http://www.ktdt.com.vn/newsdetail.asp?NewsId=4979&CatId=22

 

Nguyễn Hòa: Ðặt sang một bên mọi ràng buộc khi viết
(bản gốc)

 

Năm 2007, Nguyễn Hoà đã tròn 20 năm gắn bó với lý luận - phê bình. Trong 20 năm ấy, bạn đọc biết tới anh như một cây bút thẳng thắn, trung thực, có một số luận điểm về văn chương - văn học đáng chú ý. Cuộc trò chuyện dưới đây sẽ cho thấy đôi nét chấm phá về Nguyễn Hoà và quan niệm của anh về nghề nghiệp.   

 

- Có thể nói anh là nhà phê bình khá nhất hiện nay, tuy nhiên lại có người từng tuyên bố rằng hiện nay ở Việt Nam không có nhà phê bình nào xuất sắc, anh nghĩ gì về điều này?

          Xin cảm ơn nhận xét của bạn, nhưng thật tình là tôi không dám nhận danh hiệu “khá nhất” mà dường như bạn đã có phần ưu ái khi dành nó cho tôi. Từ khi đeo đuổi nghề này, mỗi lần được giới thiệu trên báo chí là “nhà phê bình” tôi vẫn thấy ngài ngại. Không phải là “giả vờ khiêm tốn” đâu, tôi suy nghĩ như thế thật đấy. Bạn có thể kiểm tra ở nhiều tòa soạn, lần nào tôi cũng chỉ thích được gọi là “cây bút lý luận - phê bình” thôi. Còn việc đánh giá người này viết phê bình này xuất sắc, người viết phê bình kia tầm tầm… là quyền của mọi người có quan tâm đến lĩnh vực này, tôi không bình luận. Vả lại, có người còn khẳng định ở Việt Nam không có phê bình văn học nữa cơ mà, và có sao đâu. Tôi chỉ thắc mắc là trước khi đưa ra các nhận xét như trên thì người ta có thật sự hiểu phê bình văn học là cái gì hay không? Còn trong thực tế, lý luận - phê bình vẫn tồn tại, vẫn có những người say sưa với nó, người đọc vẫn ít nhiều trông đợi ý kiến của các tác giả lý luận - phê bình trước một tác phẩm văn chương hay một hiện tượng văn chương. Hơn thế nữa, xét đến cùng thì ý kiến cho rằng hiện nay ở Việt Nam không có nhà phê bình xuất sắc cũng có mặt tích cực, bởi sẽ đặt các tác giả lý luận - phê bình trước tình thế phải vượt lên chính mình. Quá tốt chứ sao!     

          - Theo anh, bài viết nào đánh dấu sự xuất hiện của nhà phê bình Nguyễn Hòa để cái tên này đứng vững đến ngày hôm nay?

