Mode và sự hoàn thiện thẩm mỹ

         

            Với ý nghĩa con người và xã hội của nó, có thể coi mode là một sinh hoạt văn hoá thường nhật, sinh động của xã hội hiện đại, nên có thể tiếp cận mode từ những phương diện văn hoá khác nhau. Và cuộc trò chuyện nhiều kỳ giữa phóng viên Tòa soạn với cây bút lý luận - phê bình văn học Nguyễn Hoà dưới đây là một trong nhiều phương diện tiếp cận đó

 

 

- Phóng viên (PV): Trong công việc chuyên môn, dường như anh có sự quan tâm nhất định tới văn hóa và một số vấn đề của văn hóa Viêtn Nam đương đại?

 

- Nguyễn Hòa (NH): Vâng, tôi vốn là giảng viên ngành văn hóa học, về sau do thích thú với văn chương, nên tôi chuyển sang làm lý luận - phê bình. Nhưng thật ra trong thâm tâm, tôi thấy mình vẫn có nhiều duyên nợ với văn hóa, và vẫn quan tâm tới một số vấn đề.

 

- PV: Như vậy mode có nằm trong những vấn đề mà anh quan tâm hay không?

 

- NH: Có chứ, nếu không nói là tôi rất quan tâm. Văn hóa luôn luôn vận động và biến đổi, thường thì chúng ta chỉ nhận ra sự biến đổi sau khi một quá trình văn hóa đã diễn ra, nhưng nếu quan sát trực tiếp và cụ thể, có thể thấy văn hóa đang chuyển dịch hàng ngày, nếu không có các chuyển dịch nho nhỏ và từng bước này sẽ không có biến đổi của cả quá trình. Theo tôi, chuyển dịch của văn hóa được thể hiện một phần qua những biến đổi của mode. Từ ngôi nhà cấp bốn đến toà nhà ba bốn tầng, từ chiếc xe đạp cọc cạch đến chiếc xe máy phóng vi vu, từ ti-vi đen trắng đến ti-vi màu,… không chỉ là chuyện riêng của cá nhân, của gia đình, chúng còn là chuyện của xã hội. Nhất là khi chúng ta không chỉ thấy mode trong trang phục mà mode có mặt từ mua sắm vật dụng, đồ trang sức, phương tiện đi lại, xây dựng nhà cửa, đến dáng đi kiểu đứng, đầu tóc, lời ăn tiếng nói… Tóm lại, ngày nay mode đã thâm nhập vào mọi ngóc nghách của sinh hoạt xã hội, và qua mode có thể hiểu nhiều điều về xã hội.

 

- PV: Với mode trong trang phục, có một thời chúng ta vẫn coi đó như là loại hiện tượng bất thường, ngày nay thì mode đã trở thành bình thường. Theo anh điều gì đã xảy ra trong khoảng thời gian để mode từ bất bình thường trở thành bình thường?

 

- NH: Tôi nghĩ chủ yếu do quan niệm, và phần nào còn do điều kiện kinh tế. Nhu cầu làm đẹp mình, làm đẹp xã hội là nhu cầu lành mạnh, chính đáng của con người ở mọi thời đại. Ngày xưa, các cụ cũng có mode của các cụ đấy chứ. Áo tứ thân, áo mớ ba mớ bảy, yếm đào, thắt lưng hoa lý, nón quai thao, xà tích, guốc kinh… của phụ nữ; ô đen, khăn xếp, áo the… của nam giới là mode của một thời. Về tiết tấu của sự biến đổi, giữa mode ngày xưa với mode hôm nay khác nhau chủ yếu ở chỗ: ngày xưa mode hầu như chỉ có một mô hình và ít biến đổi nên dễ đơn điệu. Vào ngày trảy hội, cô gái (nếu cô còn sống thì ít nhất cũng quãng tuổi cụ của tôi bây giờ!) mặc áo mớ ba mớ bảy chính là muốn làm đẹp mình trước đám đông, giống như mẹ của cô, bà của cô, cụ của cô… đã mặc từ xuân này sang xuân khác. Nhiều lớp áo cánh màu sắc sặc sỡ khác nhau làm cô gái giống như bông hoa, ai mà chẳng muốn ngoái cổ nhìn theo. Hôm nay các cô gái vẫn có nhu cầu tương tự, trong khi quan niệm chung của xã hội đã cởi mở hơn, kinh tế khấm khá hơn, vật liệu may mặc cũng phong phú hơn… Tất cả đã giúp cho mode có điều kiện biến đổi thường xuyên, tạo ra sắc diện của sự đa dạng. Để mô tả trang phục trong một sinh hoạt có tính lễ hội, như đêm giao thừa xung quanh Hồ Gươm chẳng hạn, có lẽ một cuộc phỏng vấn cũng không “tải” hết được, vì mode quá sinh động và phong phú.

 

          Xét theo thời gian, mấy chục năm trước mode ở miền Bắc cũng khá đơn giản. Đầu những năm 60 của thế kỷ XX ở Hà Nội, chị em thường mặc áo sơ-mi có cổ kiểu lá sen to loè xoè, nếu là áo cánh thì cổ viền khá cầu kỳ. Các chị có mái tóc phi-dê (frisé) bị xem là kỳ lạ, cánh trẻ con vẫn châm chọc bằng cách ngêu ngao pha phách lời một bài hát thành: “người phi-dê trông cao bồi, người phi-dê trong chán ghê”! Thanh niên con trai thì quần xanh, áo sơ-mi trắng, miệng túi áo có gài chiếc bút Kim tinh vàng choé, lại thập thò bóng dáng đồng tiền giấy 10 đồng. Thời ấy cũng vui. Tôi thấy có cụ ông đi chơi ở Bờ Hồ, trên mặc vét-tông dưới lại mặc quần ta trắng, chân đi giầy “giôn”. Cuối những năm 60 đầu năm 70, mode của thanh niên đứng đắn là quần kaki, anh nào sang thì may bằng simili. Quần may theo lối cạp liền, có ly hoặc “xăng” ly, có anh lại dùng quai-nhê và nhất thiết quần phải có túi nắp. Áo sơ mi trắng cũng có túi nắp. Anh nào ngổ ngáo, tay chơi thì quần xanh công nhân ống “tuýp” bó chặt lấy ống chân, áo Tô Châu của bộ đội dài lụng thụng đến tận đầu gối, đầu đội mũ lưỡi trai. Đi xe đạp Phượng hoàng xích hộp phải chìa đầu gối ra hai bên, anh nào chân ống lau ống sậy mà chìa đầu gối “củ lạc” ra thì trông như hai cái… tên lửa! Sau 1975 thì xuất hiện quần ống loe, áo đuôi tôm may chẽn bó lấy eo, trông hơi ẻo lả. Chị em thì mặc quần “ống xéo”, mẹ tôi làm thợ may, tôi thấy có người đến may quần có ống rộng tới hơn 40 cm. Ấy là chưa kể đến mode áo “phông Lào”, dép “tông Thái”… Những mode này kéo dài vài ba năm mới thấy thay đổi. Nhưng từ quãng giữa những năm 90 trở lại đây thì tôi… chịu! Dù chăm chú quan sát, tôi cũng không thể theo kịp với biến đổi nhanh chóng của mode trong trang phục. Kể với bạn một câu chuyện mà nhớ lại tôi vẫn thấy buồn cười. Chẳng là ngày còn nhỏ, ngoài giờ học, tôi hay ngồi bên máy khâu để “trần quả trám” áo lót của chị em. Mẹ tôi may hàng trăm chiếc rồi đi giao ở Hàng Ngang, Hàng Đào. Áo này có hai loại, loại “xịn” thì lớp ngoài may bằng vải pôpơlin trắng, loại bình thường thì lớp ngoài may bằng vải phin trắng. Chỉ có lớp ngoài là khác, còn ba lớp ở bên trong thì giống hệt nhau, một lớp bằng vải vụn ghép lại, một lớp bằng… ni-lông dày cộp, lớp cuối cùng là diềm bâu! Bốn lớp đều cắt theo hình lục lăng, trần quả trám xong thì cuốn lại, trông như cái phễu. Vừa nhọn vừa cứng nên áo sơ mi, áo cánh của nhiều chị bị thủng hai lỗ phía trước và phải… mạng! Bây giờ có hôm tôi tò mò ngó vào shop bán quần áo lót mà hoa hết cả mắt. Tuy nhiên xem ra mức độ “nguy hiểm” vẫn chưa thuyên giảm, vì tôi thấy có loại áo lót có lồng cả… gọng sắt!

 

- PV: Quan sát như vậy, anh có nhận xét gì về mode trang phục hiện nay?

