|
Nhà báo Kỳ Phương: Nhân cách lớn trong câu chuyện nhỏ
Minh Nguyễn
1
Chúng tôi đi theo người giao liên qua con đường nhỏ ngoằn ngoèo. Giữa chiến khu Tây Bắc Tây Ninh, sát biên giới Campuchia, cây cối ken dày, hai ba tầng lá che kín những tia nắng mặt trời. Khi mưa xuống, trời âm u, ẩm ướt, quần áo giặt phơi hai ba ngày chưa khô. Muỗi, vắt nhiều vô kể. Đó là thủ phủ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - Cơ quan cao nhất lãnh đạo công khai cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Việt Nam. Cơ quan có 6 bộ phận. B1 gồm các vị lãnh đạo Mặt trận, họ là những người trí thức, ai cũng có một tên gọi thân mật. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ chúng tôi quen gọi là bác Ba Nghĩa. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là bác Tám Chí, ông Ung Ngọc Ky, là bác Út Chí… B2 gồm bộ phận văn phòng, nghiên cứu, giao liên, thủ kho phục vụ cho đời sống và hoạt động của đơn vị. B3 có một trung đội bảo vệ, là bộ đội thứ thiệt, được đào tạo chiến đấu, có súng ống hẳn hoi. Họ tuần tra canh gác, cử chiến sĩ cận vệ cho các vị trong Uỷ ban trung ương Mặt trận. B4 là nơi sản xuất, trồng rau củ, nuôi heo gà phục vụ cho bữa ăn của toàn cơ quan, đây còn là nơi thử thách các tân binh. Ai có quá trình rèn luyện, lao động chân tay tốt mới được đưa vào vị trí công tác như dự tính. Thường những người trải qua và làm tốt công việc ở B4 dễ trở thành đoàn viên, đảng viên hay chiến sĩ thi đua của đơn vị. B6 là cơ quan tiếp liệu đường xa, dự trữ lương thực thực phẩm lâu dài phòng ngừa bất trắc. Gạo, đường sữa, thuốc men, vải may áo quần đều đã sẵn. Đây còn là nơi nghỉ dưỡng cho những ai vừa qua cơn sốt rét ngặt nghèo. Tại đây, nhà báo Thái Duy (Trần Đình Vân) viết tác phẩm “Những lần gặp gỡ cuối cùng”, sau này sửa lại thành “Sống như anh” khi in ở miền Bắc. Còn B5 là đơn vị sinh sau đẻ muộn, đó là báo Giải Phóng, cơ quan ngôn luận của Mặt trận và ông Kỳ Phương là tổng biên tập đầu tiên. Chúng tôi, ba thành viên nhỏ nhất của đoàn tân binh ba mươi người mà báo Giải Phóng tuyển từ vùng giải phóng Bắc Củ Chi (không phải lao động cải tạo ở rẫy - B4) được đưa ngay vào căn cứ. Cơ quan báo khi đó chỉ có bốn người: ông Kỳ Phương, Tổng biên tập, ông Trần Tâm Trí, Phó thư ký toà soạn, ông Thái Duy, nhà báo và anh Ba Minh, đánh máy. Họ ở trong bốn ngôi nhà mái lợp lá trung quân, bốn bề trống hoác, vách là rừng cây. Nhà nào cũng có chiếc giường con, thanh đóng bằng cây rừng, vạt được bện bằng những cây sậy dài, tròn đều được róc rất kỹ và chiếc bàn làm việc đủ rộng. Mặt bàn kết bằng thân lá mặt cật xinh xắn, bóng mượt nhờ bàn tay khéo léo của mấy anh phục vụ ở B2. Giữa mỗi căn nhà đều có một đống lửa đỏ cháy âm ỉ từ những gốc cây khô. Vừa là lò sưởi chống cái rét cắt da ở rừng già vừa chống muỗi hiệu nghiệm. Hình ảnh thật hoang dã nhưng cũng thật lãng mạn. Vừa rời gia đình ở một miền quê nghèo, chiến tranh đang vào hồi khốc liệt, một đứa bé 13 tuổi vừa xong lớp đệ lục trường làng, chẳng biết mình sẽ làm gì, sẽ đối