          Ngoảnh đi ngoảnh lại, vậy mà đã 20 năm rồi. Trước khi làm lý luận - phê bình, tôi đã làm vài nghề khác nữa. Chức trách trợ lý văn hóa quần chúng ở một đơn vị trong quân đội của tôi được xem như là “con dao pha”, biết tý âm nhạc, biết tý sân khấu, hát đơn ca trong Đội Tuyên truyền văn hóa của Quân đoàn, rồi phập phừng đệm ghi-ta cho người khác biểu diễn… Thời gian nào Đội không tập trung thì tôi làm thuyết minh chiếu bóng, cũng bậc 2/3 rồi đấy nhé. Tôi còn viết ca khúc, phối khí, dàn dựng các chương trình văn nghệ nghiệp dư. Cuối cùng thì tôi nhận ra đấy chỉ là trò chơi của thời trai trẻ, tuy vui vẻ song không phải là công việc của mình, dù về sau tôi đã tốt nghiệp Khoa Văn hóa quần chúng (trường Đại học Văn hóa - Hà Nội). Cũng có cái gì đó hơi trái khoáy vì sau khi học xong, tôi lại được điều động về làm giảng viên ở khoa Triết học (Học viện Chính trị - Quân sự, Bộ Quốc phòng). Giảng viên mới, lên lớp ít, mà kỷ luật đơn vị lại chặt chẽ, không phải lúc nào cũng có thể vác cây đàn ghi-ta đi “đánh pắc” chỗ nọ chỗ kia, thế là tôi quay sang đọc sách. Đọc để nâng cao tri thức phục vụ bài giảng, nhưng cũng có lúc đọc như để giết thời gian. Rồi theo bạn theo bè, tôi lọ mọ đi nghe bài giảng của các bậc thầy từ Trần Đình Hượu, Từ Chi, Nguyễn Hồng Phong, Đoàn Văn Chúc, Trần Quốc Vượng, Minh Chi, Quang Đạm, Nguyễn Văn Nghĩa… đến Phan Ngọc, Tô Ngọc Thanh, Hà Văn Tấn, Lê Hữu Tầng, Dương Phú Hiệp, Nguyễn Hào Hải, Nguyễn Duy Hinh,… Giảng đường nào rộng rãi thì ngồi phía cuối, nơi nào chật thì ngồi hành lang, nghe qua cửa sổ. Đọc và nghe mãi rồi say mê lúc nào tôi cũng chẳng hay, cũng chẳng biết tri thức tích lũy được về sau lại quan trọng đến mức nào. Chỉ có một điều hơi kỳ cục là riêng lý luận văn học thì tôi lại không học thầy nào, mà do ham thích nên tự học. Trong điều kiện như thế, nên việc có một hay nhiều "khoảng trống" trong tri thức tôi tích luỹ được là điều hiển nhiên, nên tôi luôn tự nhủ phải biết mình biết người.

          Năm 1987, sau khi đọc một bài phê bình cuốn sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Phan Ngọc) đăng trên báo Văn nghệ, thấy có một số ý kiến thiếu chính xác nên tôi bứt rứt và muốn viết một bài trả lời, được anh Tổ trưởng bộ môn khuyến khích, tôi viết luôn. Cũng buồn cười, lúc ấy tôi không biết là bản thảo phải viết trên một mặt giấy, nên khi được góp ý, tôi phải hí húi ngồi chép lại! Rồi phải nhờ anh Tổ trưởng "hộ tống" ra 17 Trần Quốc Toản để gửi bài. Vậy mà gặp may, vì chị Thiếu Mai (Trưởng Ban lý luận - phê bình của báo Văn nghệ lúc bấy giờ) nhận và cho đăng ngay. Rồi chị vừa động viên, vừa hướng dẫn một số kinh nghiệm nghề nghiệp, thế là tôi hăng hái lên, tiếp tục viết. Các tòa soạn có liên quan tới văn chương bây giờ rất thiếu những người như chị Thiếu Mai. Nay chị mất rồi nhưng tôi không quên chị, nhiều lúc tự hỏi nếu không có chị Thiếu Mai thì mình có “theo đòi” cái nghề này hay không. Lứa những người viết lý luận - phê bình cùng với tôi như Chu Văn Sơn, Ngô Văn Giá, Phạm Xuân Nguyên… lúc khởi đầu nghề nghiệp đều có sự giúp đỡ của chị Thiếu Mai.

          Kỷ niệm nghề nghiệp sâu sắc nhất của tôi chính là bài phê bình đầu tiên được đăng ở báo Văn nghệ mà tôi đã kể ở trên. Báo ra, tôi mua mấy chục số tặng anh em bạn bè, rồi cắt riêng một bài để trong túi áo, thi thoảng lại lôi ra đọc, đọc đến thuộc lòng, đọc nát cả mảnh báo mới chịu thôi. Cùng với bài viết về truyện ngắn Tướng về hưu, bài phê bình này về sau được trao tặng thưởng hàng năm của Văn nghệ, được 6.000 đồng và sung sướng vô cùng. Còn theo tôi bài có ấn tượng, được nhiều người chú ý có lẽ là bài Về một lý thuyết thơ và về người khai sinh ra nó, đăng trên Văn nghệ năm 1997. Bài viết không thuần tuý chỉ là phê bình, mà là sự vận dụng lý thuyết và tri thức để "phê bình". Kiểu bài như thế về sau tôi viết cũng nhiều, nhưng đó là bài đầu tiên. Cũng phải mất 10 sau khi cầm bút đấy bạn ạ. Nay bạn hỏi và tôi nhìn lại, cũng thấy có chút… bâng khuâng!   