 

- NH: Tôi cho rằng về trang phục, nhiều người trong chúng ta chưa được trang bị những tri thức cơ bản về điều mà tôi xin tạm gọi là “văn hoá mode”, và còn phải kế đến việc nhiều người trong chúng ta chưa có thói quen tự đánh giá các mặt mạnh - yếu về nhan sắc và hình thể của bản thân mình. Sùng bái mode, chạy theo mode đang là xu hướng có thật, nhất là trong giới trẻ. Mà thường thì khi đã sùng bái mode, đã chạy theo mode thì người ta không chú ý tới sự lựa chọn thẩm mỹ có ý nghĩa cá tính. Nói cách khác là không coi mode đã tham gia vào sự hoàn thiện thẩm mỹ của cả cá nhân và cộng đồng. Ví dụ, có những cô gái người cao ráo, cân đối, trắng trẻo mặc quần bò trễ, áo phông ngắn trông cực đẹp, nhiều lúc đi ngoài đường tôi ngắm không biết chán, may mà chưa húc phải cột điện! Nhưng lại có cô gái mặc quần bò trễ, áo phông ngắn, người lại gày tong teo, eo ót đầy sẹo với cả dãy nốt gì đo đỏ như muỗi đốt mà cũng khoe ra thì quá lả phản cảm. Một hôm tụ tập với bạn bè ở một nhà hàng ngồi dưới sàn theo kiểu Nhật Bản, cô gái ngồi mâm đối diện quay lưng lại phía tôi. Mỗi lần nhìn thẳng là đập vào mắt tôi một khoảng lưng to bằng nửa tờ giấy A4 vừa đen vừa loang lổ, ăn mất cả ngon! Tâm lý đám đông chi phối sở thích mode đã làm cho nhiều người không biết rằng mode còn có vai trò hạn chế đến mức tối thiểu các điểm yếu và khuếch trương đến mức có thể các điểm mạnh của hình thể mỗi người, và tạo ra sự hấp dẫn. Lại nữa là màu sắc, là đường kẻ, là khuy, khuyết… Khi nào có điều kiện, tôi với bạn bàn về váy mới vui. Ở Việt Nam ta, từ ngày xưa đã có câu đố: “Cái thúng mà thủng hai đầu - Bên ta thì có bên Tầu thì không”, và đến bây giờ, “cái thúng” ấy xem ra cũng phức tạp ra phết!

 

- PV: Theo anh, vì sao trước đây mode thời trang ít thấy xuất hiện ở Việt Nam?

 

- NH: Trang phục ra đời trước hết là nhằm bảo vệ thân thể, là đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người, đôi khi còn là sự thoả mãn ý muốn được khẳng định cá tính của mỗi người trước đám đông. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, các giá trị, chuẩn mực, quan niệm, tập quán… ra đời và tồn tại khá ổn định. Dựa vào đó, tiền nhân đi tìm sự thích nghi với thế giới chứ hầu như không có ý tưởng đi tìm phương pháp, công cụ để làm thay đổi thế giới; nói cách khác, thói quen “ôn cố tri tân” không thúc đẩy cha ông đặt các câu hỏi có ý nghĩa phát hiện, giải thích để tìm ra cái mới… Vì thế nhiều sự vật, hiện tượng của xã hội - con người thường được nhìn nhận như là “bất biến hiển nhiên”. Với trang phục cũng vậy, cha ông không tính đến việc phải thay đổi kiểu lối cho đẹp hơn mà thường quan tâm hoàn thiện cái đã có. Ngay cả vật liệu làm ra quần áo như vải vóc, nếu liệt kê thì có vẻ nhiều, nhưng vẫn chỉ là từng ấy thứ lụa, nhiễu, gấm, the…, khó có thể xem là phong phú khi so với lịch sử hàng nghìn năm. Thông qua việc thể chế hoá, quần áo còn phải mang thêm chức năng biểu thị vị trí xã hội, nên quần áo của vua khác với quần áo của quan, quần áo của quan khác với quần áo của thứ dân…, đến mức người giàu có, tiền nong rủng rỉnh thì dẫu có muốn cũng không dám vi phạm các chế định nghiêm ngặt về trang phục. Bên cạnh đó, sự khắc kỷ của lễ giáo cùng vai trò khá mờ nhạt của cá nhân trong các quan hệ cộng đồng đã không tạo ra điều kiện, thậm chí không cho phép mỗi người được khẳng định, được phô diễn ưu thế về hình thể, quảng bá sở thích riêng. Trong bối cảnh đó, nhu cầu nói chung khá ổn định, nên nhu cầu thẩm mỹ trong trang phục cũng ít biến động. Khi kinh tế chưa phát triển, quan niệm xã hội chưa cởi mở, cá tính thẩm mỹ chưa được coi trọng… thì mode trở thành cái gì đó xa lạ.

 

- PV: Cứ cho là các yếu tố đó rất quan trọng đi, song thử hỏi khi thời trang được sản xuất hàng loạt như hôm nay và có khả năng làm cho nhiều người cùng mặc những bộ quần áo y hệt nhau thì  sở thích thẩm mỹ liệu còn có ý nghĩa gì?

 

- NH: Với trình độ phát triển ngày càng cao của ngành công nghiệp may mặc, ngày nay con người đã có khả năng sản xuất hàng loạt, hạ thấp giá thành, đáp ứng nhu cầu “mặc” một cách nhanh chóng và trên quy mô lớn… Tuy nhiên, nên loại trừ khỏi câu hỏi của bạn những bộ đồng phục đặc biệt, có ý nghĩa là quy ước nghề nghiệp của một số nhóm xã hội như quân đội, công an… Trang phục loại này vừa là dấu hiệu nghề nghiệp vừa nhắc nhở ý thức trách nhiệm của người mặc nó. Hiện tại ở Việt Nam, trang phục theo kiểu “nhà binh” như đang có xu hướng trở nên phổ biến. Từ hải quan, kiểm lâm đến nhân viên khách sạn, dân phòng… cũng mặc đồng phục nhìn hao hao như quân phục, nếu có khác thì chỉ khác về màu sắc, thêm tua rua, ngù, nẹp ống. Đến khi mấy bác nhạc công “phường bát âm” cũng sắm bộ này và mặc chúng theo lối cẩu thả thì xem ra đã hơi bị… dễ dãi!

 

          Trong thực tế, trang phục sản xuất hàng loạt không triệt tiêu cá tính thẩm mỹ, bởi quần áo được sản xuất từ nhiều cơ sở khác nhau và người mặc được tự do lựa chọn. Nếu chú ý, chúng ta sẽ ít khi gặp vài ba người ăn mặc giống nhau. Cách đây hơn chục năm, tôi từng gặp trên đường phố những tốp chàng trai hoặc cô gái mặc quần áo i xì nhau, từ kiểu dáng đến màu sắc và họ có vẻ thích thú với việc này, dù không phải người nào mặc cũng đẹp. Nhìn họ, tôi thấy buồn, vì cá tính thẩm mỹ đã giảm thiểu ý nghĩa trước sự lôi cuốn của sở thích nhóm. Ngày nay khó bắt gặp một hiện tượng như vậy, trừ khi là gặp một nhóm tiếp viên hàng không, hoặc một nhóm nhân viên của công sở nào đó có quy định chặt chẽ về trang phục. Vả lại, với tư cách là một ý tưởng thẩm mỹ, mode thường được cụ thể hoá qua từng người. Từ một mode nào đó, các nhà may sáng tạo ra sự tương ứng với kích thước từng cá nhân, cái gọi là “số đo” có nguồn gốc từ đặc điểm hình thể. Về giá thành thì may đo vẫn đắt hơn là may sẵn, nói cách khác là người ta phải trả tiền cho việc “đầu tư thẩm mỹ” của thợ may khi họ tìm ra tiếng nói chung giữa mode với khách hàng. Thợ may giỏi phải là người biết giải quyết một cách hoàn hảo quan hệ này, còn nếu chỉ “áo có tay, quần có ống” thì chẳng mấy lúc mà… sập tiệm!

 

- PV: Trên truyền hình, trên sách báo chúng ta thường gặp các chương trình, các trang báo dành cho mode. Anh có xem không và anh thấy thế nào?

 

- NH: Điều bạn nhắc đến đã trở thành một bộ phận trong sinh hoạt của xã hội hiện đại. Tôi có xem và sau khi “trừ hao” vẻ quyến rũ về thân hình và nhan sắc của các cô, các anh người mẫu thì vẫn phải công nhận là có kiểu, có mode trông đẹp thật. Nhưng cũng lại có kiểu, có mode nhìn hơi “kinh dị”. Có lần tôi nói đùa với bạn bè rằng: “Mặc bộ ấy ra đi đường có khi người ta lại tưởng IC có vấn đề!”. Nhưng nếu nắm bắt được tính mục đích thì không đơn giản vậy đâu. Các kiểu, mode đó ra đời trước hết là sự cụ thể hoá những ý tưởng, là các gợi ý thẩm mỹ cho người tiêu dùng, chúng không có tính cưỡng bức. Ai thấy thích, thấy hợp thì theo. Ai thấy không thích, không hợp thì thôi. Ngay cả khi thấy thích, thấy hợp rồi thì người ta vẫn cải tiến cho thật sự phù hợp cơ mà. Tôi thích ngắm các kiểu, mode này để được hiểu, hoặc khám phá ý tưởng của nhà tạo mode, và nhiều khi thấy cũng trừu tượng thật!       

