Nhà phê bình Lại Nguyên Ân:

Cái cũ không hàm chứa điều mới mẻ
thì hà tất gì phải đặt bút?”
 
 

Linh Chi
thực hiện

 

 

 

Mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình một “sở trường” để sáng tạo, nghiên cứu

 

Linh Chi: Ông có cho rằng sở trường sở đoản của nhà văn trong qúa trình sáng tạo tác giả, tác phẩm là rất quan trọng không? Với ông, mảnh đất để ông “dụng võ” là gì?

 

Lại Nguyên Ân: Tôi vào nghề văn với tư cách người làm nghiên cứu phê bình, khác với cách vào nghề của những người làm thơ viết truyện. Với tôi, sự đào tạo là yếu tố gần như tiên quyết. Tất nhiên tôi tự nguyện, có năng khiếu và do yêu thích mà vào học ngành ngữ văn của đại học tổng hợp Hà Nội (1964 - 68), và những nét của một người nghiên cứu phê bình, trong trường hợp của tôi, phần lớn là được hình thành từ sự đào tạo vừa kể. Người ta nhận xét rằng, từ hai cái lò đào tạo ngành văn ở Hà Nội những năm 1960, “lò Tổng hợp” cho ra loại người nghiên cứu, còn “lò Sư phạm” (đại học sư phạm) cho ra loại người bình văn giảng văn. Nếu nói đến “đất dụng võ” thì đất của chúng tôi hơi bị … rộng, gồm tất cả những gì liên quan đến quan niệm về văn học, đến văn học sử Việt Nam; đất rộng nên mình múa nhiều lúc vụng, nhưng không bao giờ dám chê đất lệch! Chính vì ‘đất’ cho người phê bình nghiên cứu là rộng nên nhiều người thường thất bại ở giai đoạn sau của con đường trong nghề: giai đoạn trở thành chuyên gia về một thứ gì đó.

 

Linh Chi: Là nhà văn nghiên cứu nhiều về các tác gia văn học cận đại và hiện đại, ông có thể cho biết: để tiếp cận văn bản một cách sâu sắc, nhà lý luận phê bình cần phải có những điều kiện tiên quyết nào?

 

Lại Nguyên Ân: Tôi đã toan nói là cần rất nhiều, song, để đừng ai vì bị nhát sơ sơ mà đã vội lảng tránh xa nghề nghiên cứu, tôi sẽ nói: không cần nhiều lắm đâu! Cứ từ từ tiếp cận đối tượng, rồi những gì cần thiết sẽ đặt ra trước ta và ta sẽ tìm cách trang bị cho mình để có thể đi tới.

 

Tôi vào nghề, ban đầu, bằng việc tham gia đời sống văn học đương thời, viết điểm sách, phê bình, tham gia các cuộc thảo luận, tranh luận, chủ yếu xung quanh các hiện tượng, các vấn đề của văn học đương thời.

 

Kể từ lúc đăng bài báo đầu tiên (1972), khoảng hai chục năm sau tôi mới từ phê bình bước vào nghiên cứu. Lịch trình ấy khiến tôi rút ra nhận xét: từ mặt bằng của quan niệm văn chương hiện đại để bắt tay nghiên cứu phần di sản văn học trước đó, − đấy là cách của tôi. Thật ra thì ngay đối với những nguồn di sản văn chương rất xưa cũng cần sự tiếp cận từ các quan niệm rất mới. Bạn thử nghĩ mà xem: nếu chỉ với quan niệm “văn học là sự phản ánh hiện thực”, làm sao nghiên cứu phân tích thấu đáo được các hiện tượng của văn học Việt Nam 1930-45, văn học cận đại, trung đại?

