|
Bản gốc của anh Lại Nguyên Ân gửi cho viet-studies (Bản đã đăng trên Thể Thao & Văn Hoá là đã được báo ấy biên tập)
THU THẬP TƯ LIỆU CHO VĂN HỌC SỬ… (trò chuyện với nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân)
Được biết cuối tháng 4/2006 vừa rồi, nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã cho ra mắt tập 7, tập cuối của bộ Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954. Nếu tính từ năm 1996 với việc khởi đầu làm Sưu tập trọn bộ TIÊN PHONG 1945-1946, thì sau 10 năm, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã hoàn thành 2 bộ sưu tập 2 tạp chí quan trọng nhất của văn học cách mạng và kháng chiến. Nhân dịp này phóng viên chúng tôi có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, người tổ chức biên tập cả 2 bộ sách nêu trên.
PV- Ông có thể cho biết từ khi nào đã xuất hiện cái ý tưởng làm sưu tập,-- tức là tìm và in lại -- toàn bộ những tờ tạp chí khởi đầu của văn học cách mạng và kháng chiến,-- tạp chí Tiên phong (1945-1946) và tạp chí Văn nghệ (1948-1954)?
LNA- Khoảng giữa năm 1995 thì phải, tôi có dự một hội thảo nào đó, thấy nhiều diễn giả trong khi gắng đưa ra những đánh giá mới của mình về văn học cách mạng và kháng chiến Việt Nam (1945-75) thì lại bộc lộ những lầm lẫn đáng tiếc về tư liệu. Vậy là trong óc tôi nảy ra ý này :Tại sao không tập hợp và cho in lại những bài báo, những tác phẩm đã từng xuất hiện trong dòng thời gian? Tại sao không tạo ra một nguồn tư liệu chắc chắn để hạn chế tối đa những nhận định thiếu cơ sở? Ít lâu sau tôi gửi đăng trên tuần báo Văn nghệ nội dung sự đề xuất đó của mình.
Thật ra, điều này vốn nằm trong dự tính của tôi và Vương Trí Nhàn, là 2 người được giao chuyên lo phần sách phê bình nghiên cứu từ khi Nhà xuất bản Hội Nhà Văn được tái lập (1976). Những năm 1980 anh Nhàn tổ chức được những tập tư liệu nhan đề Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học, ra được 3 quyển, in lại nhiều lần; những năm 1990 tôi và chị Ý Nhi tổ chức được “Tủ sách thế giới văn học” ra đến vài ba chục cuốn, mở ra loại sách tập hợp tư liệu về từng tác gia (Quang Dũng, Nguyễn Bính, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lê Văn Trương, Thanh Tịnh, v.v…điều này có ý nghĩa vượt qua thời bao cấp mà hầu như chỉ được ra sách về 2 tác gia văn học là Hồ chí Minh và Tố Hữu). Trong nghề làm sách, cùng một loại nội dung có thể mở ra nhiều loại khác nhau. Riêng làm sưu tập thì rất gần với lối in phục chế các văn bản cũ, -- chính loại sách này lại là mới trong ngành làm sách ở miền Bắc và ở nước ta nói chung, tính đến những năm 1990. Những cung cách biên tập quen tay thời bao cấp, chẳng hạn sẵn sàng gạch bỏ hoặc chữa lại những từ, câu hoặc đoạn văn nếu thấy chúng “không hợp thời”, -- bây giờ trở nên nguy hại cho việc thực hiện các sưu tập…
PV- Ông đề xuất và lập tức được chấp nhận?Việc làm sách là hoàn toàn thuận lợi?
LNA- Có vẻ như thế nhưng khó khăn lại đến từ phía khác. Loại sách này vốn kén khách, nó là quý và cần nhưng là chỉ cho một số ít (chủ yếu là giới nghiên cứu và giới đại học), dự tính chỉ tiêu thụ được mấy trăm bản. In loại này chỉ lỗ chứ không lãi, vì thế chỉ có thể trông cậy vào nguồn tài trợ từ ngân sách công. Không phải ai cũng thích làm loại sách tốn nhiều sức nhưng nhuận bút quá thấp như thế nếu không phải người tâm huyết. Rất may là ông Hữu Nhuận với tư cách người sưu tầm đã cộng tác với chúng tôi từ đầu đến cuối. Tôi là người biên tập chính, một mặt thúc giục giám đốc NXB về tiến độ thực hiện, mặt khác sẵn sàng hỗ trợ ông Nhuận khi nguồn tư liệu của ông có những thiếu hụt. Năm 1996 chúng tôi ra được tập I của Sưu tập TIÊN PHONG 1945-1956, đầu năm 1997 ra tiếp tập II và hoàn thành bộ thứ nhất này.
