|
NGUYỄN TRÃI VÀ HỒ
CHÍ MINH
HAY LÀ LUẬN VỀ VĨ NHÂN
Ngô Tự
Lập
Khoa Quốc tế - ĐHQGHN
Có một sự tương đồng về bản chất giữa Vĩ nhân
với cuốn
Sách vĩ đại. Cuốn sách vĩ đại là một cuốn sách hay, nhưng một
cuốn sách hay, thậm chí rất hay, chưa chắc đã là một cuốn sách vĩ
đại. Cũng vậy, vĩ nhân phải là một người xuất sắc, nhưng một người
xuất sắc, thậm chí rất xuất sắc, chưa chắc đã phải là vĩ nhân.
Trong văn học Việt Nam, tác phẩm xứng đáng nhất để
được gọi là vĩ đại là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Có
thể nói, “Truyện Kiều” là kinh thánh văn chương của
dân tộc Việt Nam. Phạm Quỳnh nói rất đúng, rằng: "‘Truyện Kiều’
còn thì tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn thì nước Việt còn". “Truyện
Kiều” vĩ đại vì sao?
“Truyện Kiều” vĩ đại không phải vì nó là tác
phẩm đại chúng,
mặc dù có lẽ không một người Việt nào không biết về nó. Nhưng
theo những gì tôi thấy, và chắc các bạn cũng đồng ý với tôi, có
không nhiều người đọc hết “Truyện Kiều”, lại càng ít
người thực sự có nhu cầu đọc “Truyện Kiều” để
thưởng thức. Trên thực tế, lời khẳng định “Truyện Kiều
là tác phẩm được mọi người Việt Nam yêu thích” chỉ sáo ngữ. Ngày
nay, thanh niên biết đến “Truyện Kiều” chủ yếu vì nó
được giảng dạy trong trường phổ thông, còn trong quá khứ có lẽ những
người nông dân mù chữ yêu thơ ca học thuộc lòng từng đoạn dài chủ
yếu vì âm điệu du dương hơn là thực sự hiểu nội dung của nó. “Truyện
Kiều”, với vô số điển tích, là một tác phẩm khó hiểu ngay cả
với các những người có học. Tuy nhiên, bằng nhiều con đường, nó trở
thành một cái gì đó giống như đồ thờ. Cha tôi, khi còn sống, trong
một chuyến về phép thăm nhà, nói với con trai là tôi, khi đó mới
mười một tuổi, rằng “Ai chưa thuộc 500 câu Kiều thì
chưa phải là người Việt Nam”. Để chứng tỏ với bố rằng mình là người
Việt Nam hơn thế, tôi đã học thuộc lòng cả cuốn sách, mặt dù khi đó,
xin thú thực, cũng chẳng hiểu nó hay ở chỗ nào.
“Truyện Kiều” vĩ đại cũng không chỉ vì nó là
một kiệt tác,
mặc dù không có gì phải nghi ngờ về giá trị văn học của tác phẩm
này. Tôi nói vậy không phải vì đòi hỏi tất cả các câu trong “Truyện
Kiều” đều phải là tuyệt mỹ. Đó là điều không tưởng. Một tác
phẩm thơ dài, nói như Edgar Allan Poe, thực chất là một tổ hợp những
bài thơ ngắn. Ở khoảng giữa những bài thơ ngắn ấy là rất nhiều những
câu nối, câu dẫn, câu độn. Và chính những câu dẫn, câu nối, câu độn
ấy góp phần làm những “bài thơ ngắn” kia thêm lung linh. Tôi không
đòi hỏi tất cả các câu trong “Truyện Kiều” đều phải là
tuyệt mỹ. Ý tôi muốn nói là trong văn chương Việt Nam cũng có những
kiệt tác khác, như “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm
và Đặng Trần Côn. Trong "Chinh phụ ngâm", những câu
như
“Áo chàng đỏ tựa dáng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”
hay
“Trống trường thành lung lay
bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây”
là những câu thơ tuyệt mỹ không hề thua kém bất kỳ
câu thơ nào trong “Truyện Kiều”. Thêm nữa, nếu “Truyện
Kiều” vay mượn cốt truyện từ tác phẩm “Kim
Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài
Nhân, một tác giả Trung Quốc, thì “Chinh phụ ngâm”
là tác phẩm hoàn toàn Việt Nam. Nhưng kiệt tác “Chinh phụ ngâm”
đã không được chọn.