 

Tác phẩm văn học là một “văn bản” cụ thể, cả trong ý nghĩa là một chỉnh thể liên kết các đơn vị ngôn từ, cả trong ý nghĩa là một bản chữ in cụ thể. Mọi phân tích cần bắt đầu từ đó, cần được nhìn “chú mục”, nhìn thật gần. Nhưng tác phẩm (“văn bản”) lại cũng cần được nhìn từ xa: từ bối cảnh văn hóa mà nó nảy sinh. Nội một thứ là diện mạo cụ thể của sinh hoạt báo chí xuất bản ở các giai đoạn lịch sử cụ thể, lẽ ra người nghiên cứu phải nắm vững, vậy mà tôi thấy sự hiểu biết này ở nhiều nhà nghiên cứu của ta tỏ ra rất lơ mơ. Hãy nhớ rằng hầu hết các tác phẩm đều không hiện ra “lù lù một cục”, ngay trước mắt độc giả, mà thường xuất hiện từ từ, từng phần, qua các kỳ đăng báo, rồi về sau mới có thể được in thành sách. Muốn nắm bắt động thái của các tác phẩm từ khi chúng chào đời, nhà nghiên cứu cần “kiểm soát” được các dấu hiệu của nó ở hai thiết chế (instituts) hoặc hai kênh: báo chí và xuất bản.

 

Linh Chi: Trong khi nghiên cứu và giải mã các tác phẩm nghệ thuật, ông chú trọng điều gì nhất?

 

Lại Nguyên Ân: Tôi chú trọng tính cụ thể của văn bản, tính cụ thể của đời sống văn hóa nơi tác phẩm ra đời.

 

Trước thế hệ tôi, trong nghiên cứu văn học ở miền Bắc có một thế hệ chừng như đã lấy làm tự hào vì cố ý dứt bỏ và đã dứt bỏ được lối nghiên cứu khảo tả cụ thể của lớp người đi trước, cho đấy là lối kê cứu theo cái học “phong kiến” hoặc tệ hơn, theo cái học thực chứng “tư sản”!

 

Vậy là trên sách báo nghiên cứu chỉ còn lại toàn là những thuyết giảng, luận bình về ý nghĩa, tác dụng, về quan điểm lập trường “giai cấp”, có hay thiếu ‘tính’ này ‘tính’ kia, tràng giang đại hải. Lối khảo chứng cụ thể biến mất. Khi cần đến lối này, ví dụ dịp kỷ niệm năm chẵn Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, để làm một niên biểu, đành phải nhờ tay một học giả “cũ”: Hoàng Xuân Hãn, khi ấy ở Paris (Pháp). Tiện thể nên biết thêm: công trình thư mục học có uy tín nhất của những năm 1960-80 ở miền Bắc là của một học giả “cũ”: Trần Văn Giáp.

 

Có lẽ chính từ nỗi thất vọng với lối nghiên cứu của một số bậc đàn anh, tôi đã trở lại với lối khảo tả cụ thể, mặc kệ việc sau lưng tôi hình như đang có những đồng nghiệp muốn loại bỏ tôi ra khỏi cả ba khu vực: giới nghiên cứu, giới lý luận, giới phê bình.

 

Tôi muốn gì ư? Bằng các công việc cụ thể, tôi muốn đưa tới bạn đọc và bạn nghiên cứu những dữ liệu của sự thực, qua đấy kích thích giới nghiên cứu trẻ trở lại tìm sự thực và cảm hứng từ những xúc tiếp ở mức trực tiếp tối đa có thể có với những văn bản gốc, − tuy khó để có các bản chép tay nhưng ít ra cũng là các bản in ngay thời tác phẩm mới ra đời!  

 

Vũ Trọng Phụng và Giông tố  là đề tài không bao giờ cũ

 

Linh Chi: Công trình “Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết Giông tố” không chỉ là một minh chứng cho sự nghiên cứu nghiêm túc, đầy thuyết phục của ông, mà còn hé mở cho chúng ta thấy đây là một đề tài không bao giờ cũ đối với người nghiên cứu. Ông chọn Vũ Trọng Phụng vì lý do gì?

                               

Lại Nguyên Ân: Kể ra, người ta có quyền nói “đề tài không bao giờ cũ” đối với người Pháp khi họ nói về V. Hugo, Balzac, hoặc người Nga khi họ nói về Pushkin, L. Tolstoi, vì nhiều thế hệ của họ đã nói và nói kỹ về các văn hào này. Đối với chúng ta, từ các tác gia trung đại như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, đến những tác giả cận hiện đại, trong đó có Vũ Trọng Phụng, đều chỉ mới được đề cập qua loa, có khi được nói đến rất nhiều nhưng người ta nói mãi về một việc, coi như chưa nói gì đáng kể, chưa làm gì đáng kể, nên vị tất đã nên áp dụng tiêu thức nêu trên; đề tài về từng tác gia Việt Nam nói chung đều còn rất mới!