 

- PV: Mode liên tục thay đổi, vậy đâu là căn nguyên?

 

- NH: Trong tiếng Pháp, mode có nghĩa là thị hiếu, thời thượng, thời trang. Tự thân các nội dung ấy đã cho thấy mode là một cái gì không ổn định, vì không có cái “thời thượng” nào mà lại bất biến cả. Căn nguyên cuối cùng quyết định sự biến đổi của mode là từ nhu cầu. Cũng như các nhu cầu khác, nhu cầu thẩm mỹ luôn nằm trong xu thế vận động phát triển để đáp ứng đòi hỏi làm sao để ngày càng đẹp hơn. Bên cạnh đó, nhu cầu thẩm mỹ của mỗi cộng đồng, mỗi nhóm, mỗi cá nhân, mỗi lứa tuổi… lại có nét riêng, làm cho nhu cầu thẩm mỹ lại càng thêm đa dạng, phong phú. Để đáp ứng sự gia tăng không ngừng, sự phong phú, đa dạng ấy, tất nhiên mode cũng liên tục biến đổi và sinh động. Nhất là khi khả năng đáp ứng nhu cầu nói chung, nhu cầu thẩm mỹ nói riêng càng cao thì mode càng có điều kiện phát triển.

 

- PV: Đôi khi chúng ta vẫn gặp trong giới trẻ những mode được gọi là “lố lăng”. Theo anh hiện tượng ấy là bình thường hay bất bình thường?

 

- NH: Như đã nói, mode có liên quan đến lứa tuổi. Hãy hình dung người ở độ tuổi ngoài 50 mà mặc quần bò trễ, áo phông ngắn hở cả rốn thì trông ra sao nhỉ. Chắc là buồn cười lắm. Ngược lại, nếu thanh niên ở độ tuổi mười tám đôi mươi mà cha mẹ bắt mặc theo mode các cụ thì hẳn là có người không dám ra đường. Xét theo lớp tuổi, mode dành cho lứa tuổi trẻ thường nhiều hơn, có lẽ vì đấy là tuổi luôn khát khao cái mới, luôn hướng tới sự thay đổi, muốn thể hiện mình, muốn khẳng định mình, thích được người khác chú ý. Khi nhu cầu thể hiện mình đạt tới ngưỡng thái quá sẽ dễ dẫn đến sự lố lăng. Thật ra, mặc những bộ quần áo “khác người” từ màu sắc đến kiểu dáng, thậm chí khoe da khoe thịt thì cũng chẳng ai mặc mãi được, chỉ ở một độ tuổi, trong khoảng thời gian nhất định mà thôi. Nên bên sự nghiêm khắc về mặt thẩm mỹ, đôi khi chúng ta cũng cần thông cảm với những người trẻ tuổi còn xốc nổi. Điều quan trọng là phải làm thế nào để nâng cao năng lực thẩm mỹ của mọi người.     

 

- PV: Ngày trước học giả Đoàn Văn Chúc có định nghĩa một cách đơn giản rằng: “Áo là vật dụng che nửa trên của cơ thể. Quần là vật dụng che nửa dưới của cơ thể”…

 

- NH: Tôi cũng đã được nghe ông nói như vậy và thấy thú vị. Thật ra, để đi từ chiếc áo làm bằng vỏ sui đến bộ comple, để đi từ chiếc yếm hay chiếc “gáo dừa” úp lên sinh thực khí đến những bộ đồ lót giá hàng triệu đồng như hôm nay, loài người đã phải mất hàng vạn năm. Khí hậu khắc nghiệt, nắng mưa thất thường… dù quần áo còn ở dạng sơ khai thì cũng là một phương tiện bảo vệ quan trọng. Đến thời ông A đam và bà Eva biết thế nào là xấu hổ, hay là đến khi con người manh nha khả năng nhận thức về mình và thế giới xung quanh thì quần áo đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của hoạt động sống và cũng từ đó, trang phục từng bước phát triển, song hành cùng với trình độ phát triển của mỗi cộng đồng người.

 

          Nhưng dần dà, hai vật dụng để che “nửa trên, nửa dưới” của cơ thể ngày càng trở nên phức tạp hơn, chúng không chỉ giữ các chức năng như lúc mới ra đời mà còn phải chuyển tải cả các ý nghĩa xã hội khác, nhiều khi là không có liên quan gì đến việc che cơ thể. Tỷ như cha ông chúng ta thường nói: “y phục xứng kỳ đức” chẳng hạn. Qua trang phục, ta có thể nhận diện từ cộng đồng xuất thân, nghề nghiệp, vị trí xã hội, giới tính… đến khả năng kinh tế, sở thích, trình độ, xu hướng và cá tính thẩm mỹ… của từng người. Ở đây chỉ xin bàn về những người lành mạnh, vì trong cuộc sống đôi khi vẫn có những kẻ lấy trang phục để “lòe” người khác hoặc lợi dụng trang phục để đạt một mục đích thiếu lương thiện nào đó. 

 

- PV: Sự phong phú của trang phục, sự ra đời và phát triển của mode… phải chăng ngày nay không còn là biểu thị văn hóa của một cộng đồng mà còn là câu chuyện của văn hóa và văn minh nhân loại?

 

- NH: Giao lưu, tiếp xúc văn hóa ở tầm nhân loại đem tới cho con người vô số những giá trị mới mà nếu chỉ khu biệt trong văn hóa cộng đồng có tính chất nội sinh thì con người không bao giờ có được. Bên những giá trị chung mang tính nhân loại, văn hóa còn luôn mang dấu ấn của bản sắc. Bản sắc ấy là sự lựa chọn riêng của mỗi dân tộc đã tích hợp được trong quá trình đi tìm sự thích ứng với các điều kiện kinh tế - địa lý - xã hội đặc thù. Cho nên nếu xét từ văn hóa thì cuộc sống của người vùng núi khác với người ở vùng ven biển, người ở vùng sa mạc chắc chắn có cuộc sống khác với người ở Alatxca. Sự khác nhau đó nhiều khi lại hỗ trợ lẫn nhau rất hữu hiệu trong quá trình sinh tồn, nếu người ta biết học hỏi. Ví dụ như việc hình thành một số nguyên tắc về màu sắc trong trang phục. Ở xứ nóng thì mặc quần áo màu sáng, ở xứ lạnh thì mặc quần áo sẫm màu. Không phải ngẫu nhiên người xứ Arập lại mặc quần áo màu sáng và “tùm hụp” trong nhiều lớp vải (tôi đọc ở đâu đó rằng có bộ quần áo ở xứ này tới hơn 70 mét vải?). Ở xứ nóng bức như thế, trang phục màu trắng và nhiều lớp vừa chống được bức xạ nhiệt vừa giữ được thân nhiệt. Ở Việt Nam cũng vậy, mode trang phục mùa hè ở phía Nam thường nhiều mẫu mã hơn, vì phía Nam khí hậu nóng hầu như quanh năm, mọi người thường mặc quần áo mùa hè, và có nhiều thời gian để mode kịp thay đổi. Có lần từ TP Hồ Chí Minh ra, tôi mua cả một bịch quần áo to đùng, đủ cho vợ con mặc trong vài mùa hè. Còn nói đến quần áo rét thì ở phía Bắc nhiều kiểu hơn, nếu tính từ cuối thu đến đầu hè thì thời gian khí hậu lạnh ở miền Bắc khá dài, mode mùa rét thường tập trung vào dịp Tết.

 

          Hẳn là bạn đã biết về các bộ trang phục có khả năng xuyên quốc gia, mang tầm vóc cả loài người như comple, hay loại quần áo mà người Việt chúng ta đã Việt hóa thành tên gọi là quần áo . Tôi thấy kính nể các tác giả của quần áo . Thật tài tình, người ta có thể mặc quần cùng với áo sơ-mi, áo phông, áo bờ-lu-dông, áo vét… và đều đẹp, nhất là người nào to lớn, cân đối. Với một bộ quần áo được tổ chức như thế, người ta có thể ngồi lê la từ quán nước vỉa hè đến trịnh trọng dự hội nghị mà vẫn không thấy thất thố, hoặc kém lịch sự. Đến đây tôi lại nhớ một chuyện, thời quần còn hiếm, tôi thấy hai anh em nhà nọ mượn quần của nhau để mặc. Nếu họ không kể ra thì tôi cũng chẳng phân biệt được đâu là quần con trai, đâu là quần con gái!

