|
1. Bayle và anh Việt cộng
chịu chơi
Năm 1965 tôi có hai người bạn thân. Người thứ nhất là Bayle,
lính thuỷ đánh bộ Mỹ và người thứ hai là một Việt cộng.
Việt cộng này không đi dép râu, không đội nón tai bèo mà để
tóc dài, hút Bastos xanh và uống Whisky. Anh ta là Trần
Quang Long, thi sĩ.
Còn gã lính thuỷ đánh bộ Mỹ là một thanh niên da trắng, tóc
nâu, vừa tốt nghiệp đại học Yale thì bị thảy qua chiến
trường Việt Nam. Hắn cũng thích Whisky và chơi ghita cổ
điển. Tôi cũng chơi nhạc cổ điển nên hắn khoái tôi.
Thường tới nhà. Ăn ngủ ở đó.
Nhớ bồ, khóc lóc cũng ở đó.
Bayle chơi nhạc flamenco của Sabicas rất bốc, nhưng hắn lại
thích nghe tôi chơi những tác phẩm của Tarrega. Hắn nói mỗi
lần nghe Tarrega tao buồn quá.
Ngày kia khi tôi vừa tiễn hắn ra đầu hẻm thì một viên cảnh
sát áo trắng đến. Ông ta hỏi:
"Thằng Mỹ nào vậy?"
"Bạn của tôi."
"Nó vô trong xóm lao động làm gì?"
"Vô chơi."
Viên cảnh sát ghé tai tôi:
"Em dại lắm. Dẫn nó vô xóm lao động lỡ bị Việt cộng ám sát
thì em sẽ tù rục xương."
Nhưng Bayle vẫn đến. Anh ta có thể ăn bất cứ món gì mà người
Việt ăn được, nhất là những đặc sản Bình Định như chim mía,
nem Chợ Huyện, mắm cua…
Trần Quang Long và Bayle không biết nhau, không thù nhau,
không thân nhau. Còn tôi thì thân cả hai người.
Long dụ tôi theo Việt cộng. Rồi cùng Long tổ chức những cuộc
biểu tình rộng lớn chưa từng có tại Qui Nhơn vào mùa Hè năm
1965.
Long là một anh chàng cộng sản rất quậy. Tôi cũng quậy. Chơi
xả láng với cảnh sát, với dùi cui ma trắc, lựu đạn cay và
nhà tù. Còn Bayle thì không biết gì cả nhưng anh ta đã chết
ngay trên đường phố. Long bị đánh gãy chân còn tôi bị tống
ra đảo Phước Lý cùng với một thằng bạn có tên là Dã Nhân.
Bayle chết không thù hận. Hồn nhiên như đứa trẻ. Tôi nhớ
những ngón tay của anh ta thon dài tái nhợt trên nền xi măng
lấm lem. Đó là những ngón tay tài hoa từng cùng tôi đánh
thức dòng nhạc trữ tình của Tarrega mà anh ta rất thích. Lúc
Bayle chết, tôi và Trần Quang Long đang nằm trong quân y
viện Qui Nhơn, bệnh viện của những người lính Sài Gòn.
Bayle chết cùng ngày với một ông già Việt Nam.
Đó là cha của Dã Nhân.
♦
Nhưng chúng ta hãy trở lại cuộc biểu tình hai chục ngàn
người - lên án Nguyễn Cao Kỳ cho máy bay ném bom các chùa
chiền ở Đà Nẵng - do Trần Quang Long, Dã Nhân và tôi tổ chức.
Khi đêm xuống, cảnh sát tấn công vào ngôi trường tiểu học
nơi chúng tôi đang cố thủ. Chúng bắn nát các bóng đèn. Bóng
tối trùm xuống. Khói cay tràn ngập khắp nơi, chảy cuồn cuộn
vào cổ họng như những con bọ nóng rát. Báng súng đánh phủ
đầu giữa tiếng la hét của các nữ sinh.
Nhưng trận đòn thù ác liệt nhất vẫn chỉ tập trung vào một
người.
Khi tôi đỡ Long nằm xuống thì nghe một tiếng động nhỏ. Tôi
xắn ống quần Long lên, thấy chỗ vết thương có một cái khớp.
Đó là chỗ xương gãy. Máu ở đó trào ra, không mạnh nhưng cầm
hoài không được. Tôi gọi y tá trong trại giam đến chích
thuốc cầm máu. Chúng chích cho Long mấy mũi mà vẫn không cầm
được máu. Sáng hôm sau chân Long sưng tấy lên và mặt anh tái
mét. Chân sưng to làm ống quần Long căng cứng, Long day trở
khó khăn nhưng anh không kêu. Long bảo tôi:
"Xé giúp mình cái ống quần."
Tôi xé theo đường chỉ may, xé toạc lên tới đùi. Vải quần đẫm
máu đã khô cứng lại, dày cộm. So với chân bên kia, chân bị
thương thật dễ sợ. Xé ống quần rồi, thấy nó như phồng thêm
lên. Thế mà vết thương vẫn không ngừng rỉ máu. Trưa đó, một
chiếc xe bít bùng đến và chúng đặt Long lên băng ca, khiêng
bỏ lên xe, đóng sập cửa lại.
Tôi bị còng tay và đẩy lên một chiếc tàu nhỏ của hải quân.
Cùng đi với tôi có Dã Nhân, một Phật tử cao lêu khêu và đen
đúa như con khỉ đột.
Mặt biển buổi trưa phẳng lặng và sáng như một mảng kim loại.
Con tàu nhỏ tròng trành. Hai người nằm ngủ vùi trong khoang
tàu bẩn thỉu cạnh những cuộn dây thừng to. Xế chiều tàu cập
bến một hòn đảo nhỏ giữa biển. Vẻ đẹp của biển hoàng hôn làm
tôi tỉnh táo trở lại. Tôi ngồi cạnh Dã Nhân hút thuốc lá và
nhìn ra biển. Dã Nhân ngồi hát. Biển im, tiếng hát nghe rất
rõ trong cơn gió nhẹ, trong tiếng kêu rít rít của mấy con
yến trắng.
Bóng những người lính Sài Gòn đi lại trên cồn cát, mũi súng
M16 đâm thẳng lên như những nét kiếm thẳng tắp. Họ cử động
cũng chậm chạp, câm lặng và uể oải. Một viên hạ sĩ đến và ra
lệnh:
"Tắt thuốc lá đi nếu không muốn Việt cộng bắn trúng ngay
mặt."
Dã Nhân búng tàn thuốc lá lên không và cho hai tay vào túi
quần. Viên hạ sĩ quan ra hiệu cho chúng tôi đi theo anh ta
đến cái lều vải nhỏ để lãnh mùng mền.
Toán quân leo lên ngọn đồi thấp. Họ leo mất nửa tiếng đồng
hồ mới lên được tới đỉnh đồi. Mệt mỏi.
Cùng lúc ấy, Trần Quang Long bị gởi đi Tây Nguyên với vết
thương còn rịn máu. Có lẽ anh cũng đang nằm nhìn mặt trăng
vàng bệt này trong một khu rừng nào đấy và ở đó cũng có
những người lính gác đi đi lại lại.
♦
Tôi và Dã Nhân được đưa về đất liền trên một chiếc ghe đánh
cá nhỏ của dân chài. Chúng tôi được giải giao về ty cảnh sát
và trả tự do một cách nhanh chóng, không bị hạch hỏi hay làm
thủ tục giấy tờ gì rườm rà.
Về đến nhà tôi được biết hai cái tin quan trọng: Trần Quang
Long cũng được đưa từ Tây Nguyên về nằm điều trị tại quân y
viện Qui Nhơn và tôi đã có kết quả đậu tú tài hai.
Lúc ấy ngoài phố có nhiều tiếng huyên náo. Những người đi xe
đạp và xe gắn máy đều bị chặn lại. Một đoàn xe Falcon đen
bóng đang từ dưới đường Gia Long chạy lên, đậu ngay trước
lầu Việt Cường. Trên xe bước xuống toàn sĩ quan tướng tá Mỹ.
Bọn quân cảnh Mỹ bồng súng chào. Các sĩ quan Mỹ đi thẳng vô
phòng khách của toà cao ốc nơi được thuê làm đại bản doanh
của quân đội Mỹ đóng ở Qui Nhơn. Trong bãi đậu xe có tới
trên dưới ba mươi chiếc xe vừa Falcon vừa Jeep lùn.
Chúng tôi rẽ đám đông, trở về căn nhà của Dã Nhân trên bờ
đầm Thị Nại. Ba Dã Nhân là một ông già thấp bé nhưng chắc
chắn. Tôi ngồi coi ông vá lưới trong khi chờ Dã Nhân thay
quần áo.
"Mày sửa soạn đi đâu đấy? Ông già hỏi."
"Con đi với bạn vô bệnh viện thăm thầy Long."
♦
Long xanh xao hơn trước. Cái chân gãy đã được băng bột và
trên lớp băng trắng cứng ngắc ấy, Long đã vẽ đầy hoa hippy.
"Đưa cho mình cái xe lăn."
Long khá to con nên phải cố gắng mới đỡ anh vào xe được.
Ngồi vào xe, Long trông có vẻ phong độ hơn là nằm trên
giường, giống hệt như anh đã leo lên được trên lưng ngựa.
Anh đẩy mạnh hai bánh cho chiếc xe lăn đi một đoạn dài, rồi
cười ha hả.
"Bây giờ mình giống hệt đứa con nít mới tập đi, Long nói.
Cho mình một điếu thuốc."
Long đánh diêm, bàn tay khum khum che ngọn lửa nhỏ, đầu
nghiêng qua một bên. Có tiếng gõ cửa.
Khách là đồng bào Phật tử. Họ đến thăm người lãnh tụ phong
trào đấu tranh chống Mỹ Thiệu Kỳ đàn áp Phật giáo. Từ hôm
Long được chuyển về điều trị tại đây, đã có biết bao nhiêu
lượt tín đồ Phật giáo đến thăm anh như thế. Trong suy nghĩ
của họ thì Long là một Phật tử dũng cảm sẵn sàng xả thân vì
đạo pháp, sẵn sàng "chết dưới chân thầy".
Xế chiều, Dã Nhân về. Tôi đẩy xe lăn ra đứng nơi hành lang
ngó ra biển. Biển cũng buồn và gió thì cứ lồng lộng. Tiếng
sóng vỗ nghe ì ầm, dữ dội, nhưng vẫn cứ buồn, vẫn cứ thấy xa
thẳm mơ hồ mặc dù những ngọn sóng kia chỉ cách chỗ hai người
có một hàng dương. Long nói:
"Niên khóa tới chắc mình sẽ bị đổi đi nơi khác."
"Đi đâu?"
"Chưa biết được, nhưng chắc là nó không để mình dạy ở đây
nữa. Còn em, em sẽ vào đại học nào?"
"Chắc là Sài Gòn."
"Sài Gòn là nơi phong trào sinh viên rất mạnh. Đời em sẽ
trưởng thành ở môi trường đó. Mình vẫn hy vọng chúng ta sẽ
gặp nhau ở đó."
Có tiếng ai ca vọng cổ ở đầu hành lang. Phía ấy lô nhô mấy
cái bóng trắng. Thấy Long và tôi đứng gần, họ gọi:
"Lại đây chơi, mấy anh."
Long bảo tôi đẩy xe lại gần họ. Đó là những người lính còn
rất trẻ và trông có vẻ quê mùa tội nghiệp. Hai người cụt
tay, một người khác chân bị cưa lên tới quá đầu gối. Người
thứ tư bị băng kín một con mắt. Họ xa nhà, nhớ người thân
nên ngồi lại với nhau hát vọng cổ. Thấy Long băng bột, họ
hỏi:
"Anh đụng trận nào vậy?"
Long cười, nói:
"Tôi cũng giống như các anh. Mình là người Việt Nam, có muốn
đánh nhau đâu nhưng vẫn cứ ăn đạn. Cũng may là không đến nỗi
phải cưa. Anh em ở tỉnh nào?"
"Dạ, tụi em ở Bến Tre. Có thằng ở Sa Đéc nhưng đều là lính
của sư đoàn 22."
Long tiếp lấy mấy hạt đậu rang trên tay người lính trẻ. Rồi
anh bảo tôi:
"Về mở tủ. Lấy nhiều nhé."
Tôi đem quà đến. Những người lính sửng sốt. Long nói:
"Mình có nguyên một tủ quà, không cách gì ăn cho hết. Xin
các bạn hãy ăn giúp mình nhé. Và đem về chia cho những anh
em khác, nhất là những người bị thương nặng."
Xử sự của Long làm họ đổi cách xưng hô, một người nói:
"Cám ơn đại uý. Đại uý cho tụi em nhiều quá."
Long cười khà khà. Tôi đẩy xe đưa Long về phòng. Và khi tôi
vừa đỡ Long nằm xuống giường thì một tiếng nổ vang rền dữ
dội, từ phía thành phố vọng lại.
Sau đó là một phút im lặng ghê gớm.
"Chuyện gì vậy?"
Có tiếng hỏi nhau xì xào ngoài hành lang.
Tôi nhìn Long, sửng sốt. Long nghiêng người qua, nói nhỏ vô
tai tôi:
"Đặc công!"
♦
Bayle đã chết trong tiếng nổ long trời đó. Nhưng lúc ở trong
bệnh viện tôi không hề biết. Tôi cũng không biết là ba của
Dã Nhân cũng đã chết trong đêm kinh hoàng ấy.
Lúc bấy giờ đã khuya, trời tối đen. Sau tiếng nổ là một sự
im lặng ghê gớm. Tiếng gió hú ngoài biển càng làm cho sự im
lặng thêm man rợ. Nhưng chỉ một lát sau đã nghe tiếng máy
bay trực thăng quần đảo trên đầm Thị Nại. Rồi từng loạt đạn
đại liên M60 trút xuống đầu những ngọn sóng. Bầu trời bị
chấn động, rạn vỡ, tan nát. Những cơn gió rách tả tơi. Những
ngọn sóng toé máu. Thuyền đánh cá vung vãi như giẻ rách.
Người chết không một lời kêu cứu. Cuộc trả đũa tàn khốc và
mù loà. Tiếng động cơ máy bay và đạn pháo thì gầm thét nhưng
cái chết thì câm lặng, tắt nghẹn, chìm khuất.
Sáng hôm sau tôi đến lầu Việt Cường, nơi đặt Tổng Hành dinh
của quân đội Mỹ. Toà cao ốc này sụm xuống như một cái đèn
xếp. Lộ ra một mảng trời đục. Hôm qua, nơi đây cảnh sát đã
dọn đường cho phái đoàn quân sự cao cấp Mỹ đến họp. Và sáng
nay những người cảnh sát này lại đến, cùng với quân cảnh Mỹ,
cô lập khu vực này lại cho công binh Mỹ dùng cần cẩu bốc
những tảng bê tông lên và chui vào lấy xác.
Tôi len lỏi vào đám đông. Đột nhiên tôi nhìn thấy Bayle nằm
lẫn trong đống xác lính Mỹ vừa được kéo ra xếp hàng trên nền
đất.
Bayle nằm sấp, mặt nghiêng về một bên, mũi dập nát và đầy
máu. Nhưng tôi nhận ra anh nhờ hai bàn tay. Cũng giống như
hai bàn tay tôi – bàn tay của người chơi đàn ghita cổ điển –
tay phải để móng dài, tay trái đầu ngón tay bè ra và chai
cứng. Trong số những tác phẩm của Tarrega mà Bayle thường
chơi có bài “Giọt nước mắt” (Lagrima). Bây giờ giọt nước
mắt đang chảy trên má tôi.
Lúc ấy Dã Nhân xuất hiện và kéo tôi chạy ra đầm Thị Nại.
Một đám đông đang tụ lại bên hàng rào kẽm gai. Viên cảnh sát
ra lệnh cho các tù nhân đem băng ca xuống bãi cát. Mấy cái
xác nằm lẫn trong rác rưới và vỏ sò. Mấy chiếc máy bay phản
lực còn bay vòng ngoài biển, phía trên những ngọn núi còn
phủ đầy khói.
Bãi cát ở thụt sâu dưới thấp. Mấy xác chết nằm im lìm như
những vết đen trên một nền cát xám ngoét. Những người đến
xem đứng dọc theo hai bên đường ray.
Khi xác chết được khiêng lên thì mọi người đều im lặng.
Không một âm thanh nào ngoài tiếng động cơ của chiếc máy bay
thám thính L19 đang trinh sát trên cao.
Nạn nhân là một người đàn bà và hai người đàn ông. Cái cổ
người đàn bà nát bấy, sạch hết máu và thịt đã xơ xác ở miệng
vết thương. Cánh tay người đàn ông thì gãy quặt ra đàng sau,
co quắp. Chiếc xe chở xác trờ tới. Những người có thân nhân
đánh cá ngoài biển đêm qua hấp tấp chạy lại chỗ xe đậu để
xem mặt các nạn nhân. Một phụ nữ nhận ra xác chồng mình liền
ngất đi, ngã xuống đường cái, đám đông bu lại lo cứu chữa.
Mấy đứa trẻ con khóc nức nở lẫn trong tiếng chó sủa inh ỏi.
Dã Nhân cúi sát xuống xác chết của người đàn ông để nhìn cho
rõ nhưng không phải cha mình, người này còn quá trẻ. Anh
quay lại, nắm lấy tay tôi, mắt đỏ ngầu.
Chiếc xe chở xác bỏ đi, những người lính và những người đứng
xem cũng về hết. Tôi và Dã Nhân trở về dọc theo đường sắt.
♦
Hôm sau, gia đình Dã Nhân được chính quyền gọi đến nhận xác.
Vì chờ lâu ngày nên xác cha anh được liệm sơ sài trong một
chiếc quan tài gỗ.
Tôi chỉ còn nhớ vài hình ảnh rời rạc ở nghĩa địa. Cái huyệt
đào trong vùng đất có nhiều sạn. Những cánh tay nổi gân sạm
đen của những bác xích lô đang cố gắng hạ chiếc quan tài
xuống huyệt. Mấy người thầy cúng tụng niệm lâm râm.
Ở nghĩa địa ra, Dã Nhân và tôi đi bên nhau im lặng. Buổi
chiều toả sương trắng trên mặt biển.
Con đường nhựa loang lổ ánh sáng vàng đục.
Quán cóc bên đường.
Dã Nhân im lặng rất lâu trước ly rượu đế. Hơi men nồng làm
da mặt anh căng ra. Anh rót thêm rượu vào ly, đốt một điếu
thuốc rồi bảo tôi:
"Uống đi. Tao cần mày uống."
Nói xong anh lại uống nữa. Mắt mờ đục. Khuôn mặt trắng trẻo
của cô gái thì bất động, mơ hồ, cái mỉm cười lướt qua trên
môi.
Tiếng chuông đổ dài, ngân nga rồi dồn dập như một con nước
chảy ập xuống dốc cao.
Hai người đi về phía biển. Dã Nhân đã say mèm. Tôi phải dìu
bạn vào một căn nhà bỏ hoang ngoài xóm cá. Căn nhà xiêu đổ,
mái tranh bị gió cuốn tróc ra. Chiếc giường tre khá rộng
không có chiếu. Dã Nhân nằm vật xuống, nôn mửa thốc tháo rồi
ngủ thiếp đi.
Tôi thức dậy lúc nửa đêm. Dã Nhân khóc. Anh co quắp lại, úp
mặt trong tay, thân thể rung chuyển mỗi lần anh nấc lên. Tôi
đã tỉnh rượu, cảm thấy gió biển mát lạnh trên hai gò má. Tôi
nằm im, vuốt ve mãi mu bàn tay khô khan của Dã Nhân, nghe
tiếng sóng vỗ dạt dào bên ngoài, tiếng trở mình âm thầm của
biển đêm.
Trở lại mục lục
2. Huế, những cây vả và sương mù
Tôi đến với Huế mà không hẹn trước. Lẽ ra tôi đã theo Trần
Quang Long vào Nam nhưng cuộc đời sinh viên của tôi lại bắt
đầu ở Morin, bên này cầu Tràng Tiền. Chính quyền Sài Gòn lúc
đó muốn phân tán lực lượng nòng cốt của phong trào học sinh
ở Quy Nhơn nên đã thuyên chuyển các thầy “Việt cộng nằm
vùng” mỗi người đi mỗi ngả. Trần Quang Long về dạy ở Cần
Thơ, thầy Thông lên Tây Nguyên và Lê Phước Cương về Quảng
Trị.
Cương nói:
"Em nên về Huế và ở nhà tôi. Long sắp lấy vợ, ở với Long
không tiện đâu."
Thế là tôi đi Huế.
Bây giờ, Huế đã xa lắc nhưng khoảng trời xanh ngắt của những
đêm trăng Vĩ Dạ vẫn ở trong tôi cùng với những buổi sáng
lạnh lẽo, mưa dầm, nước sông Hương tràn qua Đập Đá.
Đi bộ 5 cây số từ Vĩ Dạ lên Morin, mò mẫm qua Đập Đá như đi
trên mặt sông. Huế dày đặc sương mù. Đứng bên Morin nhìn qua
bên kia sông chẳng thấy chợ Đông Ba đâu cả. Thành quách cũng
mờ ảo, chìm khuất trong vô định, hiu hắt khói sóng.
Tôi ra Huế “làm cách mạng” mà như đi vào cõi huyễn mộng phù
du của một thời vàng son xa hút. Có người chê tôi, bảo:
“Mày làm cách mạng cái kiểu gì vậy?” Tôi cũng không biết
đó là kiểu gì. Có thể đó là kiểu của Phạm Thái của Trần
Quang Long. Kiểu đó dở hay hay, không biết được, nhưng nó
trong sạch, nó hồn nhiên. Cho tới bây giờ, khi các anh đã
trở thành những ông quan cách mạng, những ông tư sản đỏ, thì
tôi vẫn là kẻ si tình đi tìm đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Các anh từng hỏi tôi: “Mày làm cách mạng cái kiểu gì vậy?”
Còn bây giờ thì tôi hỏi các anh:
"Các anh làm cách mạng cái kiểu gì vậy?"
Câu hỏi của các anh tôi đã trả lời rồi. Còn câu hỏi của tôi.
Các anh có trả lời được không? Có dám trả lời không hay vẫn
phớt lờ. Và âm thầm chia nhau cái miếng thịt Việt Nam béo bở
này?
Tôi là một chàng thi sĩ ngốc nghếch nên vẫn nhớ những ngày
mưa dầm dề trên phố Huế, những buổi sáng sương mù, những cây
vả lùn, lá to như cái sàng gạo và trái thì bự như quả cam
sành, bổ làm đôi, trong ruột có những cái nhuỵ màu tím sẫm.
Một năm ở Huế tôi làm được gì trong “cuộc đời hoạt động cách
mạng” của tôi? Móc nối vài người, hẹn hò vài cô giao liên
trong Hồ Tịnh Tâm, học tập lén lút vài khóa chính trị sơ
đẳng. Chẳng là gì cả. Toàn bộ thời gian là mơ mộng và ôm ấp
cái lạnh cắt da của mùa Đông. Mùa Đông tôi chỉ có một cái áo
lính kaki dày cộm. Tôi đem nhuộm đen cho khác với màu của
anh lính Sài Gòn.
Sau những biến cố đẫm máu thời Ngô Đình Diệm, Huế đã co lại.
Khi tôi đến, thì Huế như cô gái nhỏ ngái ngủ cuộn mình trong
chiếc mền dày cũ kỹ, nhõng nhẽo. Huế dẫn tôi đi trên những
con đường rợp bóng cây, những bãi cỏ dày bên bờ sông Hương.
Tôi thường ngồi lại trên những rễ cây già bò xuống mé nước,
nghe con sóng nhỏ róc rách, thủ thỉ, ân ái. Tôi gặp Huế
tháng Chín năm 1965, năm tôi hai mươi tuổi còn Huế thì mười
tám.
Chúng tôi yêu nhau, khờ dại và âm thầm.
Suốt một năm ở Huế tôi không có người bạn gái nào cả. Thoáng
qua vài cái tên như Khuê mặc áo dài tơ sống màu hoàng yến,
cao và ốm. Như Bích lúc nào cũng mặc đồ trắng và lúc nào
cũng nhìn tôi, cái thằng cha muôn đời chỉ có mỗi một chiếc
áo lính kaki nhuộm đen dày cộm.
Có một gã trai trẻ, ốm nhách, đeo kính cận gọng to. Gã cũng
mặc áo kaki như tôi nhưng đó là chiếc áo thanh niên cộng
hoà của ông Ngô Đình Nhu. Chiếc áo màu xanh nước biển
không biết gã xin được của ai, mặc thay cho áo lạnh. Gã cũng
là một nhà thơ vĩ đại như tôi vậy. Nhà nghèo. Ở An Cựu. Tôi
dụ gã theo cộng sản, gã nói:
"Tao làm thơ. Không làm cách mạng."
Dù vậy gã cũng từng là bạn của những nhà cách mạng sinh viên
nổi tiếng ở Huế thời đó như Trần Vàng Sao, Tần Hoài Dạ Vũ,
Thái Ngọc San…
Tôi thương gã vì chúng tôi cùng nghèo, cùng thu mình lại
trong giảng đường thênh thang của khu Morin quý tộc cũ. Gã
tặng tôi bốn câu này:
Năm một chín sáu lăm
Bước chân vào đại học
Ôi vàng son, vàng son
Tôi ôm mặt đứng khóc.
Có
lẽ sau giải phóng gã cũng đã hơn một lần “ôm mặt đứng khóc”
như thế. Tội nghiệp người bạn tốt. Tội nghiệp chúng ta quá,
Phụng hỉ!
Bây giờ mi đang làm gì? Ở đâu? Không hề thấy tên mi trong
đám quan lại ở Huế.
Với tôi, bây giờ Huế không còn lại gì ngoài những kỷ niệm lẻ
loi, vụn vặt và buồn về một người thầy đã chết. Sao Cương
lại chết trẻ như vậy? Ngoài năm mươi. Gần mười năm ở rừng.
Cuộc sống trong những chiến khu ở miền Trung gian khổ hơn ở
miền Nam rất nhiều. Tôi không từng đến những chiến khu ấy
nhưng nghe Cương kể lại, nghe Hoàng Phủ Ngọc Phan kể lại,
thấy thừa mứa bom đạn nhưng cạn kiệt lương thực, thực phẩm.
Rồi bệnh tật, muỗi mòng. Có lẽ vì đường tiếp tế của miền
Trung không được thuận lợi như ở miền Nam. Năm 1967, khi về
học vũ trang ở Sa Đéc để chuẩn bị cho Tết Mậu Thân, tôi thấy
đời sống ở chiến khu đó chẳng khác gì một làng quê ngoài
vùng tạm chiếm. Tôi sẽ trở lại những kỷ niệm ở các vùng căn
cứ Sa Đéc, Cần Giuộc, Long Khánh… vào một dịp khác.
Cương vướng chất độc màu da cam ở Trường Sơn nhưng có lẽ anh
không hay biết. Hai mươi năm sau, vào khoảng năm 1990 chất
độc phát tán làm anh suy sụp. Anh tập Dịch Cân Kinh
thường xuyên và nói rằng có hiệu quả, nhưng ít lâu sau bệnh
trở nặng phải đưa vào Bệnh viện Thống Nhất. Tôi vào thăm
anh. Cả hai anh em đều buồn, không phải vì bệnh, không phải
vì sinh tử phù du mà vì thế sự.
"Anh đi Pháp có vui không?" Tôi hỏi.
Cương cười, trầm lặng.
"Đó chỉ là cái kế điệu hổ ly sơn của chúng nó."
Một tổ chức văn hóa của Pháp mời Cương sang. Chính quyền cho
đi nhưng chỉ nói miệng, không có văn bản. Cương thì chỉ muốn
xa rời cái đám nông dân Hồng Vệ binh rùng rợn ấy nên anh đi
liền. Ba tháng ở châu Âu, chi phí do nước bạn tài trợ. Khi
trở về thì bị khai trừ Đảng. Hỏi tại sao, thì họ đáp: “Ba
tháng không sinh hoạt Đảng coi như tự ý ra khỏi Đảng”. Câu
đó có ghi trong điều lệ.
Cương mất Đảng, mất luôn chức Giám đốc Sở Giáo dục. Sau đó
ít lâu, anh qua đời. Tôi không biết tin ấy kịp thời và tôi
cũng không thể đến viếng anh lần cuối vì lúc ấy tôi đang ở
Mỹ.
Trở lại mục lục
3. Những ánh lửa đốt đồng
Tháng Chín năm 1966 tôi rời Huế vào Sài Gòn, hoạt động trong
phong trào sinh viên Khu Sài Gòn - Gia Định. Và căn cứ địa
cách mạng đầu tiên tôi đến là Cần Giuộc.
Cần Giuộc đón người đồng chí nhỏ của mình bằng gió tràn trề
tuôn chảy từ mặt đất, lướt nhanh trên sóng lúa, xô giạt về
phía chân trời bất tận.
Cần Giuộc khác với đồng quê miền Trung vì nó đầy chân trời.
Và đầy gió. Một thế giới không có núi, không có rừng, không
có biển, nhưng vây quanh tôi là sa mạc lúa xanh và cỏ.
Tôi thì đứng lặng mà gió thì cứ trào lên từ những lỗ chân
lông của đất, từ những gốc rạ, những kẻ nứt ẩn giấu bên dưới
lá cỏ thấp.
Buổi chiều đó tôi thấy như mình đang trở về quê nhà dù trạm
đầu tiên của vùng căn cứ này chỉ là một túp lều tranh xơ
xác. Nhưng tôi đã đứng ngây dại bên khung cửa xiêu vẹo ấy
nhìn gió lùa trên mái tranh mà rưng rưng nước mắt.
Tôi đã không có món quà nào cho Cần Giuộc nhưng Cần Giuộc đã
trao cho tôi niềm xúc động thần thánh của một tình yêu cách
mạng đầu đời.
Khi bóng tối trùm xuống túp lều nhỏ thì tôi mới bước vào
trong ánh đèn dầu long lanh như một giọt nước đặt giữa tấm
ván thô. Cùng ăn cơm với tôi là một người đàn bà gầy yếu
trạc ngoài năm mươi. Bà nói:
"Ăn xong cậu nghỉ một lát, đến khuya sẽ có người dẫn đi."
Tôi ăn rau luộc và một chút cá kho mặn. Người đàn bà thì
lặng lẽ, chậm chạp và nhẹ tênh.
"Lần sau vô cứ cậu đừng mang giày bata trắng. Người ta sẽ
biết cậu là dân thành thị."
Người đàn bà bưng mâm ra sau nhà. Tôi muốn bước ra ngoài đêm
lần nữa nhưng bà bảo tôi đi nghỉ.
Tôi nằm nghe gió. Vẫn rộn ràng như đàn chim thiên di. Vẫn
như ngàn cánh nhỏ xao động quanh chiếc lều tranh rách nát.
Cứ thế, gió rù rì suốt đêm như đàn trẻ nhỏ.
Tôi đã ngủ trong tiếng thì thầm bất tận ấy.
♦
Tiếng gọi phát ra từ dưới hầm trú pháo.
Không biết dì Tư đi đâu mà không trả lời. Hầm trú sâu và rất
kiên cố với mái hình chữ A làm bằng những thân cây to, đắp
đất lên trên. Tôi nằm cách miệng hầm chừng bốn năm mét và
hoàn toàn không ngờ lại có người dưới đó.
"Cô Tư ơi!"
Không ai trả lời. Tôi ngồi dậy. Và cầm cái đèn dầu, lần mò
xuống hầm.
Một người đàn ông mặc bà ba đen đang lần theo vách hầm tiến
lại phía các bực cấp. Dường như ông đang bị thương khá nặng.
Tôi ghé vai vào nách ông, dìu ông đi. Nhưng vì ông to con
quá nên tôi loạng choạng. Chúng tôi bước từng bước lên những
bực cấp bằng đất sét ẩm ướt và lên được mặt đất. Lúc ấy
trăng khuya đã lên, mờ ảo như sương đục. Tôi phải rất khó
khăn khi đỡ ông ngồi xuống cầu cá tra. Vết thương của ông ở
hông bên trái.
"Cậu vô nhà đi."
Nhưng tôi không dám bỏ ông ngồi một mình trên cái nhà vệ
sinh ọp ẹp đó. Tôi ngồi đối diện để giữ hai vai ông.
Dưới ánh trăng mờ đục, tôi nhận ra một khuôn mặt vuông vức,
mày rậm, râu mọc tua tủa như Lý Quỳ ở Lương Sơn Bạc.
Gió đã lặng. Hình như những cánh đồng đang nằm im, đợi sương
xuống.
Chúng tôi trở vô nhà nhưng dì Tư vẫn chưa về. Người đàn ông
muốn nằm trên ván một lát.
Rồi dì Tư bước vô, bà nói:
"Không thấy giao liên ra, tui phải đi tìm. Đồng chí xuống
trăng-sê đi."
Tôi cùng dì đỡ người thương binh xuống hầm.
Lát sau giao liên tới. Và dẫn tôi đi.
Đi được nửa tiếng, bỗng thấy lửa cháy rần rần trước mặt.
"Gì vậy?"
"Đốt đồng."
Với tôi, đó không phải là một đám cháy mà là một bức tranh
huy hoàng, giăng ngang chân trời. Trong đêm đen thầm lặng
yên ngủ bỗng bừng lên một bình minh lạ thường, một bình minh
của thế giới khác, rực rỡ, giàu có và lộng lẫy.
Lửa trải dài như một rừng hoa đỏ thắm, long lanh trong bóng
tối dày đặc của đất đen, của những cây chồi đen và đường
chân trời đen.
Đó là sự bừng tỉnh của đất, mới mẻ, hùng tráng như một thế
lực tiềm ẩn ngàn đời đang phát tiết tinh hoa. Lửa bùng cháy
ngây ngất và say đắm như thế giới mà cô Lọ Lem tìm đến lúc
đêm khuya.
Tôi thảng thốt nhìn, ngạc nhiên vì vẻ đẹp của lửa trong đêm
tối. Tôi đã từng bị mê hoặc bởi những bếp lửa nhỏ trong
những buổi sáng lạnh lẽo mưa phùn ở miền trung hay trên một
đồi trà ở cao nguyên. Lửa ở đó thân mật như người bạn tình,
như con thú nhỏ quấn quýt... nhưng không ở đâu lửa lại có vẻ
đẹp hoang dã, sang trọng, mạnh mẽ, vừa lãng mạn, vừa dữ dội
như lửa đốt đồng trong đêm hôm ấy.
Ngọn lửa đó vừa khai sinh một thế giới khác, một ý niệm
không gian và thời gian khác, tách biệt hẳn cái không gian
ba chiều quen thuộc và buồn tẻ mà ta đang sống. Đó là ngọn
lửa thần bí của thiên đường mà suốt đời có lẽ tôi chỉ một
lần được gặp.
Cần Giuộc đã đón tuổi thanh xuân tôi bằng gió và lửa cháy.
Đó là mối tình đầu rực rỡ.
♦
Ngoài ra tôi không có mối tình nào khác. Tình yêu ơi! Sao mà
phù phiếm và bạc bẽo vậy? Một lô đàn bà con gái từ trí thức
cho đến biết đọc biết viết, từ nữ tu sĩ cho đến gái lầu
xanh. Từ mười chín cho đến năm mươi ngoài. Những con số ấy
không là gì cả. Chúng tồn tại bên ngoài tình yêu. Mà hình
như cũng chẳng có tình yêu. Chẳng có Thuý Kiều hay Juliette,
chẳng có sinh tử tương hứa.
Nhân vật của Kim Dung yêu đủ kiểu hay ho. Nhân vật trong
tiểu thuyết của tôi yêu cũng rất liều mạng. Nhưng đời tôi
thì không có mối tình nào cho ra hồn. Những quý cô, quý bà
của tôi bây giờ đều có gia đình vì thế trong cuốn tự truyện
này tôi không tiện nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng “nhá máy“ một
chút, chớp tắt vài dòng, lập lòe vài giây gọi là khơi dậy
chút hoài cảm như kiểu Đỗ Mục, sau mười năm, chợt tỉnh giấc
mộng Dương Châu, thấy đời mình chẳng còn gì ngoài một tiếng
bạc tình ở chốn lầu xanh.
Thập niên nhất giác Dương Châu mộng
Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh
Về
sau này tôi có quen một cô gái mười chín tuổi. Cô ta cho tôi
tất cả nhưng cũng gần như là không cho gì. Mới bước qua tuổi
vị thành niên, học vấn vừa xong bậc tiểu học, ngây thơ, nhí
nhảnh. Đùa giỡn như con nít, vậy mà nói:
"Thà mình phụ người ta chớ đừng bao giờ để người ta phụ
mình."
Tôi hỏi:
"Em có biết Tào Tháo là ai không?"
"Là ai?"
"Ông ta có câu nói rất nổi tiếng."
"Câu gì?"
"Đó là câu mà em vừa nói."
"Nhưng đó là câu nói của em mà. Em suy nghĩ như vậy."
Dường như tất cả đàn bà con gái đều suy nghĩ như vậy. Còn
tôi, trong tình yêu, tôi luôn nghĩ ngược lại nên khổ trọc
đầu. Già rồi mà vẫn thất tình, vẫn dại gái. Nhưng thưa quý
ông, đối với đàn bà con gái mà mình khôn quá thì chán lắm.
Mất vui. Bị đàn bà họ lừa mới đã đời. Đáng kiếp. Thấm thía.
Giống như ăn xoài thật chua chấm với muối ớt thật cay. Giống
như ăn wasabi của Nhật Bổn. Buốt thấu não, nước mắt ràn rụa.
Mà sướng.
Hồi còn trẻ tôi nghĩ tình yêu là tất cả nhưng bây giờ thì nó
tụt hạng rồi. Bởi vì thực ra nó không có trên cõi đời.
Tình yêu chỉ là những hoa văn của tình dục.
Dù có làm thơ, viết văn, vẽ tranh, sáng tác nhạc thì cũng
chỉ là trang trí cho tình dục. Thất tình, bị lừa hay là phụ
bạc cũng đều nằm trong phạm trù trang trí ấy. Giống như nêm
gia vị. Cho thêm một chút cay một chút đắng, một chút chua
chát…
Trở lại mục lục
4. Trận đánh không được báo trước

Năm 21 tuổi
Mấy tháng trước trận Mậu Thân tôi về căn cứ để học vũ khí.
Giao liên dẫn tôi đến Sa Đéc vào lúc xế chiều và tôi đi
xuồng máy đến nơi khi trời đã tối mịt.
Buổi học bắt đầu vào sáng hôm sau trên một bờ mương. Người
du kích trải tấm nilông xuống đất và bày biện các loại vũ
khí ra. Súng AK47, B40, lựu đạn, chất nổ TNT, chất nổ C4,
các loại kíp nổ, dây cháy chậm…
Chúng tôi không ai biết rằng lớp học này là để chuẩn bị cho
trận Mậu Thân 1968.
Khi về Sài Gòn, Nguyễn Tấn Tài (sau giải phóng anh làm Chỉ
huy phó Lực lượng Cảnh sát TPHCM) rủ tôi đi “đánh thử một
quả coi sao.” Tôi khoái quá OK liền. Tôi hỏi:
"Bây giờ mình dùng kíp nổ nào? Kíp acid hay kíp thường?"
"Kíp acid là kíp nổ có hẹn giờ, rất hiếm, không nên phí
phạm."
"Mình chơi kíp thường cũng được."
"Mới đánh lần đầu xài kíp thường nguy hiểm lắm. Tui có cách
này rất hay. Cũng giống như kíp hẹn giờ vậy nhưng mình xài
thuốc lá."
"Thuốc lá?"
Nguyễn Tấn Tài rút gói Rubi Queen thảy trên mặt bàn. “Đồ
nghề” của anh gồm một bánh chất nổ TNT, một kíp nổ, một đoạn
dây cháy chậm dài chừng 5 phân, một bao thuốc Rubi và một
bao diêm.
Anh cắt chéo hai đầu dây cháy chậm, dùng những que diêm buột
vòng quanh nó rồi nhét điếu Rubi vô giữa các que diêm.
"Đánh kiểu này nên dùng thuốc Rubi vì nó cháy rất tốt, không
bao giờ tắt nửa chừng."
Nói xong Tài nhét đoạn dây cháy chậm vào kíp nổ và nhét kíp
nổ vào bánh TNT.
"Xong rồi. Tài giải thích, mình sẽ đốt điếu thuốc. Phải mất
ba phút nó mới cháy đến những que diêm. Diêm bốc cháy, dây
cháy chậm cháy theo và nổ."
Đó là cách đánh “hẹn giờ” sáng tạo của dân biệt động thành
Sài Gòn.
Đó là “trò chơi” của hai anh em chúng tôi.
Anh lái chiếc xe Honda 67 màu đen. Tôi ôm trái mìn tự tạo
ngồi phía sau. Chúng tôi từ dưới đường Trần Hưng Đạo chạy
lên. Tôi móc trái mìn trong áo ra, châm lửa đốt điếu thuốc
rồi đặt trái mìn trên bàn chân. Khi đến ngay vọng gác của
Tổng nha Cảnh sát tôi hất nhẹ trái mìn vô hàng rào kẽm gai.
Anh Tài vẫn cho xe chạy bình thường. Không tăng tốc.
Chúng tôi bọc qua đường Hùng Vương. Vẫn chưa nghe tiếng nổ.
"Sao lâu quá vậy?" Tôi hỏi.
Tài quẹo sang đường Trần Bình Trọng. Ngay lúc ấy mìn phát
nổ. Tôi đập mạnh bàn tay lên đùi anh và chúng tôi cùng cười
ha hả.
Chúng tôi tà tà quay lại hiện trường xem kết quả nhưng không
vào được vì cảnh sát đã bao vây. Giao thông tắc nghẽn.
Từ ngoài vòng vây, chúng tôi vẫn nhìn thấy vọng gác bị đánh
sập một bên. Cả một đoạn hàng rào Tổng nha Cảnh sát bị xé
nát. Đó là “chiến công” của hai chúng tôi, những thằng bạch
diện thư sinh tập sự làm biệt động thành!
Sau trận đánh đó tôi được kết nạp Đảng. Người kết nạp tôi là
anh Phạm Chánh Trực hiện là giám đốc một công ty sản xuất
“con chip” của ngành tin học.
Ngày nay, có người vào Đảng bằng hai đầu gối, bằng “cửa sau”
hoặc bằng cái “vốn tự có” của mình.
Tôi đã vào Đảng bằng một trái mìn tự tạo.
Đó là cuộc diễn tập cho trận Mậu Thân 1968, nhưng chúng tôi
- và gần như cả đơn vị Thành Đoàn SGGĐ - không ai ngờ tới.
Thậm chí khi chiến dịch mở màn, nhiều đơn vị, trong đó có
chúng tôi không ai biết chuyện gì!
Như thường lệ, phần lớn những sinh viên gốc miền Trung như
chúng tôi đều về quê ăn Tết. Sáng mồng hai Tết có người nói
“Việt cộng đánh vô Quy Nhơn.”
Quy Nhơn cách nhà tôi 41 cây số. Không biết thực hư. Tôi đi
Quy Nhơn, thấy Ty Thông tin tan nát. Đó là một ngôi nhà lớn
sơn màu đỏ gạch, nằm đối diện sân vận động. Các chiến sĩ
giải phóng đã chiếm toà nhà đó một thời gian ngắn và vì
không có tiếp viện nên bị phản công mãnh liệt bằng xe tăng.
Toà nhà đổ nát. Có lẽ người cũng không còn.
Trưởng Ty lúc đó là nhà văn Võ Phiến. Năm 2004 tôi sang Hoa
Kỳ, có đến thăm ông. Ông đã ngoài tám mươi, vẫn sắc sảo. Ông
nói: “Thế giới này hay lắm. Cũng may tôi còn sống để chứng
kiến những biến động lịch sử đầy kịch tính. Cái thằng Bush
nó giống như kép Thành Được, lí lắc và ưa chơi nổi.”
♦
Sách Lược sử Đoàn và phong trào thanh niên TP Hồ Chí Minh
1954"1975 xuất bản năm 2001 ở trang 98 đã viết về Mậu
Thân như thế này:
“Đêm 30-01-1968 (mồng 2 Tết) cuộc tổng tiến công trên
toàn miền Nam đã nổ ra nhưng mệnh lệnh tiến công không
truyền đạt được tới Thành Đoàn. Tuy vậy sáng sớm ngày
31-01-68 ban thường vụ thành đoàn dưới sự chủ trì của Phan
Chánh Tâm đã họp khẩn, làm công tác vũ trang tuyên truyền,
làm chủ khu vực Bàn Cờ suốt ngày 31/01/68.”
Bốn tháng sau:
“Đợt 2 Mậu Thân, cán bộ Thành Đoàn được bố trí vào 4 khu
vực: Liên phường 3A gồm Bàn Cờ, Vườn Chuối. Liên phường 3B
gồm Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, Chí Hoà. Liên phường 5 gồm
Phú Thọ, Cầu Tre. Liên phường 4A gồm Trương Minh Giảng,
Trương Tấn Bửu.
Ngày 5/5/68 Đợt 2 nổ ra. Tại Bàn Cờ tổ vũ trang tấn công
một xe tuần tiễu địch, Nguyễn Sơn Hà (tức Bảy Thép) hy sinh.
Ba khu vực kia không bắt được liên lạc.”
♦
Tổ vũ trang của chúng tôi nằm trong số “ba khu vực không bắt
được liên lạc” đó.
Tổ gồm 4 người: Tôi, Trương Văn Khuê, Nguyễn Trường và Tám
Nhân. Chúng tôi thuê một căn nhà nhỏ ở sau chợ Trương Minh
Giảng. Vũ khí chúng tôi bọc kín trong ba bốn lớp nilông, gồm
hai khẩu AK47, hai khẩu K54 và một số chất nổ TNT. Truyền
đơn và cờ Mặt trận Giải phóng bọc trong bao nilông khác. Tất
cả được giấu trong lỗ cống sau bếp. Hàng ngày chúng tôi vẫn
đi học, vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng trong tình hình chờ
đợi hồi hộp căng thẳng như vậy thì còn lòng dạ nào mà học.
Trương Văn Khuê và Nguyễn Trường thì tối ngày đánh bài tu lơ
khơ nhưng Khuê đặc biệt thích xì phé và hắn đánh rất giỏi.
Sau này làm giám đốc Nhà xuất bản Trẻ hắn đã có những quyết
định táo bạo trong chủ trương cho tư nhân hợp tác bỏ vốn in
sách. Khuê làm việc đó một cách sáng tạo và đã đem lại lợi
nhuận cho nhà xuất bản rất nhiều. Tiếc rằng anh chết quá trẻ
do bệnh ung thư gan. Nhà tôi ở gần bệnh viện nên tôi đến
thăm anh thường xuyên. Khi mổ gan xong anh cười rất tươi và
nói to với những bạn bè đến thăm:
"Tớ sẽ sống đến 150 tuổi!"
Nhưng chỉ mấy hôm sau là anh xuống sức. Buổi chiều Mai Hương
đến thăm, hỏi có biết ai đây không nhưng Khuê cứ nhắm mắt.
Mai Hương khóc. Đó là giọt nước mắt hiếm hoi của người đồng
chí cũ.
Tại sao tôi nói hiếm hoi?
Vì sau giải phóng bạn bè đối xử với nhau lạt lẽo. Trong vụ
án văn học “Nổi loạn” tôi bị cô lập, nhiều người sợ liên
luỵ, có người còn tệ hơn như phó chủ tịch quận Z Nguyễn
Hoàng, nhạc sĩ Trần Long… tìm cách phủ nhận tác phẩm của tôi
theo luận điệu của công an văn hóa, trong khi báo Diễn
Đàn Paris thì gởi phóng viên đến nhà tôi thực hiện một
bài phỏng vấn dài đăng trên số 28 phát hành tháng Ba 1994
tại Pháp.
Bài phỏng vấn đó đã giúp tôi nói được hết ý nghĩ của mình và
ở một góc độ nào đó nó đã cứu tôi ra khỏi nhà tù.
Dẫu sao vụ “Nổi loạn” cũng giúp tôi xếp loại bạn bè, giúp
tôi biết người nào thương mình, người nào ném đá giấu tay,
người nào đánh người ngã ngựa.
Sau vụ này tôi gần như không giao du với những “đồng chí”
trong phong trào sinh viên cũ.
Giờ đây đám bạn bè cũ chỉ còn lại hai bộ mặt: Một bộ mặt
vênh vang hãnh tiến của những ông quan tư sản đỏ và một bộ
mặt lơ láo của những kẻ hết thời.
