|
HỌC VĂN ĐỂ LÀM GÌ?
(vỀ BỘ SÁCH “hỌC VĂN”
CỦA NHÓM CÁNH BUỒM – bài 1)
Ngô Tự Lập
(Khoa Quốc tế - ĐHQGHN)
Sự
ra mắt của bộ sách giáo khoa do nhóm “Cánh buồm” khởi thảo xứng đáng
được coi là một sự kiện trong ngành giáo dục Việt Nam năm 2011.
Không chỉ là một công trình soạn thảo đơn thuần, bộ sách là kết quả
những nỗ lực to lớn của một tập thể nhỏ bé vì sự đổi mới phương pháp
giảng dạy và góp phần thay đổi triết lý giáo dục ở nước ta. Hơn thế
nữa, đó là một chiến công đáng khâm phục của tinh thần dũng cảm học
thuật, điều lâu nay hơi hiếm trong giới trí thức nước nhà. Đánh thức
và khích lệ tinh thần phê phán học thuật – theo tôi đó là thành công
lớn nhất của bộ sách. Bài viết này cũng được khích lệ một phần bởi
tinh thần phê phán đó. Trong chừng mực nhất định, tôi cảm thấy mình
ở vào vị trí của Voltaire khi ông nói về cuốn “Luận về nguyên
do của sự bất bình đẳng” của Rousseau: “Tôi hoàn toàn không
đồng ý với anh, nhưng tôi sẵn sang hy sinh tính mạng để bênh vực
quyền tự do phát biểu của anh”. Xin được nói ngay rằng tôi có những
ý kiến bất đồng cơ bản với nhóm tác giả, cả về mục đích học văn,
cách lựa chọn và tổ chức văn liệu lẫn cách dạy.
Trước hết là mục đích của việc học văn. Ngay ở “Lời dặn bạn
dùng sách”, các tác giả đã viết: “Trong bộ sách do nhóm Cánh
Buồm khởi thảo có môn Giáo dục Nghệ thuật được dạy ngay từ
lớp Một – mà vì những lý do tâm lý – xã hội, môn học này vẫn tạm gọi
là môn Văn”[1].
Các tác giả viết tiếp: “Mục tiêu của việc học Văn ngay từ khi
trẻ em bắt đầu đi học ở bậc phổ thông là tạo ra trong nhận thức các
em một ngữ pháp nghệ thuật và tạo ra trong tâm lý các em cái
phần hồn của việc học Văn là năng lực đồng cảm với thân phận
người. Đó không phải là cái đồng cảm đạo đức học, xã hội học, mà
kết quả là hành động từ thiện – bác ái. Năng lực đồng cảm này có
tính tâm lý – nghệ thuật sẽ tạo ra một năng lượng tinh thần
thúc đẩy những hành động tốt đẹp của con người”[2].
Với quan niệm như thế, nhóm tác giả chọn trò chơi đóng vai
như là phương pháp chủ yếu để tạo ra “năng lực văn” mà “nhân lõi
tinh thần là một lòng đồng cảm với thân phận con người”, “xương cốt
vật chất là một ngữ pháp nghệ thuật” và “thịt da kiến thức là sự am
tường các bộ môn nghệ thuật suy ra được từ cái MẪU dùng trong nhà
trường phổ thông là thơ, văn xuôi và kịch”[3].
Như vậy, đối với nhóm tác giả, môn văn chỉ là một ví dụ tiện lợi để
học ngữ pháp nghệ thuật, chứ tự thân nó hoàn toàn không quan trọng.
Liệu chúng ta có thể đồng ý với các tác giả hay không? Nếu học văn
chỉ để nắm được cái ngữ pháp nghệ thuật, thì tại sao chúng ta lại
không chọn một loại hình nghệ thuật khác? Trong buổi hội thảo tại
Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, ngày 14-01-2012, đại diện của
nhóm tác giả giải thích rằng văn chương được chọn đơn thuần vì nó sử
dụng loại chất liệu rẻ tiền và dễ sử dụng. Nhưng nếu vậy, tại sao
ngay cả học sinh các trường chuyên về nghệ thuật, như trường nhạc,
múa hay hội họa, học sinh vẫn buộc phải học môn văn? Tại sao ở bất
kỳ nước nào trên thế giới môn văn cũng là một trong những môn quan
trọng nhất. Lý do nào khiến môn văn được ưu ái như vậy?