 

- PV: Nói như vậy thì xem ra quần bò là kiểu thời trang ít thay đổi?

 

- NH: Không, cũng giống như mọi loại thời trang khác, quần áo cũng liên tục thay đổi, liên tục xuất hiện những mẫu mã mới. Trên cơ sở cấu trúc của bộ quần áo ra đời hàng trăm năm trước của nhà Levi Strauss, quần áo không chỉ thay đổi về chất liệu vải, màu sắc mà còn ra đời hàng nghìn mẫu mã khác nhau. Thật ra về nguyên tắc thì quần nào cũng phải có ống, áo nào cũng phải có tay, nhưng tài năng của con người đã làm cho những cái tay, cái ống ấy trở nên cực kỳ đa dạng, sinh động về mặt hình dáng và thẩm mỹ. Bạn ngẫm mà xem, tay áo cũng chỉ thay đổi từ kiểu ngắn, kiểu dài, kiểu lơ lửng… đến kiểu loe ra, kiểu thắt vào; ống quần thì cũng chỉ thay đổi lúc rộng, lúc hẹp, lúc ống đứng, lúc ống loe, lúc có lơ-vê, lúc không lơ-vê, lúc đường may nổi, khi đường may chìm; rồi túi chéo, túi vuông; các kiểu cổ áo, kiểu măng-sét, màu chỉ may, rồi ly nhiều ly ít, ly thẳng ly lật… Loanh quanh cũng chỉ vậy thôi mà tất cả đã đã tham gia vào quá trình làm cho trang phục của con người luôn luôn đa dạng, sinh động. Thợ may lành nghề, theo tôi, đó quả là nghệ sĩ đích thực! 

 

          Có một chuyện kể lại cũng vui. Chẳng là sau năm 1975, phụ nữ ở miền Bắc mới làm quen một cách phổ biến với quần áo ngủ, hay còn gọi là “bộ đồ”. Mà vải vóc thời ấy đâu có như bây giờ, mỏng tang, mặc một buổi là nhăn nhúm, vậy mà nhiều chị vẫn hiên ngang trình diễn ngoài đường những chiếc quần màu nước dưa nhàu nhĩ, ống quần làn sóng nhấp nhô như… lò xo giảm xóc. Hồi đó tôi còn đang ở tuổi thanh niên, nghỉ phép đến chơi nhà bạn, thấy người chị của bạn mặc “bộ đồ” mà tôi cứ ngượng ngùng, nhất là lúc chị ấy đứng “ngược sáng” thì mắt tôi chỉ còn biết hấp háy nhìn sang hướng khác. May mà cái mode ấy chỉ thịnh hành một thời gian, rồi rút vào… trong buồng!

 

- PV: Bàn về mode như thế, bản thân anh có “chạy theo mode” không, thái độ của anh như thế nào nếu thấy con cái “chạy theo mode”?

 

- NH: Giống như mọi người tôi cũng thích làm đẹp, nhưng vì trời phú cho cái nhan sắc hơi kém so với người khác và lại “đoản túc” nên tôi biết thân biết phận, không dám ham hố ăn diện. Thú thật với bạn là tôi cũng có tý chút  tự ti, chưa bao giờ mặc comple, kể cả hôm cưới vợ. Thường thì tôi mặc quần “thụng” may bằng vải ka-ki màu sáng, mùa hè mặc sơ-mi màu hơi tối, thi thoảng mặc cái áo phông để… trẻ hóa bản thân! Với con cái tôi cũng không khắt khe, chỉ yêu cầu các cháu mặc gì thì cũng đừng lố lăng quá, và nên mặc những bộ quần áo phù hợp với đặc điểm của mình. Da trắng nên mặc màu gì, da ngăm ngăm nên mặc màu gì, tôi hướng dẫn cho các cháu. Người thấp béo mà mặc quần áo có kẻ ngang dễ làm người ta dễ liên tưởng tới… cái thùng, cao gày mặc quần áo có kẻ dọc dễ làm người ta dễ liên tưởng tới… cây sào. Tóm lại, mỗi người nên trang bị một số tri thức về trang phục, “chạy theo mode” mà không nắm bắt được hạn chế của mình thì dễ thành “anh hề” trước người đời!

 

- PV: Trong buổi trò chuyện lần trước, anh có nhắc đến… váy!

 

- NH: Vâng, theo tôi khi bàn về mode ở Việt Nam hiện nay thì “váy” cũng là một đề tài thú vị và câu hỏi của bạn làm tôi nhớ đến một chuyện. Chẳng là hôm mới rồi, sau khi uống nước ngoài quán, bọn tôi đứng dậy ra về, rồi tất cả cùng phá lên cười vì thấy phía sau chiếc váy của một cô bạn lại lủng liểng một chiếc ghế nhựa. Té ra vải may váy hơi mỏng mà ghế thì bị nứt, vải giắt vào vết nứt và “đính” luôn chiếc ghế lên váy, phải gỡ mãi mới xong!

 

          Dường như nhiều người trong chúng ta vẫn cho rằng váy là loại trang phục du nhập từ phương Tây, nhưng nếu liên hệ tới câu ca dao thời Minh Mạng: “Tháng tám có chiếu vua ra - Cấm quần không đáy người ta hãi hùng - Không đi thì chợ không đông - Đi thì phải lột quần chồng sao đang - Có quần ra quán bán hàng - Không quần ra đứng đầu làng trông qua” thì hẳn là trước đó, phụ nữ Việt Nam mặc váy chứ không mặc quần. Tôi chưa tìm hiểu tại sao thời ấy người ta lại cấm phụ nữ mặc váy, song xem ra “chiếu” vua ban rồi mà vấn đề vẫn chưa được giải quyết triệt để. Đến cuối những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều phụ nữ ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ vẫn mặc váy. Liệu có phải là nói lấy được nếu tôi nhận xét câu đố: “Cái thúng mà thủng hai đầu - Bên ta thì có, bên Tầu thì không” còn chuyển tải cả thông điệp về sự khác nhau trong văn hóa giữa Việt Nam với Trung Hoa, như ngày trước Nguyễn Trãi viết: “Phong tục Bắc, Nam cũng khác”(?). Trong thực tế, “váy” đã in dấu ấn vào cuộc sống thường nhật nên để đánh giá một anh đàn ông nào đó nhu nhược, kém cỏi… người ta thường ví là “đàn ông mặc váy!”. Còn khi các bà, các chị nhà ta mà “xắn váy quai cồng” thì tình hình xem chừng có chiều căng thẳng! Phải chăng xưa kia phụ nữ Việt Nam mặc váy là từ các yêu cầu của tập quán canh tác lúa nước với rất nhiều công việc do phụ nữ đảm nhiệm. Làm ruộng nước mà mặc váy thì thuận tiện hơn chăng? Cần lưu ý rằng, cũng như sự ổn định của đa số các giá trị vật chất - tinh thần, cũng như nhiều tập quán và chuẩn mực khác,… chiếc váy truyền thống của người Việt Nam dường như bất biến với hai màu thâm (đen) và nâu. Váy “lĩnh” là loại váy sang trọng cũng có màu đen. Dù khác nhau trong kích thước ngắn dài, dù phía dưới xòe ra nhiều hay xòe ra ít, có trang trí hoa văn hay không có trang trí hoa văn… thì về cấu trúc, chiếc váy của phụ nữ người Kinh xưa kia không khác gì nhiều so với chiếc váy của phụ nữ người Mông, người Thái… hôm nay. Nói cách khác thì đúng là “cái thúng mà thủng hai đầu”! Ngày trước, đến một số bản làng nằm ở chân dãy Tam Đảo, thấy các cô gái người Trại (còn gọi là Sán Dìu) mặc váy xẻ đến tận hông, tôi có “liếc trộm” những chiếc váy phơi trên bờ rào, thì phát hiện đó là loại váy gồm hai mảnh nối với nhau. Một mảnh phía trước một mảnh phía sau, mỗi khi các cô bước nhanh trông rất… khêu gợi! 