Tôi trôi giạt giữa những mặt người ấy vì tôi là một nhà văn
chuyên nghiệp, tôi có thế giới của tôi, cũng giống như Lý
Bạch:
Vấn dư hà sự thê bích san?
Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn
Đào hoa lưu thuỷ yểu nhiên khứ
Biệt hữu thiên địa phi nhân gian
(Có người hỏi ta vì sao lại lên ở trên núi vậy? Ta chỉ cười
mà không đáp. Lòng thanh thản nhìn hoa đào trôi đi giữa
khoảng trời đất cách biệt với thế gian.)
♦
Nhưng tôi phải trở lại cái buổi chiều tháng 5 năm 1968 ấy.
Chín giờ tối chúng tôi họp:
"Đợt 2 Mậu Thân sẽ nổ ra đêm nay. Các đồng chí chuẩn bị lấy
vũ khí truyền đơn và cờ lên sẵn sàng."
Mọi thứ được lôi lên khỏi lỗ cống. Nước không thấm vô được
nhưng những cái bọc nilông thì đầy trùn chỉ. Chúng đeo bám
trong những khe, những nếp gấp làm chúng tôi mất rất nhiều
thì giờ để dọn vệ sinh.
Trương văn Khuê và Nguyễn Trường vẫn chơi bài trong khi chở
đợi giờ G. Tôi và Tám Nhân ngồi chầu rìa.
Mười một giờ đêm. Thành phố vẫn yên tĩnh. Mười hai giờ. Vẫn
không có gì. Một lát sau. Vài loạt súng lác đác ở đâu đó rất
xa. Trương Văn Khuê ném những lá bài xuống bàn. Nguyễn
Trường nhắc lại khẩu lệnh:
"Bộ đội Mười Dũng. Nhớ chưa?"
Mười Dũng là bí danh của anh Phạm Chánh Trực hồi đó làm bí
thư đảng uỷ Thành Đoàn, người đã kết nạp tôi vào Đảng. Anh
là một người nghiêm khắc, kiên cường. Nhiều người trách anh
độc đoán và nhiều tham vọng nhưng với tôi, anh vẫn là một
người bạn tốt. Có lẽ con đường chính trị của anh cũng không
suôn sẻ lắm. Chìm lỉm như một hòn sỏi trong dòng sông danh
lợi đục ngầu.
Chúng tôi đã sẵn sàng. Nhưng thời gian vẫn trôi qua trong
yên tĩnh. Khu vực Liên phường 4A hoàn toàn bất động.
Trở lại mục lục
5. Vụ Huỳnh Tấn Mẫm
Một buổi trưa vào giữa năm 1970 khi tôi đi dạy học về thì
thấy có hai người đàn ông đang ngồi trước hiên nhà, chiếc xe
Honda 67 dựng ngay trước cửa. Tôi nói:
"Sao mấy anh dựng xe giữa lối đi vậy?"
Hai gã nọ chỉ cười. Tôi lách người bước vô. Lập tức một họng
súng chĩa vô lưng. Và đẩy tôi vô trong.
Một căn nhà trống trơn. Im lặng. Hàng xóm không ai hay biết
gì cả. Chúng đang giăng một cái lưới. Và chắc chắn tôi không
phải là con cá đầu tiên.
Tôi ngồi xuống giường. Và để trấn tĩnh, tôi với lấy cây đàn
ghita trên vách.
Tôi chơi rất nhiều tác phẩm kinh điển, nó làm những thằng
công an đang ngồi đón lõng ngoài cửa phải ngạc nhiên mặc dù
tôi biết những thằng ngu đó đã bị tôi tra tấn suốt mấy tiếng
đồng hồ bằng một thứ âm nhạc mà chúng chẳng hiểu cóc khô gì
hết.
Tôi nhịn đói và chơi đàn cho đến xế chiều.
Một chiếc Jeep sơn nửa xanh nửa trắng của cảnh sát vừa đến.
Chúng bịt mắt tôi bằng một dải băng đen, còng hai tay ngoặt
sau lưng và đẩy lên chiếc xe ấy.
Xe chạy qua nhiều đường phố. Tôi lắng nghe tiếng động chung
quanh để cố đoán xem chúng đưa mình đi đâu nhưng chỉ biết là
vẫn còn lẩn quẩn trong nội thành.
Cuối cùng thì chúng giảm tốc độ, quẹo gấp vô một một cái sân
rộng và dừng lại. Tôi bị đẩy xuống xe. Có tiếng người lao
xao và một giọng cười xỏ lá:
"Lại thêm một con cá nữa!
Dường như chúng đã đưa tôi đến một chỗ tối và ẩm thấp. Thằng
công an mở băng vải che mắt cho tôi và vật đầu tiên mà tôi
nhìn thấy là một thân hình to lớn đang nằm ngửa, nhắm mắt,
trên một cái nền xi măng lở lói phía trước cầu tiêu.
Người đó là Dương Văn Đầy, sau này anh làm chủ tịch quận
Nhất và rồi trở thành sếp của ngành du lịch TPHCM. Nhưng lúc
ấy tôi tưởng anh đã chết. Anh bất động. Áo banh ngực. Người
anh đầy thương tích bầm tím. Tôi ngồi xuống định đưa ngón
tay lên mũi xem anh có còn thở không thì một thằng y tá vừa
đến, tay cầm một miếng bông gòn tẩm ête đưa qua đưa lại
trước mũi anh.
Tôi ngồi xuống cạnh đó. Chúng vẫn chưa mở còng cho tôi.
Chung quanh bạn bè tôi nằm la liệt. Nguyễn Tấn Tài, Phùng
Hữu Trân, Lê Thành Yến (Lê Duy Hạnh), Cao Thị Quế Hương,
Trầm Khiêm…
Lúc ấy tôi chưa hiểu địch “biết” tôi tới đâu, đã có ai khai
báo gì tôi chưa, nên tôi ngồi im để thăm dò, nghe ngóng tình
hình.
Bữa cơm chiều được dọn ngay trên nền đất trước cầu tiêu cạnh
chỗ Dương Văn Đầy nằm. Chúng tôi quây quần quanh một đĩa cá
khô mủn ra như củi mục. Trầm Khiêm nói:
"Tụi nó đánh Ba Đầy quá."
Tôi không từng làm việc với Ba Đầy nhưng anh em phong trào
sinh viên học sinh biết nhau gần hết. Hồi ở Đại học xá Minh
Mạng đi ra đi vô vẫn gặp nhau thường. Ba Đầy lúc đó học Y
khoa, hay đi cái xe đạp trành. Anh có tướng “ngũ đoản,” đặc
biệt cái mũi rất to. Khi bị bắt vô cảnh sát quận Nhứt, tụi
công an gọi anh là "thằng lỗ mũi trâu”
Lê Duy Hạnh cũng được Tư Cum “chăm sóc” rất kỹ. Buổi tối
ngồi ngoài sân đồn cảnh sát quận Nhứt, tôi và vài người bạn
tù dùng nước muối bóp chân cho anh. Chúng tím bầm như hai
cây xúc xích khổng lồ. Những giọt nước muối đã khô se đi
thành những tinh thể sáng lóng lánh.
Trưa hôm sau chị Năm, giao liên giữa tôi và Nguyễn Tấn Tài
cũng bị chúng bắt cùng với đứa con trai bốn tuổi.
Tai hại hơn nữa là cái máy chữ của tôi cũng có trong số
“tang vật” tháp tùng chị Năm.
Tư Cum ra lệnh cho bọn đàn em:
"Đưa thằng nhỏ vô viện mồ côi!"
Chị Năm chưa kịp phản ứng thì một thằng công an chìm đã lôi
thằng bé đi. Tôi nhìn chị. Một cái nhìn dài với bao điều
muốn nói. Thằng bé còn nhỏ quá. Nó sẽ sống như thế nào khi
không có mẹ? Còn chị, liệu chị có giữ được bí mật về mối
liên hệ với Nguyễn Tấn Tài và tôi? Chúng chưa đụng tới tôi
nhưng những đồng chí có liên hệ với tôi đều đã bị bắt. Chỉ
cần một trong ba người khai báo là hậu quả khó lường. Tối đó
tôi không ngủ được. Tôi tin anh Tài rất vững vàng, chị Năm
cũng sẽ vượt qua được những đòn tra tấn, và tôi cũng tin tôi
có đủ bản lãnh để bảo vệ tổ chức. Nhưng còn những bằng chứng
cụ thể. Ví dụ như cái máy chữ hiện cũng đang nằm trong tay
cảnh sát. Nếu chúng chộp được cái hóa đơn mang tên tôi thì
cuộc hỏi cung sẽ trở nên “phiền phức” cho cả tôi và chị.
Tối đó chúng lôi tôi vô phòng tra tấn.
Vẫn thằng Tư Cum và một thằng cảnh sát áo trắng ốm nhách. Để
trấn áp, chúng bắt tôi cởi quần và cột một đầu dây điện vào
cơ quan sinh dục, đầu kia kẹp vào dái tai. Dụng cụ tra điện
này được điều khiển bằng một tay quay. Thằng cảnh sát áo
trắng mở màn:
"Thủ trưởng của mày và con Tố Nga là ai?"
Tôi thấy nhẹ người. Vì chúng hỏi cung theo đường dây Tố Nga
là chúng đã không biết gì về tôi cả. Tuy ở chung nhà với Tố
Nga nhưng cả hai chúng tôi đều không biết gì về nhau. Vì thế
câu nói thăm dò này đã để lộ sơ hở của nó. Tôi đáp:
"Tôi không biết gì về việc làm của Tố Nga vì tôi chỉ là
người ăn cơm tháng ở đó."
Nhưng nó vẫn tiếp tục sai lầm:
"Con Tố Nga nó đã khai hết rồi. Mày hãy nói thiệt đi. Mày
thường gặp thằng đi xe đạp để làm gì?"
“Thằng đi xe đạp” là Dương Văn Đầy. Nhưng tôi đâu có làm
việc với Dương Văn Đầy vì thế tôi nói:
"Tôi là tín đô Thiên chúa giáo. Tôi đang dạy học tại một
trường Đạo ở Bà Chiểu. Tôi không biết gì về các hoạt động
của họ."
Tư Cum quay điện mấy vòng làm người tôi giựt tưng tưng như
con rối.
"Sao? Có chịu khai không?"
Nó lại quay. Người tôi bật liên tục lên khỏi ghế, miệng méo
qua một bên.
"Đ.m. Mày ở chung với con Việt cộng mà không biết gì về nó.
Ai mà tin mày!"
"Nhưng tôi biết nói cái gì bây giờ.
"Được. Tao sẽ có cách cho mày nói.
Tư Cum quay liên tục. Tôi bị giựt văng ra khỏi ghế, đập mặt
xuống đất.
Buổi hỏi cung kết thúc ở đó. Tạm thời chúng chưa biết gì về
mối quan hệ giữa tôi, chị Năm và Nguyễn Tấn Tài.
♦
Vụ bắt bớ học sinh sinh viên này là vụ rất lớn xảy ra vào
năm 1970, được dư luận gọi là vụ Huỳnh Tấn Mẫm. Anh Mẫm lúc
đó làm chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Vụ này làm anh
nổi tiếng khắp thế giới như một lãnh tụ sinh viên tiêu biểu.
Nhưng sau giải phóng, chính anh - cũng như Võ Thị Thắng - đã
phải khốn đốn vì sự nổi tiếng của mình. Tôi sẽ trở lại hai
nhân vật này sau. Bây giờ chúng tôi đã bị chuyển về Nha Cảnh
sát Đô thành và tôi muốn nói một chút về người bạn tù, người
“sếp” thân thiết nhất của tôi: Nguyễn Tấn Tài.
Lúc đó Tài và tôi làm công tác vũ trang tuyên truyền và làm
giấy tờ giả cho anh em. Quan hệ giữa hai chúng tôi rất khăng
khít. Anh là một kỹ sư hóa học nhưng rất khéo tay, anh dạy
tôi nghề khắc dấu, kể cả làm dấu nổi bằng những vật liệu đơn
giản nhất. Lúc anh bị bắt, trong nhà anh có cái máy chữ của
tôi. Cái máy này tôi dùng để làm giấy tờ giả và để viết văn
(vì trước đó tôi cộng tác với anh Nguyễn Ngọc Lương, chủ bút
tờ Tin Văn, tôi sẽ có một chương nói về anh Nguyễn
Ngọc Lương và cuộc đời bi kịch của anh). Khi đưa cái máy chữ
cho giao liên đem đi tôi còn “cẩn thận” đưa luôn cái hóa đơn
có tên tôi cho chị. Sự cẩn thận ngốc nghếch đó đã làm cho cả
tôi lẫn anh Tài đều lo sốt vó trong suốt thời gian bị hỏi
cung. Cũng may cả ba chúng tôi đều có bản lĩnh vượt qua
được. Và kẻ địch đã không tìm ra bất cứ mối liên hệ nào giữa
ba người.
Trận đó chính quyền Sài Gòn đã hốt một mẻ lưới khá nặng. Ở
trong tù tôi gặp mặt đủ mọi “anh hào”. Từ Phạm Chánh Trực,
Bảy Hà (sau này là thứ trưởng Bộ Ngoại thương), Lê Thành Yến
(sau này là nhà biên kịch Lê Duy Hạnh), Nguyễn Ngọc Phương,
Dương Văn Đầy. Nguyễn Tấn Tài, Cao Thị Quế Hương, Phùng Hữu
Trân, Huỳnh Tấn Mẫm…
Sau giải phóng, những người không bị dính vụ đó, hoặc những
người cả đời không biết ở tù là gì thường phát biểu linh
tinh, bình phẩm này nọ. Tất cả đều trật lất. Chỉ có những
người bạn tù với nhau là hiểu nhau, đánh giá đúng về nhau.
Và không có gì có thể che giấu được, nhất là sau giải
phóng, tất cả những hồ sơ, những bản cung của từng người đều
còn nguyên trong Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát Đô thành.
Và họ cũng không hề biết những nguyên tắc cơ bản của người
tù chính trị là:
"Nếu địch đã biết ta là cộng sản thì ta phải giữ khí tiết,
không khai báo cho người khác và nếu cần tìm cách đánh lạc
hướng địch."
"Nếu địch chưa biết ta là cộng sản thì ta phải đóng vai một
người dân thường bị bắt lầm.
Như vậy giữ khí tiết trong tù không phải là không khai báo
gì cả (vì ai cũng phải có khẩu cung) mà phải khai báo cách
nào để đánh lạc hướng địch để bảo vệ tổ chức, bảo vệ đồng
đội và bảo vệ chính mình.
Về sau này tôi có dịp làm việc với anh Nguyễn Vĩnh Nghiệp
(nguyên chủ tịch TPHCM) Khi kể về giai đoạn ở tù của mình
anh cũng đã nhấn mạnh ý đó.
Nhân đây, tôi còn muốn nói thêm là: ngay cả những bạn tù đôi
khi cũng hiểu lầm nhau. Ví dụ như anh Huỳnh Tấn Mẫm. Khi mới
bị ném vô Nha Cảnh sát Đô thành, tôi nằm ngay trước cửa
xàlim của anh. Mỗi sáng khi chúng tôi ăn sáng bằng cháo gạo
lức đựng trong cái dĩa bằng nhôm, thì anh Mẫm được cung cấp
một ổ bánh mì thịt và một bịch cà phê sữa đá. Chuyện đó kéo
dài chừng một tuần lễ. Trong số bạn tù có người xì xầm là
anh Mẫm đã bị mua chuộc. Người lại nói là lẽ ra anh Mẫm
không nên nhận những bữa ăn sáng đó.
Một buổi sáng kia, người ta làm vệ sinh nhà tù. Khi cánh cửa
xà lim của anh Mẫm mở ra thì tôi là người đầu tiên nhìn thấy
những ổ bánh mì thịt, những bịch cà phê sữa còn nguyên xi,
nằm lăn lóc dưới đất và đã lên mốc, đã bốc mùi.
Tội nghiệp cho anh Mẫm. Anh là người hiền lành, học giỏi,
nhiệt tình… nhưng sau giải phóng vì đố kỵ, ganh ghét sự nổi
tiếng của anh mà có người đã dìm anh khiến anh không ngóc
đầu lên nổi. Tiếp theo là những rủi ro tiền bạc do bà vợ gây
ra khiến anh tuột dốc. Hồi còn sinh viên tôi và anh ở chung
phòng 4/6 Đại học xá Minh Mạng. Lúc ấy anh học phụ khoa
(gynécologie) năm thứ tư, vào Đảng năm 1968. Năm 1970 anh
nổi tiếng khắp thế giới nhờ vụ bắt bớ quy mô lớn mà tôi vừa
thuật lại ở trên. Vai trò của anh lúc bấy giờ là vai trò
công khai. Anh hoạt động cách mạng ở góc độ công khai có
nghĩa là với bất cứ danh nghĩa nào: Phật giáo, Công giáo hay
Lực lượng thứ Ba tuỳ theo sự chuyển biến của tình hình, tuỳ
theo nhiệm vụ chính trị của từng lúc. Nhưng không hiểu sao
có tin đồn là anh lừng khừng, không dứt khoát tư tưởng và
người ta để anh ngồi chơi xơi nước. Cuối cùng anh bị đẩy đi
Liên Xô học ba cái thứ vớ vẩn gì đó. Rồi anh về nước giữ
chức Phó chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ TPHCM.
Còn bây giờ anh là bác sĩ khoa thẩm mỹ hình như có phòng
mạch ở đâu đó trên đường Cách Mạng Tháng Tám.
Có lẽ anh nghèo. Và trong sạch.
♦
Vụ Huỳnh Tấn Mẫm kết thúc sau những cuộc xuống đường, tuyệt
thực… của đồng bào các giới: học sinh, sinh viên, công nhân,
đồng bào Phật tử… Chính quyền Thiệu biết rõ mười mươi một số
học sinh sinh viên (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm) là đảng viên
cộng sản nhưng họ vẫn phải trả tự do cho những người bị bắt.
Vì bị tra điện nhiều lần nên tôi phải về quê vừa để chữa
bệnh vừa thăm cha mẹ.
Khi tôi bị bắt, mẹ tôi không biết đã xảy ra chuyện gì và tôi
cũng không thể giải thích cho bà hiểu được. Bà vẫn nghĩ tôi
là một ông “cử nhơn” sắp đi làm quan, nhưng không hiểu sao
lại phải ở tù. Tôi chỉ nói:
"Con bị người ta bắt lầm thôi mà."
"Con có thi cử nhơn được không?"
"Được chớ."
Nhưng lúc ấy tôi đã là một đảng viên cộng sản.
Về quê, tôi được bà con đùm bọc, chạy chữa. Đó là gia đình
của thầy tôi – thân sinh của Tám Nhân, một bạn học, một tay
cách mạng đầy cá tính đã cùng với Lữ Phương (một ông thứ
trưởng Bộ Văn hóa) làm điên đầu những tay “Hồng Vệ binh”
trong suốt những năm ở R.
Chăm sóc cho tôi lúc đó còn có gia đình Trần Thiếu Bảo. Hắn
cũng là đảng viên, công tác quân báo. Sau giải phóng hắn là
một sĩ quan công an cấp tá, từng xách roi điện đi đến những
nơi có người nào chống Đảng.
Chị Bốn là chị ruột của hắn đã chăm sóc tôi rất chu đáo. Và
một “địa chỉ đỏ” nữa đó là nhà bà xã tôi. Ông anh vợ tôi hồi
đó cũng là dân phong trào sinh viên. Sau giải phóng ông làm
quan tới chức phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và là chồng
của bà Võ Thị Thắng, sếp ngành du lịch Việt Nam.
Một buổi sáng, khi tôi đi từ Tây Sơn xuống Quy Nhơn thì gặp
một toán quân cảnh xét giấy tờ quân dịch tại cầu Bà Gi. Lúc
ấy giấy hoãn dịch của tôi đã hết hạn do thời gian nằm trong
tù nên tôi bị giữ lại và đưa vào trại lính. Về nguyên tắc
tôi vẫn còn được hoãn dịch một năm nữa vì tôi là sinh viên
Đại học Sư phạm nhưng tụi quân cảnh không hiểu điều đó. Tôi
đã giải thích nhưng chúng không thèm nghe. Mục đích của
chúng là muốn đòi tiền nhưng tôi thì không có tiền.
Và thế là tôi bị đẩy vào một bi kịch mới, một chốn lao tù
mới hoàn toàn khác với cái nơi mà tôi vừa bước chân ra.
Trở lại mục lục
6. Từ nhà tù đến
trại tập trung
Bọn thanh niên bất phục tùng là một đám ô hợp, hỗn
tạp như đất đá, như đống xà bần bẩn thỉu, vứt bừa
bãi trong xó xỉnh ẩm mốc, u ám.
Sau một đêm trần truồng, nằm ngồi ngổn ngang, ngủ gà
ngủ gật trong những phòng giam chật hẹp nhơm nhớp mồ
hôi, nồng nặc hơi người, phân người, nước tiểu… bầy
tù được thả ra sân cho hít khí trời, cho ăn uống,
cho tiếp tục làm các thủ tục, giấy tờ để xếp loại,
hỏi cung, để bạt tai, đá đít, để mắng mỏ, chửi thề…
Bọn cán bộ tên nào cũng cầm một cuốn sổ, mỗi tên phụ
trách một nhóm. Chúng đếm đi đếm lại, ghi chép, cộng
trừ, la hét, đánh đập những kẻ ngồi không ngay hàng,
rồi lại ghi chép, chỉ chỏ. Xong việc cho giải tán.
Lúc đó cửa cổng chính mở ra một bên. Những người đàn
bà bán hàng rong quảy gánh chạy vô trại.
"Cháo dô! Cháo dô!"
Tiếng kêu ấy dấy lên, truyền đi như tiếng vang giữa
hang đá.
Loài người quây quần, cắm cúi, xương xẩu và trần
trụi. Không còn lại gì ngoài những cái miệng lớn húp
chùn chụt thứ nước xúp cay xè tiêu và ớt, nước mắt
nước mũi chảy ròng ròng.
Tôi bị nhốt ở đó mười hai ngày, làm quen với một ông
thợ mộc man khai lý lịch, một tay du đãng nguyên là
lính biệt kích Mỹ. Hắn và tôi đã vạch một kế hoạch
trốn trại, theo đó thì vào lúc 5 giờ sáng, điện tắt,
bọn tôi sẽ leo lên mái nhà nhảy qua hàng rào thứ
nhất. Chúng tôi sẽ lấy bao cát ở đó chất lên các đầu
cọc của hàng rào thứ hai rồi phóng ra đám mía phía
ngoài.
Cuộc đào thoát ấy bị thất bại vì một biến cố bất
ngờ. Ngay lúc chúng tôi chuẩn bị đặt bao cát lên
những đầu cọc thì đồn quân cảnh kế bên nhà lao bị
Việt cộng pháo kích. Tên lính gác lô cốt quay lại.
Cả ba anh em chúng tôi đều bị bắt nhốt trong phòng
tối một tuần lễ.
Mấy ngày sau đó phòng giam nhận thêm bảy người: năm
dân chài, một giáo sư tư thục và một nhà sư.
Nhà sư đó chính là Dã Nhân.
Anh mặc chiếc áo nâu già bạc màu, đầu nhẵn bóng in
nhiều vết cháy của trầm hương, chân đi guốc mộc.
Chúng tôi đều ngỡ ngàng trước cuộc gặp mặt này.
Nhà sư thì khó có thể tượng tượng được rằng một “nhà
cách mạng vĩ đại” như tôi bây giờ phải nằm trong
trại lính. Còn tôi thì cứ ngỡ rằng bạn mình đã tu
thành chánh quả.
Chúng tôi kéo nhau ra ngồi ở góc tường sau trại
giam.
"Sao lại ra nông nỗi này”, Dã Nhân hỏi.
"Xuống đường chống Mỹ bị tù. Giấy hoãn dịch hết hạn.
Bị tống vô đây."
"Còn tôi, mẹ tôi bán bốn con heo một trăm ngàn để
mua một tờ giấy hoãn dịch tu sĩ. Không ngờ đó là
giấy giả."
Khi ôn lại chuyện cũ, Dã Nhân hỏi:
"Thầy Long bây giờ ở đâu?"
"Chết rồi!"
"Sao nghe nói đi vô rừng?"
"Bị bom B52. Chết ở chiến trường miền Đông Nam bộ,
tháng 10 năm 1968."
Chúng tôi sống lại những ngày biểu tình rầm rộ ở Quy
Nhơn. Vụ đánh sập lầu Việt Cường và sau đó là trận
xạ kích tàn khốc của máy bay Mỹ trên đầm Thị Nại,
giết chết hàng trăm ngư dân, trong đó có ba của Dã
Nhân.
Giờ đây, nhìn lại mình, chúng tôi chỉ là những tên
phạm nhân ốm nhom, đen đủi, rách rưới, thảm hại.
Cái nỗi buồn mênh mông ấy tràn đến khi tôi tình cờ
đi ngang qua một chiếc xe du lịch đậu trong sân trại
giam, soi mặt mình trong tấm kính chiếu hậu. Đó là
một bộ mặt quắt lại, mắt trũng xuống, tóc húi cao
gần như trọc. Đó là bộ mặt của một đứa trẻ mồ côi đi
ăn xin ở đầu đường xó chợ. Dã Nhân cũng thế, trên
gương mặt anh không còn nét ung dung tự tại của vị
tì kheo ngồi thiền giữa hoàng hôn và thấy mình hóa
thân thành con hạc bay qua rừng trúc.
Người nào cũng đờ đẫn, thất thần, mệt mỏi.
Rồi tất cả choàng dậy sau hồi còi dài, mắt đỏ ngầu,
nhễ nhại mồ hôi. Tất cả tập họp điểm danh và lãnh
phần ăn chiều.
Một tuần sau, anh em chúng tôi bị chất lên một chiếc
xe GMC có lính vũ trang áp tải đưa đến Trung tâm
Nhập ngũ. Trong chuyến đi ấy có một người chạy thoát
nên số còn lại bị quật báng súng tới tấp vào đầu và
bị buộc phải cúi rạp xuống sàn xe như bầy súc vật.
Xế chiều, chúng tôi đến Trung tâm Nhập ngũ.
Thực chất đó là một trại tập trung.
♦
Đám thanh niên bất phục tùng lủi thủi đi như
những tên ăn mày. Dường như không ai nói một lời nào
cho đến khi ngửa tay lãnh chiếc chiếu nylon màu chàm
và nối đuôi nhau trở về khu dành riêng cho bọn họ.
Lớp “đàn anh” đã được gởi đi các quân trường, số còn
lại là những người tật nguyền đau ốm.
Những người mới đến, mệt mỏi đi tìm chỗ nằm rồi ngủ
thiếp đi trong cơn choáng váng vì đoạn đường dài mà
họ đã vượt qua.
Tên du đãng nằm ngoẻo cổ, cái đầu trọc lóc nhô ra
khỏi cánh tay trần xăm đầy hình nham nhở. Tât cả đều
bất động như khúc cây, như cục đá lăn lóc, vô giá
trị và tàn nhẫn.
Dã Nhân thì lọt thõm trong bộ quân phục rộng thùng
thình và nhàu nát. Trước đây tôi đã quen nhìn Dã
Nhân trong chiếc áo tu sĩ màu nâu già, đầu cạo nhẵn
bóng, bây giờ tự nhiên từ trong cái đống vải màu
xanh cứt ngựa kia bỗng nhô ra một cái đầu, tóc lởm
chởm không có đường ngôi, không có hàng lối. Mặt anh
nghiêng qua một bên, trông như cụt lại và xám đen.
Có lúc tôi cảm thấy Dã Nhân đã biến mất, thay vào đó
là một thằng người nào xa lạ vô danh. Dường như Dã
Nhân đã bị đem đi đâu rồi và người ta đã tráo vào đó
một kẻ khác. Dường như mụ phù thuỷ đã đến từ chặp
tối và biến nhà tu thành một con vượn nhỏ giữa lúc
anh đang ngủ.
Tôi mở mắt thao láo, nhìn đăm đăm vào những con
người đang lăn lóc chung quanh mà không để ý đến
người nằm cạnh mình. Nãy giờ ông ta trùm mền kín
mít, bây giờ đột nhiên run rẩy mạnh đến nỗi chiếc
mền sắp tuột ra khỏi giường. Dường như ông ta không
đủ sức kéo chiếc mền lại, nó đã rớt xuống đất một
nửa. Tôi ngồi bật dậy, định giúp ông, nhưng bắt gặp
một đôi mắt trợn trừng. Đầu của ông lắc lư liên hồi,
hai môi khô cứng, mở hoác ra, méo xệch. Hàm răng
dưới lởm chởm, đôi gò má nhô lên khỏi hai con mắt
sâu hoắm, trắng dã, trợn trừng. Đôi tay chới với,
run bần bật vươn tới trước trong một dáng điệu cố
gắng khốc liệt và tuyệt vọng.
"Bác, sao vậy bác?"
Nhưng ông ta vẫn cứ chới với hai tay, thở hổn hển
đứt đoạn, tưởng chừng như sắp chết ngạt. Một lúc,
ngón tay ông duỗi ra được, chỉ về phía cái biđông
nước.
Tôi mở nắp biđông, định cho ông uống, nhưng vừa mới
đưa cái biđông ra trước mặt thì, bằng hết sức bình
sinh, ông ta vồ lấy, trút xối xả xuống mặt mũi. Cái
miệng há ra, đói khát. Nước xối tràn ra mặt mũi,
ngập cả đôi mắt trắng dã trợn trừng. Mặc kệ, ông vẫn
nuốt ừng ực, cuống quýt, khốn khổ. Lát sau, chiếc
biđông rời khỏi tay, rơi xuống đất, hai cánh tay
cũng rớt xuống chiếu. Ông nằm ngoẻo cổ. Kiệt sức.
Đôi mắt nhắm lại và hơi thở dường như đã biến mất.
Tôi đứng sững, lát sau mới cúi xuống nhặt chiếc mền
lên, đắp lại cho người đàn ông khốn khổ.
♦
Một tuần sau tôi bị điều đi làm việc ở nhà bếp.
Xếp sòng ở đây là một anh hạ sĩ răng vàng. Thấy
chúng tôi bước vô, hắn hỏi:
"Mấy đứa?"
"Tám đứa."
Hắn ra lệnh:
"Thằng nào biết chữ thì ghi tên tất cả lại cho tao
rồi ở luôn trong này mà nấu nướng dọn dẹp, hễ tao
hứng lên là tao điểm danh, sót đứa nào là tao cho
bò."
Tôi làm theo lời gã. Xong việc, gã phát cho mỗi
người một cái xẻng:
"Một đứa lên bếp xúc cơm đổ vô cà mèng, một đứa đem
cà mèng cơm lại đàng kia chồng lên cà mèng canh rồi
xếp lại ngay ngắn."
Bọn thanh niên tuân lệnh răm rắp. Hạ sĩ răng vàng
day sang tôi và Dã Nhân:
"Hai thằng này đi nấu nước trà. Củi ở bên hàng rào,
cây nào ở trên chụm trước, lấy lộn xộn cũng bò
luôn."
Dã Nhân đứng tần ngần bên bể nước, giống hệt chàng
Sạclô, nhìn mệt mỏi xuống những thúng gạo lớn. Bắp
cải, dưa chuột lăn lóc dưới chân.
Tôi nhảy lên thành bể nước, kéo cái thùng sắt.
"Phụ một tay", tôi nói.
Dã Nhân đỡ thùng nước xuống để dưới chân nhưng không
chuyển đi. Anh móc trong túi ra một cái chai nhỏ,
đưa cho tôi. Chai đựng một thứ nước trắng đục như
sữa. Tôi mở nắp ngửi, thấy mùi hăng hăng
"Mủ xương rồng?" Tôi hỏi.
Dã Nhân đưa mắt ngó hạ sĩ răng vàng, gật đầu. Tôi
lại hỏi:
"Ông định làm chuyện đó?"
"Coi như bỏ một con mắt"
"Tại sao không chặt ngón tay trỏ?"
Dã Nhân cười, cái môi thâm mở ra, buồn tênh.
"Tao nghĩ kỹ rồi. Bỏ con bên trái.
Cái giọng lạnh lùng ấy của Dã Nhân, tôi chưa nghe
lần nào. Nó làm tôi sợ. Và tôi càng sợ hơn khi nhìn
thấy cái bóng của bạn mình méo mó dưới đáy bể nước
chao động, không còn ra hình dáng con người.
♦
Mưa giông dữ dội. Đêm nào tôi cũng chui xuống hầm
trốn pháo kích mà ngủ. Hầm được xây bằng những thùng
phuy chứa đầy cát, phía trên nóc lợp vỉ sắt và đổ
cát thật dày. Nước mưa đọng trong cát, rịn xuống,
nhỏ giọt trên mặt đất. Bọn tôi trải chiếu nằm kế
nhau. Tên du đãng thắp ngọn đèn cầy cắm trên cục
gạch.
Nó tựa lưng vô vách hầm, rụt cổ xuống, im lặng hút
thuốc. Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn cầy, nó
trông giống một nhà sư khất thực.
Dã Nhân mơ ngủ nói ú ớ trong xó tối. Anh nằm lim
dim, hai cái chân khẳng khiu cong lại, co ro, xương
bánh chè nhô lên khỏi đầu gối, thân thể lép xẹp như
con cá khô, như một người châu Phi chết đói giữa sa
mạc.
Một hồi còi chợt rúc lên. Dã Nhân mở mắt ra, hỏi:
"Cái gì vậy?"
Tên du đãng đáp:
"Còi thổi tập họp."
Tôi giục:
"Nhanh lên! Nó phạt bây giờ!"
Nhưng hình như Dã Nhân vẫn chưa thoát khỏi cơn mơ.
Mọi người đã chạy ra hết ngoài sân. Mưa vẫn rả rích.
Tiếng tu huýt rúc lên. Tiếng cán bộ la hét.
Dã Nhân bước ra ngoài mưa, như kẻ mộng du.
Tên trung sĩ chặn anh lại, hỏi gay gắt:
"Làm gì bây giờ mới ra?"
"Tôi ngủ quên,"
Một cái tát làm Dã Nhân lảo đảo. Tên trung sĩ hét
lên:
"Cởi quần dài ra! Quỳ xuống đi bằng hai đầu gối từ
đây đến cầu tiêu cho tao."
Hàng trăm thanh niên bất phục tùng đứng im phăng
phắc trong sân sáng choang ánh đèn.
Dã Nhân đứng thất thần như kẻ sắp bị đem đi hành
quyết. Anh cởi bỏ quần dài rồi quỳ xuống nền đất đầy
cát sạn.
Tên trung sĩ ra lệnh:
"Đi!"
Dã Nhân lê tới. Những viên sạn bén nhọn cứa trên hai
đầu gối. Anh cắn răng, cố chịu đựng. Tên trung sĩ
nhảy tới, vung roi ngựa quất tới tấp lên đầu và lưng
Dã Nhân. Anh trợn mắt tiến tới, máu đầm đìa hai đầu
gối, nhuộm đỏ những hòn sạn đau buốt, buộc anh phải
dừng lại. Nhưng cú đạp của tên trung sĩ đã làm anh
chúi mũi. Dấu chiếc giày trận trên lưng anh in rõ
nét như vẽ bằng một thứ bùn đặc sệt.
Dã Nhân gượng dậy, nghiến răng tiến tới trên hai đầu
gối trong nỗi uất hận điên cuồng. Khi đến cuối sân,
anh đứng dậy thì thịt ở hai đầu gối đã rữa nát, máu
chảy ròng ròng xuống hai ống chân.
Anh quay về, chậm rãi, nghiêm nghị, mặt ngẩng lên
như chàng giác đấu vừa hạ con sư tử.
Cái nhìn bốc lửa của anh khiến tên trung sĩ rúng
động. Và để trấn áp cơn sợ lạ lùng vừa ập đến, hắn
hét lên:
"Cho mày nhớ đời!"
Nhưng hắn không thấy bàn tay Dã Nhân đã nắm chặt
lại. Đến quỷ gác cửa địa ngục cũng không dữ hơn anh
lúc ấy. Cái đấm bay tới điên cuồng. Tên trung sĩ ngã
ngửa. Hắn rú lên, đưa hai tay bụm mặt, máu rịn ra
quanh kẽ ngón tay.
"Bắt nó! Bắt nó!"
Ba bốn thằng lính chạy lại. Chúng đánh anh bằng báng
súng. Giày “xô” đạp lên ngực, thúc vào ba sườn. Dã
Nhân bị hất văng đi, nhủi xuống bùn, nhưng anh không
kêu một tiếng.
Một cú đá nào đó đã làm vỡ môi anh, máu ứa ra đầy
miệng. Anh lăn lóc giữa trận đòn thù như đoạn củi
khô. Anh lờ mờ cảm thấy thân thể mình đang tan vỡ
từng mảng đẫm máu.
Cuối cùng, người ta đem đến một chiếc còng sắt. Một
cái lệnh ngắn và gọn được ban ra:
"Nhốt vô chuồng cọp. Một tháng!"
Trở lại mục
lục
7. Con nhện
và Sisyphe
Sau giải phóng Dã Nhân cởi áo tràng, bỏ chùa đi bụi
đời. Dù vậy tôi vẫn coi ông như sư phụ của mình vì
ông rất uyên bác về Phật học và nhiều vấn đề xã hội
khác.
Ông thường hay la cà với đám thợ hồ, thợ mộc và phu
xích lô, chiều chiều lai rai ở mấy cái quán cóc
trong xóm lao động. Nhiều khi say quá mà không chịu
về, ông thường ngồi một mình, mắt mờ đi, nhìn hoàng
hôn tím sẫm sau những mái tôn nám khói. Khi tiên
sinh trở về thì đã chạng vạng tối, có lần sẩy chân
lọt xuống sình. Chòm xóm đến kéo lên, dội nước cho
sạch bùn rồi cõng về nhà. Lại có khi đi ăn giỗ về,
quá chén, vừa bước qua cổng nhà đã ngã vô bụi ớt nằm
bất động mê man đến nỗi kiến lửa cắn nát cánh tay
vẫn không hay. Khi đưa vô bệnh viện thì da tay rộp
lên những bong bóng nước chi chít, còn đầu thì rỉ
máu.
Mấy hôm nay tâm trí Dã Nhân thường bất ổn
Tôi chơi nhạc Trịnh cho ông nghe.
Có một dạo bị mất ngủ, tôi phải nằm điều trị ở Bệnh
viện Y học Dân tộc. Sếp ở đây là bác sĩ Trương Thìn,
anh có một phòng riêng ở đó. Mỗi sáng anh thường đến
bệnh viện vào lúc 9 giờ và tôi mò đến chơi với anh.
Anh có cây ghita rất tốt và tôi đã chơi nhạc Trịnh
theo lối cổ điển cho anh nghe. Anh nói:
"Mình lấy làm lạ tại sao ông bị stress. Một người có
ngón đàn như thế không thể bị stress được."
Tôi tin đó không phải là một lời khen suông để lấy
lòng vì thế tôi vẫn đàn cho Dã Nhân nghe mỗi khi ông
bất an. Tôi muốn đem lại sự thanh thản cho ông bằng
những lời thủ thỉ:
Suối đã từng bàn chân em qua…
Và tiên sinh đã thiếp ngủ.
Tôi đặt cây đàn xuống. Đêm tràn qua cửa sổ. Tôi vẫn
ngồi cho đến khi không còn nhìn thấy hai bàn tay
mình đang đặt trên đầu gối. Dã Nhân cũng chìm khuất,
hoà lẫn trong biển im lặng.
♦
Nửa đêm tiên sinh gọi tôi dậy:
"Ngươi có biết triết học bắt nguồn từ sự sợ hãi
không?"
"Biết. Tư tưởng Phật giáo bắt nguồn từ sinh, lão,
bệnh, tử. Đó là sự sợ hãi."
"Không phải chỉ Phật giáo. Mọi hệ thống triết học
đều bị ám ảnh bởi cái chết và cố gắng vượt qua nó."
Tâm hồn Dã Nhân giờ đã lắng xuống như ly nước để qua
đêm. Trên mặt thì trong sạch tinh khiết nhưng dưới
đáy ly vẫn còn bụi bặm của cả một đời người. Cái cặn
ấy không đổ đi được, không lọc sạch được và sẵn sàng
bị khuấy động.
Tiên sinh không thể ngồi thiền. Tâm của ông không ở
với thân. Nó như con khỉ nhảy nhót không ngừng, nó
như con ngựa chạy. Phật giáo gọi trạng thái này là
“tâm viên ý mã.” Vì thế mà ông thay thiền bằng rượu.
Tôi hỏi tiên sinh:
"Thầy nghĩ gì về Eckhart Tolle?"
"Đời ta có hai lần hạnh phúc. Lần thứ nhất là năm ta
mười tám tuổi, đọc Nam Hoa kinh của Trang Tử
và lần thứ hai năm ta sáu mươi tuổi đọc The Power
of Now của Eckhart Tolle tiên sinh. Đó là những
cuốn sách làm ta sững sờ kinh ngạc."
Tôi nói:
"Thực ra Eckhart Tolle cũng chỉ diễn đạt tư tưởng
của Phật Thích Ca."
"Không sai. Nội dung của cuốn The Power of Now
là sự hiện đại hóa pháp môn Chánh Niệm, một nội dung
rất quan trọng của Bát Chánh Đạo. Ông đã dùng ánh
sáng luận lý của triết học phương Tây để quảng diễn
một cách sâu sắc và cụ thể pháp môn này. Phật giáo
rất coi trọng pháp hành hơn lý thuyết
suông. Và Chánh Niệm là phần quan trọng nhất trong
pháp hành. Thậm chí ta có thể nói đắc đạo hay không
đắc đạo, thành Phật hay không thành Phật, Niết bàn
hay không Niết bàn… cũng đều nằm trong Chánh Niệm.
Và Chánh Niệm chính là cái ‘hiện tiền phi thời gian’
của Eckhart Tolle. Đối với ta, Eckhart Tolle thực sự
là một vị A La Hán."
Cuốn The Power of Now đã được dịch ra tiếng
Việt dưới nhan đề Sức mạnh của hiện tiền phi thời
gian. Đọc cuốn sách này tôi nhớ mấy câu kệ trong
Trung bộ Kinh của Phật giáo Nguyên thuỷ. Câu kệ ấy
như vầy:
Thường sống trong rừng núi
Bậc thánh sống phạm hạnh
Một ngày ăn một buổi
Sao sắc họ thù diệu?
Không than việc đã qua
Không mong việc sắp tới
Sống ngay với hiện tại
Nên sắc họ thù diệu.
Cái mà Eckhart Tolle nhắc đi nhắc lại
trong tác phẩm của ông là “sống ngay với hiện tại”.
Nhưng chính Eckhart Tolle cũng nói rằng trên thế
giới số người đạt tới cảnh giới ấy không nhiều. Vậy
thì tính khả thi của Chánh Niệm, của cái “hiện tiền
phi thời gian” là rất thấp và cái chết vẫn còn đó,
vẫn treo lơ lửng trên phận người như một nỗi sợ hãi
thường trực.
Dã Nhân kể một câu chuyện trong Nam Hoa kinh:
"Khi Trang Tử sắp chết, các học trò ông bàn nhau tổ
chức đám tang. Ông nói: ‘Ta chết đã có bầu trời, mặt
đất làm quan quách. Những vì sao và chim chóc đưa
tiễn ta. Thế thì các ngươi tổ chức đám tang làm gì?’
Học trò thưa: ‘Chúng con sợ diều, quạ rỉa xác thầy.’
Trang Tử nói: ‘Các ngươi muốn cướp cái ăn của diều
và quạ sao?’”
Có phải Trang Tử muốn hiểu cái chết như là một sự
chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác, từ
sinh vật này sang sinh vật khác không?
Tôi nói:
"Nhưng để ngộ được như Trang Tử phải tu nhiều kiếp.
Vậy mà có một loài vật không cần tu luyện nhưng vẫn
ngộ."
Dã Nhân với lấy chai rượu nhưng không còn một giọt
nào. Ông đưa nó lên ánh đèn lù mù rồi thả nó lăn
tròn dưới sàn nhà. Ông hỏi:
"Loài vật nào?"
"Tôi không nhớ nổi cái tên khoa học dài dòng của nó.
Chỉ biết là tôi đã xem một chương trình truyền hình.
Một con nhện cái màu đen. Nó có cái vòi dài và tự đẻ
trứng trên khắp thân thể nó. Hàng trăm cái trứng màu
trắng, chi chít, lốm đốm trên lưng, trên cổ, trên
bụng nó. Đẻ xong thì nó chết. Ít lâu sau những chú
nhện con ra đời và xác của mẹ chúng trở thành kho
thực phẩm nuôi chúng lớn lên. Thầy nghĩ thế nào về
con nhện đó?"
Dã Nhân nói:
"Nó biết chuẩn bị cho mình một cái chết. Đó là cái
chết không sợ hãi, nhẹ nhõm, tự nguyện và tự do."
"Triết học Hiện sinh cũng biện hộ cho một cái chết
tự do."
"Triết học Hiện sinh là triết học của sự phi lý (la
philosophie de l’absurdité). Tại sao phi lý? Vì mọi
người đều là một anh chàng Sisyphe. Cố lăn tảng đá
lên đỉnh núi dù biết rằng khi tới đỉnh thì nó lại
rơi xuống vực. Và anh ta lại phải tiếp tục lăn tảng
đá ấy lên đỉnh núi, để rồi nó lại rơi xuống. Đó là
sự phi lý. Giống hệt con người sống để rồi chết thế
mà vẫn phải sống, vẫn phải lặp đi lặp lại hàng ngàn
năm như anh chàng Sisyphe nọ.
Muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy chỉ còn một
con đường là tự sát. Bởi vì khi tôi tự sát có nghĩa
là tôi đã tự quyết định. Có nghĩa là tôi tự do! Và
tôi chứng minh được rằng tôi hiện hữu.
Con nhện không cần triết lý. Nhưng nó đã tự quyết
định cái chết của mình, nhẹ nhàng, thanh thản và rất
hồn nhiên.
Tại sao con người lại không thể chuẩn bị cho mình
một cái chết hồn nhiên như vậy?
Cái chết của con nhện chẳng phải là nhập Niết bàn
sao? Chẳng phải là đi vào Cõi Trời sao?
Giải mã được cái chết của con nhện thì không cần
triết học, không cần tôn giáo nữa.
Và đó chính là sự Giải thoát."
Tôi im lặng. Tôi chưa hiểu nổi điều mầu nhiệm trong
cái chết của con nhện. Và tôi đưa một câu hỏi rụt
rè:
"Hay con nhện đã hành động theo bản năng?
Dã Nhân cả cười:
"Bản năng? Thường thì sinh vật (kể cả loài người)
chỉ có bản năng sinh tồn (gồm ăn, uống, tình dục,
săn mồi…) chứ không có bản năng hy sinh, không có
bản năng quên mình. Vì đó là những phạm trù thiêng
liêng chứ không phải bản năng. Và ta cho rằng hiểu
được điều mầu nhiệm trong cái chết của con nhện tức
là đã trả lời được câu hỏi lớn của nhân loại mà
không cần phải tự sát theo kiểu của Camus:
Il n'y a qu'un problème philosophique vraiment
sérieux: c'est le suicide. Juger que la vie vaut ou
ne vaut pas la peine d'être vécue, c'est répondre à
la question fondamentale de la philosophie. (Chỉ
có một vấn đề triết học thực sự quan trọng: đó là tự
sát. Hãy xét xem cuộc đời đáng sống hay không đáng
sống, đó chính là trả lời cho vấn đề căn bản của
triết học. Trích Le mythe de Sisyphe,)"
Tôi hỏi:
"Tiên sinh à! Ông nghĩ gì về cái chết của Albert
Camus?"
"C’est le suicide."
"Tự sát sao? Báo chí đưa tin rằng đó là một tai nạn
giao thông mà?”
Dã Nhân uể oải đứng dậy, mở cánh cửa tủ ọp ẹp của
ông, lục lọi trong mớ báo cũ.
"Cậu đọc đi," ông nói nhưng không đưa tờ báo cho tôi
mà lại đeo kính lão vào mắt rồi tự đọc lấy:
"La voiture quitte la route et percute un arbre
qui la borde. Les journaux de l'époque évoquent une
vitesse excessive (130 km/h), un malaise du
conducteur ou l'éclatement d'un pneu, mais René
Étiemble affirme: "J'ai longtemps enquêté et j'avais
les preuves que cette Facel"Vega était un cercueil.