diện với những bậc trí giả là thủ trưởng của mình sẽ như thế nào? Nỗi nhớ nhà có vơi đi hay nặng nề thêm? Buổi tối đầu tiên đó đối với tôi thật kinh hoàng. Vừa ăn cơm chiều tại nhà ăn tập thể B2 về, đêm đã ập xuống. Rừng tối mịt mùng. Tiếng chim kêu vượn hú văng vẳng từ phía suối. Ba đứa chúng tôi quấn lấy nhau. Xuân (sau này là bác sĩ) và tôi ngủ chung võng, nhiều năm sau đó cũng vậy, cho đến lúc hai đứa ở hai đơn vị khác nhau. Điểm tựa của chúng tôi khi đó là anh Ba Minh, một công chức Việt kiều Campuchia, bỏ lại sau lưng vợ trẻ, con thơ về miền Nam tham gia chiến đấu. Anh có chiếc máy đánh chữ cũ, thao tác nhanh như gió. Công việc của anh là đánh máy và sửa bon bản thảo đưa đi in báo. Về sau anh còn kiêm thêm việc dạy đánh máy cho nhân viên văn phòng của ban Tuyên huấn trung ương cục miền Nam. Anh dẫn chúng tôi đi ăn cơm, dạy cho chúng tôi cách sống ở rừng: dập lửa, tắt đèn khi nghe tiếng máy bay từ xa. Chúng tôi vừa lên võng thì anh Ba Minh bảo chú Kỳ Phương gọi ba đứa lên nhà. Lúc đó, nhà chú đã sẵn người khách là bác Ba Nghĩa - luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Hai người nói với nhau chuyện gì tôi không rõ, chỉ thấy trên bếp lò đỏ lửa, một nồi chè đậu xanh sắp chín, thơm lừng. Chú Kỳ Phương đổ sữa vào nồi chè trông có vẻ sành điệu lắm. Nhưng chú loay hoay thế nào chân quẹt vào một cây củi đang cháy, nồi chè đổ sạch. Tôi không nhớ ông nói gì với chúng tôi, mà chỉ nhớ câu đùa của ông với bác Ba Nghĩa: “Đổ sạch như Khơ-rut-sôp đổ”. Lâu lắm sau này tôi mới hiểu câu nói đó có liên quan đến chuyện về chủ nghĩa xét lại ở Liên Xô những năm sáu mươi thế kỷ trước mà không ít người là nạn nhân. Xin được nói thêm, đường, đậu, sữa là phần thực phẩm bồi dưỡng riêng bác Ba Nghĩa mang khao mấy chú nhóc tân binh của ông Kỳ Phương. Gần 21 giờ, đêm dày hơn, sương đã bắt đầu rơi trên lá, vậy mà bác Ba Nghĩa vẫn cầm đèn pin quày quả băng rừng về B2 lấy cho chúng tôi ít kẹo sữa mềm. Kỷ niệm đó tôi nhớ hoài cho tới bây giờ. Sau đêm đầu tiên đó, tôi được chú Kỳ Phương giao cho nhiệm vụ chép các bản tin đọc chậm của đài tiếng nói Việt Nam và đài phát thanh Giải phóng. Cả hai cùng phát đi từ Hà Nội, mỗi ngày khoảng hơn hai tiếng đồng hồ. Ông trực tiếp đọc các bản tin tôi chép trên những tập giấy carô. Nhiều lúc chú khen chữ đẹp rõ ràng nhưng cũng nhiều lúc chú không vui vì chữ nguệch ngoạc của người ngủ gật. Ông không rầy vì tôi vẫn là đứa con nít mà (!). Hơn tháng sau, khi số báo đầu tiên ra mắt, ngày 20/12/1964, manchette đỏ, xã luận bình luận và có cả cột tin do tôi chép ngày nào, chú Kỳ Phương giải thích: Xem tin để biết diễn biến của chiến trường, để hiểu hơn ý đồ của trung ương chỉ đạo các vùng chiến lược, thuận lợi khó khăn ra sao? Và tôi cũng chỉ có biêt vậy. Nhiều năm sau nữa, báo có thêm nhiều người, nhiều nhà báo nổi tiếng của miền Bắc vô, Sài Gòn ra, chiến trường về, có cả người từ báo Trung Lập ở Campuchia… Tôi có thêm hai bạn: Trương Trọng Nghĩa (giờ là luật sư, đại biểu quốc hội) và Trần Phan Nam, nguyên