 

- PV: Vâng, nhưng đó là chuyện của ngày xưa…

 

- NH: Đừng vội, ngày xưa thì cũng có quan hệ với ngày nay, văn hóa là một dòng chảy không ngừng nghỉ mà. Đầu thế kỷ XX, chưa thấy phụ nữ người Việt mặc váy theo kiểu Tây một cách phổ biến, kể cả vùng đô thị là nơi có quá trình Âu hóa diễn ra rất sớm. Xem tư liệu thấy thời đó nam giới mặc đồ Âu nhiều hơn, có lẽ vì họ làm việc trong các sở Tây, là trí thức Tây học, là doanh nhân… Khi áo dài bắt đầu xuất hiện thì phụ nữ đô thị coi áo dài như một kiểu loại mode. Trong album ảnh của gia đình, tôi thấy cha tôi bận comple, mẹ tôi mặc áo tứ thân, vấn khăn, để răng đen. Các anh chị tôi khi ấy còn nhỏ, xem ảnh thấy anh trai lúc quần trắng áo the lúc lại mặc comple, chị gái lúc mặc quần lụa trắng áo cánh trắng, lúc áo dài bay phất phới. Lớn lên, thấy mẹ có một chiếc áo dài may bằng dạ mỏng màu đen, tôi hỏi, bà bảo may từ thời Pháp thuộc, để mặc vào dịp lễ tết hoặc những hôm trời rét cần đi đâu đó. Nhìn các bức ảnh, tôi liên tưởng tới tính “lưỡng phân” trong văn hóa trang phục của người Việt ở buổi giao thời, đó là lúc các cô gái như cô Kếu trong truyện Cô Kếu gái tân thời của Nguyễn Công Hoan loay hoay đứng giữa cổ truyền và tân thời, rộng hơn là giữa truyền thống và hiện đại. Chưa có đủ tài liệu để khẳng định, song căn cứ vào một số tư liệu đã biết, tôi nghĩ sau những năm 50 của thế kỷ trước, phụ nữ miền Nam chưa mặc váy như một loại trang phục thịnh hành. Còn ở miền Bắc thì váy cực hiếm, nếu ai đó sắm được thì cũng chỉ là một hai chiếc váy ngủ. Tôi từng nghe lỏm được một chị vừa đi học ở nước ngoài về thì thào với chị tôi, chị ấy tiếc huầy huậy vì từ khi về nước không dám mặc váy, sợ người ta cười. Còn trong mắt các cụ ngày ấy, váy như là biểu hiện của lẳng lơ, là “lai Tây”…!

 

- PV: Còn bây giờ?

 

- NH: Nghe nói một thời ở nước Pháp, các mệnh phụ, tiểu thư có mode mặc váy lồng trên gọng sắt đường kính dài hàng mét, đến mức hai người đi ngược chiều trên đường phố mà không lách qua được vì… vướng váy! Được nuôi dưỡng trong môi trường sở thích thẩm mỹ cá nhân sớm được đề cao nên ở phương Tây, “văn minh váy” có điều kiện để phát triển. Sự tái xuất hiện của váy (theo kiểu lối phương Tây) trong trang phục của người Việt Nam hôm nay chủ yếu tập trung ở vùng đô thị. Ở nông thôn, tôi thấy nhiều cô gái sau khi “em ra tỉnh về” có xúng xính váy áo cũng không còn bị nhìn ngó với ánh mắt kỳ thị như trước đây. Riêng váy cưới thì đang thịnh hành, tôi đến nhiều nơi rất heo hút mà vẫn thấy có cửa hiệu cho thuê áo cưới. Ở đô thị, chỉ có những phụ nữ làm việc ở các cơ quan hành chính thì mới mặc váy hàng ngày, còn với nhiều người, váy chủ yếu được trưng diện trong các dịp lễ lạt, xuất hiện trước đám đông hay đi chơi đây đó. Để ý tôi thấy, ngoài loại váy là đồng phục của nhân viên một số công sở, hiện tại váy cũng chưa thật phong phú về kiểu loại, tuy có nhiều người mặc váy trông khá đẹp. Các cô gái trẻ mặc jube ngắn hoặc váy , các chị trung niên thường mặc váy hoa may theo lối váy liền áo. Mode váy bô-hê-miêng (na ná như váy của phụ nữ người Mông) thường rộng, loe ra và nhiều nếp gấp, nhìn khá đẹp nhưng không phải ai mặc cũng hợp, vì phụ nữ Việt Nam vốn thấp bé. Nên mặc váy và mặc váy như thế nào cũng là chuyện cần câ nhắc kỹ càng. Tuy nhiên với nhiều chị, chiếc váy dài chấm gót lại có khả năng khắc phục sự thấp bé bằng cách đi giầy cao gót, đôi lần gặp người quen, tôi như thấy họ cao lên một cách bất bình thường!

 

          Theo tôi, thật sự thì đến hiện tại, ở Việt Nam chưa có một “văn minh váy”, ai thích thì may rồi mặc đại lên người, trong khi đa số chị em chúng ta lại chưa có khả năng đáp ứng những yêu cầu cần thiết của sự mặc váy. Có chị người đã thấp béo lại mặc váy quá chật nên tạo ra hình ảnh… “bụng cao ba ngấn”! Có chị ngồi trên xe máy hay ngồi trên ghế không cẩn trọng nên đôi khi hơi bị… hớ hênh! Có chị lại hình như không chú ý đến chất liệu vải nên khi ra đường mặc những chiếc váy nhăn nhúm, nhìn rất phản cảm. Có chị loẻo khoẻo loèo khoèo, chân vòng kiềng hoặc người bé tí ti mà cũng váy áo loà xoà trông rất buồn cười. Có hôm trời rét đậm, mọi người đều quần áo sù sụ mà vẫn thấy có chị mặc váy mỏng, đi tất giấy. Tôi tò mò hỏi không lạnh à, chị bảo không thấy lạnh gì cả. Quả là đáng khâm phục!          

 

- PV: Hình như anh hơi có mặc cảm với việc phụ nữ Việt Nam mặc váy?

 

- NH: Không, tôi không có mặc cảm và luôn luôn tôn trọng sở thích của mọi người. Tôi chỉ khuyến nghị rằng: trước khi sắm váy, mỗi chị em hãy cẩn trọng xem xét. Vậy thôi!

 

- PV: Chúng ta đã trò chuyện nhiều về mode, và tôi không thấy anh nhắc đến áo dài, phải chăng anh không thích hoặc không quan tâm?

 

- NH: Cả hai lý do bạn nêu ra đều chưa chính xác, bởi tôi là kẻ rất hâm mộ áo dài, và tôi muốn chúng ta dành cho áo dài một cuộc trò chuyện riêng. Về lịch sử của chiếc áo dài thì các nhà nghiên cứu cũng đã nói nhiều, xin không nhắc lại. Nhưng nhân đây tôi xin kể một chuyện là năm 2005 vừa rồi, tôi đọc bài của một nhà nghiên cứu viết về áo dài một cách rất bay bổng và ông bộc lộ luôn cả sự hời hợt qua hai đoạn văn: “Tôi nghĩ chàng trai xứ Quảng vượt đèo Hải Vân lai kinh ứng thí mà thấy cô gái Huế bước đi không đành là đã bị giăng mắc từ chiếc áo dài trên dáng đi thon thả yểu điệu của những nàng thiếu nữ sông Hương” và “Áo dài có phải nguồn gốc từ chiếc áo cánh, áo tứ thân, áo mớ ba mớ bảy của người phụ nữ thôn quê Việt Nam xa xưa?”. Theo tôi, câu hỏi đặt ra đã chứng tỏ là người viết chẳng quan tâm ngắm nghía áo dài cho ra nhẽ, ông chỉ tán dông dài vầy vậy mà thôi. Tôi không rõ hai câu lục bát Học trò trong Quảng ra thi - Thấy cô gái Huế bước đi không đành ra đời từ thời gian nào, nhưng khi viết “chàng trai xứ Quảng vượt đèo Hải Vân lai kinh ứng thí” thì hẳn là nhà nghiên cứu muốn nói đến các sĩ tử lều chõng đi thi thời xa xưa. Và như thế, tác giả đã quên rằng khoa thi cuối cùng ở Huế diễn ra năm 1919, còn áo dài tân thời (hay một thời gọi áo dài Lơ muya) thì mãi tới sau năm 1930 mới xuất hiện ở Việt Nam. Vậy “chàng trai xứ Quảng ra kinh ứng thí” đã bị “giăng mắc” bởi kiểu áo dài nào? Chắc chắn không phải là “áo dài là áo dài ơi…” hôm nay rồi. Lại nữa, tôi chưa thấy ai nói chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam có nguồn gốc từ chiếc áo cánh, chỉ thấy nói áo dài đã được cách tân từ áo tứ thân, ngũ thân truyền thống. Áo “mớ ba mớ bảy” lại càng không có quan hệ gì với áo dài. Gọi là “mớ ba mớ bảy” vì chị em ngày trước mặc nhiều chiếc áo cánh màu sắc khác nhau, chồng lên nhau thành nhiều lớp (ở miền Nam tiết trời nóng hơn, nên chị em không mặc “áo mớ” mà mặc “áo cặp”, “áo cặp” gồm hai chiếc áo cánh - hay áo bà ba, lồng vào nhau). Còn về cấu trúc thi áo cánh mở ra và cài khuy ở phía trước, còn áo dài lại kín ở phía trước!