J'ai cherché en vain un journal qui veuille publier
mon article…" (Chiếc xe đã lạc tay lái và đâm
vào một thân cây bên lề đường. Báo chí thời ấy cho
rằng xe đã chạy quá tốc độ - 130 km/giờ-. Tai nạn
xảy ra là do lái xe vụng về hoặc do nổ lốp xe, nhưng
nhà báo René Étiemble thì khẳng định: "Trong một
thời gian dài, tôi đã điều tra vụ việc và tôi đã có
bằng chứng rằng chiếc xe Facel Vega đã là một cỗ
quan tài. Tôi đã cố tìm một tờ báo nào dám đăng bài
viết của tôi nhưng vô ích…”
Tôi lắng nghe và ngẫm nghĩ. Rồi tôi hỏi:
"Câu nói úp úp mở mở của Étiemble thực ra là gì?"
"Là gì không quan trọng. Cái quan trọng chính là câu
mà Camus đã nói: ‘Il n'y a qu'un problème
philosophique vraiment sérieux: c'est le suicide.’
Và chính ông đã giành lại cho mình quyền tự do ấy."
Trở lại mục
lục
8. Đại đội
22 trinh sát
Điểm đến của tôi sau “ba tháng quân trường” là đại
đội 22 trinh sát thuộc sư đoàn 22 bộ binh đóng ở Cầu
Bà Gi. Một ngọn núi nhỏ, trơ trọi. Một ngọn tháp đơn
độc của người Chămpa mà người ta quen gọi là tháp
Bánh Ít.
Những ngày cuối cùng ở quân trường tôi bị bệnh mắt
hột. Mắt cộm, sưng lên, không mở ra được.
Tôi xuống xe, xách chiếc ba lô con cóc, quờ quạng đi
như một gã hành khất mù loà.
Bốn mươi lăm ký, đầu húi cao, quần áo lính thùng
thình, giày botte de saut mới tinh, nặng
trịch. Đứng xếp hàng trước cái trại lính lụp xụp lợp
bằng tôn rỉ sét. Sau đó là ôm mặt nằm cong queo trên
chiếc giường gỗ rộng tám tấc. Hai mắt đau rát.
Xế chiều có ai đó tới thăm tôi. Một thằng bạn? Không
thấy mặt nó, chỉ cảm nhận một cú chạm nhẹ ở cuối
giường và một tràng cười ngặt nghẽo. Cười chảy nước
mắt, cười hô hố. Nhưng chỉ có nó cười. Tụi lính mới
về không ai dám cười kiểu đó.
"Hiếu ơi! Tao nghe nói mày làm cách mạng mà! Sao bây
giờ mày về đây làm lính của tao?"
Đó là cái giọng Huế của thằng Văn Eng. Khi tôi và
Trần Quang Long “quậy” ở Qui Nhơn nó đứng ngoài cuộc
vì ba nó là sĩ quan chế độ cũ. Tuy vậy chúng tôi
cũng rất thân nhau. Cùng với Nguyễn Quang Hoà, chúng
tôi là bộ ba giống như ba người lính ngự lâm. Trong
ba thằng thì tôi và Văn Eng là những đứa lêu lổng
nhất. Tới mùa thi, khi ai cũng vùi đầu nơi bàn học
thì giữa đêm khuya Văn Eng bảo tôi tới nhà người yêu
của nó.
Cô gái có một cái tên dài dòng, sang trọng, kiêu kỳ.
Mai Lâm Tuyết Hườn. Tuyết Hườn là một viên tuyết
nhỏ. Mai Lâm Tuyết Hườn là một viên tuyết nhỏ trong
rừng mai.
Nhưng nhà của Tuyết Hườn không phải là một rừng mai
mà là một cửa hàng bán vật liệu xây dựng với một cái
sân khá rộng và điều đáng ngạc nhiên là bên trong
đang có… ba con bò khổng lồ.
Tại sao một nhà giàu quý tộc ở giữa lòng thành phố
Qui Nhơn như thế lại nuôi ba con bò?
Văn Eng và tôi đứng tần ngần trước cái cổng gỗ to
lớn. Không có người đẹp. Không có ánh đèn trong cửa
sổ. Chỉ có 3 con bò đang im lìm nhìn chúng tôi, đen
thui như ba tên Chà Và gác cổng.
Văn Eng thò tay vô phía trong cánh cửa cổng, mở cái
chốt.
Rất thong thả, ba con bò bước ra ngoài đường phố.
Còn chúng tôi thì bỏ chạy.
Cũng may, sáng hôm sau gia đình Tuyết Hườn tìm lại
đưọc ba con bò!
♦
Thiếu uý Văn Eng ôm lấy tôi.
Cuộc gặp ấy làm tôi bất ngờ quá.
Nó là thiếu uý đại đội phó của tôi. Đại đội trưởng
là một tay đại uý xuất thân Trường Võ bị Đà lạt. Về
sau tôi biết hai người không ưa nhau và thủ thế với
nhau khá căng thẳng. Eng tâm sự với tôi:
"Mỗi lần thấy tao đi ngang qua văn phòng của nó, nó
đều đặt tay lên khẩu colt 45 để sẵn trước mặt."
"Vì sao vậy?"
"Vì đã có lần tao suýt bắn nó."
Văn Eng là một sĩ quan nho nhã, có học thức.
Và sau này, tôi tình cờ đọc được một truyện ngắn của
nó đăng trên tạp chí Trình Bày. Đó là một
tuyện ngắn độc đáo. Tôi ngạc nhiên về tài năng của
nó.
Ít lâu sau tôi nghe nó tử trận.
Nó không thích Việt cộng và cũng không thích Mỹ. Nó
ghét chiến tranh và vẫn mãi mãi yêu Mai Lâm Tuyết
Hườn. Tôi không biết bây giờ Hườn đang ở đâu. Mỹ hay
Canada, hay Pháp? Tôi chỉ biết rằng Văn Eng đã chết.
Đại đội của nó rơi vào một ổ phục kích và vì không
muốn bị bắt nên nó đã rút súng tự sát.
Tội nghiệp cho Văn Eng. Anh bị động viên vào Thủ Đức
và trở thành một sĩ quan bất đắc dĩ. Anh đã không
mưu cầu một điều gì từ cuộc chiến ấy. Văn Eng, bạn
tôi, là một nhà văn có tài dù anh chỉ mới viết có
dăm ba cái truyện ngắn.
Eng ơi! Viết đến đây tao khóc. Vì tao thương mày
quá. Sao mày lại tự sát? Sao mày không cố nhịn nhục
ở tù ít lâu rồi anh em mình lại gặp nhau?
Trở lại mục lục
9. Mẹ tôi
Trước Tết Tân Hợi 1971 chừng một tháng, tôi xin được
một cái phép ba ngày về thăm mẹ.
Căn nhà của tôi bây giờ chỉ là một nơi hoang tàn,
lạnh lẽo. Tôi đi từ nhà trước ra nhà sau, không một
bóng người.
Khi tôi đẩy cửa bước vô căn buồng nhỏ nơi mẹ tôi
thường nằm thì nghe có mùi gì rất lạ. Căn buồng tối
quá, tôi phải mở cánh cửa nhỏ mới nhìn thấy được mọi
thứ trong đó. Chiếc giường nhỏ kê sát vách không có
ai nằm. Một chiếc gối nhỏ và chiếc mền cũ màu xám
tro. Tôi đến bên giường, vừa đặt tay lên gối thì một
đám bụi bốc lên. Trên chiếu lờ mờ hiện lên những vật
gì màu nâu. Tôi cúi xuống. Các bạn có biết đó là cái
gì không? Đó là phân người. Chúng đã khô quắt lại.
Từ ngày tôi bị bắt lính, mẹ tôi đã sống thui thủi
một mình trong cái buồng nhỏ này với ngọn đèn dầu
hiu hắt từng đêm.
Những người hàng xóm kể lại rằng khi bà đi xuống bếp
lục cơm nguội ra ăn, với tay lấy chai nước mắm chan
vô chén cơm, hóa ra đó là chai dầu lửa. Bà nhai
miếng cơm trộn trạo trong miệng một lúc mới nghe
được mùi hôi và ói ra đầy giường.
Xế chiều buồn quá bà ngồi dậy quơ lấy cây gậy tre,
từng bước chống đi, dò dẫm đến những nhà quen ở đầu
chợ.
Tôi liền chạy ra đầu chợ, thấy mẹ ngồi đó, nhưng bà
cũng không nhận ra tôi nữa. Lúc tôi chạy đến ôm bà,
bà mới nhận ra hơi hướng của tôi. Bà sờ lên đầu lên
mặt tôi và hỏi:
"Con đấy hả?"
Thế là bà khóc. Tôi cũng khóc. Buổi chiều đó tôi
cõng mẹ từ ngoài chợ về nhà. Những người trong làng
đổ xô ra xem, xem anh lính binh nhì cắp cây gậy tre
trong nách cõng mẹ đi qua thị trấn.
Hàng xóm chạy đến giúp tôi dọn dẹp nhà cửa.
Lúc đó cha tôi đang ở một nơi khác. Với một gia đình
khác. Có lẽ ông không hề biết mẹ tôi đã suy sụp đến
như thế. Còn tôi, bây giờ tôi phải làm gì trong tình
cảnh này? Ở lại với mẹ cũng không được vì đơn vị sẽ
báo cáo đào ngũ. Trở về làm lính cũng không xong vì
mẹ tôi sẽ chết. Cõng mẹ vô rừng theo kháng chiến thì
đúng là chuyện không tưởng.
Tôi cần một ít thời gian để suy nghĩ.
Buổi chiều hai mẹ con ngồi bên thềm giếng ăn cơm với
nhau. Mẹ tôi hỏi:
"Con về ở luôn với mẹ chớ?"
"Không mẹ à, ngày mốt con đã phải đi rồi."
"Sao con đi sớm vậy? Con đi đâu?"
"Con vào trại lính."
"Người ta nói con đi lính khố đỏ phải không? Tại sao
con là ông cử nhơn mà phải đi lính khố đỏ?"
"Tại vì nước mình đang chiến tranh, ai cũng phải đi
lính cả, mẹ ạ. Người ta bắt buộc như thế."
"Gần Tết rồi, con có về nữa không?"
"Về. Con sẽ về ăn Tết với mẹ."
♦
Nhưng Tết đó tôi không về được. Chiều ngày hai mươi
chín Tết, bọn lính trong đại đội trốn hết chỉ còn
lại mình tôi với ông trung sĩ già. Ông ta chửi thề
tùm lum rồi cùng với tôi chia nhau trực gác đêm giao
thừa.
Một mình tôi gác năm vọng. Đứng ở vọng này
một lúc lại chuyển sang vọng khác. Súng đạn đầy
mình.
Ông trung sĩ già thì gác cổng chính, văn phòng và
kho đạn.
Gần giao thừa ông thảy cho tôi ít đồ hộp và mấy trái
sáng để bắn “mừng xuân mới.”
Nhưng lúc ấy tôi biết mẹ tôi đang thức một mình với
ngọn đèn dầu leo lét đợi tôi.
Tôi thảy những lon đồ hộp và trái sáng xuống bờ cỏ
ướt, ngóng nhìn lên bầu trời đen sâu thẳm.
Giao thừa đến với hàng ngàn thứ tiếng động ồn ào.
Tôi gác khẩu M16 trên lô cốt và ngồi xuống bờ cỏ.
Khi mọi tiếng động đã tắt, khi trời đất yên tĩnh trở
lại, tôi nằm ngửa trên cỏ ướt. Những băng đạn dày
cộm đè trên ngực tôi. Tôi thấy mình đang mục nát.
Sáng hôm sau, một người bạn cưỡi một chiếc Honda,
vượt qua cái dốc đất đỏ, đến chỗ đóng quân của tôi,
dừng lại bên rào kẽm gai. Anh ngoắc tôi ra và bảo:
"Bà già mất rồi!"
Tôi được cấp cho bảy ngày phép. Bảy ngày đó đủ để
tôi về quê chôn cất mẹ tôi, giao nhà lại cho mấy
người bà con rồi đi Qui Nhơn. Tôi nhờ người thân
phía bên vợ dùng giấy tờ giả để mua vé máy bay vào
Sài Gòn.
Trở lại mục lục
10. Trí
thức nằm vùng
Vào thời điểm đó các căn cứ của Thành Đoàn ở vùng
ven Sài Gòn và chiến khu D bị càn quét ráo riết nên
đa số phải dời sang tận bên đất Campuchia. Các cơ sở
ở nội thành Sài Gòn cũng bị lộ, anh em phải chạy vô
cứ và cũng trôi dạt sang bên kia biên giới.
Thời gian tôi bị kẹt trong quân đội Sài Gòn tuy chỉ
hơn 6 tháng nhưng cũng giúp tôi tránh được những
cuộc hành quân càn quét, lùng sục ở nội thành.
Tôi bắt liên lạc với tổ chức khá dễ dàng. Bây giờ
tôi trực tiếp làm việc với Lê Công Giàu, một trong
những lãnh đạo Thành Đoàn lúc đó. Về sau này, vào
năm 1994, khi tôi bị “đánh phủ đầu” vì cuốn tiểu
thuyết Nổi loạn thì anh là ông quan cách mạng
duy nhất đã thăm hỏi và chia sẻ cùng tôi trong những
ngày bị hỏi cung căng thẳng nhất. Những người khác
đều quay lưng, thậm chí có người còn muốn dây máu ăn
phần!
Tôi thuê một căn gác nhỏ ở Thị Nghè và anh Giàu
thường lui tới với tôi tại đó. Anh nói:
"Cơ sở của mình bị lộ nhiều lắm. Cán bộ nòng cốt
không còn bao nhiêu vì thế những người còn trụ lại
được nội thành như ông là quý lắm đấy nhé."
"Thôi, tôi không ở đây nữa đâu. Anh cho tôi vô rừng.
Mẹ tôi đã mất rồi."
"Vô rừng làm gì? Anh đã từng ở rừng, anh biết rồi
đó. Bạch diện thư sinh như mình có đánh đấm gì được
đâu. Ngồi chơi xơi nước là chính.
"Nhưng mà ở nội thành, làm việc theo phong trào, lúc
có lúc không, lúc lên lúc xuống. Nhất là thời điểm
này đang án binh bất động. Chán chết được."
"Thì ông cứ học để lấy cho xong cái cử nhân đi. Và
nhất là phải tìm một việc làm nào đó.
♦
Làm gì? Một chiếc mobilết xanh, phía sau có hai túi
vải đựng báo. Sáng sớm giành giựt báo ở vỉa hè đường
Trương Định, lạch bạch chạy lên khu vực chợ Cầu
Muối, Nguyễn Cảnh Chân, lòng vòng trong xóm lao
động. Chín giờ sáng xong việc, chạy đến trường đại
học. Mười hai giờ ra khỏi trường, tấp vô quán cơm xã
hội.
Làm gì? Xế chiều chạy xuống Thị Nghè gặp một người
đồng hương làm thợ sửa morasse cho báo Điện Tín.
"Hôm qua tôi viết tới đâu rồi?"
"Tới chỗ hai đứa gặp nhau trên đèo Bảo Lộc."
"OK. Cho tôi một ly nước lạnh."
Ba mươi giây biến thành nhà văn. Viết feuilleton mỗi
ngày bốn trang đánh máy. Viết xong, nằm lăn dưới sàn
nhà đọc Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung. Ông
ta cũng viết feuilleton như tôi nhưng ông ta giàu vì
có hàng triệu độc giả, còn tôi chỉ có vài trăm ngàn
người, lên xuống theo số lượng bản in của báo
Điện Tín.
Tôi viết tùm lum, bốn năm cái tiểu thuyết. Bây giờ
nghĩ lại tôi cũng không nhớ nổi cốt truyện, chỉ nhớ
một cái tên rất “kêu” là Sương xuống mênh mông.
Chiều hôm đó tôi viết chương cuối cùng. Ngày hôm sau
lại bắt đầu một cuốn khác lấy tên là Thành phố
bạo lực. Sau giải phóng tôi đã cho in lại truyện
này dưới tên Một chuyến đi xa, được tái bản
bốn lần và sau đó được giải thưởng của Hội Nhà văn
Việt Nam.

1971 -
Sài Gòn
♦
Từ năm 1972 đến năm 1974 phong trào sinh viên ở Sài
Gòn quá yên tĩnh. Tôi không có việc gì để làm bèn
tấp qua nhánh văn nghệ.
Mấy năm trước, hồi còn ở Huế tôi có cộng tác với báo
Tin Văn do anh Nguyễn Ngọc Lương làm chủ bút
vì vậy chúng tôi quen nhau. Khi tôi vào Sài Gòn thì
tờ Tin Văn đã đóng cửa vì chính quyền đánh
hơi được “mùi Việt cộng” ở đó. Anh Nguyễn Ngọc Lương
cũng bị họ bắt giam mấy lần nhưng vì không có bằng
chứng nên phải thả ra.
Vợ anh là con gái một gia đình tư sản chuyên kinh
doanh về xăng dầu. Anh là “Bắc kỳ di cư”, vốn là một
công chức của Đài Phát thanh Sài Gòn. Tôi không biết
với lý lịch như vậy sao anh có thể trở thành cộng
sản được.
Thỉnh thoảng tôi đến ăn trưa với anh. Chị Lương cũng
là người trí thức. Chị nói tiếng Anh rất lưu loát và
có kiến thức về y học khá rộng.
Một lần anh hỏi tôi:
"Cậu đang làm gì để sống?"
"Em đi bán báo. Nhưng… bây giờ nghỉ rồi. Vì chỉ bán
giúp cho người ta một thời gian thôi. Anh có thể
giới thiệu cho em một chỗ nào đó được không?"
Điều thú vị là anh có một chỗ.
Chỗ ấy là trạm xăng ở đường Hai Bà Trưng, ngay sau
lưng nhà bưu điện trung tâm Sài Gòn.
♦
Đó là một trạm xăng lớn của gia đình bên vợ anh
Nguyễn Ngọc Lương. Tôi làm một nhân viên bơm xăng
bình thường, mặc đồng phục kaki màu xanh biển. Không
nhớ lương bao nhiêu nhưng cũng đủ sống.
Anh Lê Công Giàu và tôi thường lấy trạm xăng làm chỗ
liên lạc. Có khi thì anh đến, có lúc thì giao liên
của anh đến.
Phong trào sinh viên vẫn án binh bất động. Anh
Nguyễn Ngọc Lương giới thiệu tôi với nữ nghệ sĩ Hột
Xoàn và nhà văn Vô Hạnh (tôi không muốn nêu tên thật
của ông vì ông đã gần đất xa trời, vì thế tôi mượn
tạm cái tên mà nhà văn Nguỵ Ngữ đã đặt cho ông.)
Ông là nhà văn nổi tiếng và đã từng bị vài tờ báo
của chính quyền Sài Gòn nêu đích danh là “cộng sản
nằm vùng”.
Tuy nhiên chúng tôi không thường gặp nhau vì tờ
Tin Văn đã bị đóng cửa, không có môi trường để
sinh hoạt.
Có một nhà văn thường xuyên quan hệ với ông Vô Hạnh,
đó là Lữ Phương. Hồi đó anh là giáo viên cấp 3 dạy
văn. Anh nổi tiếng qua những bài chính luận sắc bén
đăng trên tờ Tin Văn. Càng nổi tiếng anh càng
bị chính quyền Sài Gòn để ý và tôi cũng không hiểu
tình hình đun đẩy thế nào mà anh lại vào chiến khu,
tham gia vào chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà
miền Nam Việt Nam với chức vụ Thứ trưởng Bộ Văn hóa.
Đến thời điểm đó tôi vẫn chưa được gặp mặt anh dù đã
đọc anh khá nhiều.
Những ngày đầu giải phóng tôi có dịp làm việc chung
với Lữ Phương trong Hội đồng Đánh giá Văn học miền
Nam tại Thư viện Quốc gia.
Anh khá nổi bật trong số các thành viên của Hội đồng
vì cách ăn mặc.
Trong khi các cán bộ miền Bắc và cán bộ ở rừng ăn
mặc luộm thuộm, đi dép râu, còn những người tại chỗ
như Vô Hạnh và tôi cũng xuyềnh xoàng, thì Lữ Phương
ăn mặc chỉnh tề, đẹp. Có lẽ đó là những bộ quần áo
của thời anh đi dạy học trước giải phóng. Quần
Gabardine màu xám nhạt, sơ mi màu sậm, cài măng sét,
giày da màu nâu bóng loáng.
Anh ăn nói lưu loát nhưng hoà nhã, lịch thiệp. Cái
nhìn của anh về văn học ở các đô thị miền Nam trước
giải phóng cũng khá thoáng.
Nhưng điều làm tôi bất ngờ nhất là anh luôn luôn bị
ông Vô Hạnh ngắt lời. Ông lớn tiếng, khoa tay múa
chân khi nói, và thường dùng những lời lẽ đao to búa
lớn để phủ nhận những ý kiến của Lữ Phương. Thái độ
đó làm mọi người khó chịu. Lữ Phương thì im lặng
theo cái cách của một người cha nhìn cơn bốc đồng
của đứa con mình và chờ cho nó hạ xuống. Sau đó anh
lại tiếp tục nói.
Trong giờ nghỉ giải lao, Vô Hạnh nói oang oang ngoài
hành lang của thư viện:
"Đầu óc tiểu tư sản của anh ta vẫn còn. Anh ta là
Thứ trưởng hả? Chỉ đáng là học trò của tôi."
Lúc ấy nhiều người cho rằng ông muốn tranh cái chức
Thứ trưởng Bộ Văn hóa của Lữ Phương, riêng Lữ Phương
có lẽ anh đang cười thầm vì từ lâu anh đã hiểu cái
chức ấy chẳng qua cũng chỉ là một vai diễn trên sân
khấu chính trị mà thôi.
Tôi thì ngỡ ngàng. Lúc đó tôi nghĩ chắc trước đây
ông và Lữ Phương có lục đục với nhau, nhưng về sau
khi ông Vô Hạnh về làm việc ở Hội Văn nghệ TPHCM thì
tôi mới biết ông là một tên chỉ điểm văn nghệ.
Thực ra, nhận xét về ông Vô Hạnh như thế chỉ đúng có
một phần.
Phải định nghĩa về nhà văn Vô Hạnh như thế này:
Một cá thể phức tạp bị dồn nén và đầy mặc cảm.
Ông hoạt động cách mạng trong nội thành nhưng khi ở
tù, ông cộng tác với địch lộ liễu đến nỗi bạn tù đặt
cho ông cái tên là “Vô Hạnh chui lỗ chó”, vì
thế giải phóng xong ông không được tin dùng nên ông
“hận” những anh em văn nghệ sĩ ở rừng về, nỗi căm
hận biến thành cao ngạo, chửi bới vung vít.
Mặt khác, đối với anh em văn nghệ tại chỗ (nhất là
những người không biết lý lịch của ông) thì ông lại
tỏ ra mình là một ngự sử văn đàn, một nhà văn cách
mạng chánh hiệu con nai vàng, vì thế ông phê phán
người này, lên lớp người kia, lúc nào cũng đưa quan
điểm lập trường chuyên chính vô sản, giai cấp công
nhân… ra làm thước đo, hù doạ mấy anh em nhà văn
trẻ, nhà văn chế độ cũ đang được “lưu dung”. Còn đối
với các nhà văn nổi tiếng tài năng khác như Thanh
Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm
Mậu… thì ông mạt sát họ bằng ngôn ngữ dao phay, mã
tấu…
Sau này, khi đã ngoài bảy mươi tuổi, ông vẫn chứng
nào tật nấy, vẫn giở giọng chuyên chính ra truy đuổi
những nhà văn tài năng đã được đưa vào Từ điển
Văn học như Dương Nghiễm Mậu.
Ông làm như vậy để làm gì?
Trước đây thì có thể động cơ của ông là tâng công
với Đảng. Nhưng nịnh bợ mấy mươi năm có được gì đâu.
Thế thì ở cái năm 2007 này ông còn lên giọng làm gì?
Ôi thôi, đó là chuyện có liên quan tới cái mà khoa
tâm phân học gọi là refoulement, gọi là
transfer du complex, gọi là loi de
compensation…
Cho đến khi nằm ngáp ngáp chờ chết, có lẽ ông cũng
còn bị những quy luật tâm lý phức tạp ấy dẫn dắt như
một thằng khùng.
Ngược hẳn với Vô Hạnh 180 độ là anh Nguyễn Ngọc
Lương. Hiền lành, nhẫn nhục mà sống, mà làm việc.
Trước giải phóng thành uỷ giao cho anh làm chủ bút
một tờ báo công khai của Đảng tại thành phố Sài Gòn,
nói nôm na là làm ông tổng biên tập một tờ báo “Việt
cộng nằm vùng” ngay trong lòng địch. Chuyện đó đâu
có dễ. Nếu là bạn, chưa chắc bạn đã dám nhận, phải
không? Nhất là làm việc mà không có lãnh lương!
Sau giải phóng người ta cho anh làm một nhân viên
sửa morasse tại toà soạn báo Văn Nghệ TPHCM.
Vậy mà anh cũng làm.
Cứ cho là trong thời gian công tác anh có mắc phải
một vài sai lầm nho nhỏ nào đó đi (tôi biết chắc
chắn là không có gì lớn). Cái thứ sai lầm vặt ấy,
truy lý lịch ra ai mà chẳng có. Vậy thì nỡ lòng nào
đày đoạ đồng chí mình như vậy!
Anh Nguyễn Ngọc Lương đã qua đời trong một tâm trạng
buồn như thế.
Ngày 23 tháng 3 năm 2007, mười lăm thuỷ thủ Anh bị
Iran bắt làm tù binh vì “xâm phạm lãnh hải của
Iran”. Mấy người lính Ănglê này (có cả một cô nàng
béo tốt tên là Faye Turney) đều lên đài truyền hình
Iran cầm cây thước chỉ vô bản đồ xác nhận là mình đã
xâm phạm lãnh hải của Iran. Sau đó xin lỗi rối rít
và cám ơn chính phủ Iran đã đối xử rộng lượng… Thế
mà đến khi họ được thả về nước thì mọi người vẫn ra
đón. Thủ tướng Anh còn bật đèn xanh cho họ thuật lại
những chuyện đã xảy ra để… kiếm tiền. Rõ ràng là
người ta nhìn vấn đề đó nhẹ nhàng như chơi một ván
cờ.
Một người bạn khác của tôi là nhà báo Nguyễn Xuân
Phổ cũng bị phân biệt đối xử và trở thành “dở khùng
dở điên”, anh ăn mặc lôi thôi như gã ăn mày, đi lang
thang đây đó suốt mấy năm trời và cuối cùng gục chết
trên đường phố.
Anh ruột của Phổ là Nguyễn Xuân Hàm. Hai anh em có
một người cha làm bộ trưởng trong chính phủ Ngô Đình
Diệm. Nhưng họ đã đi kháng chiến. Sau giải phóng họ
bị cho ra rìa. Tôi thương Phổ nhưng tôi không đồng
tình với anh cũng như tôi không đồng tình với Khuất
Nguyên vì bị thất sủng mà phải trầm mình dưới sống
Mịch La. Cả hai người ấy đều chưa học thuộc hai câu
thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài "Phóng cuồng
ca":
Thâm tắc lệ hề, thiển tắc kệ,
Dụng tắc hành hề, xả tắc tàng
(Sâu thì cởi áo, cạn thì vén áo. Biết
dùng thì ta làm, không dùng thì ta về.)
Có một người đã may mắn đọc được hai câu này. Đó là
Nguyễn Xuân Hàm, anh ruột của Phổ. Anh vượt biên
sang Mỹ và mười năm sau anh trở về với chức Tổng
Giám đốc công ty Carrier của Hoa Kỳ, có trụ sở
“hoành tráng” trên đường Trần Quốc Thảo.
♦
Một hôm nào đó của năm 1974 tôi được
tin ông anh vợ là Trần Quốc Thuận vượt ngục trở về
rừng. Tôi quyết định vào căn cứ Thành Đoàn ở Long
Khánh để thăm anh.
Căn cứ địa ở miền Đông Nam bộ không có sông nước,
chỉ có vườn cây ăn trái bạt ngàn. Chúng tôi đi dưới
bóng cây sầu riêng, chôm chôm, nhãn, mít. Về rừng mà
giống như về làng quê.
Tôi ở ngay một căn nhà nhỏ lợp lá trung quân, sát mé
rừng.
Thủ trưởng của cái “chốt” này là Nguyễn Đình Mai,
anh là người cùng quê với tôi, học đại học khoa học.
Sau giải phóng anh làm sĩ quan công an rồi chuyển
qua làm sếp một cơ quan gì đó tôi chẳng nhớ tên,
nhưng nó lo về kế hoạch đầu tư với nước ngoài. Từ
hồi sinh viên anh ta đã ít nói, khắc khổ. Khi làm
công an lại càng nghiêm nghị hơn. Tính cách ấy phần
nào không hợp với tôi vì tôi càng sống càng thấy đời
nhảm nhí, thấy đầy dẫy những trò hề nên hay bông
đùa, hay nói tào lao, thấy ai nghiêm túc quá thì mắc
cười.
Mai nói:
"Chiều thằng Thuận nó ra."
Chuyện vượt ngục của Thuận tôi có viết thành một
loạt phóng sự đăng nhiều kỳ trên báo Tuổi Trẻ
hồi năm 77 hay 78 gì đó.
Buổi chiều chúng tôi gặp nhau bên một con suối nhỏ
trong rừng. Anh hơi xanh xao, ốm, choàng chiếc khăn
rằn quanh cổ. Tôi thông báo với anh những tin tức về
gia đình. Anh nói:
"Tự nhiên bây giờ mình muốn có một đứa con lạ lùng."
"Thì anh lập gia đình đi."
Cười. Rồi không nói gì. Trời tối mịt. Chúng tôi trở
lại căn nhà nhỏ. Mỗi người một cái võng. Thuận kể
lại cuộc vượt ngục của anh. Lợi dụng lúc kẻ địch đưa
đi Bệnh viện Biên Hoà, anh thay quần áo, leo rào, đi
ra phố, nhập vào một toán học sinh mẫu giáo, giả làm
phụ huynh đón con, rồi đi thẳng ra cánh đồng, ngược
về phía núi Thị Vãi, lạc trên núi mấy ngày mấy đêm
đói khát, ăn lá cây để sống. Cuối cùng cũng gặp cách
mạng.
Thuận hỏi tôi về em gái của anh. Tôi nói:
"Bà xã đang dạy học ở một xóm chài cách Phan Thiết
hai mươi lăm cây số."
Xóm chài ấy có một cái tên rất quê mùa là Mũi Né.
Ngày nay đó là một khu du lịch nổi tiếng và rất sang
trọng, nhưng thời đó Mũi Né là một xứ lưu đày. Một
làng chài xơ xác. Trong làng không có đường mà đi.
Chỉ là những lối mòn đầy cát sạn, đi vòng vòng một
lúc lại dẫn ra biển.
Bãi cát bẩn thỉu, tanh mùi cá ươn và nước mắm.
Những cơn gió mặn, ẩm, thổi từ ngoài khơi, phần phật
trên những mảnh lưới rách, cào xới những mái tranh
đen nhẻm, mục nát trước khi lướt qua cồn cát mù mịt
biến thành đám sương vàng khè bay phiêu hốt giữa
mênh mông cát chập chùng.
Tôi từ chiến khu Long Khánh trở về giữa trưa nắng.
Chiếc xe đò lọc cọc từ thị xã Phan Thiết băng qua
những gò đống và giốc cao ven biển để xuống ngôi
làng chài nhỏ bé.
Tôi theo con đường cát tìm lối vào một căn nhà lụp
xụp. Căn nhà trống trơn. Bếp nguội lạnh. Chiếc võng
gai rách mắc giữa nhà và trên cái bàn gỗ ở góc tường
vẫn còn một ít sách vở và cái đèn dầu nám khói. Giờ
này chưa đến giờ học nhưng vợ tôi đi đâu? Và đứa con
gái nhỏ của tôi?
Mấy đứa bé thập thò bên cửa sổ:
"Này em. Em có biết cô Khánh không?"
"Cô đi nằm nhà thương ở Phan Thiết rồi."
Một ca cấp cứu vì đau ruột thừa trước đó hai ngày.
Thế con tôi đâu? Không ai biết. Một ai đó đã đem về
nuôi giúp hay nó đã đi lạc?
Lũ trẻ không có câu trả lời.
Tôi chạy đi tìm con giữa những mê lộ đầy cát nóng.
Biển chói chang mặt trời mùa Hạ. Trong thứ ánh sáng
xốn xang ấy, một đứa bé gái trần truồng, đen đủi, từ
gió cát hiện ra. Nó đi lẫm đẫm, xiêu đổ, nhạt nhoà
trong nắng lóa. Nó ngơ ngác, hốt hoảng, tìm kiếm vô
vọng.
Đó là con tôi.
Tôi chạy ra sân ôm nó vào lòng. Nó bấu lấy tôi.
Không khóc, không kêu một tiếng. Nhưng tôi thì khóc,
vì tôi vẫn còn nước mắt. Còn con tôi, trong mấy ngày
qua, có lẽ đã khóc hết nước mắt rồi. Nó cứ bấu lấy
tôi. Im lặng.
Khi tôi đặt nó xuống giường, nó giương mắt nhìn tôi.
Một đứa bé 20 tháng tuổi, ngơ ngác không biết tại
sao mẹ mình biến mất. Nó trần truồng như một con chó
con đơn độc đi tìm mẹ, lẩn quẩn ngoài vòng rào của
ngôi trường nhỏ. Rồi lại trở về nhà. Rồi lại lẫm
đẫm đi...
"Để ba đi mua bánh cho con."
Tôi chạy ra khỏi nhà, quệt nước mắt bằng ống tay áo.
Khi tôi đem ổ bánh mì về thì đứa bé đã ngủ. Nó ngủ
ngồi, gục mặt lên cái giỏ xách.
Kỷ niệm đó sẽ theo tôi suốt cuộc đời.
♦
Sau giải phóng, bước đường công danh của Trần Quốc
Thuận cũng không suôn sẻ lắm. Hình như người ta đã
hỏi anh: “Tại sao đồng chí vượt ngục trong khi chờ
trao trả tù binh?” Tôi nghĩ rằng người hỏi câu đó
chưa từng ở tù nên không biết tâm trạng khát khao tự
do của một người bị nhốt giữa bốn bức tường. Còn
tôi, tôi hiểu anh, vì tôi đã từng ở tù chế độ cũ đến
3 lần! Ba lần khao khát tự do và cũng là ba lần
khẳng định phẩm chất của một trí thức trẻ dám dấn
thân vào con đường mình đã chọn, cho dù con đường ấy
cuối cùng đã bị xói mòn, lở loét bởi những cơn lũ
của lòng tham không đáy.
Có dạo Thuận làm bí thư phường, rồi làm một ông xếp
nào đó của Toà án Nhân dân TP HCM. Và chức vụ cao
nhất của anh là Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Lúc ấy vợ anh làm Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch.
Vào những năm cuối cùng trước khi về hưu, anh đã có
những phát biểu khá táo bạo về mối quan hệ giữa Đảng
và Quốc hội. Theo anh, vì đảng viên chiếm đa số
tuyệt đối trong Quốc hội nên kết quả những cuộc bỏ
phiếu đều theo ý muốn của Đảng. Hơn nữa, lại có Ban
thường vụ Quốc hội là nơi có quyền quyết định mọi
thứ, mà cái Ban này lại gồm toàn những cán bộ lãnh
đạo cao cấp của Đảng, vì thế có thể nói Quốc hội và
Đảng là một. Anh chủ trương giải tán Ban thường vụ
Quốc hội, tách rời Đảng ra khỏi Quốc hội, có như thế
thì Quốc hội mới có thực quyền.
Anh được nhiều người biết đến và được khen ngợi nhờ
những phát biểu đó đã được đăng báo và phát tán rộng
rãi trên mạng Internet. Tôi có đọc một số bài của
anh. Tôi thấy quan điểm của anh vừa đúng vừa phiến
diện.
Đúng, là vì anh dám nói Quốc hội chỉ là bù nhìn.
Phiến diện, là vì anh chủ trương tách rời Đảng ra
khỏi Quốc hội.
Thực ra, trên khắp thế giới người ta lập đảng chính
là để vào quốc hội. Ví dụ như ở Mỹ có Đảng Dân chủ,
Đảng Cộng hoà, ở Anh có Đảng Bảo thủ, Đảng Xã hội
v.v… Các đảng này từ hàng trăm năm nay tranh nhau để
vào quốc hội, để chiếm được đa số trong quốc hội.
Vậy thì việc Đảng Cộng sản Việt Nam vào Quốc hội là
chuyện đương nhiên, chuyện bình thường.
Nhưng điều không bình thường là QUỐC HỘI VIỆT NAM
CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG DUY NHẤT. Vì thế Quốc hội biến thành
“tài sản” của Đảng, Quốc hội biến thành một cơ quan
của Đảng cũng giống như tỉnh uỷ, thành uỷ. Và như
thế Quốc hội không còn là Quốc hội nữa.
Và chúng ta có thể nói rằng nước Việt Nam không có
Quốc hội, không có ngành lập pháp và trên thực tế
cũng không có ngành tư pháp.
Một quốc gia không có ngành lập pháp và tư
pháp mà nói đến nhân quyền thì chỉ là lừa bịp.
Cũng giống như Mỹ, một quốc gia luôn đi gây
chiến tranh để bán vũ khí giết người, để cướp tài
nguyên của nước khác, mà nói đến nhân quyền thì
chẳng khác nào coi nhân loại là một lũ ngu dốt.
Xem ra từ một nước cộng sản nghèo nàn lạc hậu đến
một nước tư bản cực kỳ văn minh giàu có đều xỏ lá
như nhau!
Năm 1980 tôi có dịp ra Hà Nội, nhìn thấy trong khách
sạn một cái ly thuỷ tinh quái đản. Bởi nó đầy bọt
khí. Cũng trong những năm ấy, ngành xuất bản của tôi
chỉ cho ra đời những cuốn sách giấy đen như cứt chó,
nham nhở như giẻ rách. Tuy nhiên những cái ly ấy,
những cuốn sách ấy vẫn có người mua vì không còn
loại ly nào khác, loại sách nào khác.
Sau thời kỳ Đổi mới, đi theo kinh tế cạnh tranh thị
trường, cái ly trong khách sạn Hà Nội không còn bọt
khí, cuốn sách của các nhà xuất bản được in trên
giấy trắng, bìa couchée bốn màu.
Thành quả ấy là nhờ có cạnh tranh thị trường. Muốn
tồn tại anh phải có sản phẩm tốt, bằng không, khách
hàng sẽ mua sản phẩm của người khác. Tôi nghĩ rằng
trong chính trị cũng vậy. Phải có cạnh tranh
chính trị thì mới có những sản phẩm chính trị tốt,
nếu không, chúng ta chỉ tạo ra được những thứ tương
tự như cái ly thuỷ tinh đầy bọt và những trang sách
đen như cứt chó mà thôi!
Đã lâu lắm rồi, tôi có đọc một bài trả lời phỏng vấn
của Giáo sư Tiến sĩ Phan Đình Diệu (nghe đâu là cháu
nội cụ Phan Đình Phùng) đăng trên tờ Diễn Đàn
Paris số 28 năm 1994. Trong bài báo ấy có lẽ
Giáo sư sợ bị chụp mũ là “đa đảng, đa nguyên” nên
ông đã nói đại khái: nếu ở Việt Nam có 2 đảng cộng
sản thì ông sẽ vô đảng thứ hai. Điều đó chứng tỏ ông
cũng căm ghét sự độc tài. Bởi vì độc tài còn là cha
đẻ của tham nhũng.
Tổ chức Minh bạch Quốc tế và các tổ chức kinh
tế thế giới đánh giá Việt Nam là một trong những
quốc gia có nạn tham nhũng trầm trọng nhất trên thế
giới..
Các lãnh đạo Đảng Cộng sản và nhà nước Việt
Nam cũng thừa nhận rằng tham nhũng đang là một "quốc
nạn".
Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, Đại học Waseda, cho
rằng tham nhũng ở Việt Nam không đơn thuần là vấn đề
đạo đức, mà là vấn đề cơ cấu trong tổ chức, và để
loại bỏ tham nhũng, phải cần sự cải thiện lớn trong
cơ cấu tổ chức và tài chính.
Trong một nghiên cứu độc lập khác, giáo sư
Carlyle Thayer, Học viện Quốc phòng Úc, nhận định
chống tham nhũng đòi hỏi nhiều cải cách, nhưng Đảng
Cộng sản Việt Nam sẽ khó lòng thực hiện, vì những
cải tổ này lại dính tới vấn đề giảm bớt độc quyền
chính trị của Đảng.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện
nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương và cũng là một
viên chức cấp cao cố vấn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Việt Nam, cho rằng chỉ có 5% của tảng băng tham
nhũng lộ ra mà thôi; còn đến 95% vẫn còn chìm khuất.
Đầu năm 2007 Trần Quốc Thuận nói với tôi rằng anh sẽ
ứng cử đại biểu quốc hội nhiệm kỳ tới. Anh nghĩ rằng
với những ấn tượng tốt mà anh đã ghi được trong lòng
quần chúng qua những bài phát biểu trên báo, anh sẽ
có thể đắc cử. Tuy nhiên người ta đã gạt đơn ứng cử
của anh ngay từ trong trứng nước.
♦
Trong những ngày đầu giải phóng, người ta chia cách
mạng ra thành nhiều loại: Cán bộ A là người ở
miền Bắc vô, cán bộ B là người ở rừng về và
cán bộ tại chỗ là những người hoạt động nội
thành.
Còn tôi, Đào Hiếu, binh nhì quân dịch, số
quân: 67/409.806, nhóm máu B, thuộc đại đội 22 Trinh
sát, sư đoàn 22 Bộ binh, Quân lực Việt Nam Cộng hoà…
thì là cán bộ gì? Làm sao người ta có
thể công nhận tư cách đảng viên của tôi?
Tôi sẽ lướt qua giai đoạn này bởi vì đó là một thời
kỳ mà tôi bị mắc kẹt trong cái mớ công việc lỉnh
kỉnh, vụn vặt như phong trào kế hoạch nhỏ, phong
trào “một cây, một con” phong trào làm sạch đường
phố.
Đến gần cuối năm 1976 tôi mới thoát ra khỏi cái mớ
bòng bong ấy và cùng với một số anh chị em khác như
anh Võ Ngọc An, Hữu Đạo, Nguyễn Minh Lộc, Hoàng
Thoại Châu, Trần Thị Xuyến… đứng ra thành lập báo
Tuổi Trẻ. Anh Võ Ngọc An làm Tổng biên tập đầu
tiên.
Ngay trong những ngày đầu giải phóng tôi đã hiểu ra
một sự thật mà trước đây tôi không bao giờ nghĩ tới.
Đó là: làm cách mạng cũng là một cái nghề, muốn
thành công trong nghề (có nghĩa là sau này làm quan
lớn) thì phải có tham vọng chính trị. Muốn thực hiện
tham vọng ấy thì phải nổi tiếng. Muốn nổi tiếng thì
phải có “thương hiệu”. Trong các phong trào quần
chúng đô thị miền Nam thời đó thì thương hiệu chính
là các chức danh “chủ tịch” “tổng thư ký” “nhạc sĩ”…
và phải làm cho nổi đình nổi đám được lãnh đạo biết
tới thì sau này mới chắc ăn.
Còn những anh bộ đội, những chị du kích, giao liên,
những bà mẹ Việt Nam anh hùng, những kẻ mơ mộng,
lãng mạn, triết lý... dở hơi như tôi, như Tám Nhân,
như Lữ Phương… thì cũng chỉ là những chiến sĩ vô
danh mà thôi.
Khi đã ngộ ra điều đó tôi thấy lòng thanh thản.
Là một nhà báo tôi đi rất nhiều. Những ngày đầu giải
phóng tôi lặn lội vào các bưng biền, vào đồng hoang
cỏ cháy, vào rừng sâu nước độc… cùng với anh em
thanh niên xung phong và đã viết cả trăm bài báo.
Cũng có lúc tôi đi “vô sản hóa” tại nhà máy Sinco,
làm thợ máy (khà! khà! Giống hệt đồng chí Nguyễn Văn
Cừ đi vô sản hóa ở mỏ than Quảng Ninh!) Anh em công
nhân ở đó dạy cho tôi đứng máy tiện.
Năm 1979 tôi theo đoàn quân giải phóng sang
Campuchia.
Trở lại mục lục
11. Cô “Múa Đẹp”
của Kôngpông Thom
Lúc ấy tàn quân Pôl Pốt đã bắt đầu rút vào rừng. Mặt
trận biên giới Tây Nam khá yên tĩnh.
Tiếng súng chỉ còn rải rác trên đường đi và trong
các phom. Chúng tôi đến bến phà Kôngpông Chàm thì bị
tắc đường. Xe nhà binh nối thành hàng dài trên con
đường đất vàng cháy. Dòng sông ở tận dưới sâu và
đang rất thản nhiên trước cảnh ồn ào trên bờ. Chiếc
phà nhỏ cũng thản nhiên đậu dưới bến, không quan tâm
gì đến lượng xe cơ giới trên bờ.
Rồi đột nhiên nó tà tà, xình xịch rời bến.
Một chiếc Jeep từ đàng sau chợt vọt tới, nối theo là
chiếc xe du lịch màu trắng. Những người lính
Campuchia đứng trên chiếc Jeep la lối gọi phà dừng
lại nhưng chiếc phà vẫn tà tà xa bờ.
Một chàng lính K nóng máu phóng luôn một quả M79
xuống sông, cột nước bùng lên chỉ cách chiếc phà có
vài mét. Nó sợ quá. Dừng lại. Rồi quay vào bờ.
Đó là một cách “gọi đò” của quân đội bạn.
Chiếc Jeep hộ tống chiếc xe du lịch màu trắng xuống
phà. Còn chúng tôi, mãi đến xế chiều mới qua được
phía bên kia bờ. Nhưng mới đi được chừng vài cây số
thì lại gặp một chiếc xe con chở một ông lớn
Campuchia nào đó từ một ngã rẽ phóng ra. Nó vượt qua
mặt những xe bộ đội Việt Nam, tung bụi mù mịt. Nhưng
chỉ chạy được có một đoạn thì gặp một trạm gác do bộ
đội Việt Nam kiểm soát. Cái cổng làm bằng một cây
tre thô sơ chưa kịp giơ lên thì đã bị chiếc xe con
lao thẳng vào, phá tan nát.
Mấy anh bộ đội gác cổng giận quá lên cò súng, chặn
đầu xe lại. Bộ đội trên xe của tôi cũng nhào xuống
đất, chạy đến tiếp ứng. Rất may là có một sĩ quan
cấp tá của Việt Nam đến kịp. Mọi người rút về vị trí
nhưng chiếc xe con vẫn chưa chịu đi. Nó nấn ná một
lúc rồi mới từ từ lăn bánh.
Nhiều người nói:
"Mình tới đánh Pôl Pốt giúp cho nó mà nó cứ tìm cách
gây sự."
Người sĩ quan khoát tay cho đoàn xe lên đường.
Điểm đến của chúng tôi là Mặt trận 479 ở Siem Reap
nhưng chiều đó chúng tôi dừng lại ở Kôngpông Thom,
một tỉnh vừa được giải phóng. Sáng hôm sau xe vẫn
chưa đi, tôi tranh thủ làm việc với các cán bộ thanh
niên của bạn. Tuy tôi không biết tiếng Campuchia
nhưng những cán bộ trẻ của chính quyền bạn ai cũng
biết tiếng Pháp nên chúng tôi giao tiếp với nhau
không khó khăn mấy.
Sau buổi gặp ngắn ngủi ấy, có một cô gái đến gặp tôi
và nói:
"Chào anh nhà báo. Anh có sẵn lòng gặp sếp của tôi
không?"
Ngoại hình đẹp, cao, thon thả, thanh lịch. Tôi không
thể nào từ chối một người như vậy.
"Sếp của cô là ai?"
"Trưởng Ty Thông tin tỉnh Kôngpông Thom."
"Còn cô là hoa hậu ở đây phải không?"
"Không. Tôi là phó Ty, tên tôi là Cheng Huor nhưng
mọi người thường gọi tôi là “cô Múa Đẹp”
"Múa Apsara?"
Cheng Huor đưa hai tay ra phía trước, những ngón tay
uốn cong. Và cười.
Ty Thông tin là một căn nhà mặt tiền gồm một trệt
một lầu và một cái sân thượng. Trưởng Ty là ông
Cheng Phon, tiếp tôi trên cái sân thượng đầy nắng,
có che một mái hiên bằng tre. Có lẽ lúc ấy ông
khoảng 50 tuổi, đầu hói, ăn mặc như một người nông
dân Nam Bộ, cổ quấn khăn rằn. Trước thời Pôl Pốt ông
là giáo sư của Viện Kịch nghệ Hoàng gia Campuchia.