Tôi nhớ là bộ Sưu tập TIÊN PHONG ra mắt đã gây một kích thích nhất định trong giới nghiên cứu. Nó đã gợi ý cho việc xuất hiện những sách cùng loại như Sưu tập TAO ĐÀN 1939, hoặc Sưu tập TRI TÂN (cuốn này chỉ ra được tập đầu, đến nay vẫn thấy bỏ dở).
PV- Còn Sưu tập VĂN NGHỆ, nó được làm nối ngay sau Sưu tập TIÊN PHONG ?
LNA - Một lần thoáng gặp ít phút ở một cuộc hội họp tại Hà Nam, nhà văn Nguyễn Đình Thi (khi đó là chủ tịch Liên hiệp toàn quốc Các hội văn học nghệ thuật VN) bảo tôi rằng ông vừa xem Sưu tập TIÊN PHONG và nhận xét là tôi biết cách làm việc, luôn thể ông gợi ý tôi tổ chức tiếp một sưu tập cho tờ VĂN NGHỆ thời kháng chiến ở Việt Bắc. Sau đó ông Thi chính thức nêu đề nghị này với giám đốc Nxb HNV. Bộ Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954 khởi đầu thuận lợi vì cơ quan Liên hiệp VHNT chỗ ông Thi đặt hàng 200 cuốn cho một kỳ đại hội. Thế là năm 1998 ra được tập 1 (mà nội dung là tạp chí VN năm 1948), năm 1999 ra tập 2 (VN 1949), năm 2000 ra tập 3 (VN 1950). Đến đây thì tắc. Các vị trong ban giám đốc bảo: tập 3 sách đọng cứng trong kho, phải đem bán cân, dừng lại thôi! Mấy năm sau, năm nào tôi đề nghị dành tài trợ cho việc làm tiếp bộ sách này cũng bị bác bỏ. Đến 2003, tôi thuyết phục ban giám đốc: hai năm 1951-52 Văn Nghệ chỉ ra được rất ít, tôi sẽ ghép chung 2 tập 4 và 5 vào một cuốn sách không dày, các tập còn lại sẽ tính sau. Thế là ra tiếp được 1 cuốn gồm 2 tập ấy. Nhân dịp này, tôi tổ chức cho xếp chữ và làm chế bản luôn các tập còn lại, để sẵn đấy, chờ lúc nào có thể là đưa in chen ngang, gối đầu là sẵn sàng đưa ngay… Và tập 6 ra năm 2005, tập 7 ra năm 2006. Dù sao thì mãi đến khi tận mắt nhìn thấy bản in tập 7, tôi mới thở phào vì đã xong hẳn một việc.
PV- Ông thấy việc làm sưu tập như thế này đem lại ít hay nhiều lợi ích?
LNA – Nếu không tin chắc vào sự ích lợi, chúng tôi đã chẳng nỗ lực đến thế. Ngay đối với những kẻ vốn coi trọng tư liệu như bọn tôi, cứ tưởng mọi thứ trong sưu tập của mình đã đủ hết; chính công việc hệ thống hoá một ấn phẩm định kỳ vào một sưu tập đã buộc chúng tôi phải tìm cách bổ sung những khiếm khuyết. Chẳng hạn, hầu hết những ai từng tham khảo tờ Tiên phong tại các thư viện ở Hà Nội đều không thấy có số 4 và số 5. Chúng tôi đọc kỹ lại, thấy sau số 3 toà soạn thông báo nghỉ để chuẩn bị ra số mùa xuân. Số đặc san ấy ở đâu? Về sau tôi tìm thấy nó không ở kho báo mà lại ở kho sách, dưới nhan đề NGUỒN SỐNG MỚI , chính đây là đặc san Tiên phong xuân 1946 (Vừa rồi nhân vào đọc ở Thư viện TH TP HCM, tức thư viện quốc gia cũ, tôi thấy ở đây có tập Nguồn sống mới này, nhưng các số Tiên phong khác thì ở đây không có số nào). Hoặc nữa, người ta bảo Tiên phong chỉ ra đến số 23 thì chấm dứt, khi nổ ra toàn quốc kháng chiến; nhưng ông Hữu Nhuận từ lâu rồi đã mua được ở hàng sách cũ Hà Nội một bản in Tiên phong số 24 (ra ngày 1/12/1946), vậy số báo ấy ít nhất cũng đã in xong thậm chí đã phát hành ở Hà Nội những ngày khói lửa mùa đông 1946 rồi.