là giám đốc một công ty in bao bì xuất khẩu khá lớn của Sài Gòn cùng thay phiên chép tin đọc chậm, nghe đài, trông coi thư viện. Một thư viện có khá nhiều sách in từ Hà Nội được chuyển vào qua đường bay Hà Nội - Phnôm Pênh. Cũng có sách in từ Sài gòn để tham khảo. Văn học Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc…Thời gian rảnh rổi ở rừng sau khi chép tin đọc chậm, đào hầm tải đạn, tải gạo, chúng tôi chui xuống hầm thư viện, đọc ngấu nghiến những trang sách. Nồi chẻ đậu xanh đổ có chẳng có gì quan trọng. Những việc vặt ở rừng kể trên có đáng gì sao vẫn nhớ da diết. Có cảm giác rằng chính ông Kỳ Phương, bằng cách rất riêng, không lý thuyết cao siêu, không giáo điều, những hành động nho nhỏ đã gieo vào thế hệ chúng tôi một thứ tình người thiêng liêng, ý thức đầu tiên của người cầm bút. 2 Ông kể khi ông sinh ra thì cha ông đã mất. Người mẹ tảo tần nuôi ông ăn học. Khi ông trưởng thành, tham gia cách mạng lúc nào bà cũng chẳng hay. Năm 1946, ông Nguyễn Văn Nguyễn giao cho ông nhiệm vụ ra Bắc gặp Bác Tôn Đức Thắng để xin vũ khí cho Tiền giang và chiến trường Nam bộ. Ông đóng vai một thương gia Hoa kiều, đi máy bay từ Nam Vang ra Hải Phòng rồi về Hà Nội, lên chiến khu Việt Bắc. Nhiều năm tự học, ông giỏi tiếng Pháp lẩn Hoa. Ông được cử sang học 2 năm ở trường Đông Phương (Trung Quốc). Hết khoá học, theo yêu cầu của trường, ông ở lại làm phụ giảng. Ít có trường hợp nào là sinh viên nước ngoài được chọn như vậy. Có một dạo ông được giao nhiệm vụ làm kinh tế rồi phòng thông tin ở Thanh Hoá. Có lẽ do tổ chức hiểu lầm ông là thương gia Hoa kiều thật. Nhưng ông nghĩ công việc đã chọn mình nên không từ nan, nhất là công việc đó lại do Đảng phân công. Rồi ông lại được điều về Hà Nội nhận nhiệm vụ ở văn phòng trung ương. Khi thì làm nghiên cứu, khi thì làm thư ký riêng cho ông Hoàng Quốc Việt, uỷ viên thường vụ trung ương Đảng, chuyên viên trong ban thường trực cải cách ruộng đất, cải cách dân chủ ở cơ sở… Việc nào được giao ông cũng làm đến nới đến chốn và báo cáo với cấp trên một cách trung thực. Có lần ông được phân công đi khảo sát thực tế ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, xong chuyến khảo sát, ông báo cáo trực tiếp cho đồng chí Trường Chinh rằng: Ở vùng ông đi nghiên cứu không có địa chủ. Ở miền Bắc, người sở hữu 3 mẫu ta đất không nhiều, trong khi ở miền Nam quê ông, người nông dân sở hữu 10 hécta đất là thường. Nói trắng ra ý ông là không cần làm cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc. Ông không bị phê phán gì về quan điểm, nhưng một tuần sau báo cáo đó, ông được chuyển sang bộ phận khác có tên đại khái là: cải cách dân chủ ở cơ sở. Có một kỷ niệm không thể quên, ông nói vậy. Rằng ông đến một xí nghiệp, nơi đó đang vận động công nhân thay đổi một giám đốc cũ vốn là nhà doanh nghiệp có học hành, biết quản trị kinh doanh để bầu một người đại diện giai cấp công nhân lên thay thế. Đáng tiếc là người giám đốc dự kiến bầu đó học ít, lại thương tật. Ông phải báo cáo bằng văn bản việc này