 

 Tôi chọn Vũ Trọng Phụng, có một phần là vì các chuyên gia đi trước về tác gia này đã chọn tôi! Vâng, chính các nhà nghiên cứu Văn Tâm, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh đã muốn tôi tiếp bước các ông về tác gia Vũ Trọng Phụng. Năm 1995, trong một cuộc họp do giám đốc nhà xuất bản Văn học Lữ Huy Nguyên và thân nhân nhà văn Vũ Trọng Phụng tổ chức, các học giả trên đã đưa tôi vào thành phần thực hiện bộ toàn tập tác phẩm của nhà văn này, giao cho tôi tìm kiếm bộ phận các truyện ngắn, tạp văn, tiểu phẩm… Nỗ lực chung ấy về sau tuy cũng thay đổi, nhưng tôi vẫn nhớ và làm phần việc của mình. 

 

Trên kia tôi có nói, nhiều nhà phê bình nghiên cứu thất bại vì đã không trở thành chuyên gia dù về một thứ gì! Năm 1987 khi đi thăm một số nước trong Liên Xô cũ, thỉnh thoảng tôi lại được hỏi: anh chuyên về đề tài gì, về tác gia nào? Thật ngượng khi mình đã không thể có lời đáp rõ ràng.

Đến giữa những năm 1990, tôi mới có thể tự trả lời: tôi có thể trở thành chuyên gia về hai tác gia Việt Nam: Phan Khôi (1887-1959) và Vũ Trọng Phụng (1912-39).

 

Sức sống của di sản Vũ Trọng Phụng đang ngày càng chứng tỏ đây là một tác gia lớn. Với một tác gia như vậy, ở các nền học thuật khác, người ta tổ chức xung quanh di sản của ông ta khá  nhiều loại công việc nghiên cứu, xuất bản, ví dụ đi tìm toàn bộ di cảo, thủ cảo, kê cứu toàn bộ bài vở đăng báo in sách với các bút danh, các loại ấn phẩm, khảo sát văn bản học đối với các tác phẩm, phát hiện những dị bản, tìm lại những di vật có liên quan, v.v… đủ để làm một bảo tàng, thực hiện các bộ tuyển tập và toàn tập cả ở dạng hàn lâm lẫn ở dạng phổ thông; ấy là chưa kể khoảng dăm mươi năm lại làm các cuốn sách kiểm lại dấu vết sức sống của tác gia ấy trong thời gian, v.v… Còn ở ta, hầu như các tác gia xưa cũ đều được coi như thứ “của chung”, tiện có người mua sách thì đem in lại, tiện dịp kỷ niệm năm chẵn thì mit-tinh, cảm thán dăm bài, tưởng nhớ rồi thôi.

 

Tôi nghĩ một mình không đủ sức để làm tất cả các việc cần làm cho một tác gia lớn, nhưng có thể chọn làm một vài việc khả thể. Ví dụ tình trạng văn bản các tác phẩm của tác gia này, nó được in đi in lại khá nhiều, nhưng chưa chuyên gia nào kiểm kê kỹ xem văn bản từng tác phẩm đã biến động ra sao qua các lần in? Tôi nhắm vào mấy tác phẩm như ‘Giông tố’, ‘Số đỏ’, nhưng phải trải qua dăm bảy năm tìm kiếm, đến cuối năm 2006, khi đã có đủ chứng tích cả bản đăng báo 1936 lẫn bản in sách 1937 của ‘Giông tố’, tôi mới có thể trình bày toàn bộ ‘vấn đề văn bản tác phẩm’ và giải quyết nó trong phạm vi một cuốn sách.