 

- PV: Nếu tính từ những năm 30 của thế kỷ trước đến nay thì áo dài cũng đã có nhiều biến động theo xu hướng ngày càng hoàn thiên, anh có thấy vậy không?

 

- NH: Tôi quan tâm đến trang phục chủ yếu là do hiếu kỳ, nên ý kiến của tôi có thể chưa chuẩn xác. Song xem phim tư liệu, ảnh về tranh thời ấy thì áo dài có khác thật. Áo thường hơi rộng, chiều dài chấm gót, cổ dựng khá cao, ít dùng khuy bấm mà dùng loại khuy tôi không rõ tên gọi là gì, chỉ biết nó tròn như một viên bi nhỏ xíu và có móc cài bằng đồng. Như chiếc áo dài của cô gái trong bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân. Quãng năm 1960, ở miền Nam có kiểu “áo dài Lệ Xuân” cổ khoét rộng, vai bồng… cũng là mode khi đó. Quan sát chiếc áo kiểu này, tôi nghĩ nó có dấu vết của váy dạ hội. Cũng vào thời kỳ đó ở miền Nam, áo dài bắt đầu được cắt ngắn hơn và cái sự “ngắn” ấy tồn tại đến hôm nay. Xem một số phim Việt Nam về thời trước 1945, thấy nhân vật mặc áo dài “ngắn” có vạt lơ lửng dưới đầu gối mà tôi cứ buồn cười, vì đạo điễn cũng chẳng tìm hiểu trước 1945 thì áo dài có kích thước như thế nào!

 

          Về đại thể, áo dài của phụ nữ ba miền khá giống nhau về cấu trúc, nhưng áo dài ở Huế thường may xuôi, ít chú ý đến đường cong của eo (kiểu áo này làm tôi liên tưởng tới chiếc áo ngắn đến đầu gối mà các cụ gọi là áo Triều Châu). Ở Huế, áo dài màu tím hay màu sáng thì cũng thường mặc với quần dài màu tối (nhất là quần màu đen), cũng là một kiểu phối màu khá đặc biệt, nhìn là biết ngay. Riêng áo dài của phụ nữ người Chăm thì có hơi khác, cổ áo khoét tròn, màu sắc thường là các màu nguyên thủy. Áo ấy đi cùng với chiếc khăn chùm khổ lớn khác màu, làm cho dáng dấp các cô gái Chăm có vẻ e lệ, nhất là khi đội cà-om đi lấy nước!

 

- PV: Nếu nói rằng người mặc áo dài trông có vẻ “khêu gợi”, anh có chia sẻ hay không?

 

- NH: Tôi nghĩ, những người thiết kế áo dài rất quan tâm đến việc thể hiện các đường cong trên cơ thể người phụ nữ như eo, hông, ngực, vạt phía dưới của áo dài cũng được cắt như thế nào đó để khi bước đi vừa duyên dáng vừa thấp thoáng cặp đùi, thêm hai bên tà xẻ cao như sường sám của phụ nữ Trung Hoa… lại càng giúp cho người có thân hình cân đối được dịp phô diễn. Ngày trước, các loại vải dùng may áo dài dày dặn hơn nên không lộ da thịt, đồng thời cũng đủ để không ảnh hưởng đến sự thướt tha. Bây giờ áo dài nhiều kiểu, nhiều loại màu sắc, và nhiều chị em sử dụng loại vải để may áo dài cũng mỏng hơn, nên sự phô diễn thân thể lại đi kèm theo cả sự mong manh của nhiệm vụ che “các phần tế nhị”, làm cho tình thế đôi khi cũng “khêu gợi” thật! Tôi không thấy đẹp mà thấy e ngại, đôi khi không có cảm tình, vì có chị em mặc áo dài và quần dài mà vẫn lồ lộ cả “nội y” bên trong. Hình như không chỉ riêng tôi mới nghĩ vậy, trên báo chí cũng thấy có tác giả đề cập tới hiện tượng này. Cũng là một loại ý kiến mà chị em nên tham khảo.

 

- PV: Áo dài đã và đang được sử dụng như một loại trang phục phổ biến, được coi như là “biểu tượng” về trang phục của phụ Việt Nam, vậy có thể coi là mode nữa hay không?

 

- NH: Tôi nghĩ trong sinh hoạt xã hội Việt Nam đương đại, cùng với nón trắng, áo dài đang trở thành biểu tượng để trưng bày với bạn bè quốc tế nhiều hơn là ý nghĩa trang phục thông dụng (cụm từ “trang phục thông dụng” không bao hàm cả trang phục trong hoạt động sản xuất nói chung). Trừ khi tiếp khách hoặc biểu diễn văn nghệ, trừ nữ tiếp viên hàng không, nhân viên bán hàng, giao dịch ngân hàng, giao dịch bưu điện, nữ sinh trung học phổ thông ở một số nhà trường, một số cơ quan quy định phải mặc áo dài… thì không phải ai cũng có sở thích may áo dài và mặc áo dài trước đám đông. May áo dài như một thói quen, như một sở thích khác với may áo dài như một sự kiện. Tuy nhiên, khi không bị bắt buộc mà người phụ nữ may áo dài như một sự kiện tức là trong đó dường như đã chứa đựng dấu hiệu của mode, dù là họ may chỉ để mặc một đôi lần rồi… treo trong tủ!

 

- PV: Như vậy rồi đây áo dài có dần dà vắng bóng như nón trắng hay không?

 

- NH: Dẫu có bị thu hẹp hoàn cảnh thể hiện, thậm chí không còn giữ vị trí ưu thắng trong sở thích trang phục của phụ nữ Việt Nam thì tôi tin áo dài vẫn tiếp tục trường tồn, bởi áo dài đã trở thành một yếu tố làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, vả lại áo dài cũng luôn luôn được “hiện đại hóa” nên người mặc không có cảm giác về sự lạc hậu, hay “lỗi” mode. Thực tế cho thấy áo dài bây giờ nhiều kiểu dáng rất đẹp, nhất là trong điều kiện chất liệu cùng yếu tố thẩm mỹ của các loại vải dùng may áo dài ngày càng được nâng cao. Tôi thích ngắm những cô gái thon thả, tha thướt trên đường, ngồi vắt vẻo sau xe máy, hoặc thong thả đạp xe. Tôi còn có cảm tình đặc biệt với những chiếc áo dài có hoa văn thổ cẩm sắp xếp hợp lý, màu sắc hài hoà, vải mỏng nhưng kín đáo, không thấp thoáng da thịt, tạo ra những dáng vẻ rất riêng. Chỉ tiếc là ít thấy người ta tổ chức các cuộc trình diễn thời trang áo dài. Hồi con gái tôi học trung học phổ thông, cháu may áo dài theo quy định của nhà trường, loại vải theo quy định cũng khá đẹp. Lần đầu tiên mặc áo dài, cháu chạy ra khoe với bố, tôi sững sờ vì hóa ra con mình lớn rồi. Nhưng sau vì thấp bé nên cháu ít mặc, đành chấp nhận cháu mặc quần áo phông. Chứ bình thường thì bố con có việc đi đâu, tôi sẽ “bắt” cháu mặc áo dài!    

        

- PV: Chúng ta đã đề cập về mode trong trang phục, hôm nay xin được chuyển sang một lĩnh vực khác, như mode trong kiến trúc chẳng hạn?

 

- NH: Vâng, với mode trong kiến trúc ở Việt Nam đương đại, tôi chỉ đề cập từ góc nhìn của văn hóa, không dám “lấn sân” sang công việc của các nhà kiến trúc. Hản là bạn đồng ý với tôi rằng sau quá trình tìm tòi để đi tới sự thích nghi, có lẽ phải mất hàng nghìn năm, người Việt mới xác lập được một hệ thống tiêu chuẩn cho kiến trúc ngôi nhà truyền thống. Từ một gian hai chái đến ba gian hai chái… đều kèm theo tiêu chuẩn về hàng cột, về rui, mè, vì, kèo, câu đầu… Những ngôi nhà kiểu này nay còn lại rất ít, và chúng ta vẫn gọi là “nhà cổ”! Trong ngôi nhà truyền thống, mái chảy là một thành phần rất quan trọng. Sinh thời, GS Trần Quốc Vượng nói rằng có thể xưa kia, khi người Việt chuyển tới sinh sống ở vùng đồng bằng, chiếc thuyền vừa là phương tiện kiếm sống ban ngày, vừa là ngôi nhà về ban đêm khi người ta úp nó xuống, nên mái nhà của người Việt giống như chiếc thuyền úp (?). Dù chỉ là giả thuyết thì ý kiến của GS Trần Quốc Vượng cũng cho thấy “mái chảy” là sự tối ưu duy nhất để thích ứng với khí hậu nắng lắm mưa nhiều như ở miền Bắc.