“Truyện Kiều” cũng không phải là
một kiệt tác đầu tiên của văn học Việt Nam bằng tiếng Việt. Kiệt
tác đầu tiên của văn học Việt Nam bằng tiếng Việt là “Quốc âm
thi tập” của Nguyễn Trãi, cha đẻ của văn học Việt Nam bằng
tiếng Việt, người mà không chỉ tài năng, vinh quang mà cả bi kịch
cũng vô song. “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi cho
đến nay vẫn còn mới mẻ, vẫn còn khiến ta thán phục. Có thể nói,
không có “Quốc âm thi tập” thì không có “Truyện
Kiều”. Thế nhưng “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
mới là tác phẩm vĩ đại nhất của văn học Việt Nam. Vì sao? Vì nó được
lịch sử và cộng đồng lựa chọn để trở thành biểu tượng văn hóa. Người
ta không chỉ đọc nó, người ta còn dùng nó để học, để bói toán. Tóm
lại, từ một sản phẩm xuất sắc của cá nhân Nguyễn Du, “Truyện
Kiều” trở thành sản phẩm lịch sử của một cộng đồng.
Cũng vậy, vĩ nhân là sản phẩm lịch sử của một cộng
đồng. Cá nhân xuất sắc là người có một sự nghiệp xuất sắc, nhưng cá
nhân xuất sắc ấy chỉ trở thành vĩ nhân khi được cộng đồng, trong
những bối cảnh lịch sử nhất định, lựa chọn để trở thành huyền thoại.
George Washington là một ví dụ. Ngày nay Washington được hầu hết dân
chúng Hoa Kỳ sùng kính. Nhưng không phải bao giờ cũng thế. Nghiên
cứu lịch sử nước Mỹ, ta thấy rằng vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ
là một người xuất sắc, nhưng không phải là xuất sắc nhất trong số
các người Cha Lập Quốc (Founding Fathers) của nước Mỹ. Một số tài
liệu cho thấy tuy giữ cương vị tư lệnh của quân đội, ông là một
người khá nhợt nhạt về tính cách cũng như tài năng quân sự. Nhưng có
lẽ trong lúc những nhân vật xuất sắc nhất không thống nhất được với
nhau - và do đó không giành được ủng hộ của số đông - Washington đã
trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Vinh dự ấy không thuộc
về Thomas Paine, người đã xây dựng nền tảng lý luận cho cuộc Cách
mạng Mỹ, hay Thomas Jefferson, người viết ra bản “Tuyên ngôn
độc lập” nổi tiếng. Khi còn là Tổng thống, Washington bị dân
chúng chỉ trích khá nhiều vì quản lý kém, vì đàn áp nông dân, và
thậm chí cả vì tham nhũng. Uy tín của ông khi tại chức sa sút đến
nỗi khi ông về vườn, một số báo chí đương thời coi đó là thành công
lớn của dân chúng trong việc làm lành mạnh hoá đời sống chính trị
Hoa Kỳ. Washington cũng không phải là nhà giải phóng theo đúng
nghĩa, bởi lẽ ông cũng là một chủ nô. Khi chết năm 1799, ông là chủ
của hơn ba trăm nô lệ. Thế nhưng chỉ ba chục năm sau khi chết,
Washington đã trở thành một vị thánh. Vô số những quyền sách, tạp
chí đua nhau viết về tài trí tuyệt vời và đạo đức cao cả của ông.
Trong quá trình thần thánh hóa Washington, công đầu thuộc về Mason
Locke Weems (1756 – 1825), hay Parson Weems, một vị mục sư kiêm chủ
nhà in, tác giả của cuốn sách
The Life of Washington (Cuộc đời Washington). Trong
cuốn sách đó, Parson Weems bịa ra những mẩu chuyện mang tính ngụ
ngôn nhằm ca ngợi tài năng và đạo đức của vị anh hùng dân tộc Hoa
Kỳ. Washington đã trở thành vĩ nhân không chỉ vì sự nghiệp xuất sắc
của ông. Washington trở thành vĩ nhân còn vì nước Mỹ, vốn không có
quá khứ, cần phải có vĩ nhân và huyền thoại của riêng mình.