Bọn Pôl Pốt đã giết vợ con ông và ném ông về nông
thôn cày ruộng. Gặp tôi ông rất mừng và rất thân
tình. Ông nói:
"Nếu không có bộ đội Việt Nam thì tôi đã chết rồi.
Cho nên bây giờ đây (ông bóp bóp cánh tay sạm đen
của mình) cả máu và thịt này đây cũng là Việt Nam."
Chừng hơn một năm sau, cô Cheng Huor có sang Việt
Nam học tiếng Việt ở Đại học Tổng hợp và có ghé nhà
tôi chơi. Cô khoe với tôi là ông Cheng Phon đã lên
làm Bộ trưởng Thông tin, còn cô lên trưởng Ty.
Tôi không hiểu việc quân như thế nào mà chúng tôi
phải ở lại Kôngpông Thom thêm mấy ngày nữa. Xế chiều
Cheng Huor rủ tôi về nhà chơi. Từ chỗ đóng quân của
tôi phải đi bộ hơn bốn cây số mới đến nhà cô Múa
Đẹp. Một căn nhà nhỏ, khá xinh xắn. Có vẻ trước đây
là một gia đình khá giả.
"Chồng tôi là một kiến trúc sư tốt nghiệp bên Pháp.
Anh bị Pôl Pốt giết khi chúng tôi mới lấy nhau hơn
một năm."
Phòng khách đơn sơ, nhưng cái bếp thì thật rộng. Bộ
bàn ăn đẹp, bày muổng nĩa như kiểu Tây. Nhưng Cheng
Huor lại đãi tôi món cá xông khói kiểu Khmer.
Cheng Huor có nước da ngăm ngăm nhưng khuôn mặt tươi
tắn và duyên dáng, quý phái. Nhất là khi cô múa
quanh cái bàn ăn. Rất tiếc là không có nhạc. Vì cơn
bão man rợ của Pôl Pốt đã cuốn đi tất cả những gì là
văn minh của con người. Không một nhạc cụ, không một
máy nghe nhạc, không một cuốn sách. Chỉ còn lại
những ngón tay. Đôi chân thon thả và một thân hình
uyển chuyển như con báo đen. Vũ điệu chợt làm dấy
lên tiếng nhạc từ trong vô thức. Tôi tràn ngập hạnh
phúc khi được thưởng thức một trong những vũ điệu
đẹp nhất của nhân loại, một di sản văn hóa phi vật
thể mà mãi đến năm 2006 mới được UNESCO công nhận và
xếp loại.
Đó là Cheng Huor, nói tiếng Pháp như nước chảy mây
trôi, múa đẹp như trong thần thoại.
Buổi tối Cheng Huor đòi tiễn tôi về nơi đóng quân.
Tôi nói:
"Xa lắm. Không được đâu."
"Được mà. Vì trước đây sống trong trại tập trung của
Pôl Pốt ở trong rừng, tôi rất thường đi trong đêm
tối."
"Nhưng tôi không muốn lát nữa cô phải quay về một
mình."
♦
Cheng Huor và Đền Angkor, đền Ta Prohm là biểu tượng
cho một nước Campuchia tài hoa, trầm mặc và vĩ đại.
Nhưng chiến tranh đã để lại trên xứ sở huyền thoại
này những em bé bụng ỏng, trần truồng, đen đủi, ngụp
lặn trong ruộng nước để tìm những con cá nhỏ, con
nhái bén, con còng còm cõi.
Tôi đã đi dọc những cánh đồng mênh mông ngự trị bởi
những hoang tàn, nắng cháy và hiu quạnh. Những đứa
trẻ lạc lõng kia như từ đất chui lên, cặm cụi tìm
kiếm, rồi mất hút trong bùn lầy.
Những khu chợ xổm rách nát, xiêu đổ, may mắn sống
sót cạnh một ngôi làng lạnh lẽo. Buổi sáng tôi và
mấy anh bộ đội đi tìm một cái gì đó để ăn.
Chỉ gặp ruồi nhặng. Và ruồi nhặng.
Ruồi bu quanh những cái miệng nhỏ. Ruồi xếp hàng dày
đặc trên những ống tre đen đủi đựng nước thốt nốt,
bày trên sạp tre.
Tôi bước vào cái chợ xổm rách rưới ấy. Ruồi bay
quanh, tiếng đập cánh vù vù, tiếng kêu ong óng. Và
những con người đen đủi gầy gò vẫn ngồi bình thản
giữa ruồi nhặng. Đó là những cô gái trẻ mười tám,
hai mươi tuổi, không buồn không vui. Họ bán những
cái gì đó lụn vụn, cong queo, khô đét trên những cái
mẹt tre, trên những lá thốt nốt to bản.
Và phở bò. Những cái tô lớn bị che khuất bởi ruồi.
Và khi cô gái xua tay thì đám sinh linh đói
khát ấy bùng nổ. Lộ ra hình hài một tô phở.
Tôi không thể ăn được một tô phở như vậy nên tôi
chọn một ống tre đựng nước thốt nốt. Nhưng đột nhiên
cô bán hàng nhỏ bé kéo từ dưới bàn chân đen đủi của
mình ra một cuốn sách nhàu nát, bìa rách mất một góc
nhưng tôi cũng nhận ra đó là cuốn Spartacus
của nhà văn Howard Fast đã được dịch sang tiếng
Pháp. Tôi hỏi:
"Em đọc được cuốn này sao?"
"Em không có gì khác để đọc."
♦
Và tôi đã gặp một Campuchia khác ở Siem Reap. Đó là
Đền Angkor.
Sáu trăm năm bị bỏ quên trong rừng sâu. Hoàng cung
trở thành những hang hốc dành cho voi, hổ báo, khỉ
và rắn. Tại sao người ta lại có thể bỏ quên một kỳ
quan vĩ đại như thế trong suốt hơn sáu thế kỷ? Dân
tộc Campuchia không hề biết rằng mình đã từng có một
quần thể tác phẩm kiến trúc và điêu khắc hùng vĩ,
lộng lẫy và uy nghi như thế cho đến khi một chủ đồn
điền cao su người Anh lái chiếc máy bay thể thao
ngang qua khu rừng đó và…
Đền đài hiện ra, như một tác phẩm của trời, không
phải của người. Vì nó sừng sững, cao ngạo, thách
thức trong câm lặng. Trong nắng hoàng hôn, những
tảng đá đang còn mơ giấc mơ cung đình trong giấc ngủ
dài từ thế kỷ thứ 12.
Nụ cười thiền của đá cứ phảng phất trên bốn mặt
Bayon cao ngất. Đá xếp như rừng, ngút ngàn, sâu
thẳm, ẩn giấu. Đá len lỏi theo những lối đi hẹp,
những hành lang thênh thang chạm khắc vũ nữ. Nàng
Cheng Huor của tôi đang múa trên một nền matière thô
ráp của cổ thạch. Linga cao ngất ngưởng, phô trương
sức mạnh truyền giống của mình, thách thức thời
gian.
Nhưng Angkor lúc ấy vừa qua một cuộc chiến thảm khốc
nên hoang vắng, lạnh lẽo, cô tịch. Chỉ có tôi, ba
anh bộ đội của Mặt trận 479 và một anh thanh niên
Campuchia dẫn đường tên là Ruck Komnik (có thể tôi
viết sai chính tả). Không có du khách. Nhưng những
cặp vú của các vũ nữ Apsara dọc theo hành lang thì
tự lúc nào đã láng bóng do bàn tay người.
Có một lúc tôi định bước vào bên trong một tượng
Bayon thì chạm mặt một xác chết. Người dẫn đường
nói:
"Hôm trước ở Ta Prohm chúng tôi cũng mới chôn một
cái xác."
Lần đó tôi không vào được Ta Prohm vì nghe nói vẫn
còn tàn quân Pôl Pốt lẩn trốn ở đó. Phải đợi đến 24
năm sau, trở lại Siem Reap lần thứ hai tôi mới biết
đến cái nơi mà nữ diễn viên Angelina Jolie đã đóng
phim Tomb Raider (Bọn cướp lăng mộ).
Ta Prohm thâm u mà rực rỡ trong thứ ánh sáng kỳ ảo
của rừng già, hốc đá. Ngay cả những phế tích cũng
bừng lên vẻ đẹp huy hoàng của nó. Sức sống vĩnh cửu
của các đường nét kiến trúc vẫn rạng rỡ trong những
đổ nát. Và sự u ẩn, bí nhiệm của các mật thất cũng
mang đầy nét hiện đại.
Tại sao một dân tộc có thể sáng tạo ra những tác
phẩm nghệ thuật lớn như vậy mà phải sống trong nghèo
nàn lạc hậu? Tại sao con cháu của các nghệ sĩ vĩ đại
như thế lại sinh ra những con quái vật như Pôl Pốt,
Iêng Sary giết hàng triệu người bằng cách đập đầu
bằng cán cuốc?
Tại sao có Đền Angkor mà lại còn có nhà tù
Tung-Sleng?
Những câu hỏi này cũng có thể đặt ra cho nước Đức,
nước Trung Hoa. Tại sao có Beethoven, Einstein,
Goethe… mà còn có Hitler? Tại sao một dân tộc lãng
mạn tài hoa như dân tộc Đức lại đẻ ra một tên Hitler
đẩy hàng triệu người vào những lò thiêu xác? Tại sao
một dân tộc vĩ đại như Trung Hoa đã sinh ra Lão Tử,
Trang Tử, Khổng Khâu, La Quán Trung, Tào Tuyết Cần,
Tư Mã Thiên… lại còn sinh ra Bạch Khởi, Mao Trạch
Đông, Tần Thuỷ Hoàng?
Vậy thì dân tộc Trung Hoa, dân tộc Khmer, dân tộc
Đức… văn minh hay man rợ?
Hóa ra thiện hay ác, văn minh hay man rợ không
phải do dân tộc. Mà do chính quyền. Chính quyền man
rợ sẽ đẩy dân tộc mình vào sự man rợ.
Các nhà khoa học, những nghệ sĩ thiên tài như
Beethoven, Goethe, Einstein, Trang Tử… luôn là những
người sáng tạo ra trí tuệ và vẻ đẹp cho dân tộc mình
và cho cả loài người. Cho nên nếu có giết tôi, tôi
vẫn nói rằng những nhà khoa học, những nghệ sĩ bao
giờ cũng cao quý hơn những nhà chính trị.
Những nhà chính trị họ giành chính quyền, họ giành
độc lập nhưng rồi họ coi những thứ đó như chiến lợi
phẩm. Và họ chia nhau. Dù núp dưới những chiêu bài
tốt đẹp nào thì bản chất của sự việc, tự ngàn xưa,
vẫn như vậy. Và lịch sử Đông, Tây, Kim, Cổ đã chứng
minh điều đó. Ai không tin hãy đọc lại lịch sử Việt
Nam và lịch sử thế giới, kể cả Hoa Kỳ!
♦
Sau chuyến đi Campuchia tôi trở về và phụ trách
trang Văn - Xã của báo Tuổi Trẻ. Có thể nói
đây là mảnh đất đã ươm mầm và nuôi dưỡng phần lớn
những cây bút trẻ thời ấy.
Còn tôi, mặc dù có viết lai rai trước giải phóng
nhưng chỉ thực sự bước vào nghề văn từ khi nhận giải
thưởng văn học dành cho tiểu thuyết Giữa cơn lốc
năm 1976.

1989 - Đại hội Hội Nhà Văn
Năm 1993, khi cuốn Nổi loạn của tôi ra đời,
ba bốn tờ báo xúm lại “đánh” cả tháng chưa mỏi tay,
chửi mấy tuần liền chưa mỏi miệng. Nào là đồi truỵ,
nào là phản động.
Thực tình tôi không muốn nhắc đến cuốn sách đó
vì nó đã gây đau buồn cho nhiều người, nhưng
vì người ta đã xúm nhau đánh nó nên tôi buộc lòng
phải chống đỡ để tự vệ.
Tôi chỉ xuất có một chiêu, nhưng vì chiêu đó do Lệnh
Hồ Xung dạy tôi, nên đã hóa giải được tất cả.
Người tạo điều kiện cho tôi xuất chiêu là Đoàn Giao
Thuỷ. Anh đã bay từ Paris sang gặp tôi để thực hiện
một bài phỏng vấn dài 2500 chữ đăng trên báo Diễn
Đàn Paris số 28 phát hành tháng 3/1994 tại Pháp.
Bài báo đó đã cứu tôi thoát khỏi cảnh tù tội bởi vì
nó đã đánh động dư luận nước ngoài.
Sau đây là nguyên văn bài trả lời phỏng vấn ấy:
Chung quanh tác phẩm
Nổi loạn
Trong sáu tháng cuối năm 1993, cuốn tiểu thuyết
NỔI LOẠN của Ðào Hiếu đã nổi lên như một sự kiện văn
học ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong chừng mực nào đó: có thể gọi “vụ án NỔI
LOẠN”, bởi vì đã có lời buộc tội đăng trên báo chí,
cuốn sách đã bị tịch thâu và tác giả đã bị bắt giam
và truy tố. So với các vụ án văn nghệ trước kia, đây
chỉ là một vụ án nhỏ, song nhìn chung không có gì
thay đổi về phương pháp của nhà cầm quyền dùng để
triệt hạ một tác phẩm: tác phẩm bị kết án, tác giả
bị đi tù, song tác giả không được quyền giải thích
công khai về tác phẩm của mình. Chỉ có một điều là ở
cuối thể kỷ thứ hai mươi này việc bỏ tù một nhà văn
vì tác phẩm của họ không còn dễ dàng như xưa nữa!
Trong lần về thăm Việt Nam vừa qua tôi có dịp nói
chuyện với nhà văn Ðào Hiếu cũng như nhiều người có
thẩm quyền trong giới văn nghệ sĩ ở Sài Gòn về cuốn
sách và các sự kiện chung quanh nó. Khi đó khả năng
anh bị bắt giam đã được nêu ra. Trở lại Âu châu được
tin anh bị bắt thật, tôi tự thấy có trách nhiệm giới
thiệu những lời trao đổi với anh mà tôi ghi được.
Như một chứng từ! Như quyền trả lời của một người bị
buộc tội. Phải nói ngay rằng đây không phải là một
phân tích về nội dung cuốn sách: xin dành phần đó
cho bạn đọc hay các nhà chuyên phê bình văn học.
Trước khi đi vào phần trao đổi, có lẽ cần nói đôi
điều về tác giả cũng như bối cảnh của vụ án.
I. Tác giả:
Ðào Hiếu sinh năm 1946 tại Tây Sơn, tỉnh Bình
Ðịnh, tốt nghiệp Ðại học Văn khoa Sài Gòn năm 1972.
Trước 1975 tham gia phong trào đấu tranh của sinh
viên, viết văn với bút hiệu Biên Hồ, cộng tác với
Bách Khoa, Ðiện Tín, Tin Văn. Hiện nay là
biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam. NỔI LOẠN là cuốn sách thứ 14 của anh từ
sau 1975. Tiểu sử Ðào Hiếu được ghi trong tuyển tập
TIẾNG HÁT NHỮNG NGƯỜI ÐI TỚI.
II.Trao đổi với nhà văn:
Ðoàn Giao Thuỷ (ÐGT): Trong hoàn cảnh
nào anh đã thai nghén cuốn NỔI LOẠN?
Ðào Hiếu (ÐH): Trước nay tôi thuộc loại
tác giả có sách bán ế nhất nước, có lẽ do tôi đã
chọn những đề tài khô khan (Giữa cơn lốc, Người
tình cũ, viết về phong trào sinh viên), hoặc vì
tôi thích xây dựng nhân vật khác thường (Vua
Mèo, Hoa dại lang thang, Kẻ tử đạo cuối cùng),
hoặc xây dựng những truyện tình khác đời (Vượt
biển, Trong vòng tay người khác, Nổi loạn), do đó
truyện của tôi không gần gũi với độc giả bình thường
nên sách bán chậm. Bây giờ thì người ta đổ xô nhau
đi tìm...
NỔI LOẠN viết về một bi kịch của tình yêu và hôn
nhân, một đề tài cũ. Cái mới nằm trong sự phát triển
tính cách nhân vật trong bối cảnh lịch sử nơi xảy ra
bi kịch này. Không có cuộc hôn nhân nào quái đản như
cuộc hôn nhân mà nhân vật Ngọc trải qua. Ngọc đã bị
bưng bít, cấm đoán và đàn áp. Thế là Ngọc nổi loạn:
trong tình yêu, hôn nhân, trong gia đình và tình
dục. Tại sao không? Hai mươi năm bị bưng bít thì nổi
loạn trong tình dục là một phát triển tất yếu khi
Ngọc có được một mối tình. Vài ba đoạn ngắn rải rác
tả về quan hệ nam nữ là những đoạn tôi viết mượt mà
và thơ mộng nhất. Tôi rất thích những đoạn này bởi
vì chúng đầy ngẫu hứng, trong đó phải tinh tế mới
thấy được tính nhân đạo của một sự hiến dâng trọn
vẹn trong tình yêu.
ÐGT: Bới thế anh đã bị kết án là bôi
lọ miền Bắc, xuyên tạc sự thật...
ÐH: Sự nghèo nàn lạc hậu và sự bưng bít
của xã hội miền Bắc trong những năm 60-70 là một
thực tế. Nhiều bạn bè miền Bắc đều cho rằng tôi đã
viết rất thật. Xin nhấn mạnh: những người biên tập
và duyệt in NỔI LOẠN là những nhà văn có tiếng ở
miền Bắc.
ÐGT: Nhiều người cho rằng NỔI LOẠN là
một “tác phẩm dịch vụ” chủ yếu để kiếm thêm chút
tiền cho nhà xuất bản. Hình như tác giả không những
bỏ tiền in mà còn phải trả tiền cho nhà xuất bản?
ÐH: Ai am hiểu về thị trường sách văn học
ở Việt Nam đều biết rằng in tiểu thuyết trong lúc
này là vì yêu thích văn học chứ không phải để kiếm
lời. Rất nhiều nhà văn in sách để tặng bạn bè. Tôi
vẫn coi văn học là một sản phẩm cao cấp. Sách của
tôi đều bán rất chậm vì tôi không viết theo thị hiếu
và phần lớn đều in ở những nhà xuất bản lớn có uy
tín như Nhà xuất bản Hội Nhà văn, nhà xuất bản Văn
học, nhà xuất bản Văn nghệ...
ÐGT: Trong NỔI LOẠN các nhân vật đều
bế tắc ở đường đời, song nhân vật “thiện” là một sĩ
quan cải tạo còn các nhân vật “ác” là các cán bộ
đảng viên. Anh có ý thức đó là một sự khiêu khích
với nhà cầm quyền?
ÐH: Thông thường nhà văn lấy một mẫu nào
đó trong đời để tạo ra nhân vật. Nhân vật này hay
nhân vật kia chẳng qua cũng bắt nguồn từ những cái
mẫu ngoài đời mà thôi. Tôi không có ý khiêu khích ai
cả.
ÐGT: Dường như Hội Nhà văn, bạn bè anh
và giới văn nghệ không có phản ứng nào trước chiến
dịch phê bình NỔI LOẠN?
ÐH: Bạn bè tôi thì nhiều; người yếu bóng
vía thì hỏi tôi có ăn ngủ được không, bao giờ thì đi
tù; họ xúi tôi trốn. Có người cho rằng tôi sẽ bị
treo bút, bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn. Một số
bạn bè miền Bắc thì không hiểu báo chí TPHCM làm dữ
như vậy với mục đích gì, có ai đứng đằng sau muốn
triệt hạ nhà xuất bản Hội Nhà văn chăng? Còn tôi,
tôi đóng vai khán giả. Tôi ngồi hàng ghế dưới, hút
thuốc lá và thỉnh thoảng vỗ tay!
ÐGT: Cách đây mấy năm ông Nguyễn Văn
Linh kêu gọi văn nghệ sĩ hãy “tự cứu mình...”. Song
có lẽ ai cũng vẫn còn sợ, thấy cô đơn và chỉ biết
chờ đợi. Liệu anh có thể tiếp tục viết lách khi bị
kỷ luật hay đi tù?
ÐH: Khi ông Linh kêu gọi văn nghệ sĩ “hãy
tự cứu mình” hay “đừng uốn cong ngòi bút” thì đó là
cách nói hoa mỹ để bảo văn nghệ sĩ hãy tuyên truyền
tốt hơn cho chính sách đổi mới của Đảng... Trường
hợp các báo Văn Nghệ, Sông Hương, Cửa Việt...
thì chẳng qua các anh em ấy tưởng lầm là ông Linh
nói thật, thế thôi. Tôi chưa hề viết một bài chống
tiêu cực nào vì đó là trò trẻ con. Thật ngây ngô khi
nghĩ rằng mình không uốn cong ngòi bút khi viết loại
văn chương chống tiêu cực, văn chương đổi mới. Thời
đó tôi đã cho ra đời những nhân vật mang nhiều tính
cách viễn mơ, chế giễu và quay mặt với cuộc sống
quanh mình (Vua Mèo) hoặc cuồng tín một cách
dễ thương, chết ngu ngốc và thánh thiện (Kẻ tử
đạo cuối cùng), hay số phận đìu hiu của một trí
thức đi theo cách mạng (Người tình cũ, Hoa dại
lang thang). Tiếc thay, dạo đó người ta đổ xô tìm
đọc văn chương chống tiêu cực, văn chương đổi mới.
Ðó là sự giải toả ẩn ức. Quần chúng luôn là đám đông
tội nghiệp; họ nhẹ dạ và bị lừa liên tục. Nhà văn
phải nói cho đám đông biết điều đó. Ðương nhiên là
dù trong hoàn cảnh nào tôi cũng phải viết. Tôi ghét
chính trị và nghi ngờ cuộc sống nên các nhân vật của
tôi cũng vậy.
ÐGT: Gần đây nhiều tác giả đã gửi các
tác phẩm của mình ra nước ngoài để in vì không có
nhà xuất bản trong nước nào nhận in. Anh có nghĩ
rằng đây là điều cần làm?
ÐH: Ðó là một lối thoát cho những tác phẩm
có giá trị. Luật xuất bản vừa được ban hành có quá
nhiều điều cấm kỵ cho người cầm bút.
ÐGT: Có người cho rằng xã hội Việt Nam
như một trại khổng lồ của những người bị bệnh tâm
thần, luôn phải sống với sự nhân đôi nhân cách. Có
cơ sở gì để hy vọng rằng xã hội Việt Nam sẽ tiến đến
chỗ bình thường hơn, sống thật hơn với suy nghĩ và
tình cảm của con người?
ÐH: Sống giả là hậu quả tất nhiên của một
xã hội không có tự do tư tưởng. Con người sẽ sống
thật hơn khi được tự do tư tưởng và khi nhiều mặc
cảm tự ti được xóa bỏ. Nghĩ cho cùng, những người
lên án NỔI LOẠN, ngoài động cơ chính trị và cơ hội,
còn bị sự chi phối âm thầm của một mặc cảm nào đó về
tình dục. Một người yếu về tình dục cũng như một nhà
nước yếu về dân chủ và nhân quyền, thường chột dạ
khi người khác nói về các điều này. Cần phải bồi
dưỡng cho họ, dạy cho họ tập thể dục để họ mạnh mẽ,
bớt mặc cảm, bớt chột dạ. Xã hội sẽ tự do hơn, dễ
chịu hơn, thật hơn.
ÐGT: Anh đã tham gia nhiều năm trong
phong trào sinh viên Sài Gòn. Hơn hai mươi năm sau,
bạn bè anh đang sống như thế nào?
ÐH: Năm 1988 tôi viết cuốn Người tình
cũ. Nhân vật chính là một trí thức tham gia các
phong trào cách mạng tại đô thị miền Nam trước đây.
Ðó là một cuộc dấn thân lãng mạn, thi vị và đầy
huyền thoại. Cuối cùng anh trở thành một người dân
chài. Suốt đời anh đi tìm một lý tưởng và anh đã gặp
sự cô độc ở chặng cuối cùng. Dĩ nhiên là có nhiều
người trong phong trào sinh viên trước đây, hiện nay
làm quan lớn. Ða số đều ăn cắp của công và đã tự
đánh mất mình.
ÐGT: Nhiều người cho rằng Việt Nam
đang thay đổi. Anh cảm nhận sự thay đổi này như thế
nào?
ÐH: Sự đổi mới hiện nay ở Việt Nam là một
sự đổi mới về kinh tế chứ không phải chính trị, tư
tưởng. Nếu có “thoáng” hơn trong xuất bản và báo chí
(so với thời kỳ bao cấp) thì cũng chỉ thoáng về cách
kinh doanh (báo chí có quảng cáo, có chống tiêu cực,
xuất bản có cho tư nhân bỏ vốn...) chứ hoàn toàn
không thoáng trong tư tưởng. Tóm lại vẫn phải viết
một chiều và trong phạm vi Đảng cho phép.
ÐGT: Thường trong những biến động lịch
sử của một dân tộc hay trong giai đoạn xây dựng hoà
bình, tầng lớp trí thức đóng một vai trò quan trọng.
Gần đây, anh Phan Ðình Diệu có viết rằng “ở Việt Nam
hiện nay chưa có một giai cấp trí thức”. Là một nhà
văn, anh nghĩ sao?
ÐH: Tôi nghĩ nhận định này hoàn toàn đúng.
Tôi muốn thêm rằng, văn nghệ sĩ – trí thức Việt Nam
đa số là hèn. Song song với sự “trung dũng kiên
cường trong chiến đấu” thì sự hèn hạ và khiếp nhược
cũng được rèn luyện trong quá trình tham gia cách
mạng. Phần lớn trí thức được thuần hóa. Miếng cơm
manh áo và sự an phận đã thắng tất cả. Nó vô hiệu
hóa trí thức và biến trí thức thành những người tầm
thường. Ðó là điều tệ hại hơn cả.
ÐGT: Chúc anh được nhiều sức khoẻ và
nghị lực để chống chọi với bão táp đang tới.
Sài Gòn 9.1993 - Belgique 12.1993
Đoàn Giao Thuỷ
Cũng xin trích thêm một bài khác của tác giả Nguyễn
Tư đăng trên Tuần San TV:
Đào
Hiếu và một ngôi trường
(trích)
… Khi đọc báo thấy loan tin về một cuốn sách như
thế với một cái tên rất quen thuộc: “Ðào Hiếu”, hốt
nhiên tôi đã nghĩ đến hai điều:
1. Cuốn sách phải do một tác giả ở miền Nam viết,
bởi vì chỉ có người miền Nam đã từng sống tại đó mới
có khả năng xây dựng nổi nhân vật “sĩ quan cải tạo
ÐÁNG YÊU” (chữ của Vũ Hạnh) đó! Người miền Bắc không
thể làm được việc này, nếu làm thì sẽ sai, dù có ít
nhiều thiện chí đi nữa!
2. Cái tên “Ðào Hiếu”, làm tôi nhớ đến một người
bạn vừa cùng học ÐHSP Sài Gòn, vừa cùng ở chung tại
Ðại học xá Minh Mạng, và đồng sở thích, vì cả hai
đều có viết lách lai" rai, yêu văn nghệ!
Tôi nghi ngờ Ðào Hiếu tác giả Nổi loạn,
chính là hắn, bởi vì biết chắc tác giả phải thuộc
người bên này vĩ tuyến như đã nói ở trên, tiếp đến:
cái tên không khác mấy, chỉ thiếu chữ lót! Thứ ba:
hắn đã từng làm nghề viết lách trước đây, ký bút
hiệu Biên Hồ nơi truyện dài đăng nhiều kỳ Ðốt
lửa trong đêm đăng trên tờ Bách Khoa của
ông Võ Phiến ngày xưa.
Cuối cùng hắn là một thành viên trong nhóm sinh
viên khuynh tả tại ngôi trường khét tiếng nhờ hai
đặc tính: thi vào rất khó, và theo bên kia khá nhiều
- ÐHSP Sài Gòn! Nên trong thâm tâm tôi vẫn muốn nhờ
bạn bè còn bên Việt Nam “check” lại những điều tôi
cần biết. Thế nhưng, bất ngờ ngày hôm qua nhìn thấy
tấm hình ông "bạn vàng" ngày xưa, trích in từ bìa
sau của cuốn sách đăng trên tờ TVTS do đó tôi nảy ý
viết bài này, ghi vài kỷ niệm cũ về tác giả để bạn
đọc dễ hiểu tác phẩm hơn. Tấm hình có hơi khác ngày
cách đây hơn 25 năm, nhưng những nét chính vẫn là
Hiếu của thuở nào.
Mặc dù học chung trường nhưng lúc đó Hiếu mới đậu
vào năm thứ nhất ban Pháp văn, như vậy Hiếu phải là
dân trường Tây mới đậu nổi vào option này.
Hồi đó tại hai trường Ðại học Văn khoa và Ðại học
Sư phạm Sài Gòn đám sinh viên trẻ khuynh tả rất
nhiều, đại khái như các năm trên tôi có Huỳnh Hữu
Nhật (sau này là Thứ trưởng Giáo dục của MTGPMN) hắn
ta học ban vật lý có lần nắm chức Ðại diện sinh viên
Ðại học Sư phạm. Rồi Trần Triệu Luật (ban Việt Hán)
vào bưng bị B-52 chết. Rồi Cao Lợi (ban Sử Địa)...
Hiếu hồi đó ốm nhách, người Bình Ðịnh, hay mặc áo
quân sự học đường như mọi sinh viên khác vì thiếu đồ
ngủ! Hiếu trông hiền lành, xanh gầy kiểu như Hàn Mặc
Tử, hắn gặp tôi là xuýt xoa gọi tôi là thi sĩ với vẻ
chân thành đến độ làm tôi phì cười: "Thôi bỏ đi cha!
Ra ngã sáu kiếm cà phê tán dóc".
Hiếu và Khiêm gặp tôi thường chỉ nói chuyện văn
chương (cả ba đều là dân Trung kỳ và có máu văn
nghệ, cũng dễ có máu cộng sản lắm, nếu chưa biết nó)
chứ không bao giờ nói chuyện chính trị. Chẳng khi
nào họ dụ tôi hoạt động bên kia có lẽ vì biết tôi
không thích, tôi xuất thân là con địa chủ và từ quân
đội trở về học lại chăng? Tôi chẳng đả động gì về
việc họ làm khi mình không có bằng chứng. Văn nghệ:
đó là lý do chúng tôi thân nhau.
Sau đó tôi không gặp Hiếu nữa và dường như Hiếu
bỏ học giữa chừng, có lẽ anh chàng đi hoạt động cho
phía bên kia như Trần Minh Ðức. Khiêm thì tốt nghiệp
và đi dạy đàng hoàng dù sau đó bị đuổi!
Giờ thì Hiếu sắp gặp cơn đại nạn rồi, trước sau
gì cũng bị đi tù. Một người như Hiếu (hay Khiêm, kể
cả Trịnh Công Sơn nữa, những kẻ chỉ biết yêu con
người và yêu văn nghệ thì chỉ bị cộng sản lợi dụng
khả năng của mình mà thôi chứ khó hội nhập vào cộng
sản lắm).
Bởi đó tôi không lạ gì khi nghe Hiếu viết cuốn
Nổi loạn. Dù sao như vậy bạn cũng đã làm được
một việc đúng lương tâm của người cầm bút, một người
làm văn nghệ chân chính, nghĩa là người: "không chịu
nói yêu thành ghét và nói ghét thành yêu."
Hy vọng một ngày nào đó tôi, bạn và Khiêm sẽ gặp
nhau trong câu chuyện đời chẳng ai ngờ được, khi mỗi
người đã chọn cho mình một hướng đi, mà hướng đi nào
rồi cũng sẽ trở về La Mã. La Mã ở đây chính là CON
NGƯỜI.
Còn rất nhiều bài báo khác ở hải ngoại, chủ yếu là ở
Mỹ. Tôi không kể ra đây vì họ đã lợi dụng tác phẩm
của tôi để tuyên truyền chống cộng một cách rẻ tiền.
Một số khác thì “vô tư” in lại tác phẩm của tôi để
kiếm lời mà không hề hỏi đến tôi lấy một tiếng.
Và thế là những tác phẩm mà tôi tâm đắc nhất như
Vua Mèo, Vượt niển, Hoa dại lang thang, Kẻ tử đạo
cuối cùng… đã bị sự ồn ào của cuốn Nổi loạn
át đi mất.
Tôi bị cụt hứng một thời gian dài.
Tuy nhiên cũng nhờ cuốn Nổi loạn mà Đoàn Giao
Thuỷ, với tư cách là giáo sư Đại học Louvain, đã mời
tôi sang Bỉ chơi. Tôi xin visa và lên đường đi
Bruxelles cuối năm 1997.
Trở lại mục
lục
12. Tiếng
leng keng của tàu điện
Đoàn Giao Thuỷ tên
thật là Nguyễn Minh Thọ, người Quảng Nam. Anh đi du
học bên Bỉ từ cái đời nào tôi không rõ nhưng anh có
bằng tiến sĩ hóa học lượng tử, giáo sư Đại học
Louvain. Anh cũng được thỉnh giảng ở nhiều nước trên
thế giới.
Đó là một gã cận thị
nặng. Và khá chân tình.
Anh ra đón tôi ở phi
trường Bruxelles lúc xế chiều và chở thẳng về nhà.
Buổi tối trời rất
lạnh. Thọ đốt lò sưởi bằng củi và kể cho tôi nghe vụ
anh bị bắt giữ tại Hà Nội vì đã lui tới với một số
trí thức lớn như Văn Cao, Phan Đình Diệu… anh nói có
một sĩ quan công an hỏi anh có biết “tội phản quốc
có thể bị tử hình không?”
Thọ cười. Tôi đọc cho
anh nghe bài thơ mà Bùi Minh Quốc đã viết về Vũ Hạnh
nhưng lại gởi tặng tôi nhân vụ Nổi loạn như là một
sự chia lửa với bạn bè.
“Bút Máu” đen
máu mình rồi
Bút quay ngọn thọc máu người kiếm ăn
Văn chương đao búa vện vằn
Vẽ mặt cao quý để săn đồng bào
Bùi Minh Quốc xuất
thân là một anh bộ đội cụ Hồ. Cuộc đời của anh đã
từng gắn liền với huyền thoại về sự hy sinh của văn
nghệ sĩ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thời ấy, anh
đã cùng vợ là nhà văn Dương Thị Xuân Quý vào Nam
chiến đấu và vợ anh đã hy sinh tại chiến trường miền
Nam.
Còn bây giờ thì anh
bị quản thúc tại Đà Lạt vì bất đồng chính kiến với
chế độ.
Thọ ném thêm củi vào
lò sưởi. Có tiếng khua động nào đó bên ngoài cửa sổ.
Tôi nhìn ra ngoài đêm, ngóng chờ một bông tuyết đầu
mùa.
Nhưng sáng ra, trời
vẫn tạnh ráo. Chiếc xe điện mảnh khảnh ốm yếu. Nó
đón khách bằng những tiếng chuông leng keng như
chuông của người bán kem. Đó là tiếng reo vui của
buổi sáng tĩnh lặng, lạnh buốt và đầy nắng.
Tôi đứng một mình
trong nhà đợi xe, hút thuốc lá. Tôi không mong chiếc
xe đến sớm vì tôi cần hút hết điếu thuốc và thực
tình tôi không muốn từ giã cái vỉa hè đầy cỏ mọc
hoang sơ này.
Rồi tiếng leng keng
lại đến. Rồi chiếc xe dừng lại. Tôi ném điếu thuốc
và bước lên, bỏ đồng xu vào cái khe nhỏ cạnh tài xế.
Vương quốc Bỉ chỉ
rộng bằng một tỉnh của Việt Nam nên cái gì của nó
cũng xinh xắn. Những ngọn gió đông buốt lạnh đã thổi
sạch lá trên cành cây, nhưng trời không buồn vì hôm
nay nắng rất đẹp. Đường phố lộng lẫy. Những cô gái
tuổi teen mặc toàn đen, tóc bồng bềnh, đẹp như trong
cổ tích. Họ tản bộ trên đường phố, họ trượt băng
trên một sân trượt rộng trong quãng trường, họ ngồi
uống cà phê trên một vỉa hè sang trọng. Tất cả đều
tươm tất, giàu có, từ một cửa hiệu, một khuôn mặt
đến một viên đá lát đường.
Bruxelles có tượng
đài tạc hình một người thợ làm bánh mì. Nếu tôi làm
đô trưởng của Bruxelles chắc tôi sẽ cho tạc thêm
tượng một người quét rác. Với tôi, người quét rác
cũng cao quý ngang với nhà khoa học và nghệ sĩ.
Trước đây có một người bạn đi Pháp về kể rằng anh ta
đã nhìn thấy trong một nhà vệ sinh công cộng ở Paris
một câu viết nguệch ngoạc trên tường như vầy: “Người
xây dựng nhà vệ sinh này còn vĩ đại hơn De Gaulle.”
Mười năm đã qua rồi
nhưng tiếng leng keng của chiếc xe điện cổ kính vẫn
thủ thỉ trong tôi, thân ái như tâm tình của một
người bạn. Tiếng chuông ấy ngộ nghĩnh và hồn nhiên,
lan toả trong buổi sáng lạnh lẽo. Chiếc xe điện chạy
qua, rải những tiếng leng keng ấy dọc theo lối cỏ
ướt, rải tiếng reo mừng của bình minh trong nắng mới
tinh khiết và xao động. Và rải tâm hồn tôi trên lưng
những ngọn gió mềm mại mà giá lạnh.
Buổi sáng ấy tôi đã
muốn đứng hoài nơi trạm xe điện chỉ để nghe tiếng
chuông cổ tích, tiếng chuông hoài niệm của người bán
kem, của cỗ xe ngựa lọc cọc quanh hồ Xuân Hương Đà
Lạt…
Trở lại mục
lục
13. Chút
quà tặng của mùa Đông
Ngày hôm sau tôi đi Paris và đến nơi lúc giữa trưa.
Trời mưa tầm tã. Tôi chờ đợi trong ẩm ướt và giá
lạnh. Đứa bé gái trạc mười hai tuổi mỏng manh như
một chiếc lá, đứng kéo vĩ cầm trong sân ga Paris
Nord. Chiếc mũ để ngửa chỉ có mấy đồng xu nhỏ.
Cảnh sát cơ động mặc toàn đen, cao to, lạnh lùng với
khẩu M16 trên tay, đi đi lại lại.
Đứa cháu từ Mante La Jolie phải mất hơn một tiếng
đồng hồ mới tới được nhà ga đón tôi.
Vòng đai périphérique tung bụi nước trắng như sương
mù. Xe nối nhau như trong một cuộc thi trượt nước.
Ra khỏi Paris tôi gặp tuyết, nhưng nó không ở trước
mặt, không ở sau lưng, không ở chung quanh. Tuyết
phủ trắng xóa khu rừng bên kia con đường siêu tốc.
Tôi mừng vì tuyết đã đến nước Pháp. Tôi nghĩ, mình
về tới nhà thì đã chiều tối, sáng hôm sau sẽ đi coi
tuyết.
Ăn cơm tối xong trời vẫn còn mưa lớn và tối mịt. Tôi
trò chuyện với mấy đứa cháu một lúc thì Pauline về.
Nó mặc manteau đen, cao lớn, trẻ trung. Nó chào tôi.
Cái nhìn tò mò. Cái nhìn như một dấu hỏi.
Quả nhiên, khi tôi định đi ngủ thì nó bước vào
phòng.
"Hãy cho con biết về cha của con."
Tôi nói tôi chưa sẵn sàng và hẹn nó sáng mai. Thực
ra đó là một chuyện tế nhị và tôi cần hỏi ý kiến mẹ
nó. Nó là sản phẩm của cuộc chiến hai mươi năm do
người Mỹ gây ra ở Việt Nam. Có lẽ ngày mai tôi sẽ
nói với nó rằng hãy quên quá khứ đi vì điều quan
trọng là mẹ đã đưa được con sang Pháp, con đã được
đi học và đã có việc làm tử tế.
Nhưng sáng hôm sau khi tôi thức dậy thì Pauline đã
đi làm. Chợt nhớ đến tuyết, tôi chạy đến mở tung
cánh cửa sổ.
Tuyết hoàn toàn biến mất khỏi mặt đất!
Chỉ còn lại những con đường làng, mặt hồ và những
thảm cỏ xanh nơi công viên. Trận mưa lớn đêm qua đã
xóa sạch mọi dấu vết của tuyết. Hoàn toàn thất vọng,
tôi cúi nhìn xuống mặt đất. Một chút tuyết còn đọng
lại nơi khung cửa sổ, trắng muốt như chùm hoa nguyệt
quế. Tôi đặt nó giữa lòng bàn tay, nó mát lạnh, long
lanh như có ngàn đôi mắt.
♦
Có lẽ xe lửa là phương tiện tuyệt vời nhất để đi lại
giữa các nước châu Âu. Mười giờ đêm lên tàu ở Paris,
ngủ một giấc sáng ra tới ga Berlin Zoo của nước Đức.
Toa xe rộng, couchette dài hai mét nằm thoải mái như
ở nhà. Phục vụ tàu là một người đàn ông trung niên.
Ông đem đến cho tôi một chiếc ra trắng và một
cái mền len dày còn hơi nóng của máy sấy. Tôi gọi
một ly cà phê sữa nóng và “bo” cho ông 6 đô la Mỹ,
ông nói cám ơn và mỉm cười.
Sự tiện nghi của toa tàu làm tôi dễ ngủ và vì thế
cuộc hành trình qua rất nhanh. Khoảng ba giờ sáng
tôi thức dậy trong tiếng máy xình xịch đều đặn, vẫn
cố lắng nghe xem có tiếng tuyết rơi bên ngoài nhưng
dường như khắp nơi đều tạnh ráo.
Buổi sáng đầu tiên ở Berlin thật ảm đạm. Trời không
mưa nhưng âm u. Thuý và chồng ra đón tôi ở sân ga.
Trước đây ga này thuộc lãnh thổ của Đông Bá Linh nên
mọi thứ dường như hãy còn trầm lặng. Chúng tôi ăn
sáng ở một quán nhỏ cạnh sân ga. Trong lúc hai vợ
chồng đang xếp hành lý của tôi vào góc thì một gã
say rượu ngồi bàn kế bên đứng lên, tiến lại phía tôi
lè nhè nói bằng tiếng Đức. Tôi không hiểu gã muốn
xin tiền hay muốn gây sự. Tôi hỏi hắn:
"Biết tiếng Anh không?"
Nhưng hắn cứ lè nhè bằng thứ ngôn ngữ quái gỡ của
hắn. Lúc ấy Thuý vừa đến, Christian, chồng Thuý là
một người Đức, anh ta nói gì đó với gã say rượu và
gã bỏ đi.
"Hắn muốn gì vậy?" Tôi hỏi.
"Thuốc lá."
♦
Nước Đức là một điểm đến tình cờ nhưng với tôi lại
nhiều kỷ niệm. Có lẽ vì lúc ấy tôi không vội vàng.
Lặng lẽ đến, thong thả nhìn ngắm, chậm rãi với phố
xá, và một mình với đàn chim sẻ trong công viên vắng
tanh.
Thành phố Dresden trầm lặng. Trời âm u suốt ngày.
Không có ý niệm về thời gian, cho đến khi chợt nhận
ra một mình trên phố vắng người, coi đồng hồ thì đã
bốn giờ chiều.
Những cơn gió từ dưới sông Elbe thốc ngược lên lạnh
buốt.
Tôi ngồi bên một gốc cây khô nhìn ông già và con chó
nhỏ. Nắng khô héo. Hàng quán đóng cửa gần hết. Đường
phố không còn ai. Người ta đã bỏ quên ông già, con
chó và tôi. Hình như trong buổi chiều cuối năm này
chỉ có ba chúng tôi là những người không có mái ấm
để trở về. Ông già đang nằm ngửa trên bãi cỏ. Dường
như ông đã ngủ quên.
Tôi leo lên dốc để ra phía bờ sông Elbe. Nhà hàng
nổi ở đó vẫn còn mở cửa.
Dòng sông nhỏ bé in bóng những lâu đài vàng đục nắng
xế. Mặt sông gợn một chút sóng nhưng vẫn phẳng lặng.
Những con hải âu thả mình cho dòng nước cuốn đi, và
khi trôi gần đến cây cầu thì chúng lại vỗ cánh bay
ngược lên chỗ nhà hàng nổi, và đáp xuống nước, xuôi
dòng. Đó là trò chơi của chúng, như trẻ con chơi cầu
tuột.
Người bồi bàn đem đến cho tôi một chai Glühwein.
Đó là rượu vang lửa. Trước khi uống người ta hâm
nóng lên. Hớp một ngụm, hơi nóng lan toả trong cổ
họng, chậm rãi, thấm đậm, ấm áp.
Tôi ngồi ngắm hoàng hôn phai dần trên những lâu đài
cổ kính bên kia bờ sông. Dòng nước trong xanh từ
hướng Tiệp Khắc chảy về, lạnh lẽo, phi thời gian.
Dường như dòng sông không biết đến con người, không
biết đến phố xá. Nó đang nô đùa với đàn chim hải âu
trắng. Nó làm thuyền chở những con chim tinh nghịch
trên lưng, bồng bềnh, lắc lư, sóng sánh một chút
nắng tàn héo.
Sông không đến từ nguồn mà dường như nó đang đến từ
cổ tích, bởi nó rất thầm lặng dù nó vẫn chảy, vẫn
cuốn những con chim trôi đi rất nhanh. Sự im lặng
lan toả khắp mặt sông, thấm đẫm trong không khí lạnh
tê tái, làm cho nắng cũng lạnh và làm cho màu vàng
đục của chiều tà trở thành hoang đường, trở thành cổ
tích, trở thành một cái rùng mình sợ hãi.
Tự ta danh lợi khách
Nhiễu nhiễu tại nhân gian
Hà sự trường Hoài thuỷ
Đông lưu diệc bất nhàn?
Ngày xưa Bạch Cư Dị cũng tự than mình
trót làm người khách lạ trong vòng danh lợi, bị đời
cuốn đi như dòng sông kia, không biết có chuyện gì
mà cứ chảy mãi chảy hoài không bao giờ được ngưng
nghỉ.
Tôi uống cạn chai Glühwein mà vẫn lạnh buốt, Hoàng
hôn như dừng lại và những cánh chim vừa bốc lên khỏi
mặt sông cũng dừng lại. Dresden bí ẩn và ma quái. Và
tôi, người khách duy nhất còn lại trong nhà hàng nổi
này thì dường như sắp hóa đá.
Tôi bỏ đi. Lên một cái dốc để trở về nhà một người
bạn. Phố xá vắng tanh. Chỉ còn lại những cơn gió.
Tôi băng qua một trạm xe buýt và chợt nghe tiếng vĩ
cầm bừng sáng trên một nền saxophone và accordeon mờ
đục.
Đó là bản Carmen của Georges Bizet đang được trình
tấu trên vỉa hè bởi những người Digan.
Những nghệ sĩ du mục này đang chơi nhạc cho những
cơn gió, cho những đám mây. Và cho tôi. Vì trạm xe
buýt đã không còn một bóng người. Dòng sông bên dưới
kia cũng đã đầy bóng tối. Những lâu đài cũng chìm
khuất.
Tôi mang những âm thanh của đoàn hát rong trở về căn
hộ của mình. Những người bạn bày biện thức ăn trên
sàn nhà. Đốt nến và mở bia. Tôi vẫn ngồi cạnh lò
sưởi. Bia chất cao như bức tường. Mọi người lấy bia
như gỡ những viên gạch từ bức tường thuỷ tinh ấy.
Người bạn xé giấy thùng bia ném vào lò sưởi thay cho
củi.
Trời vẫn lạnh nhưng tạnh ráo. Đường phố sâu hút bên
dưới và lốm đốm ánh đèn vàng.
Giao thừa đến trong im lặng. Rồi pháo nổ lác đác. Xe
chữa lửa chạy vòng vòng. Bên kia đường là restaurant
của người Hy Lạp, họ bắt chước ai mà đốt dây pháo
dài bốn năm thước. Thanh niên đốt pháo xòe, pháo hú,
pháo thăng thiên. Pháo thăng thiên của người Đức sản
xuất, thấy bán ở siêu thị, còn pháo đùng nghe nói
nhập lậu từ Trung Quốc, từ Bình Đà. Mấy cô đầm nhon
nhon bịt tai và cười, họ hôn nhau ngoài đường phố,
pháo xẹt và gầm rú như ma quỷ. Xe cứu hoả lại đến.