 

Tôi cũng rất muốn làm với ‘Số đỏ’ như đã làm cho ‘Giông tố’, nhưng hiện vẫn chưa tìm thấy bản in sách lần đầu, 1938, tức là chưa có được một trong những đầu mối không thể thiếu; sự tìm tòi vẫn tiếp tục tuy chưa biết bao giờ có thể ‘báo cáo’ trước công chúng.

 

Linh Chi: Vì yếu tố thời gian và những vấn đề lịch sử văn học để lại, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học, tương đối chính xác và đầy đủ tác giả tác phẩm Vũ Trọng Phụng, với ông có gặp nhiều khó khăn không?

 

Lại Nguyên Ân: Không chỉ là đối với tôi, bất cứ nhà nghiên cứu nào đi vào khu vực này đều gặp vô số khó khăn. Chủ yếu là khó khăn về tư liệu. Các cơ sở lưu trữ của ta không còn giữ được tất cả nguồn sách báo trước 1945. Nguồn lưu trữ sách báo Việt Nam tại nước ngoài, nhất là tại Pháp, tuy là rất đáng kể, là một nguồn bổ sung lớn, song hầu như chúng ta phải thừa nhận có những ấn phẩm đã hoàn toàn biến mất. Muốn tìm kiếm, phải tới không chỉ các thư viện lớn mà cả những thư viện gia đình, những người chơi và kinh doanh sách cũ, v.v… May ra còn những ấn bản sót lại…

 

Linh Chi: Cái mới của công trình nghiên cứu? Điều ông tâm đắc nhất ở công trình nghiên cứu này?

 

Lại Nguyên Ân: Nếu tôi không lầm thì, với cuốn sách này của tôi, ‘Giông tố’  là tác phẩm văn chương chữ quốc ngữ đầu tiên được khảo sát về văn bản học; trước nó, ở ta chỉ có một số công trình văn bản học về các tác phẩm Hán-Nôm mà thôi. Những người làm sách kỷ lục Việt Nam hẳn chẳng mấy quan tâm đến chuyện này! Thế cũng chẳng sao, − đóng góp của người làm nghiên cứu phê bình rất ít khi được tính đến. Điều tôi tâm đắc, với tư cách một độc giả của Vũ Trọng Phụng, là lần đầu tiên sau hàng mấy chục năm chỉ biết văn bản tác phẩm với một số câu đoạn bị để dở dang bằng dấu “chấm lửng” (…) tôi đã thấy được một văn bản ‘Giông tố’ liền mạch, đã khôi phục được toàn bộ văn bản như khi tác giả đưa đăng báo lần đầu và in sách lần đầu, đã hình dung được một vài thử thách mà văn bản phải hứng chịu ngay trong hai năm tồn tại đầu tiên (1936-37); những dấu tích về sự mất mát còn lộ rõ trên văn bản qua hai lần tái bản sớm (1951, 1956) cho thấy khả năng bị sai lạc văn bản là nguy cơ có thật, ngay đối với văn học chữ quốc ngữ hiện đại, và ‘Giông tố’ chỉ là một trong số các minh chứng. 

 

Phương pháp hay tài năng quyết định thành công?

 

Linh Chi: Giải mã một văn bản nghệ thuật, không chỉ có việc tìm ra phương pháp mà còn phải là người có tài năng và tâm huyết. Ông nghiêng về yếu tố nào?

 

Lại Nguyên Ân:  Đối với công việc khảo cứu, xin thay đổi chữ dùng: “năng lực” thay vì “tài năng”, “trách nhiệm” thay vì “tâm huyết”. Vâng, cả hai thứ đều đáng kể: tinh thần trách nhiệm và năng lực. Tôi đã gặp những người “tâm huyết” với sưu tầm phục dựng di sản của các tác gia quá cố, nhưng họ thiếu năng lực và phương pháp nên công sức đổ ra rất nhiều mà kết quả lại không tương xứng; phiền toái nhất là khi bị chê trách, họ lại đưa “tâm huyết” ra để biện minh!    

 

Linh Chi: Tại sao ông lại cho rằng phê bình văn học nghệ thuật cần được coi như một số các loại hình hoạt động văn hóa xã hội? Điều đó có mâu thuẫn với tính đặc thù của chức năng thể loại không?