Trong lịch sử Việt Nam, hai người xứng đáng nhất để
được gọi là Vĩ nhân, theo tôi, là Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Cuộc
đời hai con người này có những nét tương đồng kỳ lạ. Cả hai đều là
những người xuất chúng, kết tinh được tinh thần thời đại mình, đóng
vai trò trung tâm trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và sau đó
lại là linh hồn của những biến đổi văn hóa-xã hội mang tính bước
ngoặt của lịch sử đất nước. Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều đồng
thời đóng rất nhiều vai, vai nào cũng ở trình độ rất cao: nhà thơ,
nhà văn, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà tư tưởng và
thậm chí là nhạc sĩ. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”,
Nguyễn Trãi từng được vua Lê giao cùng với Lương Đăng “làm loan giá,
nhạc khí, dạy tập nhạc và múa”[1].
Quan niệm về âm nhạc của Nguyễn Trãi gắn liền với quan điểm nhân văn
của ông về thuật trị nước. Ông viết: “Hòa bình là gốc của nhạc,
thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu làm nhạc, không dám không
hết lòng hết sức, nhưng vì học thuật nông cạn, sợ răng trong khoảnh
thanh luật khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi nhân, để cho các nơi
làng mạc không có tiếng oán giận than sầu, đó là không mất cội gốc
của nhạc vậy”. Hồ Chí Minh là người đầu tiên dịch bài hát
L'Internationale (Quốc tế ca) ra tiếng Việt. Theo các tác giả
Đào Trọng Từ, Huy Trân, Tú Ngọc, Hồ Chí Minh còn sáng tác nhiều bài
hát dựa trên các làn điệu dân ca như «Bài ca tự vệ», «Ca
binh lính», «Bài ca du kích »[2].
Tờ “Việt Nam độc lập”, số 117, hướng dẫn cách hát bài
hát “Ca đội tự vệ” của Hồ Chí Minh, sáng tác năm 1942, như sau:
“Chia người làm từng tổ, 4 câu trên tổ A hát trước, hát giọng cao
(nếu có phụ nữ là tổ A) tổ B hát giọng thấp theo sau. Những chữ BÉN,
SẮC, ĐÔNG, BỀN phải hát dài như BÉ-ÉN, SẮ-ẮC, ĐÔ-ÔNG, BỀ-ỀN. Hai câu
sau cùng mỗi đoạn thì cả tổ đều hát với nhau, chữ CHẶT và chữ NÊN
phải rất mạnh”[3].
Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh cũng chính là tác giả hai bản tuyên ngôn
độc lập bất hủ của Việt Nam (Bài thơ “Nam Quốc sơn hà” mà trước đây
nhiều người tin là của Lý Thường Kiệt gần đây được nhiều học giả
chứng minh là khuyết danh và đã được Lê Hoàn sử dụng trước đó. “Nam
Quốc sơn hà” là một bài thơ với tuyên ngôn đanh thép, nhưng dù sao
cũng chưa phải là một bản tuyên ngôn độc lập đúng nghĩa).
Nhưng điểm tương đồng quan trọng hơn, nếu không nói
là quan trọng nhất, điểm tương đồng khiến họ trở thành đối tượng của
sự yêu ghét cuồng nhiệt, đồng thời khiến họ thực sự trở thành vĩ
nhân, là những huyền thoại bao phủ cuộc đời và sự nghiệp của họ.
Trong vô số những huyền thoại ấy, đặc biệt thú vị là huyền thoại về
việc Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh sử dụng sức mạnh của truyền thông
nhằm mục đích xây dựng uy tín và thu phục nhân tâm.