Để
giải đáp câu hỏi này, chúng ta cần phải xem lại lịch sử. Thật ra,
vai trò của môn văn không phải lúc nào cũng quan trọng như chúng ta
thấy ngày nay, hay là gần đây. Trong các trường học ở phương Tây
thời Trung cổ người ta không dạy văn học. Toàn bộ
kiến thức được chia thành bảy bộ môn, thuộc hai tiểu loại, gọi là
Tam khoa
(Ngữ pháp, Tu từ học, Lô gích học) và Tứ khoa (Số học, Hình
học, Thiên văn học và Âm nhạc). Sự phân chia bộ môn này thường được
gắn với tên tuổi của Aristotle nhưng thật ra có nguồn gốc từ Ai Cập.
Ở châu Á tình hình cũng không khác mấy. Các nhà Nho ở
Việt Nam không học văn học mà học Tứ thư, Ngũ kinh. Cần lưu ý rằng
trong Ngũ kinh có Kinh Thi, nhưng ngay cả đối với người Trung Quốc
thì đó cũng là
một cuốn sách kinh điến chứ không phải là môn văn. Bản
thân cái gọi là văn học theo nghĩa hiện đại cũng là một khái niệm
tương đối mới. Ở Đông Á, như chúng ta đều biết, trong truyền thống
hàng ngàn năm, văn, sử, triết vốn "bất phân". Ở phương Tây cũng
tương tự. Terry Eagleton viết trong cuốn Nhập môn Lý luận văn
học nổi tiếng của ông: "Ở nước Anh thế kỷ mười tám, khái
niệm văn học không hạn chế trong những gì "sáng tạo" hay "hư cấu"
như đôi khi được được quan niệm ngày nay. Nó chỉ toàn bộ những văn
bản được xã hội đánh giá cao: triết học, lịch sử, tiểu luận và thư
từ cũng như thơ ca. Cái làm cho một văn bản trở thành 'văn học'
không phải là tính hư cấu - thế kỷ mười tám rất ngờ vực liệu thể
loại tiểu thuyết đang nổi lên có phải là văn học hay không - mà là
nó có phù hợp với một số chuẩn mực của 'nhã văn' hay không"[4]
Và ông khẳng định rằng từ 'văn học' chỉ thực sự có nghĩa hiện đại
như ngày nay vào thế kỷ mười chín: "Văn học theo nghĩa này là một
hiện tượng lịch sử gần đây: nó được sáng tạo ra vào khoảng bản lề
của thế kỷ mười tám, và có lẽ sẽ làm Chaucer hay thậm chí là Pope
cực kỳ ngạc nhiên"[5]
Vai trò của văn chương nổi lên cùng với sự hình thành
của nhà nước dân tộc và “văn hóa dân tộc”. Cách hiểu về văn hóa của
chúng ta ngày nay chịu nhiều ảnh hưởng bởi quan niệm của Humboldt và
các nhà tư tưởng đương thời như Schiller, Schleiermacher, Fichte. Đó
là sự kết hợp hai mặt: những kiến thức khác nhau được nghiên
cứu và sự
phát triển nhân cách thông qua quá trình nghiên cứu đó. Các
kiến thức được nghiên cứu dựa trên lý trí và được lý trí liên kết
thành một hệ thống thống nhất, kết tinh trong truyền thống.
Sự phát triển của nhân cách chính là sự trưởng thành của cá nhân
thông qua việc hấp thụ những gì thuộc lý trí trong truyền thống đó.
Ta gọi cá nhân đó là con người có văn hóa.
Văn hoá gắn liền với truyền thống, nhưng đồng thời
cũng có vai trò dẫn dắt con người tới tương lai. Văn hoá liên kết
quá khứ, hiện tại và tương lai của một cộng đồng. Văn hoá chính là
nền tảng tạo nên
bản sắc dân tộc. Humboldt tin rằng nếu được giáo dục, con người
sẽ trở thành những chủ thể tự do, có khả năng suy nghĩ độc lập để
hành động vì lợi ích dân tộc - điều cực kỳ quan trọng đối với các
nhà nước-dân tộc đang hình thành và lớn mạnh ở châu Âu.
Nền giáo dục đại chúng hiện đại ra đời trong bối cảnh
đó và vì mục đích đó. Chính vì giáo dục bây giờ không chỉ có nhiệm
vụ đào tạo nghề, mà còn có nhiệm vụ đào tạo ra chủ thể văn hoá
của dân tộc, nên vai trò của văn học nổi lên. Lý do dễ nhận thấy
là các môn học khác, chẳng hạn toán học và triết học, có xu hướng
hướng tới tính phổ quát, trong khi văn học gắn liền với ngôn ngữ và
ký ức của một cộng đồng cụ thể. Một lý do khác là văn học có thể
được chia sẻ bởi đa số thành viên của cộng đồng. Đây chính là điểm
các tác giả của nhóm Cánh Buồm đã nói: trong các loại hình nghệ
thuật, văn học sử dụng ngôn ngữ là thứ vật liệu phổ cập nhất, dễ phổ
biến nhất. Hơn thế nữa, văn học, hơn bất kỳ thể loại nghệ thuật nào,
chứa đựng mọi cấp độ ký ức của cộng đồng.