 

Lại Nguyên Ân: Việc tôi coi phê bình văn học nghệ thuật như một hoạt động văn hóa xã hội không mâu thuẫn với đặc thù về chức năng của phê bình, bởi phê bình là nghị luận, mà nghị luận lại là phương tiện chung của phát ngôn, sự ngôn luận, của dư luận xã hội. Phê bình văn nghệ có khi thu lại trong vai trò điểm sách điểm phim, dọn vườn văn sửa chữ nghĩa, có khi bung ra hết cỡ để trở thành chính luận. Bản thân tôi từng là một trong những tay bút “nổi giận” ở cao trào đổi mới, đã dùng phê bình để chỉ trích những hạn chế chết người của cơ chế bao cấp, đã dùng phê bình để tác động vào một số đổi thay trên một số vấn đề lý luận văn nghệ tưởng chừng trở thành vòng kim cô bất biến suốt mấy chục năm ròng của thời bao cấp. Chính kinh nghiệm hoạt động cho tôi thấy khả năng co dãn của phê bình, tùy thuộc thời nó sống đồng thời tùy thuộc sức sống mạnh yếu của chính nó.

 

Linh Chi:“Mênh mông chật chội…”  là một cuốn tiểu luận phê bình dài hơi, nghiêm túc với vấn đề, góc độ liên quan đến tác phẩm, tác giả tương đối thuyết phục độc giả. Lộ trình nghiên cứu và tìm ra vẻ đẹp của tác phẩm còn ẩn náu bên trong ngôn từ của các tác phẩm, − ông có gặp nhiều khó khăn không? Tại sao?

 

Lại Nguyên Ân: “Mênh mông chật chội…”  là tập hợp các bài tiểu luận phê bình tôi viết trong khoảng mươi năm gần đây (1996-2006); thử kiểm lại, quả là tôi đã đi sang nghiên cứu nhiều hơn hẳn công việc phê bình. Trên đường trở lại tìm kiếm dấu vết của một vài tác giả, tôi chợt gặp những hiện tượng hoặc rất thú vị hoặc rất cảm động, buộc tôi dừng lại xem xét và viết thành bài. Đó là khi gặp những bài Đông Hồ bàn về quốc văn, là khi tìm thấy cuốn tiểu thuyết ‘Tây phương mỹ nhân’ của bà Huỳnh Thị Bảo Hòa, là khi tìm thấy cả một cuộc thảo luận về viết sách giáo khoa tiếng Việt tại Sài Gòn, v.v… Tôi quên luôn việc mình không phải người nghiên cứu lịch sử, cứ tiếp cận sự việc. Về những chuyện này, khó khăn là từ nguồn tư liệu. Còn khó khăn thực sự lại vẫn là chuyện luận bàn lý thuyết, như bài về độ co dãn của phê bình vừa bàn ở trên; phải qua một số “chiến thuật” nhập cuộc, nó mới có thể xuất đầu lộ diện.

                         

Thực tế và thái độ của nhà phê bình

 

Linh Chi: Trong tác phẩm “Mênh mông chật chội”, yếu tố đồng hiện đã giúp ông thể hiện rõ những vấn đề liên quan đến thời gian và không gian tác phẩm? Ông có cho rằng hiện nay, có một số nhà phê bình chỉ quan tâm đến thời gian thực tại để soi chiếu và nghiên cứu tác phẩm? Nếu như vậy, chúng ta đang đánh mất điều gì lớn nhất?