Tương truyền, trong thời kỳ trứng nước của cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi cho quân dùng mỡ viết lên lá rừng dòng
chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần". Lũ côn trùng, khi
ăn mỡ, đã vô tình trở thành những chiếc máy in tự nhiên, biến hàng
ngàn chiếc lá thành những tờ truyền đơn. Tôi được thầy giáo kể cho
nghe câu chuyện này khi mới lên chín mười tuổi. Đó là khỏang
thời gian khốc liệt cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chúng
tôi ngồi dưới hầm, hình dung nét mặt thành kính của người dân khi
vớt từ dưới sông lên những chiếc lá mà họ tin rằng mang lời phán
truyền của Trời.
Hồ Chí Minh cũng sử dụng kế ấy, nhưng theo cách của
thời đại ông, tôi tin như vậy. Tôi muốn nói cuốn sách "Những
mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân
Tiên, xuất bản lần đầu tiên năm 1948, vào buổi trứng nước của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong cuốn sách, dựa trên lời kể của các
nhân chứng có lẽ là hư cấu, Trần Dân Tiên phác họa nên chân dung một
nhà lãnh tụ cách mạng với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, người sẽ
trở thành chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trần Dân Tiên là ai? Nhiều người cho rằng Trần Dân
Tiên chính là Hồ Chí Minh, nhiều người khác không đồng ý như vậy.
Phần lớn những người cho rằng Trần Dân Tiên và Hồ Chí Minh là hai
người khác nhau là những người hâm mộ Hồ Chí Minh. Ngược lại, phần
lớn những người khẳng định Trần Dân Tiến và Hồ Chí Minh là một là
những người căm ghét Hồ Chí Minh. Những người căm ghét Hồ Chí Minh
khẳng định rằng Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh, bởi họ cho rằng
việc tự viết một cuốn sách để ca ngợi mình là điều đáng phê phán.
Những người hâm mộ Hồ Chí Minh khẳng định rằng Trần Dân Tiên không
phải là Hồ Chí Minh cũng chính vì lý do tương tự: họ cũng cho rằng
việc tự viết một cuốn sách để ca ngợi mình là điều đáng phê phán.
Tôi là một trong không nhiều người hâm mộ Hồ Chí Minh nhưng lại tin
rằng Trần Dân Tiên là Hồ Chí Minh. Hơn thế nữa, chính vì hâm mộ Hồ
Chí Minh mà tôi tin như vậy.
Tại sao tôi lại tin rằng Trần Dân Tiên chính là Hồ
Chí Minh?
Trước hết, nếu có một tác giả là Trần Dân Tiên
và ông ta còn sống, thật khó tin rằng ông ta lại không đứng ra nhận
bản quyền một tác phẩm nổi tiếng đến như vậy.
Nhưng nếu vì một lý do gì đó ông Trần Dân Tiên chọn
cái quyết định khó tin ấy, hoặc nếu ông ta đã chết, thật khó tin là
không một ai trong số những người đã cung cấp cho ông ta tư liệu về
Hồ Chủ Tịch lại đồng loạt im lặng, giống hệt như tác giả cuốn sách.
Cuối cùng, giả sử cả Trần Dân Tiên lẫn các nhân chứng
đều im lặng một cách khó tin như vậy, thật khó tin là không ai biết
gì về một người đã gặp bao nhiêu người, đến bao nhiêu vùng đất, để
thu thập bao nhiêu tài liệu, đủ cho cuốn sách.
Nhưng lý do chính để tôi tin rằng Trần Dân Tiên chính
là Hồ Chí Minh là nội dung và phong cách của cuốn sách. “Những
mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” quá hay. Nó
giản dị nhưng linh hoạt, cuốn hút. Nó là sự kết hợp hoàn hảo giữa
những trải nghiệm cá nhân với tính phổ quát, tính dân tộc với tính
quốc tế, tính văn chương và tính tuyên truyền. « Những mẩu chuyện”
mang đầy tính biểu tượng, giống như những chuyện ngụ ngôn nhưng lại
mang những thông điệp chính trị rất cụ thể. Tóm lại, nó phải là tác
phẩm của một vĩ nhân. Ai có thể viết ra nó, nếu không phải là Hồ Chủ
Tịch?