Bà cụ già mở cửa sổ, thò đầu ra ngoài chửi một tràng
tiếng Đức.
Tất cả chỉ kéo dài chừng một tiếng đồng hồ. Rồi
thôi. Im lặng và lạnh. Chúng tôi lên nhà xem chương
trình tivi đêm giao thừa. Mấy người bạn uống rượu
mạnh. Đa số họ là người miền Bắc vượt biên sang đây
sau một hành trình cực kỳ gian nan từ Hà Nội đi Kiev
sang Rumany, Hungary, Tiệp Khắc trước khi xé rào qua
Đông Đức. Tôi nằm lắng nghe, nhâm nhi chai Glühwein
không có mồi.
Ngày mồng một Tết đến một cách e dè. Trời xám. Những
chuyến xe điện vẫn chạy qua phố, kiosque phở của một
người đàn bà Việt Nam vẫn mở cửa. Một chút nắng vàng
hanh trên đầu ngọn cây. Ông già người Đức ngồi ăn
phở bên cái bàn nhỏ kê trên bãi cỏ. Ông ta nói được
chút ít tiếng Anh và hỏi tôi có còn bán thuốc lá
không. Tôi không đính chính, chỉ cười. Ông già mời
một điếu Marlboro. Ông ta khoe mình là đại tá phi
công. Tôi hỏi:
"Bác là đại tá của ông Helmut Kohl hay ông
Honecker?"
"Ông Honecker."
"Thế khi nước Đức thống nhất bác có phải đi học tập
cải tạo không?"
"Tại sao? Thống nhất thì mọi người phải vui vẻ chứ.
Ông Helmut Kohl vẫn cho tôi lãnh lương hưu."
♦

Ở Potsdam
Nhưng người dân Đông Bá Linh và những miền phụ cận
như Potsdam vẫn bỏ đi.
"Tại sao vậy, Christian? Nước Đức thống nhất, sao
lại bỏ đi?"
Anh bạn trẻ người Đức nói:
"Chính mẹ tôi cũng bỏ sang Mỹ. Nhiều người khác sang
Tây Đức."
"Nhưng Đông Đức bây giờ cũng là tư bản, có khác gì
Mỹ và Tây Đức?"
"Khác chứ. Vì cũng còn lâu lắm mới đuổi kịp mức sống
của Tây Đức mà cuộc đời thì ngắn ngủi, người ta cần
hưởng thụ. Anh cứ nhìn hai bên phố mà xem."
Đây là con đường rất đẹp của Potsdam. Hai bên toàn
biệt thự nhưng bị bỏ hoang nhiều quá. Những ngôi
biệt thự như thế ở Sài Gòn giá có thể lên tới vài ba
ngàn lượng vàng nhưng ở đây người ta bỏ hoang, cửa
kính vỡ nát, bên trong tối om, lạnh lẽo.
Potsdam, thành phố chỉ cách thủ đô Bá Linh có một
cây cầu, thành phố với nhiều lâu đài, thành quách và
viện bảo tàng nổi tiếng, thành phố đã từng chứng
kiến cuộc hội đàm lịch sử giữa Stalin, Truman và
Churchill tháng 7 năm 1945 bàn về sự đầu hàng của
Đức Quốc xã. Tại sao người ta lại bỏ một thành phố
xinh đẹp và nổi tiếng như thế để ra đi?
Christian bảo tôi khoác thêm một chiếc áo khoác bằng
da. Hắn nói:
"Thôi, đừng bận tâm đến những chuyện ấy nữa. Sắp đến
nơi rồi, gió lạnh lắm đấy."
Ra khỏi rừng là hồ. Liên tiếp nhau. Xe ngừng lại.
Mặt hồ rộng mênh mông, phẳng lặng, bát ngát.
"Cá nhiều lắm." Christian nói.
Tôi đã thấy những con cá chép tại khu "Cộng" (khu
người Việt) ở Bá Linh. Những con cá chép giống hệt
cá chép trắng của xứ mình nhưng không có vảy.
Christian mở cốp xe và đưa cho tôi chiếc cần câu.
♦
Rồi có một ngày, ngọn đồi thấp dẫn dụ tôi đi theo
con giốc hẹp quanh co giữa cỏ dại và những cây lá vô
danh chập chùng. Những quả đồi xinh xắn, xanh xám
lẫn lộn nhiều tầng. Và mây thì thấp, nhẹ tênh.
Đó là buổi sáng tĩnh vật. Táo chín rụng hồn nhiên
trong hư vô. Thời gian dừng lại nên gió cũng không
thổi. Trái táo lửng lơ giữa lưng chừng đồi.
Chỉ có tôi bước đi trong không gian tĩnh vật ấy.
Hình như thiên nhiên đang sững sờ bất động trước
người khách lạ từ trần gian vừa đến. Tôi nghe bước
chân mình khua động giữa im lặng. Khe nước nhỏ không
lời. Trời không cao và dường như có thể với tới
những đám mây.
Trang trại nhỏ ở dưới thung lũng, xinh xắn như một
món đồ chơi. Tôi đi giữa những gốc táo già và nhặt
những trái táo rụng nằm lẫn trong cỏ. Những trái táo
như chiếc lông ngỗng của Mỵ Châu dẫn tôi đến cổng
trang trại.
Con ngỗng kêu ngây ngô. Người đàn bà mở cánh cổng
gỗ, chào anh bạn tôi. Họ đã quen nhau từ lâu rồi.
Con chó Berger cao lớn nhảy lên mừng, những con ngựa
đứng im trong chuồng. Bò cái vú lớn như trái bí.
Trời lạnh quá. Tôi không biết nói tiếng Đức, chỉ
cười. Và ngồi ăn hạt dẻ trong cái dĩa lớn.
Tôi sung sướng vì đã quên hết mọi thứ. Quên cả tiếng
người, quên cả mình đang ở đâu, đang làm gì, sẽ làm
gì. Hốt nhiên mà nhập vào cảnh giới ngộ thiền. Tâm
đang về trú với thân. Tâm đang nằm trong lòng bàn
tay, trong vỏ hạt dẻ. Và thấy mình là đám mây thấp
trên đồi nương.
Tiếng trò chuyện chung quanh chỉ như những xao động,
tiếng ngỗng kêu trong suốt, rơi vào tâm hồn đang
rỗng không của tôi.
Và bỗng nhiên trong tay tôi có một con ngỗng. Tôi ôm
nó trước ngực. Lông ngỗng ấm áp như người tình.
Người đàn bà cười. Tôi ôm con ngỗng đi vòng vòng
quanh trang trại. Rồi tôi ôm nó trở lại lối mòn
quanh co giữa hai hàng táo già. Con ngỗng ngủ. Sẽ ru
nó bằng ngôn ngữ im lặng. Sẽ ru nó bằng những vuốt
ve.
Rồi cứ đi.
Lạc trong cây cỏ và chập chùng đồi.
Trở lại mục lục
14. Chú
mọi nhỏ của Dã Nhân
Không biết ở đâu mà Dã Nhân xin được một chú mọi nhỏ
đen thui về làm đệ tử. Theo lẽ nó phải gọi tôi bằng
sư huynh nhưng vì nó không biết tiếng Việt nên suốt
ngày chỉ cười. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng
tay và mắt.
Hôm trước hai thầy trò còn ở Sài Gòn, sáng ra đã
biến mất, để lại một tờ thư, đại khái ông nói muốn
lên ở trên núi Thị Vãi một thời gian để giảng kinh
và bảo khi nào tôi lên thì đem cho ông một can mười
lít rượu Bàu Đá.
Đường dốc hiểm trở, len lỏi qua nhiều hang đá mới
tới được cái am của tiên sinh. Chú mọi nhỏ dẫn tôi
ra sau am và đưa cho tôi mấy trái chuối bảo đặt dưới
các gốc cây rừng cho sóc ăn. Lũ sóc ở trên cây bò
xuống, leo cả trên vai của chú bé.
Giây lát tiên sinh bước ra, tóc búi củ tỏi sau gáy,
râu dài, phong thái đĩnh đạc, trầm mặc.
Ông đến ngồi cạnh tôi:
"Chú mọi nhỏ này là người Congo, cha mẹ đều chết vì
bệnh AIDS, những anh chị của nó thì chết đói trong
rừng. Một thuỷ thủ da đen nhận nó làm con nuôi. Và
cuối cùng trao cho ta, làm đệ tử của ta. Nhưng lai
lịch của nó, số phận của nó không chỉ đơn giản như
vậy. Nó không chỉ là một đứa bé. Nó là lịch sử. Nó
là một nhân loại đang sống sót. Nó là một nhân loại
kỳ diệu vì đã tồn tại sau khi bị giày xéo, chà đạp
dưới gót giày, bị đốt trong lửa, bị nổ tung trong
bom mìn và bị mục nát trong bệnh AIDS. Nó là đức Thế
Tôn, là Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngươi có thấy
nó đang chơi với những con sóc không?
Nhiều thế hệ tổ tiên của nó đã chết trong ngục tù,
nhiều thế hệ cha ông của nó đã tàn héo trong nô
dịch, nhiều thế hệ anh chị của nó đã tan xác trong
bom đạn. Vậy thì tại sao những David Beckham, những
Brad Pitt, những Céline Dion, những Tony Blair,
những George Bush, những Marilyn Monroe… không đến
đây mà quỳ trước mặt nó để xin được tha thứ và cứu
rỗi?"
"Ý thầy muốn nói sự thịnh vượng của châu Âu là do
bóc lột tài nguyên, mồ hôi nước mắt và máu của lục
địa đen?"
"Đó là một sự thật."
"Nhưng xã hội da trắng thịnh vượng là nhờ họ thông
minh và có những thiên tài. Liệu họ có được thịnh
vượng nếu họ không chế tạo ra máy hơi nước, điện khí
hóa, nếu không có cuộc hiện đại hóa của cách mạng tư
sản?"
"Đó cũng là một sự thật."
"Như vậy có nhiều sự thật sao?'
"Không sai. Chúng ta có rất nhiều sự thật. Cũng như
chúng ta có rất nhiều sự giả. Sự thật có thể có
nhiều mảnh. Một nửa cái bánh mì là bánh mì. Và một
nửa sự thật cũng là sự thật. Thậm chí một phần mười
sự thật cũng là sự thật. Người ta có thề lấy một tế
bào để nhân giống vô tính thành một con cừu, thế thì
một phần tỷ của con cừu cũng là một con cừu. Sao một
phần tỷ sự thật lại không là sự thật?"
Dã Nhân bật cười ha hả, sảng khoái, đắc ý và hài
hước.
"Nhưng đó là ta đùa giỡn với lý luận. Thực ra chẳng
hề có sự thật mà cũng chẳng hề có sự giả. Giả hay
thật, phải hay trái, đúng hay sai, thiện hay ác… đều
tuỳ thuộc vào góc nhìn, tuỳ thuộc vào đồng tiền dán
trên cái nhìn ấy. Trời ơi, ta lại nói những điều rất
khó hiểu. Liệu cái đầu ‘thông minh trung bình’ của
ngươi có hiểu không?"
"Thưa thầy, tôi hiểu."
"Nhưng ta biết có tỷ người không hiểu. Ôi, ta muốn
phát khùng lên vì những thứ mà ai cũng ca ngợi. Nào
là anh hùng dân tộc, thiên tài, hoa hậu hoàn vũ,
siêu sao bóng đá. Nào là độc lập dân tộc, nhân
quyền, tự do, dân chủ. Nào là lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Nào là tín ngưỡng, tôn giáo, nào là nhân
nghĩa lễ trí tín. Trời ơi! Tại sao chúng nó không
biết ngượng khi nói những thứ giẻ rách ấy nhỉ? Tại
sao làm người mà lại có thể muối mặt nói ra những
thứ nhảm nhí ấy nhỉ? Sao không sủa lên như chó, sao
không rống lên như bò. Sao không gào lên như lũ mèo
động đực? Như thế có phải chân thành hơn không?"
Rõ ràng là trong hơi thở của ông có mùi rượu Bàu Đá.
Chắc chắn trong lúc tôi chơi với chú mọi nhỏ thì Dã
Nhân đã nhìn thấy can rượu trên bàn.
Bây giờ thì ông như ngọn cờ gặp gió. Sống động. Linh
hoạt. Sôi nổi.
"Chúng nó bài tiết ra những lời hoa mỹ ấy để trững
giỡn với nhau, tung hứng cùng nhau, ca ngợi lẫn nhau
và chửi rủa lẫn nhau bằng cả văn chương nghệ thuật,
bằng triết học, bằng các học thuyết chính trị. Chúng
nó bảo nhau rằng Tần Thuỷ Hoàng có công thống nhất
đất nước, thống nhất chữ viết, thống nhất đo lường…
nhưng chúng quên rằng triều đại của hắn chỉ kéo dài
có mười năm và khi hắn chết thì xã hội Trung Quốc
lại loạn lạc, lại chia năm xẻ bảy như cũ. Chúng nó
bảo nhau rằng Napoléon Bonapartre là thiên tài, rằng
Césare, Thành Cát Tư Hãn, Mao Trạch Đông… là những
anh hùng kiệt xuất nhưng những tên khốn nạn ấy đã
giết bao nhiêu triệu người? Đã ly tán bao nhiêu
triệu gia đình, đã phơi xác đồng loại mình cao như
núi và máu thì chảy thành sông… Ngươi có biết những
tên bồi bút đê tiện nhất là ai không? Đó chính là
những nhà sử học. Chúng luôn luôn đứng về phía những
kẻ cầm quyền, luôn luôn ca ngợi các triều đại thịnh
trị."
Nhưng ai thịnh trị?
Chỉ có bọn cầm quyền là thịnh trị.
Vì chúng ngồi mát ăn bát vàng, chúng có một ngàn bà
vợ, có hàng tỷ đô la, hàng trăm biệt thự, hàng ngàn
gia nhân… Vì chúng chiếm hữu và chia nhau tài sản
quốc gia như bọn thợ săn chia chác con mồi.
Còn nhân dân muôn đời vẫn là những viên gạch lót
đường cho chúng. Nhân dân luôn luôn là những kẻ tôi
tớ, là người ở đợ. Cho nên đừng bao giờ nói với ta
về “dân chủ” về “nhân quyền”về “công bằng xã hội”...
Làm gì có trên cõi đời này. Chỉ có những thằng ngu
và những thằng “thông minh trung bình” mới tin vào
những thứ ba xạo ấy.
"Nhưng các nước có trình độ dân trí cao như Âu, Mỹ
thì sao?"
"Dân trí càng cao thì sự ba xạo của chính quyền càng
tinh vi. Ngươi chưa đủ trình độ để hiểu chuyện đó
đâu. Ta sẽ có một bài giảng riêng về đề tài này."
"Thế còn châu Phi?" Tôi hỏi.
Dã Nhân chỉ tay về phía chú mọi nhỏ.
"Châu Phi đang ngồi đó. Cách đây 200 năm, bọn thực
dân da trắng đến châu Phi để vơ vét tài nguyên, bắt
người da đen làm nô lệ, buôn bán họ như súc vật… để
xây dựng một châu Âu hùng cường. Còn bây giờ thì
châu Phi trở thành một nơi chứa các chất thải công
nghiệp.
Không chỉ tại Côte d’Ivoire, một số quốc gia khác
như Somalie cũng đang đứng trước thảm hoạ từ rác
thải công nghiệp. Từ nhiều năm qua, tàu chở chất
thải đến từ Italia thường xuyên đổ các chất thải độc
hại xuống Somalie và việc vận chuyển trái phép này
hầu như nằm ngoài mọi sự kiểm soát của chính quyền."
"Nhưng tôi nghĩ người châu Phi cũng phải chịu trách
nhiệm về sự nghèo đói và những tai hoạ của họ."
"Người châu Phi thích đánh nhau vì sắc tộc hơn là
đánh nhau với những kẻ bóc lột họ. Đó là nguyên nhân
thứ nhất. Người châu Phi chú trọng về tình dục hơn
là công bằng xã hội nên sinh sản nhiều mà chết đói
cũng nhiều. Ngươi có nhớ một công ty Australia từng
gởi thức ăn của chó để cứu đói cho châu Phi không?
Nhưng bọn cầm quyền ở châu Phi thì cực kỳ giàu có.
Chủ tịch của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Peter Eigen,
nhận xét: "Tham nhũng là nguyên nhân chính của đói
nghèo, khóa chặt người dân trong thảm hoạ. Đứng hàng
đầu trong danh sách tham nhũng là những ‘tên tuổi
lớn’ như: Tổng thống Mobutu Sese Seko của Cộng hoà
Dân chủ Congo, biển thủ 80 tỷ đô la; cựu Tổng thống
Suharto của Indonesia, tài sản gần bằng một nửa tổng
sản phẩm quốc nội của Indonesia; cựu Tổng thống
Ferdinand Marcos của Philippines biển thủ 100 tỷ đô
la, và cựu Tổng thống Alberto Fujimori của Peru,
biển thủ hàng trăm triệu đô. Hãy nghĩ mà xem,
những tên đầu trộm đuôi cướp như vậy mà vẫn được
ghi tên vào lịch sử như những nhà lãnh đạo quốc gia
thì rõ ràng bọn sử gia là bọn bồi bút hạng bét.
Nhưng ngươi có biết ‘những nhà lãnh đạo’ ấy đã lấy
tiền bằng cách nào không?"
"Trên khắp thế giới, bọn cầm quyền đều có chung một
ngón nghề làm giàu như nhau. Đó là ăn chặn tiền đầu
tư của nước ngoài, tiền ‘lại quả’ từ việc mua bán
tài nguyên quốc gia, như dầu mỏ, hải sản, lâm sản…
tiền rút ruột các công trình như kiểu mà phe nhóm
của Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến trong vụ PMU18,
hoặc Vũ Đình Thuần, Lương Cao Sơn trong vụ Đề án 112
và các đồng bọn của chúng đang làm ở Việt Nam. Sau
đó, để trả nợ cho nước ngoài, chúng thường lấy tài
nguyên quốc gia, lấy tiền thuế của nhân dân ra mà
trả. Trả không hết thì các thế hệ con cháu của chúng
ta phải trả!"
Dã Nhân vỗ đầu tôi như đứa con nít:
"Cái tay Thaksin của Thái Lan trở thảnh tỷ phú đô la
cũng nhờ cách ấy. Những vị ‘anh hùng dân tộc’ như
Marcos, như Shuharto cũng áp dụng ngón nghề ấy thôi.
Đó là tai hoạ của các nước nghèo và các nước đang
phát triển. Còn những nước giàu như Anh, Mỹ… thì có
ngón nghề khác. Nhất là Mỹ, nó vừa là thiên đường
vừa là địa ngục, vừa là thánh nhân vừa là ác quỷ.
Bây giờ ta nói thì ngươi không tin. Rồi ta sẽ cho
ngươi xem một bộ phim tài liệu do một đạo diễn thiên
tài người Mỹ là Michael Moore làm. Nhưng sẽ vào một
dịp khác. Xem kìa! Chú mọi nhỏ của ta đang làm gì
dưới gốc cây bồ đề vậy?"
Chú mọi nhỏ đang vạch con cu nhỏ xíu của nó ra đái.
Dã Nhân nhẹ bước đến, ngồi xuống một bên và ngửa bàn
tay ra hứng dưới vòi nước tiểu.
Trở lại mục
lục
15. Thế
giới đang bốc mùi
Hồi còn trẻ tôi thường nghĩ: làm người thì phải có
lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết
ước mơ….
Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy.
Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay
khi những điều tốt đẹp đã tàn héo, khi lịch sử tự
chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách.
Lịch sử tự vạch mặt chỉ tên mình là bọn đầu trộm
đuôi cướp, tự vạch áo cho người xem cái lưng ghẻ lở
bốc mùi của mình. Và hiện nay cái mùi ấy là mùi đặc
trưng của thế giới. Từ Hoa Kỳ đến Iraq, Palestine,
Israel, từ Anh đến Pakistan, Myanma, Thái Lan,
Philippines… Chưa bao giờ nhân loại hỗn loạn, phức
tạp, điên đảo và nhảm nhí như thời đại này.
Nhưng có lẽ chỉ có chừng một phần ba nhân loại ngửi
thấy cái mùi khăm khẳm ấy, chính vì thế mà những
người hành nghề chính trị trên khắp thế giới mới
phát tài phát lộc. Mặt hàng kinh doanh của họ là sự
dối trá, lừa bịp. Và khách hàng của họ là hàng tỷ
người hiền lành, tốt bụng nhưng nhẹ dạ cả tin trên
khắp mặt đất, từ Somalie cho tới Hiệp Chúng quốc Hoa
Kỳ.
Tôi muốn gào khóc, quỳ lạy van xin cái khối nhân
loại đồ sộ và tội nghiệp này rằng hãy dừng lại. Đừng
tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái
gì cả. Rằng cả lũ chúng ta đang bị lừa.
Mọi người phải ý thức rằng mình chỉ là một cá nhân
rất nhỏ bé, vô cùng yếu đuối vô cùng mong manh trước
các thế lực khủng khiếp đang ngự trị trên hành tinh
này. Rằng mình không làm gì được chúng đâu. Rằng
mình phải cam chịu. Phải sống chung với chúng. Phải
làm tôi tớ cho chúng cũng giống như hàng ngàn năm
qua, tổ tiên chúng ta cũng đã làm tôi tớ cho chúng.
Đó là số phận đã được an bài. Không có cuộc
cách mạng nào thay đổi được số phận đó. Và hơn thế
nữa, đó không chỉ là số phận mà còn là QUY LUẬT TẤT
YẾU, VÌNH CỬU VÀ BẤT BIẾN của xã hội loài người.
Khi nghe tôi trình bày những tư tưởng này Dã Nhân
nheo mắt nhìn tôi một cách chế giiễu. Ông ta nói:
"Ngươi đã biết rằng đó là quy luật, là tình thế
không thể đảo ngược được sao còn than thở? Như thế
có khác nào ngươi than thở tại sao hết mùa Xuân lại
tới mùa Hạ, hết mùa Thu lại tới mùa Đông? Ngươi hãy
nhìn ngoài phố kia. Người ta vẫn đi lại, vẫn nói
cười. Người ta vẫn sống, vẫn yêu nhau, vẫn ghét
nhau, vẫn nhớ nhung nhau… Và trên khắp thế giới mọi
người đều như thế. Dù họ biết hay không biết rằng
mình đang bị móc túi đang bị lừa đảo thì họ vẫn
sống, thậm chí có người vẫn rất hạnh phúc."
Tôi rất ghét cái kiểu nheo mắt chế giễu của Dã Nhân
nên cãi lại quyết liệt:
"Nhưng ở những nước chậm tiến, số người bất hạnh
nhiều hơn bội phần. Hàng tỷ người sống dưới mức
nghèo khổ. Hàng tỷ người sống như súc vật. Đó là vì
họ không biết mình đang bị móc túi, đang bị lừa đảo.
Và không một ai giúp họ biết được điều đó cả. Những
người chết đói ở Congo không hề biết rằng ông Tổng
thống Mobutu đã ăn cướp của họ 80 tỷ đô la. Những
đám dân đen cùng khổ trong những khu ổ chuột ở
Jakarta, những người nông phu chân lấm tay bùn ở
Philippines không hề biết rằng những vĩ nhân của họ
là Suharto, Ferdinand Marcos đã phỗng tay trên của
họ hàng trăm tỷ đô la. Đó là chưa kể Campuchia,
Myanma, Việt Nam… Những đám dân cùng khổ ấy họ vẫn
sống, vẫn ăn, vẫn thở, thậm chí vẫn yêu nhau, vẫn
sinh con đẻ cái… nhưng thầy có thể dửng dưng trước
những bất công như vậy không?"
"Dửng dưng hay không dửng dưng thì cũng chẳng làm
được gì. Giả dụ như ngươi là một siêu nhân có
thể trong một đêm lật đổ được chính quyền và đứng ra
cầm quyền, lập một chính phủ mới, một nhà nước mới.
Rồi chuyện gì sẽ xảy ra? Lại vẫn lừa đảo, tham
nhũng, ăn cắp, nói dối… Vì sao? Vì đó là bản chất
của mọi nhà nước. Kể cả nước Mỹ. Ngươi không
tin sao? Vậy thì hãy cùng ta xem bộ phim này.
Tên phim: FAHRENHEIT 9/11
Thể loại: Phim tài liệu.
Đạo diễn: Michael Moore.
Giải thưởng: Cành Cọ Vàng tại Liên hoan Phim Cannes
(Pháp) năm 2004
Diễn tiến các trường đoạn chính của phim như sau:
"Đài truyền hình Mỹ tuyên bố Gore đã vượt qua Bush
về số phiếu bầu. Chỉ còn lại bang Florida là chưa
kiểm phiếu nhưng chính Florida là bang ủng hộ Gore
nên chắc chắn là Gore sẽ đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ."
"Nhưng sau đó thì người ta tuyên bố Bush thắng cử.
Điều này chứng tỏ rằng bầu cử ở Mỹ chỉ là chuyện
hình thức, thực ra các Tổng thống đều đã được các
tập đoàn tư bản quyết định sẵn từ trước rồi."
Dã Nhân bình luận thêm trong lúc xem phim:
“Trên thực tế, những tập đoàn tư bản Mỹ không chỉ
quyết định ai sẽ là Tổng thống mà còn có quyền giết
bất cứ Tổng thống nào không vâng lời họ. Đó là
trường hợp Tổng thống Kennedy bị ám sát ngày 22
tháng 11 năm 1963 tại Dalas, sau đó, vào ngày
6/6/1968 em trai ông là Robert Kennedy khi đang vận
động tranh cử Tổng thống cũng bị bắn chết tại Los
Angeles vì ‘người ta’ thấy rõ rằng ông này rất có
khả năng đắc cử.”
xem phim tiếp:
"Trước khi làm Tổng thống, Bush từng là sĩ quan cận
vệ. Lúc ấy ông ta có một người bạn thân là James
Bath là sĩ quan cùng đơn vị. Về sau này, gia đình
Bin Laden thuê James Bath làm quản lý tài chánh cho
các công ty của họ tại Hoa Kỳ. James Bath đã bí mật
giúp đỡ tài chính cho Bush trong suốt quá trình hoạt
động chính trị và tranh cử. Chính vì thế mà sau khi
đắc cử Tổng thống, Bush cho người dùng bút đen xóa
những chứng cứ về mối quan hệ giữa ông với James
Bath. (Những chỗ tẩy xóa này được chiếu trên màn
ảnh)."
"Khi Bin Laden cho máy bay đâm vào hai toà nhà WTC
tại New York thì Tổng thống Bush đang viếng thăm một
trường mẫu giáo và đang ngồi nghe một học sinh kể
chuyện cổ tích. Lát sau cận vệ vào báo chiếc máy bay
thứ hai đâm vào toà nhà thứ hai. Bush chỉ nhíu mày
và lại tiếp tục nghe, như thể là ông ta đã biết
trước những việc đó.
Ngày 13/9 tức là hai ngày sau vụ tấn công, Tổng
thống Bush đến toà đại sứ Ảrập Saudi (quê hương của
Bin Laden) ăn cơm trưa với ông đại sứ. Lời bình luận
trong phim nói rằng: “Bush đến để trấn an ông đại
sứ rằng chúng tôi đã thu xếp mọi thứ, ông đại sứ cứ
yên tâm” "
"Ngay hôm sau vụ tấn công, tất cả các phi trường tại
Mỹ đều bị đóng cửa và các máy bay đều bị cấm cất
cánh. Nhưng vẫn có 12 chiếc máy bay chở toàn bộ gia
đình Bin Laden rời khỏi nước Mỹ. Lời bình luận trong
phim: “Cuộc di tản này nhằm tránh cho gia đình
Bin Laden khỏi bị FBI thẩm vấn. Cùng lúc, tại Ảrập
Saudi, gia đình những kẻ khủng bố trong vụ 11 tháng
9 cũng được chính quyền bảo vệ, không cho tiếp xúc
với báo chí.”"
"Gia đình Bin Laden đã đầu tư 860 tỷ USD vào công
nghệ chế tạo vũ khí tại Mỹ, bằng 7% nền kinh tế Mỹ."
"Bush ngăn cản quốc hội điều tra về vụ 11/9 và lập
một uỷ ban điều tra riêng."
"Gia đình Bush ngoài dầu hoả còn đầu tư vào công
nghệ chế tạo vũ khí hiện đại với công ty mang tên
Carlyde."
"Một bà mẹ có con trai chết tại Iraq nói: Hàng
ngày chúng ta phải đối mặt với sự ngu dốt."
"Một đoạn phim dài chừng một phút chiếu cảnh ca sĩ
Britney Spears ủng hộ Tổng thống Bush. Việc này
chứng tỏ vẫn còn rất nhiều người không biết rằng thế
giới đang bốc mùi."
"Phần lớn những lính Mỹ bị đưa sang chiến trường
Iraq và Afghanistan đều là con em nhà lao động
nghèo, thất nghiệp, nhất là người da màu. Một đoạn
phim ghi lại hình ảnh và lời nói của các thanh niên
Mỹ khi tiếp xúc với những người đi tuyển mộ lính. Họ
là những người thất nghiệp và không còn sự chọn lựa
nào khác ngoài chiến trường Iraq và Afghanistan."
"Đạo diễn Michael Moore đích thân đến trước cửa
Thượng viện Hoa Kỳ để phỏng vấn các thượng nghị sĩ.
Tất cả các vị này không ai có con em đi chiến đấu
tại Iraq. Một số thượng nghị sĩ chạy trốn khỏi cuộc
phỏng vấn."
Dã Nhân bình luận trong lúc xem phim:
"Sản xuất vũ khí và dầu mỏ là hai nền công nghiệp
hàng đầu của Mỹ. Giới tài phiệt Mỹ trở nên giàu có
nhờ vào hai nền công nghiệp khổng lồ này. Vì thế họ
phải mở các cuộc chiến tranh để chiếm lấy các mỏ dầu
và bán vũ khí".
"Vũ khí được bán cho chính phủ Mỹ."
"Chính phủ Mỹ dùng tiền của ngân sách, tức là
tiền thuế của nhân dân để mua vũ khí."
"Vậy thì ai hưởng lợi? Trả lời: Các công ty chế
tạo vũ khí hưởng lợi, các quan chức chính phủ hưởng
lợi từ ‘huê hồng’ khi ký các hợp đồng mua bán vũ khí
hàng trăm tỷ đô la."
"Ai bị thiệt hại? Trả lời: Nhân dân Mỹ bị thiệt
hại vì tiền đóng thuế của họ bị chảy vào túi một
nhóm người. Vì con em của họ phải chết cho các hợp
đồng mua bán vũ khí ấy."
"Có ai bị thiệt hại nữa không? Trả lời: Có. Đó là
nhân dân Việt Nam, nhân dân Iraq, nhân dân
Afghanistan. Họ đã phải chịu cảnh tan thương chết
chóc vì chiến tranh.
Và còn một sự thật hết sức quan trọng nữa là:
Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào mà chính phủ Mỹ
tiến hành, nước Mỹ có thể thắng hoặc thua nhưng các
công ty chế tạo vũ khí của Mỹ và các quan chức chính
phủ có liên quan thì LUÔN LUÔN THẮNG vì mục tiêu
của họ là BÁN ĐƯỢC HÀNG còn chiến cuộc kết thúc thế
nào không quan trọng. Đôi khi họ còn muốn kéo dài
chiến tranh để tiêu thụ được nhiều vũ khí hơn."
Tôi thấy Dã Nhân đang trổ tài hùng biện nên muốn
chọc tức ông ta một chút. Tôi nói:
"Một bộ phim vạch trần những sự thật ghê gớm như vậy
mà chính phủ Mỹ vẫn cho ra đời chứng tỏ nước Mỹ cũng
rất tôn trọng dân chủ chứ?
Dã Nhân quay nhìn tôi như nhìn một con quái vật:
"Ái chà chà! Ngươi làm ta ngạc nhiên đấy. Thế mà lâu
nay ta vẫn tưởng ngươi là một thằng thông minh.
Ngươi không thấy là toàn bộ nội dung phim nhằm chứng
minh rằng nhân dân Mỹ đã bị lừa à? Bầu cử cũng lừa
mà chiến tranh cũng lừa.
Vậy thì tại sao nó cho công bố phim này? Vì nó quá
mạnh. Nó đếch sợ dư luận. Nó ngồi xổm trên dư luận
mà ỉa. Tổng thống của nó mà nó còn giết cả ba bốn
ông đủ thấy nó mạnh cỡ nào, nó coi thường dư luận cỡ
nào. Và sau khi phim này được công bố và nhận giải
thưởng Cannes thì Tổng thống Bush vẫn tái đắc cử
nhiệm kỳ 2. Vì sao? Vì kết quả bầu cử đã được quyết
định sẵn rồi. Bây giờ thì ngươi đã hiểu chưa?"
"Bạch thầy, con hiểu."
16. Những cộng
tác viên của tôi
Có một dạo tôi làm trưởng ban Văn-Xã của báo Tuổi
Trẻ. Đó là nơi tôi đã đăng những sáng tác đầu
tiên của hầu hết những nhà văn, nhà thơ quen thuộc
ngày nay như Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn
Đông Thức, Đoàn Thạch Biền, Lê Thị Kim, Đoàn Vị
Thượng… và cả những tác phẩm của các cây bút miền Bắc
như Trúc Chi, Bùi Việt Phong, Lệ Bình, Hoàng Đình
Quan…
Có người cho đến giờ vẫn là bạn thân của tôi, có
những mối quan hệ mờ nhạt dần sau “vụ Nổi loạn.”
Có kẻ sợ liên luỵ. Có người quay mặt đi. Tôi thương
hại họ, vì họ cứ tưởng xử sự như vậy là họ được lợi,
thực sự họ đang sống và viết như những thằng bồi bút
hạng bét với mớ chữ nghĩa vụn vặt, mớ kiến thức lem
nhem và với tầm nhìn của một con ếch ngồi đáy giếng.
Dẫu sao tôi cũng cám ơn báo Tuổi Trẻ trong
những ngày đầu giải phóng đã “tạo điều kiện” cho tôi
lặn lội vào các nông trường, xông pha vào những nơi
rừng sâu nước độc cùng với các bạn thanh niên xung
phong TPHCM và đi cùng với Mặt trận 479 sang tận
Campuchia trong chiến dịch truy quét bọn Pol Pot.
Tôi đã trải qua những đêm đốt lửa bên dòng kinh, đã
thao thức với bầy sóc bay tuyệt đẹp những đêm trăng
huyền thoại trong rừng Đắc Nông, đã hát trên lưng
đàn voi băng qua các buôn làng heo hút… đó là những
vốn sống quý báu mà tôi vẫn thường dùng trong các
tác phẩm của mình.
Tôi đã sống nhiều chế độ, nhiều cảnh đời, đã sống
hết những gì mình có thể sống được, đã làm Việt
cộng, làm “lính nguỵ”, đã lặn lội nơi rừng sâu nước
độc, bưng biền, đồng khô cỏ cháy, đã lang thang trên
mọi nẻo hành tinh… tôi cần gì những bon chen vụn vặt
bần tiện của cái xứ xở mà bồi bút nhiều như sâu bọ.
Nhìn lại quá khứ, thấm thía câu nói của Phạm Lãi khi
từ bỏ Câu Tiễn đi ở ẩn:
"Khi người ta chung một mối lo thì người ta thương
nhau. Khi người ta chung một mối lợi thì người ta
hại nhau."
Sau giải phóng, những “mối lợi” ấy nhiều quá nên
người ta hại nhau là chuyện thường. Người hại tôi
nhiều nhất là ông nhà văn Vô Hạnh mà tôi đã nói
trong chương “Trí thức nằm vùng” ở phần đầu sách
này. Về sau ông làm lành với tôi, một lần gặp tôi ở
Nhà xuất bản Văn Nghệ, ông chạy đến tay bắt mặt
mừng. Tôi tha thứ cho ông. Nhưng tôi nản quá. Cảm
giác sau cái bắt tay là sự chán chường, nó giống như
mình vừa gặp một điều nhảm nhí, vớ vẩn. Nó giống như
tro tàn. Mối quan hệ giữa người và người mà đến như
thế thì tội nghiệp cho phẩm giá con người quá.
♦
Cũng may tôi đã gặp Kim Lê. Cô sớm nổi tiếng với
những bài thơ tình xuất thần, nhất là những bài cô
viết về cỏ, về chim sẻ…
Tôi mang ơn cô rất nhiều về những gì mà cô đã dành
cho tôi trong những ngày đầu giải phóng. Lúc ấy cả
nước không có gạo ăn. Mọi người đều phải ăn bo bo
hoặc bột mì. Những chiều cuối tuần Kim Lê thường rủ
tôi đi thăm nội. Bà sống một mình trong cái nhà nhỏ
ngoại ô thành phố. Bà thường dọn sẵn bữa chiều đợi
chúng tôi bên ngọn đèn dầu. Ba người quây quần quanh
mâm cơm. Tôi mở nắp vung và ngạc nhiên khi
nhìn thấy cơm trắng trong nồi. Đã hơn một
năm rồi tôi không nhìn thấy cơm. Và gần như trong
đầu tôi đã mất ý niệm về hạt cơm. Nhưng bây giờ, nó
chợt hiện ra như trong cổ tích. Nó đẹp như một vòng
nguyệt quế trắng tinh và thơm ngát. Tôi cầm chén cơm
mà những ngón tay run lên vì tôi đang phải kìm chế
sự thèm khát.
"Em không phải ăn bột mì?"
"Gia đình em buôn bán nên vẫn thường có gạo."
Một con thằn lằn nhỏ từ trong kẹt cửa bò ra, mon men
đến gần bàn chân nhăn nheo của nội. Bà cụ nói:
"Những lúc các con không về, nội chơi với con thằn
lằn này. Tôi nghiệp, nó chỉ xin một hạt cơm thôi.
Buổi tối Kim Lê ngủ lại với bà. Tôi đạp xe lóc cóc
trở về. Hôm sau Kim Lê hẹn tôi ở Viện Khoa học nơi
cô làm việc. Lê từ trong thang máy bước ra, ôm chiếc
cặp da trước ngực."
"Nhắm mắt! Đưa tay ra!"
Tôi làm theo. Và Lê đặt trên tay tôi hai gói giấy
khá nặng.
"Gì vậy?” Tôi hỏi.
Lê cười khúc khích và bỏ chạy. Mất hút trong thang
máy. Đó là hai gói quà quý giá nhất thời đó. Gói lớn
là gạo, gói nhỏ là đường. Đường! Bạn biết không?
Thiếu nó bạn sẽ hóa điên. Vì tôi đã một lần hóa điên
như thế. Cơn thèm mọc ra trăm cái mỏ.
Mổ trong não. Rỉa lá gan. Tay chân rã rời. Choáng
váng. Trong nhà này, cái gì có thể có đường? Không
kẹo, không sữa, không trái cây. Thử tìm một chút mật
trong hoa?
Tôi chạy ra ban công, ở đó có mấy cái hoa dâm bụt.
Mở tung cái hoa ra. Mút cái nhuỵ. Đắng nghét. Lũ ong
đã nhanh chân hơn mình rồi. Suy nghĩ xem còn cái gì
nữa? Đúng rồi. Thuốc tây! Có thể mình vẫn còn những
viên thuốc bọc đường. Lục tung ngăn tủ. May quá, còn
được 5 viên thuốc gì màu đỏ. Bỏ vô miệng. Ngậm. Đắng
nghét. Nhổ ra không kịp.
Có những buổi chiều sau giờ làm việc, chúng tôi ngồi
bên bờ sông Sài Gòn. Lê đọc những bài thơ mới làm
cho tôi nghe. Đó là những tác phẩm xuất thần, tác
phẩm để đời của Lê, là những bông hoa đẹp trong văn
học Việt Nam.
Chim sẻ như lá cây
Rụng mà không rớt
Bầu trời trước nhà tôi bé đủ nhìn
Cớ gì mà chim kêu rối rít
Cho lòng tôi cũng rối như chim
(trích “Hoà âm chim sẻ")
Khi mái tóc tôi lần đầu biết bay
Mọi loài cỏ đều biến thành con gái
Trong mối tình tôi lần đầu vụng dại
Có hương vị cỏ gừng
Lần đầu xoe đôi mắt
Gặp cỏ gà rưng rưng
(trích “Tôi và cỏ”)
Tiếc cho Lê đã bỏ con đường hồn nhiên
của mình để dẫn thơ vào một lối khác. Những tập thơ
sau này của cô không làm tôi rung động.
Lúc chia tay, tôi ôm Lê dưới một vòm hoa giấy đỏ
rực. Lê rúc vào người tôi. Và kêu lên. Em sẽ nhớ anh
lắm.
Bây giờ thì những chuyện ấy đã xa vời.
Chúng mình đều đã già rồi phải không Lê?
Trở lại mục lục
17. Những
chiếc lá rơi vào bụi hồng
Những chiếc lá đâm chồi không ai
hay
Già cỗi giữa thinh không
Và chết trong những ngọn gió
Tác phẩm của tôi như những chiếc lá rụng
Rơi vào bụi hồng
Những chiếc lá rụng không ai nhặt
Tự gom lại giữa vòng xoáy
Có người bật lên que diêm
Nhóm thành ngọn lửa
Ngọn lửa nhỏ không dùng để làm gì
Vẫn có thể đốt lên điếu thuốc
Giữa cuộc đời mênh mông
Ngọn lửa nhỏ ấy đang cháy trong ngôi
nhà xinh xắn yên tĩnh tại thành phố Lake Forest bang
California Hoa Kỳ.
Một vùng thiên nhiên trầm mặc. Sáng sớm thường se
lạnh. Tôi đi bộ dọc theo bờ suối. Một bên là rừng,
một bên là con đường nhỏ dành cho tôi và những con
thỏ nhỏ xíu. Những con thỏ còn ngái ngủ, bước ra
khỏi bụi gai. Đàn sáo đen đi tìm những bông cỏ dại.
Một chai huýt-ki uống dang dở bỏ lại bên chiếc cầu
gỗ.
Các phương tiện truyền thông của Mỹ nói đây là mùa
Hè mát nhất tại Mỹ trong vòng mười năm qua. Dường
như thiên nhiên đang ủng hộ tôi, ban tặng tôi những
buổi sáng tuyệt đẹp. Mới tuần trước, mưa tầm tã ở
Wichita. Ngày 5 tháng 7 tôi đến phi trường Dallas
mưa vẫn đuổi theo. Và sương mù dày đặc. Nhưng khi
đến Cali thì gặp nắng. Mà trời vẫn lạnh. Buổi sáng
xanh. Bình yên. Ngọn gió vẫn thanh thản. Và con thỏ
rừng vẫn đứng lặng thinh bên những bụi gai.
Có lẽ khi người Mỹ chưa đến vùng đất này thì loài
thỏ rừng đã xây tổ ấm trong những bụi gai, và chúng
vẫn ra đứng bên bờ suối mỗi buổi sáng. Chúng vẫn
chậm chạp và lặng lẽ. Chúng làm cho buổi sáng ngưng
đọng lại, cho ký ức tôi ngưng đọng lại.
Hôm qua tôi đi San José tìm Phượng theo địa chỉ mà
cô đã cho tôi cách đây mười năm. Nhưng đó chỉ là một
trạm sửa chữa của hãng Hitachi. Phượng đã thất lạc.
Phượng chỉ còn là hình bóng quá khứ. Một chiếc váy
sặc sỡ hoa trên nền đỏ chói. Trong gió biển lồng
lộng, chiếc váy tung lên như cánh diều. Phượng bước
trong một vũ điệu man dại. Tóc bay như cánh chim.
Môi đỏ chót. Chúng tôi ngồi trong một cái quán
cua biển cạnh mé nước. Phượng gọi thật nhiều
món ăn.
"Hôm nay em đãi anh."
"Vì sao?"
"Vì là sinh nhật của em."
Tôi không biết điều đó. Bữa tiệc sinh nhật chỉ có
hai người. Một cú điện thoại rủ đi Vũng Tàu. Một
chuyến xe đò vội vàng. Đến khách sạn Phượng thay đồ.
Và chọn cái váy sặc sỡ. Em mỏng lét, nhưng người ta
nói ngực em là ngực sừng trâu. Vì đầu vú nghểnh lên
như sừng trâu. Tôi thấy đẹp. Phượng lộng lẫy. Và
hoang dã như một cô gái người Hawaii.
Buổi chiều đầu tuần êm ả trong quán cua vắng người.
Ăn và mút ngón tay.
"Sao em cười hoài vậy?"
"Em sắp xa anh rồi."
"Đi đâu?"
"Đi vượt biên."
Đó là một buổi chiều của năm 1978. Lúc ấy Phượng là
phóng viên báo Sài Gòn giải phóng. Và chúng
tôi mới quen nhau 3 tháng. Phượng ở khu tập thể Bạch
Kim đường Chữ Thập Đỏ. Một sáng chủ nhật nào đó tôi
đến chơi và Phượng cũng mặc cái váy sặc sỡ này. Cô
ngồi trên chiếc ghế bành rộng và tôi ngồi bệt trên
sàn gạch, ngay dưới chân cô. Phượng xoa đầu tôi như
đứa trẻ. Tôi nhắm mắt và cắn cái gấu quần của cô như
một con chó con. Rồi Phượng cúi xuống, ngực chạm
trên tóc tôi. Phượng đã ôm tôi như một người mẹ. Và
mọi thứ diễn ra tự nhiên, dịu dàng, nhẹ, chậm và âu
yếm.
Buổi chiều trong quán cua tôi mới biết Phượng đang ở
với cha và một người mẹ kế. Phượng không thích cảnh
ấy và ra đi.
"Em bỏ anh sao?"
"Vì anh đã có gia đình rồi."
Buổi tối chúng tôi ngồi trên kè đá. Chỉ có những vì
sao. Ngoài ra là đen kịt. Biển cũng đen. Cả những
ngọn sóng cũng chỉ ánh lên một chút lân tinh mờ ảo.
Tôi nói:
"Biển thật đáng sợ."
"Nhưng em vẫn phải đi. Người ta thường chọn những
đêm tối đen như vậy để ra đi."
Tôi thương Phượng xót cả lòng. Nước mắt chảy trong
bóng tối. Nhưng Phượng thì cười. Đàn ông gì mà yếu
đuối vậy.
"Thôi, mình về khách sạn."
Nhưng chúng tôi không ngủ. Phượng bảo tôi đệm đàn
cho cô hát. Trên đời này không có người nào hát hay
như Phượng. Đó là chất giọng của Bạch Yến. Khi còn
là sinh viên tôi đã suýt ngất xỉu khi lần đầu tiên
nghe Bạch Yến hát bài "Đêm đông" trên đài BBC. Tiếng
hát ấy có năng lực đánh thức tất cả sao trên trời và
làm bừng sáng địa ngục.
Phượng đứng bên cửa sổ nhìn ra biển.
Tiếng hát bất tận. Không cần MC. Nối tiếp nhau,
thanh thoát, lạnh giá và lộng lẫy. Tiếng hát đã
truyền cảm hứng cho cây đàn. Chúng tôi biểu diễn
quên thời gian, quên cả chính mình. Cho đến khi nghe
có vài tiếng lao xao bên ngoài.
Tôi mở cửa phòng và nhìn thấy một đám đông.
"Anh chị cứ tiếp tục đi."
"Chúng tôi đang nghe."
"Chúng tôi đã đứng đây cả tiếng đồng hồ."
Phượng ra chào các fans hâm mộ và nói cám ơn.
Sáng hôm sau tôi đòi ở lại tiễn Phượng lên tàu nhưng
không được. Vì người ta muốn bảo mật tuyệt đối.
Đó là lần cuối cùng tôi gặp Phượng.
Trong tác phẩm Người tình cũ (nxb Văn Nghệ ấn
hành năm 1988) tôi có viết một chương về giọng hát
của Phượng:
Trích một đoạn ngắn:
“Khách ngồi quanh các gốc cây, trên ghế đá, trên
cỏ. Thức ăn nhẹ, Buche de Noel, rượu nho, cà phê,
rượu mạnh.
Tiếng dương cầm và vĩ cầm sánh đôi nhau đùa giỡn
trong khu vườn đầy ánh sáng. Ca sĩ Thuý Vân hát liên
tiếp ba bài Giáng sinh. Những người kế tiếp đều là
ca sĩ nhà nghề. Những bản tình ca xen kẽ với nhạc
Giáng sinh cứ nối nhau không dứt.