 

          Đến Việt Nam, khi xây dựng nhà cửa người Pháp cũng làm mái chảy, quan sát các ngôi nhà Tây trên phố Phan Đình Phùng hay quanh hồ Thuyền Quang ở Hà Nội là thấy ngay. Theo tôi ở Hà Nội hiện có hai ngôi nhà rất đáng chú ý, đó là trụ sở Ủy ban Thể dục - Thể thao trên phố Trần Phú, và trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội trên phố Lý Nam Đế. Tôi từng làm việc ở Văn nghệ Quân đội trong một thời gian dài, nên có điều kiện nhìn ngắm và tìm hiểu về nó. Căn nhà được xây dựng sau năm 1940, tức là cách chúng ta hơn nửa thế kỷ. Vậy mà thời đó người ta đã thiết kế như là một sự phối kết rất nhuần nhị giữa kiến trúc Đông và Tây. Đứng trước ngôi nhà, có thể nhận thấy sự bề thế và sang trọng, tôi bị thuyết phục bởi những nét hiện đại theo kiến trúc phương Tây và những nét cổ kính đặc trưng của kiến trúc phương Đông. Và chiếc “mái chảy” lợp ngói xem ra rất hài hoà với tổng thể ngôi nhà.

 

- PV: Bàn tới chuyện “mái chảy” liệu có liên quan gì đến mode hay không, thưa anh?

 

- NH: Có chứ. Bởi tới khi trong kiến trúc nhà ở xuất hiện mode mái bằng thì chiếc mái chảy truyền thống đứng trước sự thách thức của kiểu nhà hộp. Trong hàng chục năm trời, khi xây nhà mới, hầu như các gia đình ở Việt Nam đều xây nhà hộp, nhà ống có mái bằng, bất chấp tình thế là đã tự buộc mình phải sinh sống trong những ngôi nhà nóng hầm hập vào mùa hè và thi thoảng lại phải gọi thợ tới… chống thấm! Tôi từng chèo lên mái bằng ngôi nhà của một anh bạn, trên đó các lớp chống tấm dày tới hơn 30cm, đủ loại vật liệu, từ xi-măng đến cả… nhựa đường. Chạy theo mode, nhiều người không chú ý tìm hiểu là tại sao các ngôi nhà ở Đại sứ quán Thụy Diển, ở các làng SOS… người ta đều làm theo lối có mái chảy, lợp ngói hoặc lợp tôn. Tình hình cũng không sáng sủa hơn khi từ thành phố tới làng quê, người ta thi nhau úp lên mái nhà những cái chóp vừa tròn vừa nhọn, tới mức đến nhiều nơi, tôi ngỡ là đang được ngắm một khu phố ở vùng vịnh Péc-xích. Chẳng thế mà dạo trước tôi đã đọc một bài báo có nhan đề rất hấp dẫn là Em ơi, Hà Nội… chóp! Dần dần, dường như mọi người cũng nhận ra các hạn chế của mái bằng, chóp nhọn, cho nên mấy năm gần đây lại thấy mái chảy xuất hiện trở lại với mode lợp tôn Ausnam hoặc mode dán ngói lên bê tông!

 

- PV: Ngôi nhà đâu phải quần áo, chạy theo mode thì có ảnh hưởng gì không, thưa anh?

 

- NH: Ảnh hưởng hay không, ít nhiều tùy thuộc vào khả năng kinh tế, vào sở thích của mỗi gia đình, song xét từ bộ mặt kiến trúc của xã hội thì lại đưa tới không ít sự kỳ quặc. Mode trong xây dựng nhà cửa không giống như mode trong trang phục. Với trang phục, người ta có thể thay thế mode này bằng mode khác trong một thời gian ngắn, nếu quần áo “lỗi” mode vẫn có thể bán với giá rẻ. Với nhà cửa thì khó có thể thay thế trong chốc lát. Đặc biệt là với đa số người Việt Nam, làm nhà là việc lớn của cuộc đời, “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà” mà, đâu phải thích lên là làm được ngay. Vì chạy theo mode, vì còn thiếu tri thức về kiến trúc nên có thể nói hiện tại chuyện làm nhà của nhiều gia đình ở Việt Nam chính là nơi biểu hiện rất rõ ý muốn “cá tính hoá” về thẩm mỹ kiến trúc theo xu hướng… tự do. Anh thích nhà kiểu A thì làm nhà theo kiểu A, tôi thích nhà kiểu B thì làm nhà theo kiểu B… Thậm chí cái kiểu A, kiểu B kia cũng luôn có khả năng bị biến báo chút ít theo sở thích mỗi người. Ai thích thế nào làm thế nấy, không riêng các khu phố cũ, ngay cả các khu phố mới xây dựng, tình trạng nhà cửa tạp nham, lộn xộn cũng đập ngay vào mắt. Nhà thò ra, nhà thụt vào. Nhà quét vôi xanh, nhà phết sơn vàng. Nhà ốp nhôm kính màu sáng, nhà lại gắn kính “tầu” đen sì. Ngay cả ban-công cũng cực kỳ đa dạng về kiểu lối, cái xây bằng gạch, cái gắn “con sơn” bằng gốm, cái lại làm bằng i-nốc trông sáng loáng cứ như là phòng bệnh viện… Qua nhiều khu phố ở Hà Nội và nhiều tỉnh khác hôm nay, có thể nhận thấy sự chung sống rất kỳ khôi giữa mode mái bằng, mode chóp nhọn, mode mái chảy!

 

- PV: Kiến trúc, ngoài vật liệu và yêu cầu kỳ thuật, còn là ý tưởng. Biết đâu những ngôi nhà anh coi là kỳ khôi lại chứa đựng những ý tưởng sâu sắc thì sao?

 

- NH: Trong hoàn cảnh khác thì đúng vậy, còn ở Việt Nam lúc này, tôi không tin vào cái gọi là ý tưởng kia. Tôi cho rằng chủ yếu là do nhiều người trong chúng ta đua theo mode ít (không?) chú ý đến sự lựa chọn thẩm mỹ, chưa kể còn là chuyện không chịu thua kém nhau theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”, đôi khi còn là sự hợm hĩnh, khoa trương của mấy ông bà trọc phú mới phất. Quan sát và suy ngẫm, tôi thấy trong việc làm nhà thì hình như cư dân phía Bắc có thói quen “sao chép, học đòi” hơn cư dân phía Nam. Đến các tỉnh lẻ sẽ thấy một thực tế là khi chuyển các mode nhà cửa từ Hà Nội về, người ta không chỉ chuyển cái hay mà chuyển cả cái dở. Chỉ cần đi từ TP Điện Biên đến TP Đồng Hới sẽ gặp những đường phố y hệt nhau, cũng chóp nhọn, cũng nhôm kính đen sì…, nghĩa là không chỉ con người mà cả cơ quan quản lý đô thị cũng không quan tâm tạo ra dáng vẻ riêng, độc đáo cho thành phố của mình. Hy vọng TP Lào Cai mới đang xây dựng ở Cam Đường sẽ có nét riêng, chứ không phải là bản sao của một mô hình nào khác.

 

- PV: Anh mới chỉ nhắc đến tư gia, còn các chung cư  nữa chứ?

 

- NH: Chung cư Kim Liên, Trung Tự ở Hà Nội, hay chung cư ở TP Vinh nay đã cũ và lạc hậu rồi, các căn hộ như chiếc hộp, trần thấp sùm sụp… ở đấy phần lớn đã biến dạng theo sở thích của chủ nhà, rồi còn được cơi nới tới mức làm biến dạng luôn cả toà nhà nguyên thuỷ, vì đến đâu cũng thấy lủng liểng vô số “chuồng cọp”, ống dẫn nước, tua tủa cần ăng-ten… Tôi tin là đến một ngày nào đó các chung cư xây dựng theo lối hiện đại, mỗi căn hộ rộng hàng trăm mét vuông gồm nhiều phòng sẽ thay thế các chung cư kiểu cũ và cũng có khả năng thay thế một cách cơ bản các tư gia to nhỏ, lô nhô như những cái thước kẻ chọc lên trời, đang xây dựng ồ ạt lâu nay. Tính thẩm mỹ, sự hợp lý và tiện dụng của các căn hộ chung cư kiểu mới đang tỏ ra hấp dẫn nhiều người. Nhưng để thay đổi một thói quen vốn đã khá ổn định là không dễ, cần có thời gian. Vấn đề ở đây không chỉ là tiền bạc, còn là nhận thức về sinh hoạt, về tổ chức cuộc sống theo kiểu lối và phong cách hiện đại.

 

- PV: Làm ra ngôi nhà cũng liên quan đến mode, nhưng tôi thấy mode làm nhà không phong phú bằng mode của các vật dụng trong nhà?