 

Lại Nguyên Ân: Cảm ơn bạn đã phát hiện ra yếu tố đồng hiện trong một số bài nghiên cứu của tôi. Vấn đề là tôi soi tìm các hiện tượng văn học sử quá khứ từ tầm nhìn của người hôm nay. Để làm rõ một sự kiện hay một giá trị nào đấy, tôi phải huy động tài liệu của không chỉ một mà có khi vài ba thời điểm; những điều này khi đặt vào cùng một ngữ cảnh nghiên cứu sẽ cho thấy những liên hội thú vị. Tôi không dám lấy kinh nghiệm riêng để chê trách một ai khác. Rất có thể việc phê bình một vài tác phẩm vừa ra mắt không dễ gợi hứng cho những liên hội lệch thời gian. Hẳn là chúng ta có thể tiếc rẻ quá nhiều thứ đã mất đi, nhưng tâm lý hoài cổ ấy có lẽ chỉ đậm ở những người già như bọn tôi…  

 

Linh Chi: Phương pháp đồng hiện có trong tất cả các bài nghiên cứu. Cảm xúc chi phối như thế nào trong quá trình nghiên cứu, theo ông? Việc “làm mới” hay nói đúng hơn phát hiện cái mới tưởng như đã cũ lâu nay bị bỏ quên, đối với nhà nghiên cứu phê bình, quan trọng như thế nào?

 

Lại Nguyên Ân: Riêng đối với cảm nhận của tôi, nếu ở cái cũ không hàm chứa điều gì đó mới mẻ trong cảm nhận hôm nay của mình thì hà tất cần đặt bút. Tôi đã thử đưa ngòi bút mình vào một vài việc tưởng như không lối thoát, chẳng hạn, thử trả lời câu hỏi: sự việc Vũ Trọng Phụng bị gọi ra Tòa hồi năm 1932 có thể là vụ việc thực hay không? Để làm việc này, tôi phải xem kỹ lại các mẩu rao vặt, các bản tin tòa án ở các báo đương thời, − loại tin nhạt nhẽo, trong sự kiếm tìm của kẻ hậu lai, bỗng dưng hiện ra, dù chỉ đôi mẩu, nhưng với đầy các sắc thái thông tin. Tư liệu không cho tôi đủ những lời đáp mong muốn, nhưng các nghiên cứu của tôi làm lộ diện được một sự việc có thật, và đó là một sự thật còn ít nhiều bị che khuất. Có thể có người bảo: để làm gì những việc ‘vặt vãnh’ ấy?! Nhưng đừng quên đây là cả một đam mê của nhân loại, khi người ta tìm hiểu chiếc răng sâu của Napoléon hay một mặc cảm của Hitler. Trong khó khăn của sự tìm biết qua độ xa ngái của thời gian, trí tuệ con người dường như tìm được sự thử thách đáng đương đầu. 

 

Linh Chi:  Sự cảm tính, thái độ cực đoan, u dua a tòng, hay mũ ni che tai, ngại va chạm… là những căn bệnh cố hữu thường xuất hiện ở người làm công tác phê bình. Ý kiến của ông về thực trạng này?

 

Lại Nguyên Ân: Giới phê bình nghiên cứu, cũng như mọi giới xã hội khác, có đủ những lề thói xấu tốt của người đời. Chỉ mong những căn bệnh ấy bớt trầm trọng chứ đừng mong xóa bỏ.

 

Linh Chi:  Nếu như cần một sự thay đổi, theo ông đó là sự thay đổi nào?

 

Lại Nguyên Ân: Thay đổi từ từ, theo chiều hướng xã hội của ta ngày càng thêm văn minh, dân chủ, cộng đồng ta làm quen dần với ý niệm và thực hành khoan dung, tức là thái độ chấp nhận kẻ khác, thay vì khăng khăng hăng hái “cải tạo” người khác. 

 

Linh Chi: Ý kiến của ông về công việc phê bình văn học hiện nay?

 

Lại Nguyên Ân: Hiện vẫn còn nguy cơ từ thứ phê bình “đâm thuê chém mướn”, thứ phê bình “đặt hàng khủng bố”, nhưng nguy cơ không lớn lắm; còn lại, thứ phê bình “lăng-xê” quảng cáo đang có chỗ đứng quá rộng, những bệnh tật từ “văn bài trường ốc” cũng đang úm ‘làng’ phê bình… Rất khó để có thể hình dung có một thứ phê bình khỏe khoắn ở những ngày này. 

                                                                                                    07/01/2010

                                                                                             Lại Nguyên Ân

 

● Đã đăng ‘Giáo dục & Thời đại’ số đặc biệt cuối tháng 1/2009, tr. 30-31