Gần hai giờ sáng, những tách cà phê đã cạn và
rượu chỉ còn sánh một chút dưới đáy ly, hai người
nhạc sĩ không đàn nữa. Cây piano đã đóng nắp lại,
cây violon cũng được cất trong hộp, bạn bè ngủ gà
ngủ gật.
Chủ nhà kêu lên:
"Trời ơi sao lại ngủ, đêm nay phải thức! Phải
hát!
Hai chàng nhạc sĩ thu mình trong chiếc ghế mây.
Họ uống cà phê đậm và lơ đãng nhìn ngắm bầu trời.
Giờ này mọi người đều muốn quay về thế giới riêng
của mình. Chính Phượng cũng muốn như thế. Chủ nhà
khẩn khoản:
"Nhưng Phượng phải hát một bài mới được.
Phượng bỏ dép ra, hai bàn chân trần giẫm lên cỏ
uớt. Tôi ngồi cạnh đôi dép da, vừa hút thuốc lá vừa
quan sát nó.
Bỗng nhiên chung quanh im lặng lạ thường. Trong
cái im lặng ấy Phượng hát. Giống như đóa hoa tình cờ
nở giữa rong rêu, giống như con chim lạ ở đâu bay về
đậu trên mái đình cổ kính và hót.
Phượng hát bài “Ngậm ngùi”. Sao đêm Giáng sinh mà
em hát bài “Ngậm ngùi”? Tiếng hát lạnh chạy suốt qua
những lồng ngực, qua những đôi mắt ngái ngủ. Hai
chàng nhạc sĩ rụng rời khi tiếng hát lạnh buốt ấy
dạt đến. Chúa đã sai người con gái này xuống để hát
thánh ca, sao các người ngồi im đó? Hai nhạc sĩ mặc
khải được giọng nói của thiên thần từ trên trời và
hiểu rằng mình sẽ bị ném vào hoả ngục nếu không chạy
đến cây đàn của mình.
Và họ chạy đến như kẻ tôi tớ của Chúa. Phượng hát
trong nền nhạc lộng lẫy và dân thành Bêlem bồng bế
nhau tới trước hang đá. Tôi biến thành con lừa nhỏ
nằm hiền lành bên đôi xăng đan và gặm nó giữa hai
hàm răng rất to của mình.
Những cô ca sĩ chuyên nghiệp ngạc nhiên trước
giọng hát của Phượng, sợ hãi đứng nép vào gốc cây,
những cô gái xinh đẹp rực rỡ kia nhạt nhoà hết son
phấn và biến thành cô thôn nữ hiền lành tay cầm lễ
vật đi theo sau ngựa của ba vua, băng qua sa mạc
mênh mông và đến đây. Nhưng Phượng thì vẫn giản dị,
đứng hát như cô gái Digan bên đống lửa."
♦
Nhưng Người tình cũ không phải là một chuyện
tình. Đó là tác phẩm viết về phong trào sinh viên
các đô thị miền Nam trước 1975.
Năm 1988 sau khi cuốn sách ra mắt độc giả, Ban Tuyên
huấn Thành uỷ kết luận: Cuốn sách đã có một cái
nhìn đen tối về cách mạng. Cơ quan này cũng kết
luận về tác phẩm Kẻ tử đạo cuối cùng của tôi
bằng một câu gọn lỏn: một cuốn sách chống cộng.
Năm 1990 Nhà xuất bản Văn Học in cuốn Hoa dại
lang thang. Cuốn sách viết về sự cấu kết của
những ông chủ doanh nghiệp giàu có và giới cầm quyền
cộng sản để khuynh đảo thị trường và trục lợi. Trong
bối cảnh đó nhân vật chính nổi lên. Đó là một thằng
Hề. Hề vốn là một trí thức trẻ đi theo kháng chiến.
Sau giải phóng hắn làm bí thư xã. Nhưng hắn chán
ghét cái công việc đó và bỏ đi làm hề trong một gánh
xiếc.
Nhân vật thứ hai là Phượng, một cô gái trẻ, con nhà
giàu. Phượng sống dữ dội, phóng túng.
Tình yêu đã dẫn thằng Hề và Phượng lang bạt khắp
nơi, chọc phá và chế giễu bọn quan lại mới.
♦
Về tác phẩm Vua Mèo (Nxb Trẻ 1989),
Giáo sư Hoàng Thiệu Khang lại nhìn ở một góc độ
triết học và thẩm mỹ khác:
“Cái bản nhiên tuyệt mỹ hiển nhiên chưa là hiện
thực; nó chỉ mới là cái hướng, cái khát vọng, nên đó
cũng sẽ là cái nửa thật, nửa hư. Ta hiểu vì sao Ðào
Hiếu đã dựng lên một hiện thực trực tiếp của tác
phẩm hư-hư-thực-thực.
Lọ Lem sống hồn nhiên như cỏ cây, như mây, như
gió, như sóng biển, muốn dữ dội thì dữ dội, muốn
hiền hoà thì hiền hoà, khi vui thì cười, khi buồn
thì khóc... Bằng cái thẩm mỹ tự nhiên ấy. Lọ Lem
“sống” trong đời thật.
Vua Mèo đi xa hơn, ông đã vượt qua những cản ngăn
để về với cái chất bản nhiên người. Vua Mèo không
biết đến lòng hận thù.
Vậy là, với Vua Mèo, cô đơn là một phương thức để
thấu thị cuộc đời, chứ không là bản chất của cái bản
nhiên... Hai con người bản nhiên ấy chưa được cuộc
đời hôm nay dung nạp hết, ta hiểu vì sao họ sẽ về
với nhau nơi hòn đảo xa hơn...”
Trở lại mục lục
18. Lời
thú tội của một sát thủ
Khi còn là sinh viên, tôi đã có dịp tiếp xúc với
những tài liệu về nền công nghiệp chế tạo vũ khí của
Mỹ, nhưng gần bốn mươi năm sau, khi xem cuốn phim
Fahrenheit 9.11 của Michael Moore tôi mới thực
sự nhìn thấy hiểm hoạ ghê gớm từ một nền công nghiệp
như vậy.
Nền công nghiệp ấy đã từ lâu quyết định chính sách
đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ. Đó là một chính sách
đạo tặc, ngạo mạn và man rợ. Đường lối đối ngoại của
chính phủ Hoa Kỳ mang nhãn hiệu của bọn linh cẩu,
bọn báo đốm, sư tử và chó sói.
Chính sách ấy bốc mùi tanh máu cả hành tinh, làm
ngầu bọt đỏ những dòng sông, bê bết óc tuỷ người
trên những bức tường đổ, vung vãi thi thể, tứ chi,
ruột gan phèo phổi trên đường phố đổ nát, thiêu cháy
trẻ thơ trong những làng mạc.
Chính sách ấy làm tanh tưởi những ngọn gió, biến
những đồng ruộng thành tro than, làm bốc cháy sa
mạc.
Đó là chưa kể những chiến lược lừa đảo kinh tế quy
mô toàn cầu được nguỵ trang dưới danh nghĩa rất cao
đẹp như: viện trợ, đầu tư, phát triển… Có lẽ chúng
ta đã quen với những cái tên “đáng kính” như: Cơ
quan Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID), Ngân hàng
Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)…
Trong cuốn Lời thú tội của một sát thủ kinh tế
(Confessions of an Economic Hit Man của John
Perkins, bản dịch tiếng Việt - Nhà xuất bản Văn hoá
Thông tin 2006) chúng ta đọc được ở ngay trong “Lời
tựa”:
Những sát thủ kinh tế là những chuyên gia được
trả lương hậu hĩnh để đi lừa các nước trên thế giới
lấy hàng nghìn tỉ đô la.
Họ đổ tiền từ Ngân hàng Thế giới, từ Cơ quan Phát
triển Quốc tế Hoa Kỳ, và từ các tổ chức “viện trợ”
khác… vào két sắt của các tập đoàn khổng lồ và vào
túi của những người đang nắm quyền kiểm soát các tài
nguyên thiên nhiên của hành tinh này.
Công cụ của họ là các báo cáo tài chính nguỵ tạo,
những cuộc bầu cử gian lận, các khoản hối lộ, tống
tiền, tình dục và giết người.
Họ cũng diễn cái trò cũ của chủ nghĩa đế quốc
song đã biến đổi theo những chiều hướng mới, đáng
ghê sợ hơn trong thời đại toàn cầu hóa.
Tôi biết những điều này vì tôi đã từng là một EHM
(Economic Hit Man – Sát Thủ Kinh tế.)
Thực tế này một lần nữa lại được John Perkins chứng
minh trong tác phẩm của mình bằng bi kịch của nước
Ecuador như sau:
Từ năm 1968 đất nước nhỏ bé này đã dần trở thành
nạn nhân điển hình của chế độ tập đoàn trị. Những
người cùng thời với tôi và những người đang theo
bước chúng tôi, thật sự đã đẩy nó đến bờ vực phá
sản. Chúng tôi cho đất nước này vay hàng tỉ đô la
để nó có thể thuê các công ty của chúng tôi dựng nên
những công trình phục vụ tầng lớp giàu nhất
đất nước này. Kết quả là trong vòng ba thập
niên, tỉ lệ nghèo đói chính thức tăng từ 50% lên
70%, thất nghiệp tăng từ 15% đến 70%, công nợ tăng
từ 240 triệu USD lên 16 tỉ USD và ngân sách dành cho
những người nghèo nhất giảm từ 20% xuống còn 6%.
Ngày nay Ecuador phải dành gần 50% tổng ngân sách
quốc gia để trả nợ. (trích Chương 34, trang
285-286)
Mỉa mai thay, cái “tầng lớp giàu nhất đất nước”
ấy chẳng những đã không bị coi là kẻ đồng loã với
ngoại bang mà còn được ghi công như những anh hùng
vì đã xây dựng nên những công trình to tát, những
khu đô thị mới, những khu công nghiệp…
Về các khu công nghiệp, John Perkins đã viết:
“Chúng đến… với một mục đích rõ ràng là bóc lột
những người dân khốn khổ, những người mà con cái họ
bị suy dinh dưỡng trầm trọng, thậm chí đang chết
đói, những người đang sống trong những khu nhà ổ
chuột và đã mất hết hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp
hơn.
Ngày nay, bọn chúng không cần phải vào rừng rậm
châu Phi để tìm nô lệ mà chỉ cần thuê cái đám dân
nghèo đói kia, về làm việc cho các nhà máy sản xuất
áo khoác, quần jean, giày thể thao, phụ tùng ô-tô,
linh kiện máy tính và hàng ngàn những thứ khác. Thậm
chí chúng chẳng cần làm chủ nhà máy, thay vào đó,
chúng thuê một doanh nhân bản địa để làm những công
việc bẩn thỉu cho chúng.” (Trích trang 253-254)
Những “công việc bẩn thỉu” ấy chính là sự vắt kiệt
sức lao động của công nhân với đồng lương rẻ mạt
trong các khu chế xuất hiện nay trên khắp thế giới,
trong đó có Việt Nam.
Ở trang 24 John Perkins lại viết:
Claudine và tôi ngồi trên ghế sofa cạnh cửa sổ
ngắm tuyết rơi trên phố Beacon. Cô ta nói: “Phần lớn
công việc của anh là khuyến khích lãnh đạo các nước
trên thế giới tham gia vào một mạng lưới vô cùng
rộng lớn nhằm phục vụ cho lợi ích thương mại của
nước Mỹ. Kết cục là các nhà lãnh đạo này sẽ bị sa
lầy vào một mớ nợ nần. Gánh nặng nợ này bảo đảm rằng
họ sẽ phải trung thành với nước Mỹ. Chúng ta có thể
bòn rút của họ bất cứ khi nào chúng ta muốn, để thoả
mãn những nhu cầu kinh tế, chính trị hoặc quân sự
của chúng ta.”
Nếu có nhà lãnh đạo nào không bị mua chuộc để đưa
đất nước mình sa lầy vào mạng lưới nợ nần của các
sát thủ kinh tế, như Tổng thống Roldós của Ecuador,
Tổng thống Torrijos của Panama thì lập tức họ bị CIA
ám sát. Hai vị Tổng thống này bị giết cách nhau chỉ
hơn 2 tháng. Máy bay trực thăng của Tổng thống
Roldós bị nổ tung ngày 24 tháng 5 năm 1981. Ngày 31
tháng 7 cùng năm ấy đến lượt máy bay của Tổng thống
Panama bị đặt bom. Không một ai sống sót.
Tác giả John Perkins thú nhận: Chúng tôi đã không
thể mua chuộc được Roldós và Torrijos, chính vì thế
mà một loại sát thủ khác - những tên giết người
chuyên nghiệp của CIA, những kẻ luôn đi sau chúng
tôi - đã vào cuộc.
Sau vụ thảm sát, John Perkins viết: “Trong mười
năm qua, tôi là con cháu của những tên buôn nô lệ đã
từng lũ lượt kéo vào rừng sâu châu Phi lùa đàn ông,
đàn bà ra những con tàu đang chờ sẵn. Chỉ khác là
theo một phương thức hiện đại hơn, tinh vi hơn – bởi
tôi chưa từng phải trông thấy xác chết, ngửi thấy
mùi thịt thối rữa hay nghe những tiếng kêu ai oán.
Nhưng những gì tôi đã làm thì độc ác chẳng kém. Và
vì cá nhân tôi không phải trực tiếp dính líu đến
những xác chết, mùi thịt người và những tiếng kêu bi
thương, nên suy cho cùng, tôi lại chính là kẻ tội đồ
xấu xa nhất.” (Trích trang 210)
Cái chết của hai vị Tổng thống kia đã làm lộ ra hai
vấn đề lớn:
Thứ nhất: thế lực của các tập đoàn
kinh tế, các tổ chức tài chánh quốc tế mạnh đến nỗi
chúng có thể giết bất cứ nhà lãnh đạo nào không vâng
lời chúng.
Thứ hai: chúng không ưa những chính
quyền trong sạch vì thực tế chúng là bọn ruồi nhặng,
chúng chỉ có thể sinh sôi nảy nở trong những môi
trường bẩn thỉu, tham nhũng, chúng chỉ có thể tung
hoành ngang dọc khi có sự đồng loã của các lãnh đạo
bản xứ chịu ngửa tay nhận tiền của chúng.
Ở Việt Nam, khi vụ PMU 18 đổ bể, người ta đọc thấy
trên các phương tiện truyền thông: nào là quốc hội
Nhật Bản nhóm họp để xem xét việc sử dụng nguồn vốn
ODA của Việt Nam, nào là Ngân hàng Thế giới sẽ điều
tra về vụ PMU 18… trên thực tế đó chỉ là những động
tác giả!
Chính bọn họ đang tiếp tay cho tham nhũng trên toàn
thế giới!
Trong bối cảnh “toàn cầu hóa” hiện nay, thân phận
của các nước nghèo chẳng khác nào một cô gái điếm:
vì nghèo, vì không có trình độ nên muốn tồn tại chỉ
còn cách bán đi cái “vốn tự có” của mình. Đó là dầu
thô, là cao su và những tài nguyên thiên nhiên khác.
Chua chát thay nhân dân chỉ được hưởng một phần nhỏ
lợi tức do “vốn tự có” mang lại. Phần lợi lớn đều
chảy váo túi những mụ tú bà là các tập đoàn kinh tế
Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nhật… và những tên ma cô dắt mối
là chính quyền bản xứ.
♦
Vậy mà, tôi đã nhiều lần đến nước Mỹ, đã nhìn thấy
nó xinh đẹp, lộng lẫy, giàu sang và nhân hậu!
Một con cá voi bị thương, người Mỹ bỏ ra cả triệu
đôla đem về chữa trị rồi trả nó về với biển cả. Một
con nai mồ côi được đem về nuôi cho lớn khôn rồi thả
về rừng.
Nhưng cũng chính người Mỹ đã ném liên tiếp hai quả
bom nguyên tử xuống Nhật Bản, giết ngay tức khắc hơn
200.000 người. Số thường dân bị bom đạn Mỹ giết chết
trong chiến tranh Việt Nam và Iraq cũng không kể
xiết.
Họ xây dựng nhiều thành phố mới đẹp như thiên đường
ở Boston, California, Seatle… nhưng họ cũng cày nát
Baghdad để chiếm những mỏ dầu, đốt cháy Kabul để làm
chủ các đường ống dẫn khí đốt và ném bom trải thảm
Việt Nam để tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc tại
Đông Nam Á.
Họ treo giải thưởng 50 triệu đôla cho cái đầu của
Bin Laden, tống vào ngục những phần tử Al Qaeda, tử
hình những kẻ khủng bố, treo cổ Sadam Hussein… nhưng
họ lại cộng tác làm ăn hàng trăm tỷ đôla với gia
đình Bin Laden. Và huấn luyện, cung cấp tiền bạc vũ
khí cho đám khủng bố của trùm Basayev ở Chechnya.
Vậy thì sự thật về nước Mỹ là gì?
Trở lại mục
lục
19. Đến Mỹ
một lần rồi chết
Hãy thử mở đầu bằng Las Vegas.
Đó là một thành phố trên sa mạc Nevada khô cằn. Băng
qua đó như băng qua một vùng đất của sao Hoả. Không
có núi xanh vì sa mạc chết. Chỉ có những ngọn núi
màu tím, màu vàng, màu cà phê hay màu đen ánh bạc
của quặng thép.
Những ngọn núi nổi chập chờn trong mưa. Mưa sa mạc
đến rồi đi, rồi lại đến. Đột ngột, gào thét và dịu
dàng. Những cơn mưa làm cho sa mạc bớt nóng. Nhiệt
độ bên ngoài đã tụt từ 120 xuống đến 75 độ F (khoảng
20 độ C). Sa mạc trải dài hai bên con đường nhựa đỏ,
ngun ngút một màu vàng xám lỗ chỗ những bụi gai sắc
nhọn, khô cháy.
Nếu không có sa mạc này thì Las Vegas không là gì
cả. Những sòng bài mênh mông kia thực chất chỉ là
thế giới rỗng tuếch, nhỏ hẹp, dành cho đám người tầm
thường.
DisneyLand cũng vậy, đó chỉ là khu giải trí dành cho
trẻ con.
Cái đáng thán phục ở Mỹ chính là những sân bay lớn
như Los Angeles, Dallas, Kennedy… chúng như những
vương quốc rộng lớn với nhịp sống vô tận.
Hệ thống đường bộ của họ làm chúng ta bàng hoàng sợ
hãi. Xa lộ ở tiểu bang California thênh thang, năm
tầng bảy lớp, đường xẻ núi mà đi, lên đồi xuống dốc,
băng qua sa mạc, vượt thung lũng. Đường trùng điệp,
không biết đâu mà cùng, freeway thẳng tắp, ngút
ngàn, bất tận…
Bắc nước Mỹ xanh và lạnh. Trung nước Mỹ vàng lúa mì
mùa hạ và trắng xóa tuyết mùa Đông. Nam nước Mỹ,
nhất là Nam Cali – nơi có Sài Gòn Nhỏ – thì nóng,
cằn, sỏi đá, sa mạc… nhưng Bắc Cali – nơi có Thung
lũng Hoa Vàng, có cây cầu treo nổi tiếng Golden Gate
thì mát dịu, cây cối xanh tốt hơn.
Phố Tàu ở San Francisco đồ sộ, sạch sẽ, tự tin và
kiêu hãnh bên cạnh một San Francisco của người Mỹ
chính cống. Trong khi đó phố Tàu ở thành phố New
York thì cũ kỹ, lộn xộn và ngập rác vào lúc nửa đêm.
Ở New York City cây cối không tranh nổi với bê tông
cốt sắt. Từ hơn 200 năm nay, cao ốc uy hiếp cây cỏ,
chen lấn thô bạo những cánh rừng, những công viên,
chúng huênh hoang trên những đại lộ, tranh ánh sáng
với từng tán lá dưới thấp, đẩy cây cối vào các khe
hở của chúng, vào kẽ nách của chúng.
Nhìn từ nóc toà nhà nổi tiếng Empire State Buiding
ta mới kinh hoàng bởi khối lượng nhà chọc trời thiên
hình vạn trạng của New York. Nó hoàn toàn xứng đáng
là thành phố lớn nhất thế giới.
Nhưng New York nhìn từ những ngóc ngách của phố
phường thì quả là một sự quá tải của mọi thứ. Bên
cạnh những toà nhà cao ngất, lộng lẫy, hiện đại là
những building nám khói, lở loét, cửa kính vỡ nát,
hoang tàn. Bên cạnh những đại lộ thẳng tắp sạch sẽ
với những cầu vượt hiện đại là những chiếc cầu sắt
vô danh cũ nát đen nhẻm như đống sắt phế thải. Bên
cạnh những siêu thị rực rỡ, những nhà hàng khách sạn
sáng choang là những dãy phố đầy rác bẩn của China
Town, của khu Harlem.
Tôi nghĩ là người Mỹ dư tiền để xây dựng một thành
phố New York hoàn chỉnh hơn, toàn bích hơn, nhưng
dường như chính quyền đã bất lực trước một thành phố
quá rộng lớn, quá bề bộn, quá đa dạng. Họ kiểm soát
không nổi, họ bỏ mặc những nơi quá sức quản lý của
họ. Một người bạn từng sống lâu năm tại New York bảo
tôi: “Cảnh sát rất ngại đến khu vực của các nhà hàng
Ý. Họ sợ đối đầu với đám Mafia ở đó.” Còn ở Phố Tàu
thì sao? Dường như họ chỉ có mặt trên đường phố để
điều khiển giao thông. Phần lớn cảnh sát giao thông
ở China Town đều là phụ nữ da đen.
Tất nhiên thành phố New York vẫn có những công viên
rất đẹp và rất nhiều bóng cây, nhưng nếu ra khỏi
thành phố, từ những freeway nhìn ngoái lại, ta chợt
kinh hoàng nhận ra New York không phải là một thành
phố của hành tinh này nữa. Nó như những dãy núi đá
nối tiếp nhau chập chùng, trơ trụi, không một bóng
người, không cây cối, không tiếng động. Đó chỉ là
một dãy đá tảng khổng lồ, lô nhô, tìm thấy trên một
hành tinh xa lạ, lạnh giá và hoàn toàn chết lặng
dưới ánh nắng chói chang của mặt trời. Đó là một
thành phố đã chết, đã hoang phế từ một ngàn năm rồi.
Không ai ngờ là nó đang sống. Sống dữ dội. Sống hối
hả. Sống rực rỡ. Sống hết những gì nhân loại có thể
sống. New York có đủ những gì nhân loại có thể có.
Và có cả những cái nhân loại chưa từng có.
Đó là thành phố New York nhìn từ mắt của một nhà văn
da vàng lạc hậu như tôi, hoàn toàn phiến diện, hoàn
toàn thiếu sót. Bởi vì trong một buổi sáng sớm từ
tiểu bang Connecticut đến New York city, anh bạn tôi
đã qua lố một cái exit trên freeway và lập tức chúng
tôi bị lạc vào khu ngoại ô New York. Đó là một thế
giới hoàn toàn khác. Một vùng như thể cây quỳnh
cành dao. Chúng tôi lạc trong rừng. Nhưng đó là
khu dân cư, với những ngôi biệt thự xinh xắn nằm rải
rác trên những đồi cỏ xanh bóng cây, rực rỡ hoa,
ngân nga sự tĩnh lặng sang cả của thiên đường. Đó là
khu vực của người da trắng. Một New York khác, ẩn
dật, trầm mặc và riêng tư. Vậy thì sẽ còn bao nhiêu
New York khác nữa? Bao nhiêu thế giới khác nữa?
♦
Tuyết có cõi riêng của nó. Đó là một
thế giới im lặng. Thế giới của niệm. Của thiền định.
Tuyết hiện hữu phi thời gian. Một thế giới không có
đường chân trời. Tuyết vô ngôn và vĩnh cửu. Tuyết là
một nhan sắc bát ngát, óng ả. Lộng lẫy trong u tịch.
Và bừng sáng trong giá lạnh.
Lúc tôi gặp tuyết, thời gian đã ngừng lại. Mặt trời
không có mặt ở đó. Mặt trời đã chìm khuất vào thế
giới bên kia. Và tuyết toả sáng. Một màu trắng đơn
độc.
Đó là một buổi trưa mùa Đông năm 2004 tại vùng núi
Denver bang Colorado. Tôi từ miền Trung nước Mỹ đến
đây.
Hành trình kéo dài 10 tiếng đồng hồ. Và tuyết đang
chờ tôi ở đó với những con đường đèo đóng băng trơn
trợt đến độ bánh xe phải niền thêm xích sắt cho khỏi
tuột dốc. Những dòng nước đang chảy từ trên núi đá
xuống cũng bất chợt rùng mình hóa thân thành những
bức tường băng treo lơ lửng trên vách núi.
Tất cả các thác nước đều ngừng lại, hóa đá. Khi
không có chuyển động, chúng ta không có ý niệm về
thời gian nữa. Giống hệt trong cổ tích. Tất cả đều
đóng băng, trong suốt, trắng mênh mông và rực rỡ
trong một thứ ánh sáng tinh khiết của thiên đường.
Có lẽ đây là cái thế giới mà Lý Bạch gọi là “biệt
hữu thiên địa phi nhân gian”. Không nhìn thấy
đất, không nhìn thấy trời. Mọi vật đang ở ngoài trần
thế, ở ngoài thời gian. Núi cũng chìm khuất trong
tuyết, những ngọn thông cũng chìm khuất trong tuyết.
Chỉ lấm chấm những sắc xanh, vàng, đỏ rực của quần
áo những người trượt tuyết đang phóng từ trên đỉnh
núi xuống, lả lướt, chấp chới như những khóm hoa nhỏ
di động trong một nền trắng bát ngát.
Tuyết đưa mặt đất vào huyền thoại. Đàn
dê núi chập chờn trên vách đá. Bông tuyết mù mịt.
Ngọn gió trắng hư ảo, phiêu hốt qua thung lũng, Đàn
dê núi đến bên chân người. Có thể thọc bàn tay lạnh
cóng vào lông ngực chúng để sưởi. Chúng quỳ xuống
thành bầy và trẻ thơ ngủ giữa những dãy vú căng sữa
nóng hổi. Những con thỏ rừng cũng không sợ người.
Chúng đào hang dưới gốc thông để ngủ đông. Có thể
vuốt ve những mảng lông mịn lẫn trong cỏ khô. Trời
liền với đất. Người liền với vật. Hơi ấm liền với
giá rét. Mọi vật đều vô ngôn, lặng thinh. Sự sống
giấu bên dưới sự tịch mịch, sự nồng nàn giấu bên
dưới băng giá.
Tuyết ở Denver gợi nhớ cái thế giới thanh bình mà
Trang Tử đã vẽ ra trong chương Mã Đề của
Nam Hoa kinh:
“Trong núi không có đường mòn, trên sông không có
thuyền, không cần bắc cầu. Vạn vật sống cùng nhau,
không xâm phạm nhau. Hết thảy đều vô dục như nhau.
Cầm thú thành đàn, thảo mộc sum suê. Cho nên có thể
cột một sợi dây nhỏ dắt cầm thú đi chơi, có thể leo
lên cây nhìn vào tận ổ con quạ, con chim khách. Vật
không sợ người thì làm sao người có thể sợ người
được? Người và người sẽ sống bên nhau, cùng vui như
hoa bên cạnh hoa, lá bên cạnh lá, cỏ bên cạnh cỏ.“
Ô hô! Tuyết đã làm ta quên rằng ta đang sống trên
trần gian. Đang sống trong một thế giới bốc mùi.
Tuyết hiện thực hóa giấc mơ của tôi, giấc mơ về một
thế giới tinh khiết, không có tội ác, không có chiến
tranh, không có đàn áp, chà đạp và bóc lột. Tuyết là
một hiện tại vĩnh cửu. Thế giới của tuyết chỉ có sự
trong sạch và ánh sáng.
Thế giới của tuyết không có ruồi.
Tôi hạnh phúc vô biên thấy mình đang sống trong một
thế giới hoàn hảo và trong sạch như thế dù tôi biết
rằng có thể nó chỉ tồn tại vài tháng, có khi vài
tuần hay vài ngày. Hoặc chỉ sau một cơn mưa là cả
cái thiên đường ấy tan rã, để lộ ra phố xá, con
người, xe cộ và rác rưởi.
Để lộ ra bầy ruồi truyền kiếp.
Vì thế tôi ôm lấy tuyết, vùi trong tuyết, chạy điên
dại trong tuyết.
Một tuần sau, tôi lại đi tìm tuyết nơi những đỉnh
núi trắng xóa sừng sững phía trên Hẻm Núi Lớn của
bang Arizona huyền thoại. Tuyết phủ hai bên vực sâu
của Grand Canyon thăm thẳm, hun hút gió.
Tuyết là niềm an ủi, là chỗ để con người chạy trốn
cái thế giới bốc mùi, chạy trốn chiến tranh, xác
chết và ruồi nhặng.
Tuyết là thánh đường cuối cùng của nhân loại.
Khi tất cả những thánh đường trên mặt đất tràn ngập
sự đối trá, khi tất cả những thánh đường trên mặt
đất tràn ngập ruồi, thì tuyết sẽ ngân lên hồi chuông
cứu rỗi, sẽ lan toả trên mặt đất giá lạnh và sẽ thắp
ngọn nến nhỏ của đức tin như ngôi sao duy nhất còn
sót lại trên bầu trời đen.
Những con dê núi, những con thỏ sẽ thắp lửa và mang
cỏ khô đến cái hang đá nhỏ của Dã Nhân. Và cậu bé da
đen người Congo sẽ ngự trong máng cỏ đó như bằng
chứng về tội ác của nhân loại mà cậu ta sẽ phải cứu
chuộc.
Trở lại mục lục
20. Chia
tay
Có những cuộc chia tay không buồn không vui. Những
cuộc chia tay mệt mỏi.
Đó là cuộc chia tay với báo Tuổi Trẻ, với nữ
nghệ sĩ Hột Xoàn và với những “đồng chí” trong Phong
trào Sinh viên thời chống Mỹ. Chia tay không vì bất
đồng, không vì ghét bỏ thù hận, không vì tiền tài
địa vị.
Chia tay vì quá hiểu nhau.
Tôi biết nói sao về một tờ báo thuộc vào loại lớn
nhất nhì trong nước, khi mà có những nhà lãnh đạo
khen là trung thực, có những nhà văn cây đa cây đề
cỡ như NN ca ngợi là “đứng về phía nhân dân”? Nhà
văn ấy không hề biết rằng trước năm 1975 ở Sài Gòn
có 36 tờ nhật báo nhưng chỉ có duy nhất một tờ báo
của nhà nước. Đó là tờ Tiền Tuyến. Tờ báo đó
không ai đọc và chỉ phát không cho lính.
Ngày nay chúng ta chỉ toàn báo nhà nước, sao nhà văn
lại nói lời ngây ngô đến vậy?
Tôi làm việc ở báo Tuổi Trẻ dưới triều của
nhiều ông tổng biên tập. Có người là bạn tôi, rất
thân thiết như anh 7C, anh 3K anh 6Q. Đó là những
anh lãnh đạo biết khiêm nhường vì biết sức của mình.
Vũ Lành không biết mình là ai nên phong cách của anh
có khác. Trong những buổi họp anh hay bắt chước
Lenin, chắp tay sau đít đi đi lại lại, thỉnh thoảng
lại đưa ngón tay trỏ ra chỉ vào khoảng không, điệu
bộ cũng không khác Lenin là mấy.
Có lần nhìn tôi dắt chiếc xe đạp từ ngoài cổng vào
cơ quan, anh ta hỏi:
"Ông dắt xe trông dễ dàng quá. Sao tôi dắt thấy
lướng vướng. Không thăng bằng."
Tôi đưa xe cho anh ta dắt thử. Rồi tôi nhận xét:
"Ông nên đứng bên trái của chiếc xe thì ông sẽ dắt
đi dễ dàng."
Anh ta bèn đổi bên và ngạc nhiên thấy mình đã có thể
dắt xe đi một cách thoải mái. Rồi cứ thế, anh ta dắt
chiếc xe đạp của tôi vào thẳng trong nhà xe.
Tôi đứng im, nhìn ngắm niềm vui hồn nhiên của anh ta
và tự nhủ:
"Nếu muốn làm một nhà lãnh đạo như Lenin thì ít ra
bạn cũng phải biết cách dắt một chiếc xe đạp chứ."
♦
Hồi đó phi công Phạm Tuân, được Liên Xô chọn làm phi
hành gia cùng với Viktor Gorbatko được phóng vào
không gian trên tàu Soyuz 37 vào ngày 23 tháng 7 năm
1980. Tôi có mặt trong đoàn nhà báo ra phi trường
đón anh khi anh từ Liên Xô trở về sau chuyến bay.
Nhà báo lúc đó thì nhiều nhưng chắc chỉ có mình tôi
biết chi tiết này: Lúc Phạm Tuân và Bùi Thanh Liêm
(người cùng được đào tạo với Phạm Tuân tại Liên Xô,
sau này đã tử nạn máy bay) đi diễu qua đám đông thì
có một nhân viên mật vụ nào đó đến giữ tay Bùi Thanh
Liêm lại và nói: “Xin đồng chí đừng đi cùng với đồng
chí Phạm Tuân.” Bùi Thanh Liêm ngạc nhiên hỏi: “Sao
vậy? Lâu nay chúng tôi vẫn đi cùng nhau mà. Kể cả
bên Liên Xô.” Nhưng rồi Liêm vẫn phải tách khỏi Phạm
Tuân vì anh hiểu ra rằng mình không phải là “anh
hùng”.
Vụ can thiệp thô bạo đó làm tôi sốc. Tôi không muốn
viết bài nữa. Tuy nhiên tôi cũng đưa một cái tin
ngắn về cuộc họp báo sau đó. Trong bài viết tôi gọi
Phạm Tuân là “người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ
trụ”.
Vũ Lành giãy nảy lên:
"Sao lại là người Việt Nam đầu tiên? Phải
viết là người châu Á đầu tiên chứ!"
Tôi nói:
"Người châu Á đầu tiên thì cũng đúng. Nhưng tôi nghĩ
mình nên khiêm tốn một chút. Vì phi thuyền là do
người ta chế ra. Điều hành chuyến bay là do các nhà
khoa học của người ta, trạm không gian Salyut 6 cũng
do người ta lắp đặt trên quỹ đạo. Nói chung mình chỉ
là người ‘quá giang’ lên trời. Thế thì mình cũng
không nên khoa trương quá đáng. Trung Quốc, Ấn Độ,
nhất là Nhật Bản… họ cười cho!"
Vài tuần sau Ba Hưng, một sếp hạng ba của toà soạn
bảo tôi:
"Trên Quân khu 7 có bốn gương điển hình tiên tiến,
ông đi viết đi. Hay đấy!"
Tôi hỏi:
"Sao hay?"
"Bốn anh bộ đội này đến ngày phục viên nhưng làm đơn
tình nguyện ở lại phục vụ trong quân ngũ."
Tôi đi gặp bốn anh bộ đội trẻ. Họ nói:
"Anh ơi! Đừng viết."
"Tại sao?"
"Tụi em không muốn giải ngũ vì về nhà không biết làm
gì. Sợ thất nghiệp, trở thành gánh nặng cho gia
đình. Có vậy thôi. Anh viết bài, bạn em nó chửi em
chết."
Tôi đem chuyện đó thuật lại, và từ chối viết bài. Ba
Hưng nói:
"Tôi đề nghị đồng chí làm nhiệm vụ."
Bình thường tôi và anh ta vẫn xưng hô mày tao với
nhau nhưng khi trở mặt thì người ta thường gọi nhau
là “đồng chí”. Tôi mệt mỏi. Và tôi ngủ.
Ba ngày sau cũng đếch có chữ nào!
Ba Hưng điên lên:
"Tôi ra lệnh…"
Anh ta chưa nói hết câu thì ba cú đấm liên tiếp từ
bàn tay rất yểu điệu của tôi, bàn tay xưa nay chỉ
biết chơi đàn… đã bay thẳng vô mặt anh ta. Ba Hưng
thét lên:
"Các đồng chí ơi! Nó đánh lãnh đạo! Nó đánh lãnh
đạo!"
Tôi cũng không ngờ lúc đó tôi lại dữ đến như vậy.
Nhiều người trong toà soạn bu lại coi như coi đá gà.
Tôi bỏ ra ngoài.
Đột nhiên Vũ Lành ở đâu chạy về. Anh ta la lớn:
"Tại sao các đồng chí lại đứng khoanh tay nhìn? Tại
sao lại cười? Tại sao không có ai kêu công an đến
còng tay anh ta lại?"
Vũ Lành không thể ngờ rằng ngay hôm sau, trong buổi
họp kiểm điểm tôi, chị Trần Thị Xuyến đã phát biểu:
"Tôi nghĩ anh Đào Hiếu đánh anh Ba Hưng là phải. Bởi
vì nếu không đánh tại cơ quan thì ra ngoài đời anh
Ba cũng bị người ta đánh."
Ngày nay, sau gần 30 mươi năm, báo Tuổi Trẻ
đã lớn mạnh hơn nhiều, đội ngũ phóng viên trẻ hơn,
năng động hơn nhưng báo vẫn là báo của Đảng. Họ chỉ
được viết theo chỉ đạo của cấp trên. Hàng ngày họ
vẫn chống tiêu cực, chống tham nhũng… nhưng cũng là
“chống” theo ý của Đảng. Độc giả bình thường vẫn
nghĩ là họ rất “dũng cảm”, “dám nói sự thật”… và
những nhà văn cây đa cây đề cỡ như NN thì vẫn tiếp
tục khen tờ báo là “đứng về phía quần chúng”… nhưng
những người có chút suy nghĩ độc lập thì ai cũng
biết rằng chuyện chống tham nhũng chống tiêu cực
trên báo Đảng chỉ là chuyện màu mè, chỉ là những
tiểu xảo “che mắt thế gian” vì thực tế chuyện tham
nhũng là chuyện của cả một guồng máy.
Khi có những vụ tham nhũng lớn cỡ như PMU18 hoặc Đề
án 112 thì các quan lớn thường chỉ thị một cách
nghiêm khắc là: “Hãy xử đúng người, đúng tội,
không được bỏ sót…” nhưng thực tế họ cùng một
“băng” với nhau, bao che cho nhau, xử án qua quýt,
lòng vòng… rốt cuộc là chìm xuồng hoặc năm bảy năm
tù để rồi vài năm sau, nhân Lễ Quốc khánh lại cho về
vì “cải tạo tốt”. Đó là những màn trình diễn quen
thuộc, rẻ tiền.
Vì thế những bài báo mà người ta vẫn khen là “dũng
cảm” là “đứng về phía nhân dân” thực chất chỉ là
những tiểu phẩm hài trơ tráo.
Tội nghiệp biết bao cho những nhà báo trẻ đầy nhiệt
huyết vừa rời ghế trường đại học đã phải đi làm bồi
bút.
Và họ sẽ làm bồi bút như vậy suốt đời.
*
Cuộc chia tay với nữ nghệ sĩ Hột Xoàn, lặng lẽ hơn,
ít kịch tính hơn nhưng lại làm tôi thất vọng.
Ngày nọ chị đến tìm tôi, nhờ tôi viết hồi ký.
Về sau này, khi nghe tôi kể chuyện viết thuê cho Hột
Xoàn, Sơn Nam nói anh cũng từng viết thuê như vậy.
Rồi nhấp nháy con mắt lem nhem, anh nói: Chơi
không được. Có lẽ chỉ mình tôi hiểu được câu nói
đó của Sơn Nam.
Lúc đó một anh công chức quèn như tôi lương phạn ít
ỏi, được một bà nhà giàu thuê viết hồi ký thì mừng
lắm. Mỗi tuần tôi đến nhà chị hai lần. Chị thường
làm việc với tôi ở cái phòng khách rộng rãi sang
trọng với bộ ghế bành đồ sộ và cây đàn piano lộng
lẫy.
Chị kể và tôi ghi chép. Tôi hỏi và chị trả lời. Đôi
khi cao hứng chị mời tôi lên phòng riêng vừa trò
chuyện vừa ăn bún bò.
Chúng tôi làm việc với nhau suốt mấy tháng trời,
không quản mưa nắng, sớm chiều. Chị đi diễn còn tôi
đi làm nên thì giờ cả hai cùng eo hẹp. Rảnh thì
phone đến. Bất kể giờ giấc.
Có lần tôi đến, ngồi đợi ở phòng khách khá lâu, uống
hết ly đá chanh mà vẫn chưa thấy Hột Xoàn xuất hiện.
Buồn tình tôi ngồi lại cây piano. Tôi chơi bản
Lac De Côme. Đó là một tác phẩm nổi tiếng của
Galas soạn trên cung LA giáng trưởng, với giai điệu
thánh thót, diễn tả cảnh thơ mộng khi bơi thuyền
trên hồ. Lập tức Hột Xoàn xuất hiện ngay đầu cầu
thang. Nhưng chị đứng im và lắng nghe. Đến khi hết
bản nhạc thì chị bước chậm rãi xuống, y hệt như
trong một vở diễn.
"Thật bất ngờ! Ông mua cây đàn tôi bán cho. Ở nhà có
ai đàn đâu."
"Tôi thấy trong các vở kịch chị vẫn chơi piano mà."
"Chỉ gõ đại khái mấy nốt. Ông mua tôi bán cho."
"Tiền đâu mà mua. Con nhà nghèo."
"Nghèo sao biết chơi piano?"
"Khi mới tiếp quản Sài Gòn tôi sống trong các ngôi
biệt thự sang trọng. Nhà nào cũng có piano. Tôi cũng
chỉ học lóm được mấy bài.”
Rồi chị lại kể. Tôi lại ghi chép.
Sau đó tôi phải viết trong nhiều tháng trời mới xong
cuốn hồi ký. Tổng cộng thời gian phỏng vấn và thời
gian chấp bút, sửa chữa, phải hơn một năm trời.
Cuối cùng chị cầm một xấp bạc cũ rích đưa cho tôi.
Tôi không nhớ cụ thể số tiền là bao nhiêu vì thời đó
đổi tiền liên tục, nhưng cảm giác khi cầm số tiền
thù lao là đau xót. Vì nó chỉ đáng chừng một tháng
lương công chức quèn. Lại là mớ bạc cũ, chắc hẳn là
tiền lẻ còn thừa sau những đêm diễn.
Tôi nói:
"Tôi làm việc với chị không có hợp đồng. Bản thảo
này là do tôi phỏng vấn chị để viết. Nó giống như
một bài báo. Vì thế bản quyền thuộc về tôi mặc dù
chị đang giữ bản thảo."
♦
Mười mấy năm sau, một anh bạn của tôi là Lê Non, chủ
biên một loạt sách chuyên đề, báo với tôi là ông Vô
Hạnh có xách cái bản thảo Hồi ký Hột Xoàn đến
toà soạn nhờ đăng và nói là hồi ký đó do ông viết.
Chị Hột Xoàn có thể không cho ông Vô Hạnh biết là
Đào Hiếu đã viết hồi ký đó, nhưng có điều chắc chắn
là ông Vô Hạnh biết mình không phải là tác giả.
Làm sao mà một nhà văn có tiếng như ông lại đi làm
cái việc đáng hổ thẹn như vậy?
♦
Cuộc chia tay thứ ba là cuộc chia tay với những con
ruồi.
Dã Nhân hỏi:
"Ngươi không phải là ruồi, sao ngươi có thể chia tay
với ruồi?"
Đáp:
"Trước đây chúng không phải là ruồi, chúng là bạn
tôi. Về sau, vì ăn tạp, chúng bị đột biến gen và hóa
thành ruồi."
Thực ra tiền thân của ruồi là một loại sinh vật màu
trắng, nhỏ như cọng tăm, không có lông lá, không có
tay chân. Dân gian gọi nó là con giòi. Vì giòi không
phải làm việc nên không cần tay chân. Chúng chỉ biết
ăn nên chỉ cần một cái miệng là đủ. Chúng bò trườn,
chúng câm lặng vì “im lặng là vàng”. Chúng lúc nhúc
trong đống vàng ấy.
Đầu tiên là một con ruồi cái. Cái mặt
nó bự, mắt là một thứ lăng kính nhiều mặt. Tay chân
nó đầy lông, bụng nó phình ra như cái trống. Hồi còn
là sinh viên tướng tá nó đã ngầu như vậy. Bộ ngực đồ
sộ như hai trái bí đao. Khi ở tù nó được tụi cai
ngục đặt cho cái hỗn danh là “Con ma vú dài khám Chí
Hoà”.
Tôi không ở tù chung với nó nên không biết trong tù
nó có “ngon lành” không (muốn biết cứ giở những tờ
khẩu cung còn lưu trong Tổng Nha thì rõ!) nhưng
ngoài đời nó thường ăn nói đốp chát, đanh đá. Chồng
của Ma Vú Dài thì tôi biết vì tôi ở tù chung với anh
ta. Anh ta thuộc loại “ngon lành”. Nhưng đó là
chuyện trong tù, còn chuyện “kinh tế thị trường” thì
lại khác. Chẳng biết hai vợ chồng đớp hít vơ vét cỡ
nào mà phải bỏ nhiệm sở trốn. Chạy đi cầu cứu hết
ông lãnh đạo nọ đến ông kia. Một bữa, Ma Vú Dài tình
cờ gặp tôi. Nó nói:
"Mình có cái đồn điền cà phê mấy chục mẫu. Ông mua
mình bán cho."
Tôi chỉ ngón tay vào giữa hai đùi của mình và nói:
"Làm nhà văn, chỉ có mỗi cây bút bi này, tiền đâu mà
mua?"
Không biết sau đó nó bán đồn điền cho ai. Nhưng đồn
điền cà phê có là cái quái gì với nó. Nó làm sếp tàu
biển. Mỗi lần tàu há mồm là nuốt cả xe hơi, biệt
thự. Dù nó có bỏ nhiệm sở mà trốn thì cũng đã gởi cả
núi tiền ở các ngân hàng Thuỵ Sĩ rồi!
Thứ hai là một con ruồi đực. Nó cũng
từng vô rừng “kháng chiến” đâu bốn năm năm gì đó.
Thường mang một cây M16 rỉ sét vì nó không biết tháo
ráp để chùi súng. Và dĩ nhiên là chưa hề bắn viên
đạn nào.
Năm 1974 tôi gặp nó trong chiến khu Long Khánh. Nó
nói:
"Ông sắp về thành phải không? Cho tôi gởi cái thư về
nhà."
Nhà của nó ở tận ngoài Đà Nẵng, cách Sài Gòn một
ngàn cây số. Vì bạn, tôi đi Đà Nẵng (thư mật, không
thể gởi qua bưu điện). Tôi không quen đường sá ở đó
nên nhờ Hổ chở xe máy. Qua đường ray xe lửa, xe của
Hổ bị sụp lỗ, đẩy nguyên bàn chân phải của tôi vô
bánh xe. Máu túa ra đầm đìa. Đưa được một cái thư,
lãnh một cái sẹo. Nhưng vì đồng chí mình, một cái
sẹo nào có sá gì!
Chỉ tiếc là máu đã đổ cho một thằng ăn cắp.
Sau giải phóng nó làm phó giám đốc một công ty xuất
nhập khẩu Quận Một TPHCM. Chuyện nó đớp hít thế nào
bố tôi cũng không biết. Chỉ biết mấy năm sau nó bị
còng tay, tống vô tù vì tội tham nhũng. Tham nhũng
bao nhiêu tiền, bố tôi cũng không biết chỉ biết rằng
mấy tháng sau, nhân dịp Quốc khánh nó thuộc diện
“cải tạo tốt” nên cho về.
Nó ra Bắc chơi, ngao du sơn thuỷ. Thấy cái nhà sàn
đẹp, bằng gỗ quý, tận đâu trên Lạng Sơn, Cao Bằng gì
đó nó mua nguyên cái. Thuê người tháo ra từng mảnh
nhỏ, đóng gói cẩn thận, lại thuê nguyên một toa tàu
chở về Sài Gòn không thiếu một cái chốt.
Nó mua một miếng đất rộng, dựng ngôi nhà sàn ấy lên
như món đồ cổ. Nhưng cái nhà sàn đó cũng chỉ là món
đồ chơi vậy thôi. Chỉ là cái móng chân của nó. Tài
sản mà nó vơ vét khi còn làm quan nó giấu ở đâu? Tẩu
tán cho ai? Rửa tiền bằng cách nào? Không ai biết
được. Chỉ biết…
Thứ ba cũng là một con ruồi đực. Con
ruồi này nó thơm lắm vì nó “ăn” toàn nước hoa của
hãng Thanh Hương do cái thằng chó chết có tên là
Nguyễn Văn Mười Hai làm chủ. Thằng Mười Hai này
“rặn” ra một hãng nước hoa, quảng cáo rùm beng là
làm ăn phát đạt ghê gớm. Nó cấu kết với thằng bạn
tôi lúc đó đang làm Giám đốc Sở Tư pháp. Nó huy động
vốn. Trả lãi mười phần trăm, rồi mười bốn phần trăm
một tháng. Thiên hạ rủ nhau đem tiền gởi cho nó để
lấy lời. Nó thuê hàng trăm nhân viên để đếm tiền và
bỏ tiền vào tủ mỗi ngày. Nó lấy tiền của người này
trả lãi cho người kia, tiền của người sau trả lãi
cho người trước.