cho cấp trên để có thể nhân rộng mô hình cải cách dân chủ trong doanh nghiệp. Ngày này qua ngày khác, ông không thể viết được báo cáo nếu không nói đúng sự thật. Một hôm, 3 giờ sáng, ông vẫn chong đèn ngồi trước trang giấy trắng. Điếu thuốc rê cuối cùng đã hết, đầu trống rỗng. May sao, Bác Hồ sau khi đi thăm, trao áo ấm cho những người lính gác, đến chỗ của ông, Bác hỏi: “ Sao giờ này mà chú không ngủ?” Ông giật mình nhưng vui vì được gặp Bác trong tình thế ấy. Ông kể cho Bác nghe câu chuyện và nói rằng mình không thể viết một báo cáo sai sự thật. Bác Hồ bảo ông hãy viết đúng thực tế và đúng như ông nghĩ. Ông như mở cờ trong bụng, bản báo cáo hoàn thành với một đề xuất: “Không thể cải cách dân chủ ở cơ sở như cách làm vừa diễn ra…”. Và cũng như lần trước, ông lại nhận được quyết định thay đổi công tác. 3 Chuyện ông thành nhà báo cũng hy hữu không kém chuyện ông từng bị thay đổi công tác. Thấy ông đi nhiều vì có thời gian làm công tác đối ngoại, giỏi ngoại ngữ, lại là người miền Nam, từng làm việc trong văn phòng của cố chủ tịch Tôn Đức Thắng nên được bố trí làm tổng biên tập báo Cứu Quốc, tiền thân của báo Đại Đoàn Kết, trụ sở của báo cũng ở 66 Bà Triệu như bây giờ. Ông sống chan hoà với mọi người, cũng thiếu chịu tiền caphê, thuốc lá ở căn - tin giống anh em. Ông nghiện thuốc lá đến độ tay vàng, răng vàng vì nhựa bám. Món thích nhất của ông là cơm chiên, chiên vàng mẩy từng hạt cơm. Nhà báo Thái Duy kể: “ Ông Kỳ Phương là nhà báo đặc biệt, bản lĩnh và cương trực. Năm đó, chiến trường Lào ác liệt, lãnh đạo chỉ cho phóng viên báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân đi thực tế ở Lào thôi. Tôi biết tin này, về trình với tổng biên tập Kỳ Phương. Ông ấy cho tôi đi ngay, không điều kiện gì, chỉ một lời dặn, đi dứng cẩn thận, gửi bài về đều đặn. Tôi theo đoàn quân ở Lào hai năm, đi bằng đủ thứ phương tiện. Mấy bài báo là mối liên lạc duy nhất và tin cậy nhất giữa phóng viên Thái Duy và tổng biên tập của mình. Quý giá biết bao nhiêu vể mảng lịch sử sống động ấy của quân đội ta mà tôi có được là nhờ ông Kỳ Phương đấy. Đến chyện đi B, về miền Nam làm báo Giải Phóng cũng vậy. Biết bao nhà báo là người miền Nam đang háo hức chờ gọi tên mình. Ông Kỳ Phương là một người Nam bộ chính gốc đã chọn tôi, là thằng Bắc kỳ rặt. Âm thầm chọn lựa, âm thầm ra đi để gầy dựng tờ báo Giải Phóng, cơ quan ngôn luận của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ ngày đầu tiên. Đúng là chỉ có ông ấy, khảng khái, trung thực mới dám làm vậy”. Năm 1964, nhà báo Thái Duy cùng với ông Trần Tâm Trí vượt Trường Sơn hơn ba tháng ròng rã mới về đến căn cứ. Còn ông Kỳ Phương xuống tàu lặn không số cùng với ông Trương Công Trung, Hồ Văn Huê và hàng tấn vũ khí được “mặc áo” - cách gọi của dân công Bến Tre khi đi nhận vũ khí về. Tàu trờ cồn, mắc cạn trên bãi biển Thạnh Phú, phải có đội dân công đông đảo mới kéo lên được. Ông Kỳ Phương sang Tân Xuân (Ba Tri) dự đại hội chiến sĩ thi đua của tỉnh. Ở đó, ông gặp nhà văn Nguyễn Văn Bổng từ R