Tôi ngồi đọc ở thư viện thường thấy những người nước ngoài nghiên cứu về VN rất chăm đọc báo cũ; mùa hè nào tôi cũng thấy David Marr từ Úc sang Hà Nội hầu như vào thư viện chỉ đọc báo VN cũ (nên biết ông giáo sư ấy là tác giả nhiều cuốn sách về sử VN đang thông dụng trong các đại học Anh Mỹ); mới đây có một nghiên cứu sinh khác từ Mỹ về, chỉ mới dự kiến viết luận án về Tự Lực Văn Đoàn thôi, đã tìm chụp không sót trang Phong hoá, Ngày nay nào. Nghiên cứu thật thì phải tiếp cận kỹ càng tư liệu thật. Chả bù với khá đông bạn nhà ta kiếm được những cái danh ông nghè ông cống chỉ với dăm tác phẩm tuy của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao thật đấy, nhưng chỉ là sách mới in ra những năm 1990. Tôi cũng lấy làm buồn cho không ít bạn viết báo đang làm ăn với mảng văn hoá văn nghệ của các trang báo giấy báo điện tử mà lại mù mờ văn học sử VN.
PV - Đối với văn nghệ thời cách mạng và kháng chiến VN, hai bộ tư liệu trên đã có thể xem là đủ chưa?
LNA- Tiếc là chưa! Tôi nghĩ cần làm các bộ sưu tập về hoạt động văn nghệ ở các địa phương trong kháng chiến, ví dụ ở Liên khu IV, ở Nam Trung Bộ, ở Đông Nam Bộ. Tôi biết nhiều bạn nghiên cứu đánh giá cao những tờ như tờ Lá lúa do Lê Tràng Kiều làm những năm 1950 ở Đông Nam Bộ; rất mong có người bắt tay làm thành sưu tập.
Tất nhiên người ta chỉ sưu tập những gì bắt đầu trở nên hiếm quý, và nếu công trình sưu tầm lại tỏ ra quá hời hợt thì uy tín người sưu tầm cũng mờ nhạt đi.
Nhìn vào việc nghiên cứu phần di sản bằng chữ viết của dân tộc mình, có thể thấy cách xử sự không ngang nhau : Các di sản bằng văn tự Hán Nôm, từ những năm 1980-90 trở đi, bắt đầu được xem trọng thật sự; người ta lưu ý thống kê để biết ở các kho sách trong và ngoài nước, kể cả các tủ sách tư nhân, hiện còn tồn trữ bao nhiêu văn bản (tác phẩm, thậm chí không phải tác phẩm) Hán Nôm; tóm lại việc nắm thông tin tư liệu toàn bộ đã được đặt ra. Trong khi đó, chưa hề có cách đặt vấn đề như vậy đối với những gì các tác gia người Việt viết bằng chữ quốc ngữ la tinh; mà phần di sản này là một khối lượng lớn lắm.
Với khả năng của công nghệ thông tin ngày nay, nghiên cứu xã hội nhân văn phải đi liền với thống kê tư liệu toàn bộ. Một công trình văn học sử được soạn thảo thời nay không thể lặp lại lối cũ, dù là lối của nhóm Lê Quý Đôn, nhóm Đại học sư phạm, hoặc nhóm Đạo học tổng hợp những năm 1950-60 ở miền Bắc…nhất là về yêu cầu bao quát tư liệu. Khi công nghệ đã cho phép triển khai thống kê thì người làm văn học sử không thể dừng lại ở những phán đoán tài tử hoặc ấn tượng. 28/7/2006 PVP (thực hiện)
|