Giám đốc Sở Tư pháp đã bao che cho nó như thế nào
chẳng ai hay, ăn chia với thằng Mười Hai như thế nào
chẳng ai biết, chỉ biết ngày nọ nó bị tống vào tù.
Nhưng đó cũng chỉ là cái trò che mắt thế gian mà
thôi. Lại ngày Quốc khánh. Lại cải tạo tốt. Lại ra
tù. Lại mua nhà. Nhưng thằng này không mua nhà sàn
mà mua biệt thự. Hiện nay nó có ba cái biệt thự ở Đà
Lạt.
Chúng nó cấu kết với nhau để cướp tiền của nhân dân
lao động (trong đó có bà xã tôi, mất tiêu 5 triệu
đồng dành dụm trong bao nhiêu năm trời!) nhưng cho
đến giờ chúng nó vẫn phè phỡn nhờ số tiền cướp được
ấy!
Con ruồi thứ tư là một thằng chủ tịch
huyện, nó cũng gốc sinh viên, từng ở chiến khu.
Thằng này thì biết tháo ráp, chùi súng. Và hình như
cũng đã từng bắn một viên đạn do cướp cò. Thời gian
làm chủ tịch huyện nó cũng ăn tạp nhiều quá, phải
ngồi tù.
Con ruồi thứ năm là một tổng giám đốc,
bỏ trốn ra nước ngoài ngày…
Con ruồi thứ một ngàn là phó chủ tịch
quận phụ trách nhà đất, bỏ trốn ngày…
Nhưng những thằng phải đi trốn, những thằng phải ở
tù cũng chỉ là những thằng ăn cắp vặt (có nghĩa là
vài chục tỉ, vài trăm tỉ). Chính những thằng không
đi trốn, không đi tù mà đi xe hơi, đi máy bay riêng
mới là những “đại ca” thứ dữ. Tiền chúng nó cướp
được không phải là chục tỉ, trăm tỉ mà là ngàn tỉ,
chục ngàn tỉ… có như thế chúng nó mới bỏ ra vài
triệu đô la để cá độ bóng đá, có như thế chúng nó
mới gởi con sang Mỹ ăn chơi đàng điếm.
Năm 2004, nhân một chuyến tham quan Beverly Hill,
khu nhà ở sang trọng của các ngôi sao điện ảnh
Hollywood, tôi được người hướng dẫn du lịch chỉ cho
xem một ngôi biệt thự đồ sộ gần đó và nói rằng đó là
nhà của một sinh viên Việt Nam, con của một ông chủ
tịch… xã!
Và đâu chỉ thằng chủ tịch xã đó biến thành ruồi. Bạn
bè tôi, có thằng nào làm quan mà không trở thành tư
sản đỏ, không biến thành ruồi?
Nghĩ thương cho Dã Nhân, chỉ đủ tiền uống xị đế, vậy
mà cũng triết lý, cũng dạy tôi nhiều thứ:
“Sự áp bức bất công đã tràn lan như cát trên sa
mạc, như rừng trùng điệp, như sóng trên biển cả. Ai
thay đổi được, ai chống lại được? Áp bức và bất công
đã được toàn cầu hóa. Ngươi là cái gì mà đòi thay
đổi. Nếu thay đổi được thì đã không có Bin Laden
không có chủ nghĩa khủng bố.”
Cho nên nhân loại đang sống trong tuyệt vọng.
Có người biết điều đó, nhưng cũng có người không
biết điều đó. Họ đã quen với áp bức, bất công. Họ đã
quen với tham nhũng. Họ coi chuyện giai cấp cầm
quyền ăn chặn tiền của họ là chuyện bình thường.
LOÀI NGƯỜI XƯA NAY ĐÃ QUEN SỐNG CHUNG VỚI TRỘM CƯỚP
cũng giống như dân đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đã
quen sống chung với lũ.
Tới kỳ, nước lại dâng lên, sập nhà, mất mùa, chết
người, chết gia súc… nhưng bỏ đi đâu bây giờ? Biết
làm gì bây giờ? Vì đó là THIÊN TAI, không thể sửa
đổi được quy luật của trời đất. Đành phải sống chung
với lũ. Đành phải sống chung với trộm cướp…
Trở lại mục lục
21. Những
con chó rơm của Khổng Tử
Khách đi xe hơi đến. Xe và tài xế ở lại dưới chân
núi. Một mình khách theo đường mòn đi lên. Cây, đá
đều lẫn trong sương. Trời cũng chìm khuất trong mây,
Mây thấp, la đà dưới thung lũng.
Dã Nhân nói:
"Ta không muốn tiếp nó."
"Vậy thì thầy lánh mặt đi."
Khách là bạn cũ của tôi và Dã Nhân. Trước đây hắn
cũng ở trong phong trào sinh viên chống Mỹ. Tốt
nghiệp đại học. Ở rừng về. Đảng viên. Tuy hắn chỉ
giữ một chức quan nhỏ nhưng nhờ quen biết lớn hắn
nhảy vào kinh doanh địa ốc trở thành một trong những
đại gia của thành phố.
Thủ đoạn kinh doanh của hắn có thể tóm tắt như sau:
“Thông qua các quan lớn, hắn biết được các khu quy
hoạch của thành phố. Hắn tiếp xúc với các quan trong
địa phương có đất quy hoạch, cùng họ lên phương án
đền bù giải toả. Hắn họp dân lại, treo cái bản đồ
quy hoạch tổ bố trên bảng để dằn mặt dân, sau đó hắn
ra một cái giá rẻ mạt cho mỗi mét vuông, bắt dân
phải bán đất.
Trước đây tại một khu quy hoạch ở Nam Sài Gòn, người
nông dân bị buộc phải bán cho hắn mười chín ngàn
đồng một mét vuông đất ruộng. Về sau này, nông dân
biểu tình phản đối cướp đất, hắn đi con đường mềm
dẻo hơn. Hắn cho họp dân để “hiệp thương” tức là hai
bên thương lượng giá. Nhưng hắn lại đưa ra một cái
khung giá do nhà nước quy định. Ở thời điểm năm 2000
cái giá ấy là 300 ngàn một mét vuông. Dân không chịu
thì hắn và các quan chức địa phương bèn ra lệnh:
“Ai không chịu nhận tiền đền bù thì số tiền ấy cũng
sẽ được gởi vào ngân hàng. Còn kế hoạch giải toả vẫn
tiến hành theo đúng tiến độ.” Ngay ngày hôm sau,
trên mục rao vặt của các báo xuất hiện những mẩu tin
rao bán đất. Các chủ đất đọc báo, thấy đất của
mình được hắn ta rao bán với giá bảy triệu
đồng một mét vuông (!)
Tiếp theo là cuộc hành quân quy mô lớn gồm công an,
cảnh sát cơ động, chó nghiệp vụ, xe cứu thương, đại
diện cơ quan nhà đất địa phương, đại diện ban giải
toả đền bù, đại diện dự án tái định cư… cùng một
đoàn xe ũi, xe xúc, cần cẩu… rầm rộ kéo đến tiếp
quản đất và san lấp mặt bằng. Xe cứu thương hụ còi,
“sẵn sàng làm nhiệm vụ” nếu có xô xát đổ máu.
Đó là cảnh tượng tôi đã từng chứng kiến.
Tôi không rõ khi người ta xây dựng khu Phú Mỹ Hưng
thì người ta có phải hành quân kiểu đó không, và giá
tiền đền bù giải toả mà người nông dân nhận được có
phải là 19 ngàn đồng một mét vuông như lời đồn đại
không, nhưng điều tôi biết chắc là hiện nay những
người nông dân ấy - với số tiền đền bù rẻ mạt - vẫn
phải ở nhà tranh vách đất hay chui rúc trong các xóm
lao động, còn Phú Mỹ Hưng văn minh hiện đại là nơi
dành cho người Hàn Quốc, Nhật Bổn, Pháp, Mỹ, Đài
Loan, Hong Kong… và một số cán bộ cao cấp, một số
những nhà giàu ở Quận Một Quận Ba hay khách phương
Bắc đến để rửa tiền.
Và bạn nghĩ gì khi người ta mua đất của nông
dân với giá 19 ngàn một mét vuông và hiện nay họ bán
lại với giá 60 triệu?
Lợi nhuận ấy chỉ thua các ông trùm buôn bán vũ khí
Hoa Kỳ chứ không thua ai. So với hắn, tụi buôn ma
tuý chỉ là lũ tép riu.
Vậy mà hôm nay hắn đến đây.
"Thầy có nhà không?"
"Đi rồi."
"Chắc thầy đang hành thiền?"
"Thầy tôi không phải là một thiền sư. Ông giống một
đạo sĩ hơn. Ông thường uống rượu và say xỉn."
"Có thể cho tôi gặp sư phụ được không?"
"Không biết thầy đi đâu."
Khách ngó quanh quất. Rôi chợt đứng dậy, xăm xăm đi
ra phía sau núi. Tôi đuổi theo thì hắn đã mất hút
trong sương mù dày đặc.
"Sư phụ! Sư phụ!” Hắn gọi vang cả rừng núi.
Hắn vừa gào vừa men theo con đường mòn dẫn đến hang
đá. Đột nhiên hắn im bặt khi nghe tiếng nước đổ rào
rào trên những tán lá ngay phía trên đầu.
Vừa ló mặt ra, hắn thấy ngay chú mọi nhỏ đang vểnh
cu đái cầu vồng xuống đầu hắn. Vừa lúc có tiếng ngâm
nga của Dã Nhân:
Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ.
Bốn câu thơ làm hắn sững người. Vừa
lúc Dã Nhân hiện ra trên một tảng đá lớn.
"Chào thầy. Bài tứ tuyệt của thầy hay quá."
"Không phải của ta. Đó là thơ Giả Đảo. Nhưng ông đến
đây làm gì?"
"Sắp tới rằm tháng Bảy. Tôi muốn làm lễ xá tội vong
nhân."
"…"
"Trước hết là cho các đồng chí của mình trước đây
trong phong trào sinh viên đã hy sinh trong kháng
chiến như Trần Quang Long, Trần Triệu Luật, Hồ Hảo
Hớn, Trần Bội Cơ, Nguyễn Ngọc Phương…"
"…."
"Sau đó là tới các gia đình có công với cách mạng."
Dã Nhân hỏi:
"Ông nghĩ rằng những người đó cần phải được xá tội
sao?"
"Thưa thầy… ngày Vu Lan cũng là ngày xá tội vong
nhân cho những linh hồn…"
"Những người chết không có tội gì cả. Những người
sống mới có tội. Thế sao không dùng tế lễ để xá tội
cho những người sống?"
"Ý của thầy là sao?" Hắn hỏi.
"Ngày xưa Khổng Tử đem lễ nghĩa ra dạy đời nhưng
thực chất chỉ là lời nói suông, thực chất xã hội rối
loạn. Các nước chư hầu đều nhân danh nhân nghĩa mà
đem quân đánh nhau gây bao nhiêu tang tóc cho muôn
dân, con mất cha, vợ mất chồng, mẹ mất con, gia đình
tan nát, xã hội tiêu điều, sinh linh đồ thán. Trong
triều thì bọn quan lại tìm cách hãm hại nhau vì danh
lợi, ngoài thảo dã thì trộm cướp nổi lên, dân chúng
đói khát, không có cái ăn cái mặc. Vậy mà Khổng Tử
và các môn đồ của ông ta vẫn cứ đi hết nước này đến
nước khác để giảng nhân nghĩa lễ trí tín, há chẳng
phải là làm cái bình phong để tiếp tay cho bọn quan
lại, vua chúa đàn áp, bóc lột nhân dân sao? Há chẳng
phải là giả dối, lừa mị sao? Vậy thì Khổng Tử, Mặc
Tử đã làm được gì cho thiên hạ? Hỡi ơi! Sao bọn họ
không thấy xấu hổ, không biết nhục nhỉ!"
"Nhưng thưa thầy đó là chuyện của thời xưa."
"Thời nay nào có khác gì. Bọn trộm cướp chuyên
nghiệp, trộm cướp có hệ thống, lại chính là bọn kêu
gọi tình người, tình đồng chí. Tù nhân đầy trong các
nhà giam, hàng triệu con gái nông thôn lên thành phố
làm gái điếm, trẻ bụi đời, dân nghiện ngập, thanh
niên thất nghiệp đầy dẫy trong các xóm lao động tối
tăm, những dân tộc thiểu số sống lầm than như súc
vật… thì không ai lo, lại hô hào bảo vệ bản sắc dân
tộc, bảo vệ truyền thống, bảo vệ cái khăn đóng áo
dài, cái nón quai thao… có phải là lừa bịp không?"
"Nhưng tôi chỉ muốn tổ chức một lễ cầu siêu…"
Dã Nhân đáp:
"Để ta kể cho ông nghe chuyện Khổng Tử cùng học trò
là Nhan Hồi tới nước Vệ, gặp thái sư nước Lỗ tên là
Kim. Nhan Hồi hỏi Kim:
‘Ông nghĩ sao về thầy tôi?’
‘Thầy ông sẽ bị khốn cùng mất thôi!’
‘Sao vậy?’
‘Khi cúng tế người ta thường dùng một con chó rơm
bọc gấm rất đẹp. Người ta đặt con chó rơm ấy lên bệ
rất là trang trọng, rất là đẹp. Nhưng khi đã cúng
xong rồi thì con chó rơm bị vứt đi, lăn lóc dưới
đất. Người ta đi qua đi lại giẫm đạp lên. Giày xéo
lên. Có người cắt cỏ nọ nhặt con chó rơm đó đem về
chụm lửa. Nay thầy của ông cũng đi lượm những con
chó rơm mà tiên vương đã dùng để cúng tế từ nhiều
đời trước, rồi ông ta họp đệ tử lại, ngắm nghía, săm
soi ra chiều đắc ý. Vì vậy mà bị nước Vệ cấm không
cho vào, rồi bị vây ở biên giới nước Trần, không có
gì ăn, nhịn đói suýt chết.’"
Hắn lại hỏi:
"Ý thầy muốn nói…?"
"Rằng chuyện lễ lạt, chuyện tưởng niệm, chuyện bản
sắc dân tộc, chuyện truyền thống Việt Nam, chuyện
trung với nước hiếu với dân… chẳng qua chỉ để che
mắt thế gian. Thực chất chỉ là những con chó rơm
được bọc áo gấm cho đẹp đẽ để cúng tế trong giây lát
mà thôi, dùng xong thì vứt lăn lóc dưới đất như rác
rưởi."
"Thầy coi thường lễ nghĩa đến như vậy sao?"
"Đó là những điều ta học được từ Trang Tử."
"Nhưng ở các nhà trường người ta vẫn dạy: ‘Tiên học
lễ, hậu học văn’ đấy thôi.
"Cái lễ trong nhà trường là cái lễ với thầy cô, với
cha mẹ. Cái lễ ấy trong sáng, dễ thương. Còn cái lễ
ngoài xã hội là cái lễ giả tạo của bọn nguỵ quân tử
dùng để che mắt thế gian. Trang Tử coi lễ là mớ giẻ
rách. Ông viết như thế này trong chương Trí Bắc
du của Nam Hoa kinh: “Mất Đức rồi
mới có Nhân, mất Nhân rồi mới có Nghĩa, mất Nghĩa
rồi mới có Lễ.”
"Câu đó phải hiểu như thế nào?"
"Ông hãy tự soi lại mình thì sẽ hiểu câu đó. Có phải
khi ông đã làm những chuyện thất đức tày trời rồi
ông mới nghĩ tới làm việc nghĩa. Nhưng có làm được
đâu, vì thực chất ông không dám trả lại tiền cho
những người bị các ông cướp ruộng đất. Chính vì thế
mà các ông mới nghĩ tới lễ. Vậy thì thứ lễ ấy có
khác gì miếng giẻ rách đâu!"
Khách nghe đến đây thì sợ quá, co giò chạy xuống
núi. Chú mọi nhỏ đứng trên tảng đá, vỗ tay cười.
Tiếng cười như mảnh thuỷ tinh bắn vãi theo. Khách
cuống cuồng sảy chân lao ra khỏi vách núi, ngã xuống
vực. Tôi hốt hoảng định kêu lên nhưng Dã Nhân đã
cười lớn mà rằng:
"Ngươi hãy nhìn xem!"
Lạ thay, người khách khẽ rùng mình, hóa thành một
con ruồi to như con diều hâu, tà tà bay xuống thung
lũng.
Trở lại mục lục
22. Linh
hồn của chuyến công tác
Tôi không thích gã, chẳng phải vì gã lầm lì,
xa cách nhưng vì gã quá keo kiệt.
Đoàn có bốn người: một bà giám đốc nhà xuất
bản, một cán bộ ngoại giao đã về hưu, tôi và
gã. Gã được giới thiệu là một quan chức cao
cấp của ngành phát hành sách. Như vậy gã đâu
có thiếu tiền. Có thể nói gã là người giàu
nhất trong đoàn. Vậy mà trong suốt chuyến đi
gã gần như không ăn sáng, chỉ uống một ly cà
phê nhỏ. Trong các bữa ăn chung tại phi
trường hoặc suốt tuần lễ lang thang ở Seoul
gã thường từ chối các lời mời mọc nhậu nhẹt,
kẹt lắm thì cũng ngồi chơi, uống một chai
nước suối nhỏ, ăn một cái bánh mì kẹp chừng
một ngàn won (10.000 VNĐ). Hỏi có bị
tiểu đường không thì trả lời là không. Tim
mạch cũng không, thận rất tốt. Chẳng có gì
phải kiêng cữ. Vậy mà ăn nhín nhịn thèm,
tiết kiệm từng đồng won, đồng đô la…
Thôi, cứ tạm cho gã là một cán bộ mẫu mực,
cần kiệm liêm chính.
30 THÁNG TÁM 2001
Chúng tôi đến Seoul, dạo chơi phong cảnh, ăn
kim chi, ăn gà giò hầm sâm. Và đi tàu điện
ngầm.
Tại sao tôi lại nhắc đến tàu điện ngầm ở
Seoul?
Tàu điện ngầm ở New York thì rộng lớn,
“hoành tráng” nhưng cũ. Tàu điện ngầm ở
Paris thì ồn ào, rổn rảng, chỉ đáng vứt sọt
rác. Tàu điện ngầm ở Bắc Kinh tạo ấn tượng
quái đản với những cái giỏ cần xé đan bằng
tre to tổ bố để người soát vé ném vé cũ vào
đó. Tàu điện ở Hong Kong, Singapore thì
tương đối văn minh hiện đại hơn với nhà ga
sạch sẽ, hệ thống bán vé và soát vé tự động,
tàu điện ngầm ở Moskva từ lâu vẫn là niềm tự
hào của nước Nga với những nhà ga rộng lớn,
có chạm trổ tranh tượng như ga Kievskaia với
vài ba tác phẩm điêu khắc mỹ thuật… nhưng có
lẽ công tác bảo quản kém nên đã xuống cấp
trầm trọng, thậm chí nhiều chỗ bị dột nát,
nước rỉ từ trần vòm ướt cả lối đi. Tàu điện
ngầm Moskva là sự thất vọng lớn nhất khi đến
nước Nga. Ngược lại tàu điện ngầm Seoul là
sự ngạc nhiên lớn nhất khi đến Hàn Quốc.
Nó lướt đi êm ái trong mơ. Mỗi nhà ga là một
khách sạn năm sao lộng lẫy, không đâu có thể
rực sáng hơn. Nếu như có một con kiến đi lạc
trong sân ga có lẽ chúng ta cũng dễ dàng tìm
thấy nó.
Tàu điện ngầm ở Seoul là một vương quốc dưới
lòng đất. Với 600 won (sáu ngàn đồng VN) bạn
có thể mua một tấm vé điện tử đi được 15 ga
vòng quanh thủ đô Seoul.
Làng truyền thống Hàn Quốc là một nơi khá
độc đáo phản ánh phong tục tập quán, nghề
nghiệp, trang phục, ẩm thực, luật pháp của
xã hội xưa… bằng những mô hình lớn và sinh
động như thật.
Nhà cửa trong làng đều lợp bằng tranh, mái
dày được xén rất đều, giống hệt những mái
tranh của các làng quê miền Trung Việt Nam.
Cũng vách đất trộn rơm trét bên ngoài những
cái khung bằng tre.
Seoul là một thành phố có nhiều cây ngô đồng
và cây bách ở hai bên đường giống như các
thành phố ở Trung Quốc.
Những kiến trúc trong hoàng cung cũng tương
tự như Cố cung Bắc Kinh nhưng quy mô nhỏ hơn
và màu sắc u nhã hơn. Trang phục của vua
quan, quý tộc Hàn Quốc cũng trầm hơn, nhã
hơn, sang hơn Trung Quốc. Nếu như y phục
Trung Quốc chuộng những gam màu đỏ, vàng và
xanh lục thì Hàn Quốc thích sự phối màu giữa
đen và tím than hoặc đỏ Bordeaux, giữa màu
lá úa và trắng, giữa sắc xanh lục và xám
tro…
Các triều phục của vua quan không thêu rồng
phượng, không đeo kim tuyến, lục lạc, đai
ngọc. Đơn giản nhưng sang trọng.
31 THÁNG TÁM 2001
Thăm sứ quán Việt Nam tại Seoul. Đại sứ là
bạn cũ của một người trong đoàn, trước đây
ông từng làm đại sứ tại Bình Nhưỡng. Đây là
một biệt thự rộng lớn và đẹp. Toà nhà do chế
độ Việt Nam Cộng hoà để lại. Trong khuôn
viên có một Chùa Một Cộtdo Lý Xương Căn -
cháu 31 đời của Lý Thái Tổ - xây tặng.
Danh ngôn: Người Trung Quốc thích tạo
ra huyền thoại, người Việt Nam thích tạo ra
anh hùng còn người Hàn Quốc thích tạo ra bi
kịch.
Điều này thể hiện rất rõ trong các bộ phim
truyền hình của Hàn Quốc được chiếu trên
truyền hình Việt Nam.
♦
Ông quan lớn nọ vẫn thít chặt hầu bao mặc dù
cứ vô tư thưởng thức các đặc sản của Seoul
do giám đốc nhà xuất bản chi trả. Tôi đi du
lịch tự túc vì thế tôi không biết cụ thể
công tác phí của những người trong đoàn là
bao nhiêu nhưng khi đến Moskva thì những
thành viên trong đoàn Hà Nội cho biết là mỗi
ngày 70 đô la tiền tiêu vặt.
Riêng gã, quan lớn của một công ty nhà nước
đồ sộ như thế thì tiêu chuẩn phải cao hơn
nhiều.
Vậy gã tiết kiệm tiền để gởi về cho vợ sao?
NGÀY 4 THÁNG 9 NĂM 2001
Đến Moskva và ở trong nhà khách của toà đại
sứ Việt Nam.
Buổi chiều gã quan lớn tự nhiên đến khều
tôi:
"Đi loanh quanh một chút cho biết Moskva
chứ."
Tôi ngạc nhiên nhưng thấy nụ cười của gã rất
thân thiện, bèn OK. Gã đi với một nhân viên
của sứ quán, cùng một cán bộ của đoàn Hà
Nội.
Nơi đến là một cái hầm rượu ngầm dưới đất.
Chúng tôi ăn thịt cừu nướng, trứng cá caviar
và cá hồi xông khói nhắm với rượu vang đỏ.
Anh bạn Hà Nội hỏi tôi:
"Trước đây ông có học ở Nga không?"
"Tôi không biết gì về nước Nga cả. Cũng
không biết tiếng Nga."
"Nước Nga có nhiều cái hay lắm đấy."
Tôi nói:
"Nước Nga thật vĩ đại."
Gã quan lớn khều tôi:
"Thôi, dẹp ba cái vụ ‘vĩ đại’ đi. Tôi hỏi
ông có chịu chơi không?"
Không biết cái gã keo kiệt này muốn gì. Tôi
nói:
"Chịu chơi chứ. Nhưng tôi không buôn lậu đâu
nhé."
"Ôi giời! Sao ông lại nghĩ vớ vẩn thế?"
"Vậy là chuyện em út?"
Gã nói một cách trang trọng:
"Đúng thế. Đó chính là linh hồn của
chuyến công tác này. Đây mới là lúc
tiêu tiền nhé. Thế ông còn bao nhiêu?"
"Chừng năm trăm đô."
"Tạm được. Thế này nhé! Tôi sẽ lo cho
đồng chí thổ địa ở đây. Còn hai vị chúng
ta tự túc. Ăn xong chúng ta đi liền."
Tôi nói:
"Nghe đồn cảnh sát Nga hay trấn lột người
Việt. Họ nói người Việt là bánh mì của cảnh
sát Nga. Vừa rồi có một người Việt giết vợ,
chặt ra thành nhiều mảnh nhỏ bỏ vô bao bố
thả xuống sông. Đài truyền hình Nga loan tin
đó và bình luận đầy ác ý về người Việt. Vậy
các anh không sợ sao?"
"Yên tâm. Chỗ này có bảo kê hết rồi. Cảnh
sát Nga sẽ gác cho mình chơi."
Và đúng như thế. Họ cũng mặc sắc phục và đeo
súng. Các cô gái tóc vàng còn rất trẻ, tuổi
từ 15 đến 22 da trắng, mắt xanh. Những nàng
Ludmila, Natasha… được giới thiệu là sinh
viên đại học. Họ nói tiếng Anh khá trôi chảy
nhưng khi hỏi họ về Dos hay Tolstoy thì
không cô nào biết cả. Các cô uống bia rất cừ
và bia thật là ngon. Đến Nga có lẽ chỉ nên
uống bia tươi, từ trong thùng rót ra cái ly
vại lớn. Hồi ở Dresden bên Đức, tôi từng
uống những loại bia ngon nhất thế giới,
nhưng cũng không bằng Nga.
Đấm bóp cho bạn là đàn ông, nhưng những cô
Ludmila sẽ tiếp bạn trên giường. Tất cả đều
trống trải, không cần cửa nẻo!
Vì tôi xài tiền túi của mình nên chỉ đến đó
có một lần. Còn gã thì khác. Những ngày sau
đó gã biến mất. Suốt một tuần lễ không hề
thấy mặt. Không ai biết rằng gã đang vi hành
cùng mấy tay của phái đoàn miền Bắc. Trong
túi gã còn năm ngàn đô. Giá ăn chơi ở Moskva
lại rẻ. Gã phải sống cho hết mình, phải tiêu
hết số tiền đó, phải hoàn thành tốt “nhiệm
vụ Đảng giao” bởi vì đó là “linh hồn của
chuyến công tác này”.
Sáng ngày 10 tháng 9 năm 2001 gã vác xác về.
Mắt lim dim, chân bước trên mây, miệng ẩn nụ
cười tự tại của một bậc đại hiền vừa đạt tới
cảnh giới của sự giải thoát.
Tôi chưa thấy người nào đáng yêu như gã.
Gã đã đến Niết Bàn bằng con đường riêng của
mình. Gã không cần ngồi thiền, không cần
tụng kinh hay giữ giới. Gã đã “kiến tánh
thành Phật”.
Giám đốc nhà xuất bản vừa thấy mặt gã đã nói
móc:
"Coi chừng thân bại danh liệt."
Gã chỉ cười. Lại kéo tôi đi ăn thịt cừu ở
dưới hầm rượu. Gã nói:
"Cái ‘em’ Giám đốc đó hay lên mặt đạo đức
nhưng cũng chịu ăn lắm."
"Nó làm xuất bản sách mà ăn được gì?"
"Ăn chia với tụi đầu nậu phát hành."
"Nhà xuất bản của nó cũng có một phòng phát
hành rất ‘hoành tráng’ mà?"
"Ba chục nhân viên, đầy đủ các chức danh:
trưởng phòng, phó phòng, kế toán, thủ quỹ,
có cả bộ phận tiếp thị, quảng cáo, giới
thiệu sách, nhưng chỉ để… chở sách đi ký
gởi."
"Ký gởi cho ai?"
"Cho đầu nậu."
"Có nghĩa là phải chia cho đầu nậu 40 phần
trăm chiết khấu phát hành?"
"Không sai!"
"Có nghĩa là không thu được tiền mặt?"
"Đúng vậy. Cứ đem tài sản cơ quan ra trao vô
tay đầu nậu, khi nào nó thích thì nó trả cho
chút ít, không thích thì nó nói bán không
được. Đa số đầu nậu là chiếm dụng vốn để mở
rộng kinh doanh hoặc kinh doanh địa ốc."
"Lẽ ra nhà xuất bản phải có hệ thống bán lẻ.
Hay là nó không có vốn?"
"Hoạt động 25 năm nay nó cũng có vốn chứ.
Nhưng nó lấy tiền đó mua đất làm kho sách
thay vì phát triển hệ thống bán lẻ. Như vậy
thay vì sách in xong chở thẳng ra nhà sách
bán cho người tiêu dùng thì lại cất vô kho.
Rồi đi chào hàng. Người ta chịu nhận thì mới
đem đi ký gởi. Ký gởi phải chịu mất 40 phần
trăm chiết khấu. Nếu tự phát hành thì không
phải mất một số tiền lớn như vậy."
Tôi hỏi:
"Sao nó ngu vậy?'
"Nó không ngu đâu. Vì nó có ăn chia với tụi
đầu nậu. Nhưng ăn bạo nhất là vụ mua đất làm
kho sách. Nó bỏ ra 3 tỷ chỉ để mua một cái
nghĩa địa rộng chừng 300 mét vuông. Có nghĩa
là giá mỗi mét vuông là 10 triệu đồng. Mua
xong, một thằng trong chi bộ của tụi nó phát
biểu: ‘Nhà tui ở gần cái nghĩa địa đó.
Tui biết đất ở đó người ta chỉ bán có 2
triệu rưởi một mét vuông!”
Cú đó tụi nó kiếm hơn hai tỷ đồng. Dư luận
trong cơ quan cũng rùm beng. Tưởng nó co
vòi. Té ra nó đếch sợ. Nó chơi luôn 900 mét
vuông nữa kế bên, giá 9 tỷ đồng!
Cú thứ hai này chúng nó đớp thêm gần 7 tỷ!
Kế toán trưởng thì cất nhà mới. Phó giám đốc
thì xin về hưu non để ‘hạ cánh an toàn’,
giám đốc thì ‘ngày nào đầu nậu còn tín
nhiệm, tôi còn làm giám đốc.”
Gã quan lớn còn muốn nói thêm nữa nhưng tôi
vuốt lưng gã:
"Té ra bây giờ tôi mới biết anh là người
trong sạch nhất."
"Tớ cũng đếch trong sạch, Vì thời đại này
thằng nào có quyền mà trong sạch đều là
những thằng cù lần. Vì thế tớ cũng đớp chút
đỉnh nhưng chỉ để chia cho em út
thôi! Cũng giống như hiệp sĩ Robin Hood hay
các anh hùng Lương Sơn Bạc vậy mà!"
Trở lại mục
lục
23. Con
cá voi trong ly nước
Có thể một ngày nào đó tôi không còn trí
nhớ. Tôi sẽ quên đường về nhà, quên cả người
thân, bạn bè. Tôi sẽ không còn nhớ mình là
ai. Nhưng chắc chắn tôi không bao giờ quên
những giai điệu lạ lùng của nhà soạn nhạc
thiên tài Nga: Shostakovich.
Thực ra tôi biết rất ít về ông, về âm nhạc
của ông, thậm chí những tác phẩm của ông -
mà tôi ôm ấp trong lòng nhiều thập kỷ qua –
tôi cũng không biết tên. Nhưng đó là những
tác phẩm thần thoại, nó lay động tôi, nó lan
toả và lập tức chiếm lĩnh tâm thức tôi, hoà
tan vào trí nhớ, vây phủ xúc cảm và chìm đắm
bản ngã tôi vào những cơn sóng cuộn chảy, mờ
mịt, réo gọi, ngân nga, gào thét…
Tiếc thay, tôi chỉ được nghe những giai điệu
ấy có vài lần khi xem bộ phim Cuộc chiến
tranh vệ quốc vĩ đại.
Đó là một bộ phim tài liệu vĩ đại nhất trong
tất cả các phim tài liệu mà loài người có
được. Và âm nhạc của Shostakovich đã đóng
vai trò quyết định. Đạo diễn Karmen cũng là
một tài năng lớn nhưng ông chỉ có công dựng
lên hình hài, tầm vóc của bộ phim, còn linh
hồn và nhan sắc của tác phẩm điện ảnh kỳ ảo
đó phải là âm nhạc của Shostakovich.
Tôi đã sục sạo hàng giờ trong các trang Web
âm nhạc để cố tìm lại giai điệu của 30 năm
về trước nhưng rốt cuộc chỉ được mấy dòng
này:
“Shostakovich (1906-1975), nhà soạn nhạc
người Nga được xem như một nhà viết nhạc
giao hưởng vĩ đại nhất giữa thế kỷ 20. Ngoài
thể loại giao hưởng ông còn viết concerto,
nhạc kịch opera, ballet và nhạc phim.”
Còn đạo diễn Karmen thì tôi cũng tìm được
mấy dòng tiểu sử ngắn ngủi:”Roman Karmen
Lazarovich sinh ngày 29 tháng 11 năm 1906
tại Odessa. Ông được trao giải Oscar năm
1943 với bộ phim tài liệu Thất bại của
quân Đức ở ngoại ô Moskva. Sau đó ông làm
bộ phim sử thi dài 12 tập mang tên Cuộc
chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Bộ
phim này đã đưa tên tuổi của Karmen lên hàng
những nhà làm phim tài liệu vĩ đại nhất thế
kỷ 20.”
Tháng Chín năm 2001 tôi đến nước Nga để tìm
một chút âm vang của Shostakovich.
Nhưng nước Nga lại có quá nhiều thứ bất ngờ.
NGÀY 5 THÁNG 9 NĂM 2001
Khởi hành từ Seoul, chúng tôi đến Moskva sau
một chuyến bay dài mệt mỏi. Sân bay tên gì
vậy? Serechavo, sân bay quốc tế của thủ đô
nước Nga đây sao? Tôi tưởng mình đang ở phi
trường Tân Sơn Nhất. Chật hẹp. Đông nghẹt
người. Chen lấn. Ồn ào.
Trời âm u. Không có ý niệm về thời gian. Mấy
giờ vậy? Không ai biết. Đồng hồ chúng tôi
đang chỉ giờ của Seoul. Trời ơi! Làm sao có
thể làm thủ tục nhập cảnh giữa một rừng
người hỗn độn như vậy? Không biết người của
đại sứ quán Việt Nam đã đến chưa? Làm sao có
thể nhận ra nhau giữa cái đống hổ lốn này?
Tôi chạy đi tìm cái đồng hồ treo tường.
Trong tất cả các sảnh của sân bay không có
chỗ nào treo đồng hồ. Tôi hỏi một ông già da
trắng:
"What time is it, please?"
Ông ta không hiểu. Một cô tiếp viên hàng
không ở đàng kia đi lại:
"What time, ma’am?"
Lại không hiểu. Giương mắt ra nhìn. Tôi bực
mình, chụp lấy cổ tay cô tiếp viên hàng
không, lật ngửa lên: Hai giờ mười lăm phút.
Ở Nga, muốn coi đồng hồ có lẽ chỉ còn cách
đó.
Tiếp theo là chen lấn, xếp hàng, rồi lại
chen lấn. Người ta làm gì mà đổ xô đến
Moskva nhiều như vậy? Chẳng phải nước Nga
đang thiếu nhu yếu phẩm, đang không có đường
mà ăn, đang phải xếp hàng để mua bánh mì
sao?
Ấn tượng mà cái phi trường sì-trum
này tạo ra là: nước Nga không sẵn sàng, nước
Nga là một căn nhà khổng lồ nhưng chỉ có một
cái cửa ra vào nhỏ như cái hang thỏ, nước
Nga đang quay lưng lại với thế giới và nước
Nga không có ngành du lịch.
Và tôi, không biết tiếng Nga, không có xe
hơi, không biết đường đi… đành lẩn quẩn
trong khu nhà khách toà đại sứ Việt Nam.
Nhưng tôi không thất vọng vì tôi biết nước
Nga ẩn giấu nhiều thần thoại, nhiều bất ngờ.
NGÀY 6 THÁNG 9 NĂM 2001
Mười giờ rưỡi sáng thứ năm, thăm Quảng
trường Đỏ. Một người đàn bà nói: Hôm nay
không cho vào vì đang sửa chữa. Lát sau
người đàn bà nọ giới thiệu một bà già 70
tuổi. Bà ta bảo mỗi người đóng 60 rúp. Bà
lấy ra một nửa, gói trong tờ giấy, bảo mọi
người gom máy ảnh lại để bà ta giữ, xong dẫn
đoàn vào cổng.
Đến cổng mới hay là quảng trường vẫn mở cửa
đón khách bình thường vì hiện đang có một
đoàn khách quốc tế đang xếp hàng chờ. Chỉ
riêng đoàn Việt Nam khỏi xếp hàng vì đã đưa
tiền cho ba già!
Lăng Lenin lát đá cẩm thạch đen. Những bậc
thang đen. Hình như bên ngoài người ta đã bỏ
toán lính gác. Thi hài Lenin nằm trong lồng
kính giống như một tượng bằng thạch cao.
Trên tường đá đen lạnh lẽo có lát những
phiến đá đỏ.
Có người to tiếng bên ngoài lăng. Một du
khách Trung Quốc bị giữ lại để kiểm tra giấy
tờ.
Nước Nga có một quá khứ huy hoàng, một nền
nghệ thuật vĩ đại, một cuộc chiến tranh vệ
quốc vĩ đại. Nhưng những cái vĩ đại ấy bây
giờ bị nhốt trong một cơ chế chật hẹp, trong
sự bảo thủ và nạn tham nhũng lan tràn.
Nước Nga giống như một con cá voi nằm trong
ly nước. Nó ý thức được hoàn cảnh của mình
cũng như con cá lớn muốn vùng thoát khỏi ly
nước để bơi ra biển nhưng bằng cách nào? Nếu
vùng mạnh, cái ly sẽ vỡ nát và nó rơi xuống
Quảng trường Đỏ, không đủ sức để trườn ra
biển.
Một ngôi nhà tranh sẽ dễ dàng phá bỏ để xây
dựng một cao ốc hiện đại, nhưng nước Nga lại
là một lâu đài cũ kỹ rêu phong và có nhiều
người ở, sinh con đẻ cái ở đó. Nếu đập ngôi
nhà, những người đó sẽ ở đâu?
NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2001
Tôi tặng cho ông già gác cổng mấy chai rượu
Jinro Soju mua ở Seoul vì ông ta đã giúp đỡ
tôi xách hành lý lên phòng khi tôi mới đến
đây. Dường như trong phái đoàn Viêt Nam chỉ
có mình tôi làm chuyện đó.
Ông ta trực ca sáng và tôi thường đến chơi
với ông. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng
những hình vẽ trên giấy và bằng cách ra dấu.
Quanh khu nhà khách có rất nhiều cây phong,
bóng mát như rừng. Tôi hỏi ông vì sao có
nhiều quạ đen đậu trên những cây phong đó.
Ông nói rằng hôm qua có người vứt xác một
con mèo chết dưới gốc cây và tụi quạ bu đến.
ĐÊM 11 THÁNG 9 NĂM 2001
Moskva khổng lồ với những đường phố rộng
thênh thang và xe chạy vun vút không dứt.
Một thành phố rất nhiều xe cũ và không có
taxi nhưng bạn chỉ cần đưa tay đón là những
chiếc xe ấy lập tức biến thành taxi.
Moskva đơn điệu với những bloc nhà khổng lồ
màu gạch được xây hàng loạt giống hệt nhau,
thỉnh thoảng mới gặp một ngôi biệt thự sơn
màu ngọc bích viền trắng. Sự phối màu ấy sao
chép từ quần thể các lâu đài Cung điện Mùa
đông ở Saint Petersburg.
Nhưng nếu đi thuyền trên sông Moskva để ngắm
nhìn thành phố, bạn sẽ gặp một thủ đô khác
hẳn. Một Disney Land khổng lồ với các nhà
thờ mái củ hành vàng rực như những lâu đài
trong truyện thần tiên. Những tháp chuông
ngọc bích thấp thoáng phía sau cụm rừng bạch
dương.
Trong bóng hoàng hôn, tất cả nhạt nhoà, lẩn
khuất… Phố xá, đồi trọc, rừng cây… hoà quyện
thành một phông màu tím than của khói sóng,
chỉ có nắng xế là cháy rực, ngời ngời trên
những lâu đài nguy nga và những thánh đường
diễm ảo. Người ta không còn thấy những lô
nhô bận rộn của phố phường bối rối, của
tiếng bánh xe rít trên đường phố. Chỉ là cái
im lặng thanh thản của bầu trời xám mênh
mông cùng mặt sông phẳng lặng.
Du thuyền đi trong bóng tối, ngân nga khúc
nhạc quen thuộc.
Chiều thanh vắng là đây,
âm thầm gió rì rào.
Nhưng cũng không còn tiếng rì
rào nữa. Chỉ có tiếng bọt nước vỡ dưới mạn
thuyền và ngàn mắt lấp lánh sắc vàng, tím,
xanh của đèn trên bờ sông ngái ngủ.
Moskva mờ ảo đang thấm vào tâm hồn tôi bằng
sự tan chảy rất chậm, rất nhẹ, rất ngây ngất
của hoàng hôn.
Đi trên sông Moskva tôi gặp Pie Đại đế sừng
sững như một trái núi. Ông là người anh hùng
lớn của nước Nga, từng giả làm công nhân
sang Thuỵ Điển để học nghề đóng tàu. Ông
được ví như một Tần Thuỷ Hoàng của nước Nga,
nhưng đó là sự ví von của một thằng khùng,
bởi vì gã Doanh Chính kia chỉ là một sát thủ
bần tiện đang thối rữa trong lịch sử.
Khoảng bảy giờ tối ngày 11 tháng 9 năm 2001
chiếc du thuyền nhỏ ghé bến. Người bạn đón
một chiếc “taxi”.
Cánh cửa xe vừa đóng lại thì anh tài xế đã
hỏi:
"Có biết gì không?"
"Gì vậy?"
"Bin Laden tấn công nước Mỹ!"
"Lúc nào?"
"Cách đây 5 tiếng đồng hồ."
Xe của anh ta lao đi như điên. Tất cả xe
con của Moskva đều lao đi như điên.
"Hai chiếc Boeing đâm thẳng vào toà nhà WTC
ở New York. Cả hai đều sụm xuống như cái đèn
xếp. Ba chục ngàn người chết."
"Ba chục ngàn sao?” Anh bạn tôi hỏi và dịch
lại cho tôi nghe.
"Thì cứ tính đi. Hàng ngày mỗi toà nhà chứa
khoảng mười lăm ngàn người vừa nhân viên vừa
khách hàng."
"Chính xác vậy sao?"
"Về nhà lẹ đi. Tôi cũng về nhà để coi tivi
đây! Các ông ở đâu?"
"Ở đại sứ quán Việt Nam."
♦
Nơi căntin của nhà khách đông nghẹt người
đang bu quanh một chiếc tivi màu 16 inches.
Đoạn phim về hai chiếc máy bay đâm vào toà
nhà đang được chiếu đi chiếu lại. Tin tức
nóng hổi đến độ người ta không có thì giờ
dịch ra tiếng Nga, cứ để nguyên lời bình
tiếng Anh. Người ta vừa uống bia vừa bàn tán
về Bin Laden.
Trước đây có đôi lần tôi nghe nói về nhân
vật này nhưng ông ta không gây ấn tượng với
tôi. Ngờ đâu trên cái đất Nga xa lạ và lạnh
lẽo này ông lại xuất hiện như một vụ nổ làm
rạn nứt cả bầu trời và vỡ vụn trí tưởng
tượng của tôi.
Bin Laden đã làm thay đổi nhận thức của tôi
về thế giới, đã đập nát mọi hy vọng nhỏ nhoi
còn sót lại trong tôi về loài người.
Ông đã phá tan mọi hệ thống triết học tư
tưởng, vô hiệu hóa mọi niềm tin, làm cho các
tôn giáo phải hoảng hốt. Bin Laden đã vứt
mọi chuẩn mực đạo đức vào cống rãnh, xé nát
bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ và Hiến
chương Nhân quyền.
Bin Laden là ngọn gió lạnh buốt, cuồng nộ
bay qua sa mạc hoang tàn, là đám mây hạch
nhân trùm xuống nền văn minh Âu Mỹ.
Bin Laden một mình cầm thanh gươm man rợ đi
gieo rắc cái chết kinh hoàng để xua đuổi,
trong vô vọng, một thế lực hùng mạnh gấp
triệu lần ông.
Và cũng trong buổi chiều ấy, Bin Laden đã
làm sụp đổ toà tháp WTC thứ ba của hành tinh
này: đó là tôi.
Trở lại mục
lục
24. Cuộc hội ngộ ở Saint Petersburg
Phía trước tôi là một mảng đen bát ngát và
bất động. Tôi chạy ra khỏi những khu rừng
dày đặc, bị cái mảng đen ấy hút vào vòng
xoáy của nó.
Đó là một ngày mưa dầm ở Cung điện mùa Hè.
Con đường nhựa ướt sũng chạy dọc theo kênh
đào. Dòng kênh dẫn vào cái mảng đen ấy. Nó
là sa mạc, đồng cỏ hay biển?
Tôi chạy. Nước mưa đầm đìa trên mặt. Cái áo
gió không ngăn nổi nước. Ngực ướt sũng. Trời
xám xịt. Hàng cây đen rõ dần và cái mảng đen
ấy cũng rõ dần. Đó là biển. Vịnh Phần Lan.
Nước biển đen lánh như than đá.
Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn cái mảng đen mênh
mông ấy. Trời thấp. Cung điện ở phía sau
lưng, lấp lóa những đài nước phun và những
pho tượng thếp vàng ngời sáng.
Trong khoảnh khắc, tôi quên Bin Laden. Nhưng
khi trở lại Cung điện mùa Hè thì ông ta lại
hiện ra và hỏi tôi vì sao lại đến cái nơi
chó chết này. Bọn nhà giàu đã xây dựng cung
điện này, những hoa viên này, những đài phun
nước này, những pho tượng thếp vàng này… chỉ
để phục vụ cái giống đực của chúng.
"Nhưng ông cũng là một tỷ phú",tôi nói -"ông
còn giàu hơn các Sa hoàng nữa mà."
"Đúng thế. Tài sản của ta có thể xây vài cái
Cung điện mùa Hè này nhưng ta thích sống
trong hang đá."
"Đó là vì ông đang lẩn trốn biệt kích Mỹ."
Cái bóng của Bin Laden mờ ảo trong mưa bụi
nhưng ngón tay trỏ của ông chỉ thẳng vào mặt
tôi:
"Trước đây ngươi cũng từng lẩn trốn biệt
kích Mỹ. Ngươi là một thằng cộng sản mà!"
"Nhưng bây giờ tôi không phải là cộng sản
nữa."
"Ta cũng vậy. Trước đây ta theo Mỹ, đã cùng
Mỹ thành lập các trường huấn luyện chiến
binh Hồi giáo ở Pakistan. Thời kỳ đó, tổ
chức của ta đã mở văn phòng ở Detroit và
Brooklyn trên đất Mỹ."
"Nhưng vì sao ông bỏ Mỹ?"
"Thời đó ta chơi với chúng vì muốn có một
đồng minh đánh đuổi Liên Xô ra khỏi
Afghanistan. Khi Liên Xô tháo chạy về nước
thì kẻ thù còn lại là Mỹ. Năm 1990 Mỹ đưa
quân vào quê hương Ảrập Xêút của ta. Làm chủ
các mỏ dầu của ta. Và chiếm luôn các mỏ dầu
ở Kuwait. Hàng trăm tỷ đô la đã chảy vào túi
của bọn tài phiệt Mỹ. Chúng nuôi béo bọn cầm
quyền tay sai. Còn nhân dân Ảrập Xêút được
gì?
Và bây giờ chúng làm chủ hệ thống dẫn dầu ở
Afghanistan và những mỏ dầu khổng lồ ở Iraq.
