TIỂU THUYẾT ĐĂNG NHẬT BÁO − TẠI SAO KHÔNG?

                                                                              

Lại Nguyên Ân

 

Trong tập quán làm báo của những nền báo chí lâu đời nhất, việc đem tiểu thuyết, hay là các truyện dài nói chung, đăng đều kỳ trên các nhật báo, tức báo ra hằng ngày, là điều quá đỗi bình thường, thông thường. Người ta gọi dạng đăng tải này là “đăng đều kỳ” (feuilleton). Nó đáp ứng nhu cầu “đọc dần dần” một tác phẩm dài hơi, có khi như là đọc cùng lúc nó đang được viết ra. Chính cái khoảng cách rất gần giữa thời điểm viết ra truyện và thời điểm được người ta đọc tạo ra sự “nóng sốt” của tâm lý công chúng, tạo ra sức sống của văn hoá đọc.

Chẳng cần dẫn chứng đâu xa, ngay ở báo chí tiếng Việt hồi đầu thế kỷ XX, báo chí ở miền Bắc những năm 1950 trở về trước, báo chí ở miền Nam trước 1975, hầu hết tiểu thuyết và truyện dài nói chung đều xuất hiện dưới dạng đăng nhiều kỳ trên báo trước khi in thành sách riêng.

Báo chí, nhất là các tờ báo ra hằng ngày, vốn là một trường truyền thông tổng hợp, nó được tạo ra giống như một siêu thị hiện đại, do tính đến đủ loại nhu cầu của người tiêu dùng. Người ta mua báo không chỉ để xem tin tức thời sự quốc nội quốc ngoại và những ý kiến những luồng dư luận về thời sự xa gần, người ta mua báo còn là để xem tin thời tiết, giá cả thị trường, tin tức thể thao, các chuyện lạ đó đây, lịch chiếu phim hoặc biểu diễn tại các rạp trong vùng, v.v.…., và một loại nhu cầu nữa khiến người ta mua tờ nhật báo là nhu cầu đọc tiếp một câu chuyện đang được đăng tải liên tục chính trên tờ báo mà họ chọn mua. 

 Đối với người sáng tác truyện dài, việc đưa tác phẩm đang viết đăng dần lên báo có hai cái lợi: một là nhuận bút để nuôi sống mình, hai là nghe ngóng dư luận công chúng và đồng nghiệp về tác phẩm mình đang viết để bổ sung hoàn thiện tác phẩm cho lần in sách đầu tiên.

Không rõ do những nguồn cơn nào, báo chí ở miền Bắc nước ta từ khoảng đầu những năm 1960 trở đi đã bỏ mất tập quán đăng tiểu thuyết lên nhật báo. Có thể vì hồi ấy trong tình thế bước vào chiến tranh, nguồn giấy hiếm đi; cũng có thể vì hồi ấy đang nổi lên xu thế phân chia báo chí theo ngành hẹp, dẫn đến chỗ cho rằng việc đăng tác phẩm nói chung là công việc riêng của các tờ báo thuộc hội văn nghệ, hội nhà văn, v.v…

 Điều đáng tiếc là việc cắt đứt tiểu thuyết với báo hằng ngày như trên đã lây lan ra báo chí cả nước, kể từ sau 1975. Và còn đáng tiếc hơn nữa là từ thời đổi mới đến nay, tuy chúng ta chủ trương trở lại với nhịp sống bình thường, và báo chí đã có một bước phát triển lớn lao so với trước thời đổi mới, song, việc cắt đứt dấu nối nhiều đời giữa tiểu thuyết với báo hằng ngày lại vẫn cứ được duy trì!

Có chuyện gì bí ẩn ở đây chăng? Khi viết những dòng này, tôi chưa kịp xem lại luật báo chí hiện hành, song vẫn đoan chắc trong đó không có điều khoản nào cấm việc các báo ra hằng ngày đăng đều kỳ các tiểu thuyết và truyện dài nói chung! Vậy thì nguyên do từ đâu? Phải chăng từ sự xơ cứng trong đầu óc các ông chủ báo thời nay? Nếu không thế thì vì sao báo chí của thời hội nhập mở cửa lại cứ duy trì một cách làm phi truyền thống, không thấy lợi mà chỉ có hại, của báo chí thời chiến và báo chí thời bao cấp? 

