra vụ việc và tôi đã có
bằng chứng rằng chiếc xe Facel Vega đã là một cỗ
quan tài. Tôi đã cố tìm một tờ báo nào dám đăng bài
viết của tôi nhưng vô ích…”
Tôi lắng nghe và ngẫm nghĩ. Rồi tôi hỏi:
"Câu nói úp úp mở mở của Étiemble thực ra là gì?"
"Là gì không quan trọng. Cái quan trọng chính là câu
mà Camus đã nói: ‘Il n'y a qu'un problème
philosophique vraiment sérieux: c'est le suicide.’
Và chính ông đã giành lại cho mình quyền tự do ấy."
Trở lại mục
lục
8. Đại đội
22 trinh sát
Điểm đến của tôi sau “ba tháng quân trường” là đại
đội 22 trinh sát thuộc sư đoàn 22 bộ binh đóng ở Cầu
Bà Gi. Một ngọn núi nhỏ, trơ trọi. Một ngọn tháp đơn
độc của người Chămpa mà người ta quen gọi là tháp
Bánh Ít.
Những ngày cuối cùng ở quân trường tôi bị bệnh mắt
hột. Mắt cộm, sưng lên, không mở ra được.
Tôi xuống xe, xách chiếc ba lô con cóc, quờ quạng đi
như một gã hành khất mù loà.
Bốn mươi lăm ký, đầu húi cao, quần áo lính thùng
thình, giày botte de saut mới tinh, nặng
trịch. Đứng xếp hàng trước cái trại lính lụp xụp lợp
bằng tôn rỉ sét. Sau đó là ôm mặt nằm cong queo trên
chiếc giường gỗ rộng tám tấc. Hai mắt đau rát.
Xế chiều có ai đó tới thăm tôi. Một thằng bạn? Không
thấy mặt nó, chỉ cảm nhận một cú chạm nhẹ ở cuối
giường và một tràng cười ngặt nghẽo. Cười chảy nước
mắt, cười hô hố. Nhưng chỉ có nó cười. Tụi lính mới
về không ai dám cười kiểu đó.
"Hiếu ơi! Tao nghe nói mày làm cách mạng mà! Sao bây
giờ mày về đây làm lính của tao?"
Đó là cái giọng Huế của thằng Văn Eng. Khi tôi và
Trần Quang Long “quậy” ở Qui Nhơn nó đứng ngoài cuộc
vì ba nó là sĩ quan chế độ cũ. Tuy vậy chúng tôi
cũng rất thân nhau. Cùng với Nguyễn Quang Hoà, chúng
tôi là bộ ba giống như ba người lính ngự lâm. Trong
ba thằng thì tôi và Văn Eng là những đứa lêu lổng
nhất. Tới mùa thi, khi ai cũng vùi đầu nơi bàn học
thì giữa đêm khuya Văn Eng bảo tôi tới nhà người yêu
của nó.
Cô gái có một cái tên dài dòng, sang trọng, kiêu kỳ.
Mai Lâm Tuyết Hườn. Tuyết Hườn là một viên tuyết
nhỏ. Mai Lâm Tuyết Hườn là một viên tuyết nhỏ trong
rừng mai.
Nhưng nhà của Tuyết Hườn không phải là một rừng mai
mà là một cửa hàng bán vật liệu xây dựng với một cái
sân khá rộng và điều đáng ngạc nhiên là bên trong
đang có… ba con bò khổng lồ.
Tại sao một nhà giàu quý tộc ở giữa lòng thành phố
Qui Nhơn như thế lại nuôi ba con bò?
Văn Eng và tôi đứng tần ngần trước cái cổng gỗ to
lớn. Không có người đẹp. Không có ánh đèn trong cửa
sổ. Chỉ có 3 con bò đang im lìm nhìn chúng tôi, đen
thui như ba tên Chà Và gác cổng.
Văn Eng thò tay vô phía trong cánh cửa cổng, mở cái
chốt.
Rất thong thả, ba con bò bước ra ngoài đường phố.
Còn chúng tôi thì bỏ chạy.
Cũng may, sáng hôm sau gia đình Tuyết Hườn tìm lại
đưọc ba con bò!
♦
Thiếu uý Văn Eng ôm lấy tôi.
Cuộc gặp ấy làm tôi bất ngờ quá.
Nó là thiếu uý đại đội phó của tôi. Đại đội trưởng
là một tay đại uý xuất thân Trường Võ bị Đà lạt. Về
sau tôi biết hai người không ưa nhau và thủ thế với
nhau khá căng thẳng. Eng tâm sự với tôi:
"Mỗi lần thấy tao đi ngang qua văn phòng của nó, nó
đều đặt tay lên khẩu colt 45 để sẵn trước mặt."
"Vì sao vậy?"
"Vì đã có lần tao suýt bắn nó."
Văn Eng là một sĩ quan nho nhã, có học thức.
Và sau này, tôi tình cờ đọc được một truyện ngắn của
nó đăng trên tạp chí Trình Bày. Đó là một
tuyện ngắn độc đáo. Tôi ngạc nhiên về tài năng của
nó.
Ít lâu sau tôi nghe nó tử trận.
Nó không thích Việt cộng và cũng không thích Mỹ. Nó
ghét chiến tranh và vẫn mãi mãi yêu Mai Lâm Tuyết
Hườn. Tôi không biết bây giờ Hườn đang ở đâu. Mỹ hay
Canada, hay Pháp? Tôi chỉ biết rằng Văn Eng đã chết.
Đại đội của nó rơi vào một ổ phục kích và vì không
muốn bị bắt nên nó đã rút súng tự sát.
Tội nghiệp cho Văn Eng. Anh bị động viên vào Thủ Đức
và trở thành một sĩ quan bất đắc dĩ. Anh đã không
mưu cầu một điều gì từ cuộc chiến ấy. Văn Eng, bạn
tôi, là một nhà văn có tài dù anh chỉ mới viết có
dăm ba cái truyện ngắn.
Eng ơi! Viết đến đây tao khóc. Vì tao thương mày
quá. Sao mày lại tự sát? Sao mày không cố nhịn nhục
ở tù ít lâu rồi anh em mình lại gặp nhau?
Trở lại mục lục
9. Mẹ tôi
Trước Tết Tân Hợi 1971 chừng một tháng, tôi xin được
một cái phép ba ngày về thăm mẹ.
Căn nhà của tôi bây giờ chỉ là một nơi hoang tàn,
lạnh lẽo. Tôi đi từ nhà trước ra nhà sau, không một
bóng người.
Khi tôi đẩy cửa bước vô căn buồng nhỏ nơi mẹ tôi
thường nằm thì nghe có mùi gì rất lạ. Căn buồng tối
quá, tôi phải mở cánh cửa nhỏ mới nhìn thấy được mọi
thứ trong đó. Chiếc giường nhỏ kê sát vách không có
ai nằm. Một chiếc gối nhỏ và chiếc mền cũ màu xám
tro. Tôi đến bên giường, vừa đặt tay lên gối thì một
đám bụi bốc lên. Trên chiếu lờ mờ hiện lên những vật
gì màu nâu. Tôi cúi xuống. Các bạn có biết đó là cái
gì không? Đó là phân người. Chúng đã khô quắt lại.
Từ ngày tôi bị b |