- Có người nói Nguyễn Hòa thích “nói ngược” ý kiến người khác, vậy đó là cách tiếp cận mà anh lựa chọn hay vì anh muốn nổi tiếng, muốn “chơi trội”?

Tôi cũng nghe loáng thoáng như vậy và chỉ cười. Vì lẽ đơn giản là không có gì bảo đảm cái ý kiến "nói xuôi" kia là chính xác, đúng đắn. Và thường thì đến nay, với các ý kiến của tôi mà có người coi là "nói ngược" thì đã có mấy ai bác bỏ được đâu. Người ta nhận xét như thế, có lẽ vì người ta tự tin đến mức ngỡ rằng "chân lý đã nằm trong túi mình" hoặc những điều người ta viết ra chỉ có đúng chứ không có sai. Khi tôi chứng minh bằng lý luận - thực tiễn để bác bỏ một luận điểm, một ý kiến về văn chương hoặc văn hoá (hai lĩnh vực tôi vốn quan tâm) mà chủ nhân của chúng không có khả năng luận chứng ngược lại để bảo vệ sản phẩm của họ thì điều được xem là "nói ngược" của tôi sẽ có ý nghĩa như thế nào? Kỳ khôi hơn là có người không đứng ra bảo vệ "đứa con tinh thần" mà lại đi lần mò tìm hiểu để trả lời các câu hỏi đại loại như: Nguyễn Hoà có ân oán giang hồ gì với mình hay không? Nguyễn Hoà có về "phe" với ai không? Có ai "xúi" Nguyễn Hoà không? Tôi coi các câu hỏi như thế là nằm ngoài văn chương, là thiếu tinh thần lương thiện trí thức. Vì thế tôi thường cười khẩy khi ai đó bảo tôi: "Ông ghét tay X lắm à?", "Lão Y hiền lành như thế mà ông cũng phê!"… Dường như theo họ, sự "phê phán" chỉ xuất hiện khi người viết phê bình ghét bỏ hoặc hằn thù ai đó, và cũng dường như, họ khá xa lạ với yêu cầu về tính khách quan, sự nghiêm túc của người viết. Nguyên tắc của tôi là bao giờ cũng chỉ có văn bản, văn bản và văn bản. Khi viết phê bình, tôi đặt sang một bên mọi ràng buộc. Tôi không ngần ngại khi đứng trước bất kỳ đối tượng nào mà tôi thấy cần phê bình, cho dù đó là sản phẩm hay hành vi văn chương của nhà văn, nhà thơ nổi tiếng hay của ông giáo sư, bà tiến sĩ tiếng tăm. Tất nhiên để làm được điều đó, tôi cũng phải biết cảnh giác với chính mình khi đứng trước hai khả năng đúng và sai. Với vấn đề quan trọng, với tác giả có "uy tín", tôi luôn phải lật xuôi lật ngược để xem xét và loại bỏ những gì có thể làm ảnh hưởng tới hệ thống luận điểm của mình. Đôi khi tôi còn nhờ một vài bạn bè đọc như là để phản biện. Nếu bạn chú ý, bạn sẽ thấy thường thì người ta "nói sau lưng" tôi nhiều hơn là cầm bút trao đổi, tranh luận với tôi trực tiếp và đàng hoàng, mà phàm đã là "nói sau lưng" thì không có ý nghĩa gì cả, nó chỉ bộc lộ sự kém cỏi của người nói ra mà thôi.