Việc bỏ mất tập quán đăng đều kỳ các tiểu thuyết và truyện dài lên báo hằng ngày từ dăm chục năm qua vừa làm thiệt hại cho công chúng, vừa làm thiệt hại cho giới nhà văn viết tiểu thuyết và truyện dài. Công chúng thì vô tình đã bỏ mất một thói quen tốt là thường xuyên theo dõi các câu chuyện đang được viết ra bởi các nhà văn nước mình; còn nếu như họ vẫn chưa mất thói quen thưởng thức nghệ thuật kể truyện kiểu ấy thì họ đành dõi theo các câu chuyện trên các phim truyền hình của các tác giả Hàn Quốc, Trung Hoa! Trong khi đó, các tiểu thuyết gia của ta, để kiếm sống, phải xoay xoả viết đủ loại các bài báo vặt, sau đó rồi mới có thể giành ít thời giờ cho những cuốn truyện dài hơi, chừng một vài năm mới hoàn thành, nếu in ra lần đầu với chừng trên dưới một ngàn bản mà không thấy sự hưởng ứng mạnh từ độc giả, thì coi như thất bại. Một số cây bút vốn sở trường về truyện dài thì chuyển sang viết kịch bản phim, tuy kiếm sống được, nhưng vậy là đành rời xa công chúng đọc. Phải nhận rằng giới viết truyện là giới chịu thiệt nhiều nhất trong mùa vụ báo chí tăng trưởng vài chục năm nay. Rất có thể vì thế mà trong suy nghĩ của mình, không ít nhà văn đã cho rằng sự phát triển của báo chí là có hại cho văn chương, quên mất rằng báo chí và xuất bản là hai cái kênh vật chất tạo nền cho sự tồn tại và hoạt động của văn chương, kể từ khi nhân loại bước vào thời hiện đại, khi chiếc máy in xuất hiện.  

Ta nên nhớ rằng một phần thường rất nặng ký làm nên trọng lượng của sự say mê đọc sách chính là đọc truyện; thống kê tại các thư viện nói lên điều đó. Báo chí từ cội nguồn của mình đã nhận ra điều ấy và đã chủ động tiếp cận các tiểu thuyết gia để đưa các câu chuyện đang được viết ra, các câu chuyện còn chưa ráo mực đến làm quà cho độc giả háo hức! Chỉ có các ông chủ nhật báo kỳ lạ hiện thời của chúng ta là đang tỏ vẻ tránh xa tiểu thuyết và truyện đều kỳ, trong khi lại rất mặn mà với đủ loại quảng cáo! Điều đó, tôi nhắc lại, chỉ có hại cho công chúng, cho cái “văn hoá đọc” mà người ta có vẻ như đang cổ suý trên đầu lưỡi. Điều đó có hại cho giới tiểu thuyết gia, nhưng xa hơn, điều đó gây hại tiềm tàng cho một ngành nghệ thuật mà chúng ta đang rất muốn phát triển là phim truyện. Không thể có một nền phim truyện phong phú trên một xứ sở nghèo nàn về tiểu thuyết,tôi tin là như vậy, mặc dù hiểu rằng một nền tiểu thuyết giàu có không thể tự động trở thành các phim truyện hay.

Hãy trở lại với câu chuyện về tiểu thuyết đăng đều kỳ trên các báo hằng ngày. Có lẽ đã đến lúc những người chủ trì các hội nhà văn và hội nhà báo nên ngồi lại với nhau để bàn về chuyện này. Rồi chính các nhà viết truyện dài cũng nên lên tiếng, vì lợi ích của mình và của đông đảo công chúng. Và chúng ta trông đợi một ngày không xa trên các tờ báo hàng ngày trong cả nước sẽ lần lượt xuất hiện những không gian nhất định dành đăng truyện nhiều kỳ, có thể là truyện đã từng in sách, thậm chí có thể là truyện dịch, nhưng đáng trông đợi nhất là các thiên truyện dài mới viết, thậm chí đang viết dần dần của các tác giả Việt Nam. Tôi cho đó là một kích thích lớn cho cái mà chúng ta vẫn thích gọi là “văn hoá đọc”, cho sự phát triển của văn xuôi tiểu thuyết, và xa hơn, cho điện ảnh dân tộc.

 

11/8/2007
Lại Nguyên Ân

 

Đã đăng “Thể thao &Văn hoá”, 13/8/2007