Những điều tôi vừa viết trên đây về cuốn “Những
mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” thật ra cũng
có thể nói về một cuốn sách khác mà tôi rất muốn so sánh, đó là cuốn
“Vừa đi đường vừa kể chuyện” của T. Lan. Bản thảo cuốn
sách này đang được Bảo tàng Hồ Chí Minh xây dựng hồ sơ để đề nghị
UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thế giới. Hai cuốn sách “Những
mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” và “Vừa
đi đường vừa kể chuyện” giống nhau một cách kỳ lạ, không chỉ
về đề tài, ngôn ngữ, phong cách, mà cả về bút pháp và thậm chí là về
dung lượng. Nhưng trái với Trần Dân Tiên, T. Lan được công bố chính
thức là một bút danh của Hồ Chủ Tịch.
Ở trên tôi viết rằng cả những người hâm mộ lẫn những
người căm ghét Hồ Chí Minh đều cho rằng việc tự viết một cuốn sách
để ca ngợi mình là điều đáng phê phán. Nhưng điều đó chỉ đúng với
những người tầm thường. Với những người tầm thường, tức là tất cả
chúng ta, chỉ trừ các vĩ nhân, tự nói hay tự viết để ca ngợi mình là
điều đáng phê phán. Nói vậy cũng có nghĩa là nói tất cả chúng ta đều
đáng phê phán. Bởi vì trên thực tế, ngoài việc nhờ bạn bè, cánh hẩu,
học trò, cấp dưới…ca ngợi mình – điều thường được coi là cao thượng
hơn là tự ca ngợi – tự ca ngợi vẫn là cách chúng ta thường sử dụng.
Chẳng hạn, chúng ta vẫn nói, “Tôi rất ghét thói giả dối”, “Em làm
tất cả những thứ này là vì anh”, hay “Tôi không phải là người tham
quyền cố vị…”
Nhưng những gì đúng với người thường không phải bao
giờ cũng đúng với các vĩ nhân. Chúng ta không thể đo vĩ nhân bằng
thước đo của những kẻ tầm thường. Học giả Arab, Mustafa
al-Manfaluti, từng viết: “Sự vĩ đại đứng cao hơn nghệ thuật và tri
thức, cao hơn pháp luật và quyền lực, cao hơn tước hiệu và của cải,
bởi vì các nhà khoa học, các nghệ sĩ và những người danh tiếng thì
có nhiều, còn những cá nhân vĩ đại thì rất ít gặp. Sự vĩ đại - đó là
sức mạnh bẩm sinh của tinh thần mà không của cải nào mua được. Người
đạt đến sự vĩ đại có một niềm tin chắc rằng mình khác biệt với những
người trần khác về cả trái tim, trí tuệ, khuynh hướng tư tưởng và
phương thức tư duy, rằng mình được cắt theo một thước đo khác những
người khác và không nằm vừa trong khuôn khổ của các phe nhóm, giai
cấp nào cả”[4].
Đúng vậy, không thể coi “Những mẩu chuyện về
đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” là cuốn sách của một kẻ háo
danh. Hồ Chí Minh quá nổi tiếng, sự nghiệp của ông quá sáng chói,
ông không cần có thêm một cuốn sách để trở thành nổi tiếng. Và giả
sử Hồ Chí Minh cần một cuốn sách như thế, chỉ cần ông đánh tiếng,
chắc chắn sẽ có rất nhiều nhà văn tài giỏi và nổi tiếng sẵn sàng
viết nó ra, không chỉ vì ngưỡng mộ, mà có thể còn vì vụ lợi. Nhưng
Hồ Chí Minh đã quyết định tự viết ra cuốn sách. Tôi đoán, thời gian
cấp bách là một yếu tố khiến Hồ Chủ Tịch phải quyết định như vậy.