Song song với sự gia tăng vai trò của môn văn là sự
và củng cố khái niệm "Nền văn học dân tộc". Hãy nhớ lại, trong hàng
ngàn năm, ở châu Âu văn chương đích thực phải viết bằng tiếng
Latinh. Văn chương viết bằng tiếng bản địa (vernacular
literature)
khi đó bị coi là “nôm na”, dân dã, không có giá trị,
mặc dù nó vẫn không ngừng phát triển dưới thời Trung Cổ. Thi hào
Dante có lẽ là tác giả đầu tiên ở Italia (và có lẽ cả châu Âu) không
chỉ sáng tác mà còn ra sức truyền bá những văn học viết bằng tiếng
bản địa. Tương tự như vậy, ở vùng Á Đông, cho đến thời cận đại, văn
học đích thực phải viết bằng chữ Hán. (Trong lịch sử văn học Việt
Nam, Nguyễn Trãi đóng vai trò tương tự như vai trò của Dante trong
văn học Italia- Ông là tác giả của những kiệt tác văn chương đầu
tiên bằng tiếng Việt). Sự ra đời và lớn mạnh của nhà nước dân tộc
dẫn đến sự tôn vinh văn học dân tộc: mỗi dân tộc sớm hay muộn đều
chọn lựa, tạo dựng những đại văn hào, những kiệt tác văn chương của
mình.
Như thế, dạy văn ở đâu cũng trước hết là dạy văn
học dân tộc. Tuy nhiên, sự giảng dạy văn học cũng phụ thuộc vào
đặc điểm lịch sử của từng nước. Ở các nước châu Âu, vốn có một lịch
sử lâu dài và đã từng trải qua (hay vẫn còn duy trì) các triều đại
quân chủ, chương trình giảng dạy được xây dựng trên cơ sở truyền
thống văn học dân tộc. Ở Hoa Kỳ, do lịch sử ngắn và một phần
cũng do tinh thần cộng hòa, nội dung chương trình hướng nhiều hơn
vào việc giới thiệu
thành tựu, thông qua các điển phạm (canon), tức là các
văn bản văn chương được coi là tiêu biểu của dân tộc.
Cho dù cách thức và nội dung giảng dạy văn học dân
tộc có khác nhau ở các nước khác nhau, môn văn không bao giờ chỉ
đơn thuần có nhiệm vụ tạo ra năng lực đồng cảm hay giúp người học
nhận thức ngữ pháp nghệ thuật. Nhiệm vụ chính của việc dạy văn là
đào tạo con người dân tộc, thông qua đó bồi đắp bản sắc văn hoá.
Người Pháp học văn học Pháp để trở thành người Pháp. Người Việt học
văn học Việt để trở thành nguời Việt.
Tóm lại, theo tôi, mặc dù thú vị, bộ sách “Học
văn”
của nhóm Cánh buồm đã sai lầm từ điểm xuất phát, trong việc xác định
mục đích của môn học. Sai lầm gốc rễ nói trên tất yếu sẽ dẫn đến
những sai lầm khác của nhóm trong cách lựa chọn văn liệu và cách
giảng dạy, những điều chúng tôi sẽ bàn trong một bài khác.
N.T.L
[1]
“Sách học Văn – Lớp Hai”, Nhóm cánh buồm, NXB Tri
Thức, H. 2011. Tr.5.
[4]
Nguyên văn: "In eighteen-century England, the concept of
literature was not confined as it sometimes is today to
'creative' or 'imaginative' writing. It meant the whole body
of valued writing in society: philosophy, history, essays
and letters as well as poems. What made a text 'literary'
was not whether it was fictional - the eighteenth century
was in grave doubt about whether the new upstart form of the
novel was literature at all - but whether it conformed to
certain standards of 'polite letters'". Eagleton, Terry,
Literary Theory - An Introduction, Minneapolis:
U. of Minnesota P. 1983. p. 17.
[5]
Nguyên văn: "Literature in this sense of the word is an
historically recent phenomenon: it was invented sometime
around the turn of the eighteenth century, and would have
been thought extremely strange by Chaucer or even Pope". Đã
dẫn, tr. 18.
Tác giả gửi cho viet-studies
ngày 8-2-12 |