Vừa chiếm dầu mỏ vừa bán được vũ khí. Sao ta
có thể ngồi yên được? Và ngươi biết đấy, Mỹ
treo giá 50 triệu đô la cho cái đầu của ta."
"Nhưng gia đình ông làm ăn với Mỹ hàng trăm
tỷ đô la. Sau khi người của ông tấn công hai
toà nhà WTC thì chính Tổng thống Bush đã
cung cấp nhiều máy bay để đưa cả gia đình
ông rời nước Mỹ an toàn. Thế thì việc treo
giá 50 triệu đô la cho cái đầu của ông là
thật hay giả?"
"Đó là chuyện của dòng họ Bin Laden. Ta đã
cắt đứt mọi liên hệ với họ. Và họ cũng vậy."
"Ông đã xem phim The Kid của Charlot
chưa?"
"Xem rồi."
"Người cha là thợ sửa cửa kính. Đứa con dùng
đá ném bể cửa kính để tạo công ăn việc làm
cho cha. Có người cho rằng Bin Laden và giới
tài phiệt Mỹ đã ‘hợp đồng tác chiến’ kiểu
hai cha con Charlot. Ông nghĩ thế nào?"
"Ngươi muốn nói là ta tạo ra những vụ khủng
bố để cho giới tài phiệt Mỹ lấy cớ gây chiến
tranh, chiếm các mỏ dầu và tiêu thụ vũ khí?"
"Đúng vậy. Người Mỹ làm bộ ra giá 50 triệu
đô la cho cái đầu của ông nhưng trên thực tế
có vài lần suýt bắt được ông thì lại để vuột
mất một cách khó hiểu. Mùa Đông 2004 biệt
kích Mỹ đã tiến hành một cuộc truy bắt ông
tại vùng biên giới giáp ranh giữa Pakistan
và Afghanistan. Báo chí Mỹ đưa tin: ‘Các
lực lượng Mỹ đã truy đuổi gắt gao Bin Laden
khiến tên trùm khủng bố gần như không còn
lối thoát và đã tính đến nước cuối cùng là
tự sát.
Khi đó Bin Laden đã ra lệnh cho các thuộc
hạ một khi nhận được mật khẩu thì phải lập
tức ra tay giết chết y rồi tự sát, nhằm
tránh bị Mỹ bắt giữ. Tuy nhiên, đúng lúc mật
khẩu chuẩn bị được phát ra thì các binh sỹ
Mỹ lại chuyển hướng truy tìm sang hướng khác
khiến Bin Laden thoát hiểm.’ Sự thực về
chuyện đó như thế nào?"
"Đó là chuyện bịa đặt. Ta hỏi ngươi câu này:
Ta là một tỷ phú, ta có thể sống như một ông
hoàng, việc gì ta phải ‘hợp đồng tác chiến’
với Mỹ để phải sống đời gian khổ của một
chiến binh?"
"Một chiến binh? Vậy ông chiến đấu cho một
mô hình nhà nước nào?"
"Có 4 loại mô hình: Loại thứ nhất là
chính quyền đế quốc, đứng đầu
là Mỹ, chuyên gây chiến tranh để tiêu thụ vũ
khí và chiếm tài nguyên của các nước khác.
Loại thứ hai là chính quyền bán nước
đứng đầu là Ảrập Xêút, Kuwait, Iraq.
Afghanistan… đem tài nguyên của đất nước
mình trao cho Mỹ để đổi lấy địa vị và giàu
sang cho gia tộc mình. Loại thứ ba là
chính quyền trộm cướp đang lộng hành
ở một số nước vùng Đông Nam Á, châu Phi và
châu Mỹ Latinh. Chúng là bọn tham nhũng
chuyên nghiệp, ăn chặn tiền thuế của dân, ăn
cắp tài sản quốc gia, bòn rút tiền viện trợ,
rút ruột công trình để làm giàu cho cá nhân,
gia đình và bè đảng của chúng. Loại
thứ tư là chính quyền dịch vụ như
các nước Bắc Âu, coi việc cai trị như một
nghề hái ra tiền. Dịch vụ ấy được giới hạn
bởi các nhiệm kỳ bầu cử. Còn ta, hiện nay
còn quá sớm để nói về một chính quyền. Nhiệm
vụ của ta bây giờ là gieo kinh hoàng cho bọn
da trắng để chúng cút khỏi những lãnh thổ
của người Hồi giáo."
"Ông có chắc là làm được chuyện đó không?"
"Ta phải làm được."
"Tôi nghĩ nếu ông từ bỏ chủ nghĩa khủng bố,
lập Mặt trận Giải phóng Ảrập Xêút và tiến
hành một cuộc chiến tranh du kích thì ông có
thể được ngưỡng mộ như Che Guevara."
"Ta không cần ngưỡng mộ. Và ta cũng không
muốn thất bại như Che Guevara. Hơn nữa đất
nước ta không có rừng như Bolivia hay Việt
Nam, không thể tiến hành chiến tranh du kích
được. Ta không còn chọn lựa nào khác ngoài
khủng bố."
"Nhưng cách thức tiến hành cuộc chiến của
ông quá tàn bạo và bừa bãi. Dân thường chết
quá nhiều. Chết gấp mười lần kẻ thù của
ông."
"Cuộc chiến tranh nào cũng vậy. Ví dụ như
hai trái bom nguyên tử thả xuống Nhật Bản
năm 1945. Đa số người chết là dân thường vô
tội."
"Ông muốn biện hộ cho chính quyền Mỹ sao?"
"Không. Nhưng ta muốn chứng minh rằng chính
quyền Mỹ còn tàn bạo hơn ta gấp ngàn lần.'
Cái bóng của Bin Laden thở dài. Tôi hỏi một
câu cuối cùng:
"Người ta đồn ông có vũ khí nguyên tử. Đúng
hay sai?"
Cái bóng mờ dần trong sương mù nhưng giọng
của ông vẫn nghe được trong tiếng mưa rào
rào:
"Bom nguyên tử không có gì ghê gớm. Hai chục
triệu đô la một quả, nào có đáng gì!"
♦
Tôi đang ở trong ngôi biệt thự tại một góc
nào đó của Saint Petersburg. Chiếc cổng sắt
của ngôi nhà dẫn ra cây cầu nhỏ bắc ngang
một nhánh của sông Neva.
Đã nửa đêm mà tôi không ngủ được. Cái bóng
của Bin Laden vẫn ám ảnh tôi. Dường như có
một ma lực nào đó dẫn dụ tôi ra chiếc cầu đá
đơn độc lạnh lẽo ngoài kia. Cũng không xa
lắm. Tôi tựa thành cầu nhìn xuống dòng nước
đen thẫm và gần như bất động.
Gió từ cửa sông thổi tới, lạnh buốt. Gió làm
tôi tê dại, tâm thức tôi mù mịt, tăm tối.
Tôi đã hình dung chuyến đi Saint Petersburg
sẽ rất hào hứng, rất thú vị nhưng dường như
ngoại giới đã đổi khác. Bin Laden đã làm
hỏng cuộc hành trình của tôi về thành phố
huyền thoại này. Lòng tôi trĩu nặng, xót xa.
Lúc sáng sớm tôi đi một mình trên đường phố
vắng ngắt và sũng ướt, tôi thấy mình xa lạ
và tự hỏi tại sao mình lại ở đây? Cái thành
phố cổ kính xinh đẹp và nổi tiếng này mang ý
nghĩa gì? Trước những quyền lực láo xược và
ngạo mạn đang thống trị hành tinh này, trước
bom đạn, tù đày và đói rách, trước những bữa
tiệc tanh tưởi của lũ ruồi nhặng… thì những
tác phẩm nghệ thuật đang bày trong viện bảo
tàng Hermitage kia không còn ý nghĩa nữa.
Chúng trơ trẽn trong một thế giới bạo ngược,
dối trá và rỗng tuếch. Chúng vô nghĩa trong
một hành tinh ma quỷ.
Mặt nước đen phía dưới đang nhìn tôi bằng
con mắt chế giiễu. Con mắt từng trải của
dòng sông Neva đã chứng kiến ngàn năm binh
lửa, ngàn cuộc đổi thay, ngàn trò hề nhảm
nhí. Dòng sông đang dừng lại, đang ngạc
nhiên khi thấy có con người bé nhỏ hèn mọn
và cô độc kia đang ôm nỗi tuyệt vọng lạnh
buốt của mình.
Trở lại mục
lục
25. Cha tôi
Hai cha con ngồi bên bếp lửa nhỏ. Sáng mùa
đông ở miền Trung trời rất lạnh, ông trùm
đầu bằng một chiếc khăn lông màu trắng đã
cũ, ông nhắc lại những kỷ niệm về mẹ tôi, về
ông cố tôi là cụ Đào Doãn Địch, một lãnh đạo
lỗi lạc của phong trào Cần vương tại tỉnh
Bình Định, được vua Hàm Nghi sắc phong Phụng
Nghị Đại Phu năm 1885, cũng năm ấy ông bị
thương nặng trong một trận đánh lớn với quân
Pháp tại huyện Tuy Phước. Ông phải rút quân
về An Khê cố thủ, nhưng vì vết thương quá
nặng nên đã qua đời tại đó. Trước khi mất
ông giao binh quyền lại cho Mai Xuân Thưởng.
Tôi ngồi nghe, thương cha già yếu, nhưng
trong đầu tôi không hề có ý nghĩ rằng đó là
buổi gặp gỡ cuối cùng.
Hôm trở về, tôi mang tặng cha một chai rượu.
Một người bạn cùng cơ quan nói đó là
rượu nho do người nhà cô cất. Hồi đó
nhu yếu phẩm rất hiếm nên có được chai rượu
làm quà, tôi rất mừng. Cha tôi nói để khui
ra uống thử.
Nhưng đó chỉ là một chai nước lã có màu.
Đó là món quà đầu tiên trong đời làm con của
tôi tặng cho cha ruột của mình. Ngoài ra
không hề có gì cả dù chỉ một đồng bạc.
Tôi mang nỗi ân hận về chai rượu ra đi. Hai
cha con chở nhau trên chiếc xe đạp từ trong
làng đi ra quốc lộ 19. Gần đó có một cái đồi
trọc, hai cha con dẫn xe lên đồi ngồi chờ xe
đò. Chiếc xe cũ kỹ chạy bằng than đá lạch
bạch đi qua. Chúng tôi chia tay nhau. Không
khóc, không ôm nhau, nhưng lòng tôi tràn
ngập nỗi buồn. Hồi ấy tôi nghèo quá, cha tôi
còn khốn cùng hơn. Ông gầy yếu đen đúa và
run rẩy. Ông đứng trên đồi nhìn theo tôi,
không vẫy tay, không một tiếng nói, ông đứng
như pho tượng đá ngóng nhìn vào hư vô. Một
chút sương sớm phảng phất trên mái tóc bạc.
Nắng chưa lên và một chút gió vẫn còn hiu
hắt.
Chiếc xe đò mang tôi đi.
Tại sao tôi lại phải đi?
Cũng như những đứa con khác trong cuộc mưu
sinh khốn nạn của kiếp người, tôi đã phải ra
đi.
Giờ đây tôi có thể ra phố mua một trăm chai
rượu, nhưng đâu còn cha. Mà nếu có còn thì
chắc ông cũng không cần những thứ ấy. Ông
chỉ cần sự có mặt của tôi bên cạnh, ít ra
thì cũng trong giờ phút lâm chung.
Nhưng điều đó vĩnh viễn đã không bao giờ có
được.
Giờ đây tôi về quê để thăm những nấm mồ.
Những nấm đất hiu quạnh, những bia mộ cũ kỹ,
xám xịt, rêu phủ.
Tôi về đây, ngồi trong bóng tối của căn
phòng ngày xưa, nằm trên chiếc võng gai cha
tôi thường nằm gãy đàn Nguyệt. Có lẽ không
mấy người biết cây đàn Nguyệt. Trong tay cha
tôi, nó như một linh hồn. Nó nói bằng giai
điệu của sâu thẳm, bằng tiếng buồn của thiên
thu, bằng cơn nấc nghẹn của kiếp người. Nó
là cây đàn kỳ lạ nhất của nhân loại, nó
không phải là một nhạc cụ, nó là một linh
vật. Một vị thần.
Những năm sau ngày thống nhất, tôi có ý định
về quê đem cây đàn Nguyệt và những bút tích
của cha vào Sài Gòn nhưng đã chậm một bước.
Một cơn lũ lớn đã quét ngang căn nhà, xoáy
thành một cái hố sâu và cuốn tất cả trôi
theo dòng sông Kôn.
Tôi tiếc cây đàn Nguyệt của cha tôi.
Nó biết nói tiếng người.
♦
Rồi những lớp người cứ nối tiếp nhau ra đi.
Và không trở lại. Cái chết buồn và đáng sợ
vì cái sự không trở lại ấy. Nhưng
không ai cứu vãn được. Tôi cũng vậy.
Lúc sống thì phải sống chung với lũ ruồi
nhặng mà mình căm ghét. Lúc chết thì phải xa
lìa nhưng người mình thương yêu.
Đó là bi kịch lớn của nhân loại.
Nhân loại có những bi kịch mà không ai thay
đổi được. Sống và chết là một bi kịch. Nghèo
và giàu là một bi kịch. Đẹp và xấu là một bi
kịch. Bi kịch luôn đứng giữa hai cực mâu
thuẫn nhau.
Nhưng sự mâu thuẫn cũng chính là động lực
của mọi sáng tạo và phát triển. Vì thể nhân
loại vừa rất vĩ đại vừa rất nhảm nhí.
Và đó chính là bản chất của loài người.
♦
Hiểu được bản chất đó tôi biết mình đang
sống.
Giữa trưa một mình bơi ra biển. Lặng thinh
lẫn khuất vào sóng nước. Nổi trôi bềnh bồng,
phiêu bạt như chiếc lá mỏng.
Biển nâng đỡ, ve vuốt, rồi vùi dập. Nước vây
bọc xung quanh như căn phòng xanh bằng thuỷ
tinh ngời sáng. Rồi vỡ tung toé. Mặt trời
sáng loà. Tôi chỉ nhìn thấy đám mây nhỏ
trong vài giây rồi lại bị nhận chìm xuống,
lăn lóc trong cơn xoáy.
Tôi nằm ngửa, duỗi dài, buông thả, nhìn ngắm
thân thể trần truồng của mình lấp lóa nắng.
Cái dương vật dài, suôn, dập dềnh theo mảng
lông đen ngời như rong rêu. Tôi không còn là
một ông già sáu mươi tuổi mà là một con cá
voi nhỏ đang thưởng thức sự cường tráng của
mình.
Tôi đang sống. Đang hoà nhập. Đang hóa thân,
Đang vô danh.
Và tôi đang hạnh phúc. Quá khứ đã qua rồi,
tương lại thì chưa tới. Quá khứ đã chết và
tương lai không hiện hữu. Chỉ có hiện tại là
có thực, là sống.
Tôi đang hoà nhập với sóng. Đang đánh mất
mình trong vô định. Đang rỗng không. Chỉ có
tôi một mình với sóng. Sóng che lấp núi non,
những tàn cây và những ngôi nhà trong phố.
Sóng che lấp bầu trời. Che lấp cuộc đời.
Sóng che lấp bản ngã tôi. Dường như tôi đã
chết. Nhẹ như một chiếc lá. Tan biến như một
gợn sóng.
Cái dương vật vẫn dập dềnh. Dường như tôi đã
ngủ thiếp đi cùng với sự dập dềnh ấy trong
trí nhớ.
Trôi đi, trôi đi thật xa. Hãy rời bỏ loài
người, hãy đến chỗ của vô tận, chỗ của phi
thời gian…
Trở lại mục
lục
26. Nhìn đâu cũng thấy núi
Có nhiều khi, đang ngồi, chợt thèm một cơn
bão. Những cơn bão của tuổi thơ tôi thân
quen hơn bây giờ. Chúng giống như cơn hờn
dỗi của trời đất, một chút thác loạn của
dòng sông. Bão đến lúc nửa đêm, lúc tôi còn
đang ngủ. Nên khi thức dậy bão chỉ để lại
một chút gió, một chút mưa dầm rả rích.
Những con đường ngập nước. Cành cây gãy trôi
giạt. Mặt sân đầy lá xanh. Mái rạ tốc lên
nham nhở. Trời âm u. Ướt sũng. Thuyền đi
trên quốc lộ 19. Trẻ con bơi lội trên vỉa
hè…
Những cơn bão làm thay đổi mặt đất. Thay đổi
làng mạc, thay đổi phố chợ. Đường sá biến
mất. Chòm xóm đầy tiếng cười trẻ nhỏ. Có ai
đó vừa bắt được một con cá chép ngay trên
đường phố. Trẻ con thích thú vì sự thay đổi.
Vì mưa và lạnh.
Ngày xưa, đến cơn bão cũng hiền lành, đến lũ
lụt cũng như ngày hội.
Và những ngày mưa dầm triền miên trong nương
rẫy. Cái nhà sàn xiêu vẹo. Một bếp lửa. Cái
ấm đất. Và những trái bắp vùi trong than
hồng. Mưa rả rích, cứ sột soạt trên lá
khoai, lá chuối. Những con giun đất rất to
bò ngang lối đi. Xách cần câu, mang áo tơi
ra ruộng câu cá rô hột bí. Móc một cái trứng
kiến, nhắp nhắp trên mặt bèo. Cú đớp mồi
nhói tim.
Chỗ tôi thường câu cá rô là ngõ nhà của Hạ.
Hạ ơi! Bao nhiêu năm rồi anh không gặp em?
Anh đi và em ở lại. Anh học nhiều, đọc
nhiều, suy nghĩ nhiều nên đã biến thành ma
quỷ, còn em vẫn ngồi sau những sạp vải ở khu
chợ cũ, không học, không đọc, không suy nghĩ
gì nên em vẫn là em.
Dù sao anh vẫn nhớ em mỗi lần về thăm sông
Kôn, thăm bãi dâu, những đám mía. Cát ở đó
ngày xưa rất là trắng. Anh dẫn em lội qua
sông giữa trưa nắng. Cả một vùng sông nước
mênh mông với nương rẫy, gò đống, đồi cây…
chỉ có anh và em. Chúng ta đã tìm một chỗ để
hôn nhau, một chỗ để yêu nhau. Năm ấy anh
hai mươi tuổi, con em thì mười tám. Chúng ta
đã nằm trên đệm lá tươi xanh nồng nàn mùi
cây cỏ. Buổi trưa im lặng như cõi trời. Núi
vây chung quanh. Nhìn đâu cũng thấy núi.
Phía xa có một cái ao cá diếc và những hàng
cây, treo đầy những ổ chim giồng giộc.
Ba mươi năm sau gặp lại em ở Sài Gòn, em
khóc. Em có chồng giàu lắm mà. Sao em lại
khóc? Hắn đem nhà đi thế chấp cho ngân hàng
để đánh bạc. Bây giờ em không còn nhà. Em về
ở với mẹ.
Phải chi tôi có thể nói được: Thôi, em về ở
với anh. Thời gian đã xía vô mọi thứ. Thời
gian làm hỏng bét mọi thứ. Nó là kẻ mạnh
nhất, cố chấp và lạnh lùng nhất trên cõi đời
này. Trong cuộc hành trình bất tận của nó,
nó đã lấy đi sinh mạng của hàng tỷ người mà
không ai dám chống lại, chỉ có Trịnh Công
Sơn van nài nó cách tuyệt vọng:
Một ngày như mọi ngày
Xin trả lại đời tôi.
Xin hãy trả lại! Hãy trả lại!
Trả lại tôi cái ngày mà ngươi vừa cướp đi.
Tiếng kêu thảng thốt thất lạc giữa “ngày lên
hấp hối”. Nhưng thời gian vẫn lừng lững bước
tới, kéo cả nhân loại thêm một bước đến gần
vực thẳm.
Triêu như thanh ti, mộ
thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan.
(Lý Bạch "Tương tiến tửu”)
Buổi sáng tóc hãy còn xanh,
chiều đã trắng như tuyết. Cuộc đời sao quá
phù du! Hãy uống cho hết cuộc vui. Nhưng
chắc chắn Lý Bạch cũng không tin vào cuộc
vui giả tạo ấy. Bởi nó là cuộc vui trong cõi
vô thường.
Còn tôi, tôi thích ngồi uống rượu một mình
nơi quán lá bên bến sông hiu quạnh, nơi ngày
xưa tôi vẫn thường ngồi với một người đàn bà
đã từng yêu tôi mười năm. Mái tranh lụp xụp
của một bà cụ già. Một cái quán xơ xác,
trống trải. Cái bàn xếp và hai cái ghế gỗ
thấp. Một đĩa cóc xanh, muối ớt. Và xị rượu.
Hồi ấy chúng tôi rất nghèo. Và chúng tôi rất
hạnh phúc. Gió thổi rạp những hàng dừa nước.
Con nước thầm lặng trôi qua chân người. Bến
đò vàng nắng xế. Trẻ con đi học về bước
xuống con đò tròng trành… Mái chèo khua
nước. Hoàng hôn trôi theo sóng lấp lóa.
Bây giờ tôi ngồi một mình nhìn bến đò vắng
không. Con thuyền đã đi rồi, chỉ còn một bãi
đất trống phù du. Bóng xế đọng trong tròng
mắt. Cơn say tràn ra không gian. Mặt trời
ngất ngưởng lặn xuống chân trời xa tắp. Tôi
nhìn cánh cò bay cho tới khi nó mất hút
trong chân trời. Nhưng tôi vẫn ngồi đó. Vẫn
uống. Bà lão vẫn ngồi đó. Vẫn nhìn tôi. Sao
lâu nay cậu đến đây có một mình? Tôi vẫn
uống. Không còn cánh cò nữa. Không còn chân
trời. Hàng dừa nước cũng tan biến. Chỉ còn
lại ngọn đèn dầu nhỏ như một con đom đóm. Và
gió. Lao xao trên mái tranh, rì rào trong
rừng dừa và thỉnh thoảng hú lên khi chạy dọc
theo con nước.
"Tôi thấy tóc cậu bạc trắng. Còn tôi thì
cũng sắp xuống mồ."
"Tôi sẽ đến đây uống rượu cho đến khi bà
xuống mồ."
"Tôi xuống mô rồi, cậu sẽ làm gì?"
"Sẽ đến lượt tôi."
"Đời buồn quá phải không cậu?"
"Đời buồn. Người ta thường uống rượu để quên
nỗi buồn nhưng chỉ trong giây lát. Cũng như
ngồi thiền vậy. Có thể tìm thấy Niết Bàn,
nhưng chỉ trong giây lát."
"Không phải Niết Bàn là Phật sao?"
"Phải. Nhưng Phật cũng chỉ là một khoảnh
khắc."
"Không phải Phật là Đức Thế Tôn sao?"
"Có một lúc nào đó bà cũng là Phật, tôi cũng
là Phật. Rồi sau đó không là gì cả. Ngay cả
Phật cũng có lúc không phải là Phật."
"Vậy sao? Thế còn Niết Bàn?"
"Niết Bàn là chết như một chiếc lá. Chắc bà
không hiểu đâu…"
Trở lại mục
lục
27. Sát
thủ, gái điếm và đĩ đực
Tôi gọi:
"Này Dã Nhân! Thầy hãy lắng nghe:
Những ngọn núi đứng im
ngàn năm
Đã chết vì buồn thảm
Mặt trăng vật vờ trên không
Nhàm chán những vòng quay ảm đạm
Mặt đất chằng chịt dấu chân
Bị giày xéo bởi ngàn năm binh lửa
Những cơn hồng thuỷ và bão trời
Lột da mặt đất
Những bầy đàn người
Với chày đá và xương thú rừng
Với tên tẩm thuốc độc
Săn đuổi nhau trong rừng
Đập đầu trước cửa hang
Giành nhau một ngọn lửa
Giữa đàn người lầm than
Tuyệt vọng trên chiến địa
Nổi lên những cánh tay bốc lửa
Hạng Vũ, Bạch Khởi, Tần Thuỷ Hoàng
Vơ vét những thây người
Xây đắp cơ đồ muôn thuở.
Những cuộc thập tự chinh thời trung cổ.
Những trận cuồng phong trên yên ngựa
“Giết tất cả những ai cao trên thắt lưng”
Vứt xác người ra thảo nguyên mênh mông
Chiếm đoạt gia súc và đàn bà
Lùa vào cái miệng đầy máu
của Thành Cát Tư Hãn."
Thầy hãy bình luận đi."
"Ta đang buồn ngủ."
"Tại sao?"
"Vì ngươi chỉ nói được một nửa. Sao không
thấy Hitler, Mao Trạch Đông, Napoléon, Pol
Pốt, Stalin, Truman, Nixon, Bush? Chúng nó
cũng là những sát thủ."
"Tôi để dành cho thầy."
"Ta mệt mỏi. Ta ỉa vào chúng nó, mặc dù bọn
sử gia viết sách dạy lũ con nít rằng những
thằng chó chết ấy là anh hùng."
"Thế thầy phủ nhận anh hùng sao?"
"Không phủ nhận. Vì vẫn có anh hùng. Đó là
những người chết ngoài mặt trận."
"Nhưng Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Đạo…
chẳng phải anh hùng sao?"
"Khi đánh ngoại xâm thì họ là anh hùng,
nhưng khi dành lại đất nước thì họ là những
ông chủ. Họ coi đất nước là chiến lợi phẩm,
dân tộc là bọn gia nô, đàn bà con gái là
những món đồ chơi xác thịt. Chẳng lẽ phải
gọi họ là anh hùng sao?"
"Nhưng cũng có những minh quân, những nhà
lãnh đạo yêu dân như con. Chẳng hạn như
Nghiêu, Thuấn, như vua Vũ bên Tàu, như
Gandhi bên Ấn Độ, như Nelson Mandela…"
"Ngươi không nhớ Trang Tử nói gì về Nghiêu,
Thuấn sao? Ở chương thứ 7 của Tạp thiên
ngài đã mượn lời Đạo Chích để mắng Khổng Tử:
Thời Thần Nông, dân chúng sống thanh
thản, người và thiên nhiên, người và cầm thú
hoà thuận nhau, không ai hại ai, không ai
tranh giành ai. Nhưng tới thời Hoàng Đế rồi
Nghiêu, Thuấn, đặt ra quan chức, mưu cầu lợi
lộc, gây ra chiến tranh, tang thương khắp
nơi. Kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, nước lớn hiếp nước
nhỏ. Đủ thấy bọn vua chúa, quan lại có ra
gì, chỉ toàn một bọn gây loạn mà thôi. Vậy
mà ông lại muốn ta chạy theo bắt chước cái
bọn trâu ngựa ấy sao? Bấy lâu nay ông đã
dùng xảo ngôn và hành vị giả dối để mê hoặc
bọn vua chúa trong thiên hạ để cầu danh cầu
lợi, mong được vinh hoa phú quý. Đó chẳng
phải là hành vi trộm cướp sao? Tại sao thiên
hạ không gọi ông là ‘kẻ cướp’ mà lại gọi ta
là Đạo Chích?
Xưa nay, để nói về một thời đại thanh bình
người ta thường đem Nghiêu, Thuấn ra so
sánh, nhưng đọc Nam Hoa kinh ta thấy
thời ấy cũng đầy những bọn sâu bọ. Còn
Gandhi, ông ta là một anh hùng chứ. Vì ông
ta đã chết cho nhân dân mà trên mình chỉ có
một cái khố bằng vải thô."
"Vậy anh hùng là gì?"
"Kẻ nào đem lại hạnh phúc cho quần chúng, kẻ
ấy là anh hùng. Ta muốn nói tới những nghệ
sĩ tài năng, những nhà khoa học, những nhà
phát minh, những giáo sư bác sĩ, những nhà
kinh tế…"
"Các chính khách không có tên trong danh
sách của thầy sao?"
"Hầu hết là bọn ăn chặn, bọn trộm cướp và
bọn nói dối. Mặt của chúng rất dày. Sao gọi
là anh hùng được."
"Nhưng thưa thầy, nếu không có chính quyền
thì…"
"Trước đây ta đã từng dạy ngươi những thứ
đó. Ngươi quên rồi sao? Tự cổ chí kim,
từ đông sang tây… lúc nào chính quyền cũng
vừa là bạn của dân, vừa là kẻ thù của dân.
Là bạn dân vì họ tổ chức xã hội, xây
dựng bệnh viện trường học, đường sá... Là
bạn dân vì họ trấn áp tội phạm (mặc dù họ là
tội phạm đầu sỏ!) Không có chính quyền, xã
hội sẽ loạn.
Nhưng chính quyền cũng là kẻ thù của
nhân dân vì chúng ăn chặn tiền của nhân dân
từ những công trình, chúng cấu kết với bọn
tài phiệt trong và ngoài nước chiếm đoạt tài
nguyên quốc gia, chúng bóc lột sức lao động
của công nhân, nông dân, trí thức… chúng
sống đời vương giả trên sự nghèo đói lầm
than của quần chúng, chúng gây chiến tranh
làm hàng triệu người chết, gây tang tóc cho
nhiều dân tộc, nhiều thế hệ chỉ vì tham vọng
cá nhân, vì quyền lợi đảng phái, và có khi
chỉ vì một người đàn bà.
Chúng là người bạn bất đắc dĩ của nhân
dân nhưng chúng là kẻ thù truyền kiếp của
mọi dân tộc. Chúng ăn những bữa tiệc thịnh
soạn và chúng chia cho dân những vụn bánh
mì.
Vì thế ta muốn khuyên lớp trẻ: Các bạn đang
sống trong một thời đại lừa đảo, giả dối,
độc ác và rỗng tuếch. Phải tỉnh táo. Phải
hiểu rằng những thứ như công lý, nhân quyền,
độc lập, dân chủ, tự do, bình đẳng, truyền
thống, dân tộc… toàn là đồ giả, toàn là mớ
bầy nhầy được bơm silicôn cho phồng lên và
trét đầy son phấn. Chúng nó tiếp thị những
từ hoa mỹ đó để trang điểm cho chế độ của
chúng nó. Thực tế trên mặt đất này không hề
có những thứ đó đâu. Đừng tin. Hãy khạc nhổ
vào chúng, ỉa vào chúng, đạp chúng dưới gót
giày và hất vào lỗ cống.
Bọn cầm quyền thực tế là lũ đĩ đực, là lũ
gái điếm chuyên nghiệp. Còn những gái điếm
đang hành nghề trên đường phố, trong khách
sạn, trong các ổ mại dâm chỉ là đám dân
nghèo bất đắt dĩ, những kẻ bất hạnh bị xô
vào hoàn cảnh. Họ ỉa vào những thứ hoa mỹ
ấy, họ chỉ cần cơm, áo. Và thuốc để chữa
bệnh giang mai, bệnh lậu, bệnh AIDS…"
Tôi hỏi Dã Nhân:
"Nhưng liệu lớp trẻ chúng có nghe thầy
không? Dường như chúng không quan tâm đến
những điều mà tôi và thầy hằng bức xúc.
Chúng đang cuồng lên vì điện thoại di động,
đang say mê giới tính, đang chụp giựt ái
tình, chúng mặc xác tham nhũng, mặc xác
chiến tranh, mặc xác khủng bố, mặc xác nhân
quyền… ai làm gì mặc kệ, chúng chỉ biết ôm
nhau trong công viên, trong vũ trường, trong
toa-lét… còn những công nhân viên chức thì
chỉ nghĩ đến đồng lương, đến cái ghế của
mình. Họ không biết, không nghe, không thấy.
Kể cả những anh thợ hồ, những phu xích lô,
những gái điếm, những trẻ bụi đời, những
người thất nghiệp… cũng dửng dưng với tất
cả. Họ cúi mặt sống. Họ im lặng nằm co trong
ổ chuột của mình. Họ âm thầm nhai miếng cơm
chan mồ hôi nước mắt và chẳng bao giờ nghĩ:
tại sao? phải làm gì?"
Dã Nhân cười ha hả:
"Thì đó chính là sự đầu hàng tập thể
mà ta từng nói với ngươi. Đó chính là cách
họ ‘sống chung với lũ’, sống chung với trộm
cướp."
"Vậy thì chúng ta viết cuốn sách này để làm
gì?"
"Để bảo họ đừng đầu hàng. Để bảo họ tố cáo.
Và đó là cách duy nhất để nhân dân có thể
xác lập cái nhân quyền của mình. Nhân
quyền không phải là thứ được ghi trong hiến
pháp, cũng không phải là thứ mà nhân dân
phải xếp hàng để chờ ban phát. Nhân dân phải
tự khẳng định nhân quyền của mình bằng sự tố
cáo, vạch mặt, bóc trần những dối trá, đập
vỡ những huyền thoại. Đó là thứ NHÂN QUYỀN
duy nhất có thật trên cõi đời này."
Trở
lại mục lục
28. Bỉ quân tử hề!
Quân tử là người mẫu thời trang của
Trọng Ni, là thần tượng của nho sĩ, là người
tình lý tưởng của các nàng thục nữ…
Nhưng với nhân dân lao động Trung Quốc ngày
xưa thì quân tử mang một diện mạo khác. Điều
này có ghi lại trong Kinh Thi:
Khảm khảm phạt đàn hề
Trí chi hà chi ngạn hề
Hà thỉ thanh thả liên ỷ
Bất giá bất sắt
Hồ thủ hoà tam bách triền hề?
Bất thủ bất lạp
Hồ chiêm nhĩ đình hữu huyền huyên hề?
Bỉ quân tử hề
Bất tố san hề.
Chát chát chặt gỗ đàn
Chặt xong để trên bờ sông
Nước sông trong và hơi gợn sóng
Những kẻ không cày cấy
Sao mỗi mùa thu được ba trăm triền?
Những kẻ không săn bắn
Sao trong nhà vẫn treo da thú?
Người quân tử kia ơi!
Các người chẳng phải là những kẻ ăn không
ngồi rồi đó sao?
(“Phạt đàn” – Kinh Thi)
Nhân dân là đám đông thầm
lặng, nhưng họ biết tất cả. Nhân dân
biết tất cả, nhưng họ chẳng làm gì được.
Họ bị xua đi lao dịch ở lăng mộ Tần Thuỷ
Hoàng, làm khổ sai ở Vạn lý Trường thành hay
phơi xác nơi chiến địa, bị Bạch Khởi rồi
Hạng Vũ chôn sống cả triệu sinh mạng trong
một đêm, bị biến thành đống xương vô định
trong cuộc tranh giành người đẹp giữa Lý Tự
Thành và Ngô Tam Quế. Bị Mao Trạch Đông tàn
sát hàng triệu người trong Cách mạng Văn
hóa…
Chưa kể nhiều thế hệ đã chết trong các cuộc
thập tự chinh kéo dài suốt gần 200 năm giữa
người Kitô giáo và người Hồi giáo vào cuối
thế kỷ thứ 11, tiếp đến là Chiến tranh Một
trăm năm (La guerre de cent ans) giữa Anh và
Pháp cũng lấy đi sinh mạng của vô số người.
Rồi những cuộc tàn sát người da đỏ ở châu
Mỹ, những cuộc diệt chủng thổ dân ở
Australia, những lò thiêu xác của Hitler và
cả trăm triệu người đã ngã xuống trong hai
cuộc thế chiến.
Trong chiến tranh Việt Nam, năm mươi tám
ngàn lính Mỹ đã tử trận và hàng triệu người
Việt Nam đã chết do bom đạn Mỹ. Hơn 4000
lính Mỹ chết ở Iraq và bao nhiêu người dân
Iraq, người dân Afghanistan đã vùi thây dưới
bom đạn? Số người bị xua vào chỗ chết trên
khắp hành tinh này không thể nào kể xiết.
Nhân dân ơi! Hỡi nhân dân! Các người là ai
vậy? Các người có biết phận mình không?
Trở
lại mục lục
29. Con chim sẻ cuối cùng ở Hàng Châu
Hàng Châu được mệnh danh là Thiên đường của
hạ giới nhưng tôi chỉ chú ý đến một sinh vật
bé nhỏ. Một con chim sẻ. Con chim sẻ cuối
cùng.
Cô gái trên đồi trà Long Tĩnh hỏi tôi:
"Sao chú biết đó là con chim sẻ cuối cùng?"
"Chú đi từ Quảng Châu sang Tô Châu rồi đến
đây, rừng cây chập chùng mà không hề thấy
một con chim sẻ. Đây là con chim duy nhất mà
chú nhìn thấy."
"Nhưng đã chắc gì nó là con chim cuối cùng.
Bộ những con chim sẻ khác đã chết hết rồi
sao?"
"Cách đây mấy chục năm, khi cháu chưa sinh
ra đời, ở quê hương của cháu người ta mở
chiến dịch diệt chim sẻ. Già, trẻ, lớn, bé,
đàn ông, đàn bà… xách cung tên, ná thun,
súng hơi, gậy gộc, phèn la, mõ, trống… đổ xô
đi bắt chim sẻ. Người ta dồn xác chim thành
từng đống lớn, vứt xác chim lên xe cam-nhông
đầy nhóc chở đi từng đoàn. Những con chim sẻ
còn sót lại bị mõ, trống, phèng la, gậy gộc
truy đuổi ráo riết. Chúng bay rã cánh, rớt
xuống đất. Chúng bị diệt không còn một
mống."
"Nhưng vì sao người ta diệt chim sẻ?"
"Vì sợ chim sẻ phá hoại mùa màng. Nhưng khi
không còn chim sẻ thì sâu bọ phát triển
khủng khiếp. Mùa màng bị thiệt hại nặng nề.
Chiến dịch diệt chim sẻ của Mao Chủ tịch đã
làm chết mười triệu người vì thiếu lương
thực."
Cô bé hái trà trố mắt nhìn tôi, nghi hoặc:
"Chú ở tận Việt Nam, sao chú biết chuyện bên
nước cháu?"
"Chú đọc báo và xem phim tài liệu của hai
nhà làm phim nổi tiếng người Đức là
Heynowski và Scheumann. Chú đã nhìn thấy
những đoàn người điên cuồng, những xe
cam-nhông chất đầy xác chim sẻ."
Bỗng nhiên cô bé cười rất tươi:
"Nhưng đó là chuyện đã xưa rồi. Nếu quả thật
có một con chim sẻ còn sống sót sau chiến
dịch đó thì nó cũng đã già và chết từ lâu
rồi. Nào phải con chim sẻ lúc nãy chú cháu
mình nhìn thấy?"
"Cháu giỏi lắm. Tất nhiên đó không phải là
con chim sống sót. Nhưng chiến dịch diệt
chim sẻ là một sự kiện có thật. Một chiến
dịch dốt nát, man rợ và điên rồ."
Cô bé vẫn hái trà. Bàn tay thoăn thoắt ngắt
những đọt trà non còn đọng sương sớm. Hình
như cô muốn quên chuyện chim sẻ, nhưng cô
lại hỏi:
"Sao giọng chú có vẻ gay gắt thế?"
"Vì chú thương con chim sẻ. Và thương cái
thế hệ của cha cháu phải sống dưới ách thống
trị của một con người dốt nát, độc ác và đầy
ảo tưởng."
"Ảo tưởng như thế nào?"
"Ông ta muốn hiện đại hóa Trung Quốc bằng
cách tính của một bà nội trợ."
"Vậy sao?"
"Ừ. Hồi đó Trung Quốc có bảy trăm triệu dân.
Mao Chủ tịch bèn làm một phép tính nhân. Nếu
như mỗi người dân đóng góp 3 ký sắt thép,
đem nhân với 700 triệu thì Trung Quốc sẽ có
một sản lượng thép bằng 5 lần nước Anh. Thế
là mọi người bỏ cả công ăn việc làm đi kiếm
sắt thép. Cả nước thu được một mớ nồi niêu
soong chảo, rựa cùn, cuốc mẻ, dao phay, mã
tấu… rồi đổ tiền của ra mua nhiên liệu để
nấu thép. Hì hục ngày đêm. Nhà nhà nấu thép,
người người nấu thép. Bán bò bán ruộng để
nấu thép. Rốt cuộc thu được một số kim loại
hổ lốn không dùng được việc gì cả. Cái bước
‘Đại Nhảy vọt’ ấy đã khiến nông dân không có
thì giờ cày cấy, sản xuất công nghiệp ngưng
trệ và kết quả là có thêm mấy triệu người
nữa chết vì thiếu ăn."
"Chú ơi! Cô bé kêu lên. Cháu chưa từng nghe
ai nói về Mao Chủ tịch như thế bao giờ."
♦
Nhưng một tỉ người dân Trung Quốc trưởng
thành thì đã biết những điều đó.
Cha ông họ và bản thân gia đình họ đã từng
là nạn nhân của Chiến dịch Chim sẻ, của bước
Đại Nhảy vọt, của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa
Vô sản đẫm máu.
Giờ đây, Mao Trạch Đông vẫn còn đang nằm
trong lăng tại Quảng trường Thiên An Môn
nhưng nhân dân Trung Quốc muốn lôi hắn ra và
ỉa vào cái xác thối ấy.
Một tỷ ba trăm triệu nạn nhân của Mao sẽ làm
cái động tác phóng uế ấy. Lúc đó Trung Quốc
sẽ có một cái lăng vĩ đại được xây bằng…
vàng (!). Lăng mộ đó còn “hoành tráng” hơn
cả lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng, độc đáo hơn cả
thập tam lăng của Triều Minh.
Nhưng sẽ không có du khách nào dám đến thăm.
Vì nó rất thối.
Vài ngày sau có một ngàn con ruồi bay đến.
Ngày kế tiếp đáp xuống một vạn con. Rồi cả
triệu con từ mọi quốc gia trên thế giới bay
về. Trong khoảnh khắc, đàn ruồi lên đến một
tỷ, rồi một ngàn tỷ, một trăm triệu tỷ.
Chúng đến để dự bữa tiệc hùng vĩ chưa từng
có trên mặt đất.
Chúng không hút bằng vòi. Chúng đang ăn.
Chúng đớp. Liếm láp như mèo. Nhâm nhi, gặm
nhấm như chuột. Nhai lại như bò. Ngấu nghiến
như hổ báo.
Chúng bu đen kịt. Vo ve. Rù rì. Rồi im lặng.
Một mảng xám xịt, lúc nhúc. Chợt bốc lên như
đám mây u ám. Chợt hạ xuống. Phiêu hốt, chập
chờn. Hư huyễn như ma trơi. Nín thinh. Rồi
hỗn loạn. Tiếng đập cánh ong óng như gió gào
khóc, như cô hồn rên rỉ.
Chúng vầy thành từng chủng loại ruồi, từng
đẳng cấp ruồi. Chúng vừa ăn nhậu vừa địt
nhau, vừa địt nhau vừa chửi nhau, giết nhau,
vừa giết nhau vừa sinh nở…
Giòi tràn ngập mặt đất. Lũ ruồi không còn
chỗ để đậu, chúng bay lên như một đám mây
khủng khiếp, che lấp mặt trời, bao trùm cả
tầng khí quyển.
Ánh sáng biến mất khỏi hành tinh. Mặt đất
trở nên băng giá. Loài người kêu khóc. Động
vật hoảng loạn. Cây cỏ rũ chết, vùi thây
trong tuyết.
Lũ ruồi bắt đầu chiếm lĩnh các thành phố.
Chúng bốc mùi của cứt đái, mùi đồng, mùi đờm
dãi. Khi chúng bu lên xác chết, chúng có mùi
thối rữa. Khi chúng bay vờn trên chiến địa,
chúng có mùi bom đạn. Chúng sà xuống những
đống tiền, đống vàng, đống cổ phiếu như ma
quỷ và làm cho những thứ đó dậy mùi tanh của
tinh dịch lẫn với máu người. Chúng lởn vởn
quanh các ngai vàng, các phủ, các bộ, các
nhà hàng khách sạn.
Chúng lại mở những đại tiệc trên xác chết
của loài người. Xác chết bất tận vì thế bữa
tiệc của ruồi cũng kéo dài bất tận.
Chúng đang tồn tại và chúng sẽ tồn tại trên
dương gian này hàng ngàn năm nữa. Gió bão,
động đất, sóng thần, lửa trời cũng không
đuổi được. Dù cho chiến tranh nguyên tử có
tiêu diệt cả nhân loại thì chúng vẫn sống.
Sống để truyền kiếp, để xâm nhập vào một
loài người mới, để ăn tiếp bữa tiệc của kiếp
trước.
Đó là bữa tiệc của ruồi.
Trở lại mục
lục
30. Một đời không bến bờ
Chợt tôi thấy thiên thu là
Một đời không bến bờ
(Trịnh Công Sơn)
Năm sáu mươi tuổi tôi khởi sự
viết tự truyện này. Sáu mươi là tuổi “nhĩ
thuận” nhưng lỗ tai tôi nghe cái gì cũng
trái, con mắt nhìn cái gì cũng thấy có gai.
Tôi đi chùa trong gần một năm, học
theo Nam Tông, đọc Trung Bộ kinh,
Bát chánh Đạo, luyện Tứ Niệm xứ…
nhưng mỗi sáng giở tờ báo ra, đọc vài cái
tít lớn là vứt đi vì ngày nào cũng tràn ngập
chuyện vớ vẩn, chuyện tham ô, chuyện lừa
đảo. Viết lách thì như bồi bút.
Buổi tối bật tivi lên. Lại nói dối. Nói dối
trên nền nhạc Richard Clayderman. Quanh năm
suốt tháng cứ Clayderman. Lại trái cái lỗ
tai. Không thể nhĩ thuận được, bèn đi
học thiền. Học không được, bỏ lên núi với Dã
Nhân và chú mọi nhỏ.
Dã Nhân gầy đét như một cây khô, mặt sạm như
đá núi, lòng lạnh như tro tàn. Chú mọi nhỏ
thì như con nai con, chạy nhảy, cười nói lí
lắc.
Ba người ngồi trong cái am nhỏ, mây núi chập
chùng, cũng thấy lòng rũ bỏ được vài phân
trần thế.
Buổi trưa tôi thường đi bắt bọ rùa với thằng
nhỏ, Nó hỏi tôi tại sao con bọ rùa người ta
lại gọi là ladybird? Tôi nói ban đầu
là chữ ladybug. Bug là con bọ, nhưng
rồi có người đọc trại thành bird cho nên mới
có từ ladybird. Giải thích cho vui, không
chắc đã đúng như vậy. Nhưng chú mọi nhỏ rất
tin vào lời giải thích đó.
Thường thì tôi và Dã Nhân hay ngồi uống rượu
với nhau trên một hòn đá phẳng, dưới một tán
lá. Chúng tôi uống rượu thay cho ngồi thiền.
Không ai nói gì nữa vì đã nói quá nhiều rồi.
Muốn thu mình lại như con sâu, trốn trong vỏ
cây. Muốn như con sóc nhỏ đi kiếm hạt dẻ
trong đống lá mục. Muốn như con chim đơn độc
trong kẽ lá…
Ta về rừng, mình mọc đầy
lông như con khỉ già.
Bứt quả xanh, một quả ăn, một quả để dành
Để dành cho chú mọi nhỏ.
Ta về rừng rửa lòng dưới thác
Rũ bỏ ký ức trong ngọn gió núi
Tim trống không như thung lũng hoang tàn
Đập một nhịp buồn như tiếng mõ.
Ta về rừng dạo chơi trên lá khô
Tâm dừng lại trú trong từng bước nhỏ
Bàn chân đặt trên đá đen ngày nọ
Da khô, từng trải một đời buồn
Gót nứt nẻ trầm luân trên mặt đất mênh
mông.
Hai tay trắng không cầm kiếm
Hai tay trắng đã từng ôm ảo vọng
Khóc giữa cơn mưa dài
Uống rượu say mèm trong những chiều phai
Ta về rừng không tu, không đọc kinh
Ta tìm lại cái ta lênh đênh
Lòng như đám mây bay qua ghềnh thác
Lòng như ngọn gió đầu truông ngơ ngác.
Ta về rừng sống hoang dã
Sống như cái cây, sống như hòn đá
Cây im lìm, đá cũng không nói
Sớm mai thức dậy nghe tiếng chim kêu
Nghe tiếng rừng gọi, nghe như ai gọi.
Ai gọi ta, hỡi rừng rất xa?
Ai gọi ta về? Gọi ta về nhà?
Nán lại một giây cùng chú mọi nhỏ
Nán lại để bắt con bọ rùa đó
Nán lại để chờ cánh hoa sắp nở
Rồi ta sẽ về,
Rồi ta sẽ về.
Viết xong ngày 14 tháng 11 năm 2007 tại
Sài Gòn

2007 - San Francisco
© 2008 Đào Hiếu
© 2008 talawas
Trở lại mục
lục
Nguồn:
talawas (17-2-08)
21-2-08
(tu chỉnh 31-3-08)
|