Hãy nhớ rằng cuốn sách được xuất bản năm 1948. Đó là thời điểm vô
cùng khó khăn đối với Hồ Chí Minh. Cuộc cách mạng của ông đang đứng
trước những nguy cơ to lớn. Đội quân phần lớn gồm những chàng trai
chân đất của ông đang phải đối mặt đội quân viễn chinh thiện chiến
của cường quốc Pháp, được hỗ trợ bởi cường quốc số một thế giới là
Hoa Kỳ. Xin nhớ rằng cho đến lúc đó chính phủ của Hồ Chí Minh vẫn
chưa được Liên Xô công nhận, còn cách mạng Trung Quốc thì đến 1949
mới thành công. Tình thế của cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đó rất
giống tình thế của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn khi Nguyễn Trãi mới dâng
“Bình Ngô sách”. Và cũng như Nguyễn Trãi và Lê Lợi, Hồ
Chí Minh buộc phải thu phục nhân tâm. Để thu phục nhân tâm, phải có
một hình tượng trung tâm lý tưởng có thể thu phục nhân tâm. Ai có
thể làm việc đó trong điều kiện nước sôi lửa bỏng như vậy? Tôi nghĩ
là không có ai cả ngoài Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã phải tự viết lấy
cuốn sách. Tôi tin rằng khi đó Hồ Chí Minh có nghĩ đến những tờ
truyền đơn lá của Nguyễn Trãi.
Hồ Chí Minh có nghĩ rằng một ngày nào đó người ta sẽ
bàn tán về tác giả của cuốn sách hay không? Tôi nghĩ rằng có. Với
trí tuệ siêu việt, với kiến văn uyên thâm Đông Tây kim cổ, với sự
từng trải và lịch lãm của mình, Hồ Chí Minh không thể không biết
rằng vấn đề bản quyền của cuốn sách sẽ được bàn đến vào một ngày nào
đó. Nhưng Hồ Chí Minh có cách bàn riêng của mình. Ông bàn với sự
vĩnh cửu. Tôi hình dung nụ cười giễu cợt của ông. Có thể đó là một
trò đùa của Hồ Chí Minh trong thời điểm vận mệnh quốc gia đang ngàn
cân treo sợi tóc. Trò đùa chỉ có thể có ở một vĩ nhân.
Có vô số huyền thoại đã và đang được thêu dệt xung
quanh cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Nhưng
Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh còn một sự giống nhau khác, đó là sự yêu
ghét tột cùng mà người ta dành cho họ. Sự yêu ghét tột cùng ấy là
bằng chứng và cũng là đồng tác giả của sự vĩ đại.
Một lần nữa tôi lại muốn trích dẫn Mustafa
al-Manfaluti. Ông viết: “Sự vĩ đại giống như chân lý, cả kẻ thù lẫn
bạn bè đều phục nó. Người sáng tạo cũng như kẻ phá hoại đều phải
chịu đựng sức nặng của nó. Ở đâu anh thấy một đoàn bạn bè, ở đấy anh
thấy một đám kẻ thù. Chỗ nào anh thấy những kẻ thù chống đối nhau
thì nên biết rằng: chỗ đó sự vĩ đại đang lên ngôi báu lớn lao của
mình, vượt cao hơn tất cả”.
NTL (03-03-2010)
[1]
Đại Việt sử ký toàn thư, T.II,Văn hóa-Thông
Tin, Hà Nội, 2004, tr. 157.
[2]
Đào Trọng Từ, Huy Trân, Tú Ngọc, Essais sur la musique
vietnamienne, Edition en langues étrangères, Hanoi,
1979, tr. 154.
[3]
Nguyên văn bài hát như sau: “I. Gươm dao ta/ Đem mài đi/
Mài cho bén/ Mài cho sắc/ Nhật ta đâm/ Tây ta chặt. II. Sắp
hàng ra/ Xung phong lên/ Người ta đông/ Sức ta bền/ Việc
giải phóng/ Nhất định nên”. Trích theo Vũ Châu Quán,
Nguyễn Huy Quát, Những điều chưa biết trong thơ ca
chiến khu của Bác Hồ, Thanh Niên, Hà Nội, 2006, tr.
271.
[4]
Mustafa al-Manfaluti
(1876-1924), nhà văn và nhà khai sáng Arab. Đoạn văn nói
trên trich trong “Sự vĩ đại”, do Ngân Xuyên
dịch. <Talawas.org>
|