Tóm lại là xu hướng cùng với lối viết phê bình của tôi là một sự lựa chọn và tôi nhất quán với sự lựa chọn ấy từ ngày cầm bút đến nay. Còn muốn nổi tiếng hay "chơi trội" ư, với người khác thì tôi không biết, chứ với tôi thì đó là sự khôi hài. Nghề nghiệp nào cũng vậy, sự nổi tiếng theo ý nghĩa lành mạnh luôn luôn phải được bảo đảm bằng một nội lực và sự thừa nhận của số đông. Ham hố, chơi trội, bằng mọi cách để được nổi tiếng thường chỉ đẩy tới một kết quả là sự nhố nhăng, làm trò cười cho thiên hạ. Tôi chẳng dại dột để sắm vai diễn này. Khả năng mình đến đâu thì làm việc đến đó, cố gắng làm việc một cách khách quan, trung thực, công tâm trên nền tảng một tri thức luôn luôn được cập nhật để có thể vừa rộng vừa sâu, dám độc lập suy nghĩ để phát hiện và sáng tạo… Cái gì đến sẽ đến, cái gì không đến sẽ không bao giờ đến, ham hố để làm gì.           

          - Nếu có một lời khuyên dành cho các cây bút trẻ muốn theo “nghiệp” phê bình, anh sẽ nói gì?

          Lý luận - phê bình của chúng ta đang thiếu một đội ngũ kế cận, đó là sự thật. Nhìn đi nhìn lại mới chỉ thấy nổi lên Phạm Xuân Thạch, Cao Việt Dũng, Nguyễn Hoài Nam. Tôi đặt hy vọng vào các tác giả này vì căn cứ vào quá trình đào tạo, sự nỗ lực và sự thể hiện của họ, tôi tin họ sẽ đi xa. Còn một số bạn trẻ khác, dường như đang viết theo hứng hơn là viết vì yêu nghề. Tôi là một người do yêu nghề mà dấn thân vào với lý luận - phê bình, sau đó lại xác lập một hướng tiếp cận khá "khác người" nên sự trải nghiệm của tôi thật tình là cũng phức tạp. Tựu trung những điều tôi rút ra được và nếu có một ý nghĩa với các bạn trẻ thì tôi cũng không coi là những lời khuyên, chỉ là kinh nghiệm để tham khảo. Đó là phải xây dựng một nội lực nghề nghiệp ngày càng "thâm hậu" và dám hết mình cho nghề nghiệp, đừng bao giờ nghĩ đường đi sẽ trải đầy hoa mà hãy nghĩ đó là con đường chông gai. Muốn vậy phải cố gắng học và đọc có hệ thống, cố gắng độc lập suy nghĩ. Bản lĩnh của người viết phê bình là rất quan trọng, nó không chỉ giúp người viết đưa ra và luận chứng quan niệm của mình về tác phẩm hay vấn đề văn chương - văn học, mà còn giúp họ biết nói "không" với các thứ phù phiếm, và đưa tới sự tỉnh táo để không bị cuốn theo hay bị tác động bởi các xu hướng ngoài văn chương. Lý luận - phê bình trước hết là công việc khoa học, do đó người làm nghề phải biết khám phá, biết đặt ra câu hỏi "tại sao" để trả lời, vì thế đừng bao giờ thoả mãn với thành công. Và cuối cùng là dần dà nên tạo dựng cho bản thân một "giọng điệu" lý luận - phê bình riêng, ít nhất cũng là ở lối diễn đạt, ở văn phong… Tất cả xem ra có vẻ hơi trừu tượng, nhưng liên hệ với thực tế thì cũng dễ hiểu thôi.

          - Vâng, xin cảm ơn anh về những ý kiến cởi mở và chân thành trên đây!         

                                                                                                                                                                               

Võ Thúy (thực hiện)