xuống, nhà văn Nguyễn Thi từ Long Trung - Ba Dừa (Mỹ Tho), nơi Nguyễn Thi viết ký sự nổi tiếng: Ở xã Trung Nghĩa sang, địa phương có Nguyễn Hồ, người về sau là phóng viên của báo Giải Phóng. Ông Nguyễn Hồ kể: “Gặp nhau, thấy tờ Chiến Thắng của Bến Tre in màu, chữ sắc nét như in offset, anh Kỳ Phương mừng quá. Anh ngỏ lời muốn đi thăm nhà in ngay. Ngồi trong tàu lặn, lênh đênh trên biển, anh Kỳ Phương đã tự phát hoạ maquette tờ Giải Phóng tương lai với 16 trang, chăm sóc kỹ hai trang bìa và hai trang ruột. Tất cả công trình của anh phải nhờ kỹ thuật in càng cao càng tốt. Khi biết Bến tre có máy pédale bán tự động, anh như rồng gặp mây. Tuy nhiên khi báo Giải Phóng ra số đầu tiên in ở nhà in Trần Phú với chữ đúc và máy dô-da tự chế cũng rất đẹp.” Chia tay Bến Tre, ông Kỳ Phương đi bộ theo đường giao liênvề chiến khu Tây Ninh. Đôi chân vốn yếu của ông đã bước dài cùng với tờ báo Giải Phóng có mặt trên khắp các chiến trường từ ngày 20/12/1964. Hàng kỳ xuất bản báo, ông vẫn cơm nắm mang theo, đạp xe băng rừng cả ngày trời có khi đi dưới tầm chất khai hoang của máy bay Mỹ rải trên đầu. Đêm hôm khuya sớm, ông thức cùng với những người thợ in, trong đó có rất đông những người tân binh mà ông tuyển từ Củ Chi năm nào. Một điếu thuốc rê, một bình trà quạu ông đều chia hết với anh em công nhân nhà in trong những đêm thức trắng in báo.
4
Sau ngày 30/4/1975, ông được phân công làm cố vấn cho tờ Tin Sáng rồi báo Giác Ngộ ở Sài Gòn. Có lẽ vì gắn bó với hai tờ báo mặt trận lâu năm nên ông được giao việc này. Ông Hồ Ngọc Nhuận, chủ bút báo Tin Sáng kể: “Anh Kỳ Phương đề xuất và thoả thuận nguyên tắc làm việc với chúng tôi: Là chủ bút phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tờ báo của mình cả trước và sau khi xuất bản. Khi có ý kiến khác nhau thì ý kiến chủ bút là quyết định, khi sửa chữa một tin bài cụ thể thì tôn trọng cách sửa của chủ bút. Tôi hiểu phải một tấm long đủ rộng, đủ tinh thông và cương trực thì mới làm được điều đó”. Ở báo Giác Ngộ cho đến khi nghỉ hưu, ông có thời gian dài để nghiên cứu Phật học. Lúc nào ông cũng đau đáu việc tìm mối dây liên hệ giữa triết học macxit -nguyên lý phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếc rằng thời gian đã không đứng về phía ông. Ánh sáng của đôi mắt đã không giúp ông hoàn thành công trình quan trọng của đời mình. Thôi thì hãy như ai đó đã từng nói, những gì chưa viết ra, đó là tác phẩm lớn nhất của chính mình. … Giữa tháng 6/2006, tôi may mắn chứng kiến cuộc gặp gỡ, có thể là không còn nhiều dịp như vậy, giữa hai ông Thái Duy và Kỳ Phương. Tay trong tay siết chặt. Hai mái đầu tóc trắng bên nhau. Ông Thái Duy cười vang: “Ông là thủ trưởng, là tổng biên tập tốt nhất của tôi, tôi luôn biết ơn ông”. Tôi đọc được trong đôi mắt đã mờ của nhà báo Kỳ Phương niềm vui lớn mỗi khi gặp lại những người đồng đội thân thiết. Còn nỗi buồn thế sự, dường như con người từng trải và nghị lực đó luôn giấu kín trong lòng.
Tháng 6/2006 Minh Nguyễn
Lên trang viet-studies nngày 3-1-12 |