 

- NH: Đúng vậy. Trong ngôi nhà truyền thống của người Việt Nam ngày trước, gian giữa chính là “bộ mặt” của cả ngôi nhà, là nơi để bàn thờ tổ tiên, ở chỗ trang trọng bên cạnh “cột cái”. Kế đó, với nhà giàu có, quyền quý là sập gụ, tủ chè. Nhà có tý “máu mặt” thì có hòm gian, tràng kỷ bằng gỗ. Nhà bình dân hoặc nghèo thì chỉ có một chiếc phản hoặc tràng kỷ bằng tre. Tủ chè được trạm trổ cầu kỳ, đi cùng với cái sập gụ vững chãi, bề thế nhìn oai và sang ra phết. Nhưng sập gụ hay tràng kỷ thì cũng là chỗ dành cho đàn ông và phụ nữ lớn tuổi có vai vế trong nhà như bà nội, cụ nội, còn cánh con gái, con dâu, trẻ con chỉ được ghé ngồi khi không có khách. Ngủ trên sập gụ hay phản giữa nhà, dưới bàn thờ thì dứt khoát chỉ có đàn ông, phụ nữ không được phép lai vãng. Về sau, mode này vắng bóng ở thành phố, chỉ thấy trong một số gia đình còn giữ “nếp cũ”, ở nông thôn cũng vậy.

 

          Quãng những năm 60 của thế kỷ trước, đồ đạc kê trong nhà cũng đơn giản, có lẽ vì lúc ấy chúng ta còn nghèo, và thói quen thay đổi chưa hình thành ổn định. Tuy vậy nhiều nhà sắm tủ sách như một thứ mode tượng trưng cho tri thức. Ít năm sau, tủ buýp-phê xuất hiện. Tủ buýp-phê hạng sang phải có cánh tủ bằng gỗ lát. Gỗ lát hiếm, người ta nghĩ ra cách xẻ gỗ mỏng chỉ độ vài ba ly rồi dán lên gỗ thường làm cánh tủ, trông cũng đẹp. Rồi mode tủ buýp-phê bị thay thế bằng mode tủ ly. Tủ ly là một kiểu tủ chè cách tân, ở giữa có lắp kính để nhìn rõ huân chương, huy chương, ấm chén bày biện bên trong, có nhà bày cả bát đĩa sứ Giang Tây hoặc thìa, nĩa. Tủ ly thịnh hành vài năm rồi bị thay thế bằng mode tủ lệch. Tủ lệch là một kiểu lai pha giữa tủ đứng với tủ ly, nó vừa giải quyết được việc treo quần áo cho phẳng phiu, vừa có thể bày biện, lại vừa có thể đặt vô tuyến truyền hình hoặc radio cassette. Thời này, bàn ghế kê giữa nhà là sa-lông (gốc tiếng Pháp đã bị “Việt hóa” đến mất nghĩa!) hoặc sa-lông “nan” được tổ chức theo bộ, gồm bốn ghế nhỏ hoặc hai ghế nhỏ cộng một đi-văng. Sa-lông loại sang phải có khung bằng gỗ lim, còn lại là gỗ lát. Có nhà mua phải bộ sa-lông làm bằng gỗ xà cừ, vài tháng là nứt toác, phải lấy dầu luyn phết ra phía sau để chống… hanh khô!

 

          Về hình thái tồn tại, mode thường ra đời ở các trung tâm kinh tế - văn hoá lớn, rồi từ đó lan toả ra mọi miền. Sự lan toả của mode tỷ lệ thuận với tốc độ giao lưu kinh tế - văn hoá. Trước đây, tốc độ giao lưu chậm, tính chất tự trị và bảo thủ về văn hoá ít nhiều còn nặng nề, nhiều khi mode đã trở nên lỗi thời ở vùng đô thị thì mới xuất hiện ở các vùng xa. Ngày nay không còn như vậy, một mode mới nào đó ra đời, chỉ ít ngày sau là các vùng khác đã du nhập được ngay. Mode bàn ghế, giường tủ xuất hiện và thay thế lẫn nhau, đồng thời cũng làm nảy sinh ở đô thị hiện tượng ứ đọng đồ đạc đã “lỗi” mode. Thời gian đầu người ta còn gọi anh em bè bạn để cho, tới khi cho cũng không ai nhận thì chuyển về quê. Tới lúc quê cũng không lấy thì tống vào gầm cầu thang, quẳng trên sân thượng, hoặc đem tặng cho trụ sở của khu dân cư để lúc họp hành có cái mà ngồi. Có buổi sáng trên đường đi làm, tôi thấy nhân viên môi trường đô thị đang khệ nệ bê vác ném lên xe chở rác cả bộ ghế đệm còn khá mới!

 

- PV: Ngẫm ra thì cũng đúng thật, ở đô thị bây giờ có mấy ai đun củi nữa đâu!

 

- NH: Tôi nghĩ, khi vật liệu công nghiệp như gỗ ép, khung nhôm, kính… được sử dụng để sản xuất các vật dụng trong gia đình ngày càng nhiều thì vấn đề sẽ càng nan giải, có lẽ đó cũng là một loại “rác thải” của thời công nghiệp. Khi “lỗi” mode rồi thì muốn hủy cũng khó. Nhà cửa rộng rãi, nhiều gia đình làm phòng khách riêng, đấy là nơi bày biện như là “bộ mặt” của gia đình. Quãng chục năm trước, mode tủ tường ra đời quả là một bước tiến đi đến sự hiện đại và tính ích dụng của đồ đạc. Cấu trúc có tính mô-đun của loại tủ này cho phép lắp ghép, xếp đặt theo ý muốn mà vẫn đẹp và sang. Rồi nữa là các loại “kệ” to nhỏ, cao thấp khác nhau đã làm cho tính hiện đại của các phòng khách tăng lên, nhất là khi chúng đi kèm với các thiết bị nghe - nhìn điện tử cao cấp. Đó là chưa kể mode bài trí phòng khách theo kiểu Tây, với tủ rượu, quầy bar nhỏ cùng đi-văng la liệt gối và đệm.

 

          Trong bối cảnh ấy, sự trở lại của sập gụ, tủ chè, của các bộ bàn ghế được tạo dáng theo lối cổ truyền, có chạm khắc cầu kỳ… lại là một hiện tượng độc đáo, giống như một số người đã xây nhà theo lối nhà sàn vậy. Mode cũ tái xuất như kết quả của một lần “phủ định biện chứng”. Nó làm tôi liên tưởng tới mối liên hệ giữa quần ống “tuýp” với quần ống bó mà một số chị hiện vẫn mặc cùng với chiếc aó phông hoặc áo len rộng lùng thùng, dài đến tận đầu gối!

 

- PV: Nhưng mode đồ đạc trong nhà không chỉ có bàn ghế, giường tủ?

 

- NH: Tất nhiên. Một dạo, mode đặt tủ lạnh trong phòng khách khá thịnh hành, như là muốn thể hiện sự giàu sang, lúc đầu là tủ lạnh Saratốp, sau thêm tủ lạnh Sanyo, Hitachi… Có hôm đang ngồi uống nước với anh bạn, thấy vợ anh ra mở tủ lạnh, nhìn thông thống cả mắm muối dưa cà mà tôi cứ buồn cười. Xét cho cùng thì tủ lạnh chỉ là cái “chạn” hiện đại, vậy thì vị trí của nó lẽ ra phải là ở trong… bếp. Không biết bạn nghĩ thế nào, chứ tôi thấy ghê ghê mỗi khi đến nhà nào lại thấy chủ nhà lôi từ gầm bàn ra một vật dụng dùng để đổ bã chè, vật này có tên gọi là… ! Đánh giá theo lý thuyết chức năng của Malinôpxki thì việc làm này quả đáng quan ngại.

 

          Lâu nay, ở Việt Nam số người biết chữ Hán hầu như còn rất hiếm hoi, vậy mà lại thấy có sự lên ngôi của mode treo chữ Hán. Toàn là Phúc, Đức, Thọ, Tâm, Nhẫn. Có vị tôi biết mười mươi là “quan tham” lại thấy treo trong nhà chữ Liêm hoành tráng, sơn son thếp vàng đàng hoàng, nhìn mà chỉ biết lắc đầu. Thời còn khó khăn, vô tuyến truyền hình cũng giữ một vị trí trang trọng trong phòng khách. Mà đâu phải nhà nào cũng có, chủ yếu là vô tuyến đen - trắng, tuổi thọ thường cũng đã khá cao, nên có nhà vừa mời khách xem vừa thi thoảng thấy hình ảnh loằng ngoằng hay âm thanh loẹt xoẹt lại chạy ra vỗ đánh “bộp” một cái. Đâu vào đấy ngay! Giờ vô tuyến truyền hình không còn là của hiếm, nhiều gia đinh chuyển nó vào phòng ăn, hay vào trong buồng Khi đến thăm nhau, chủ và khách đỡ phải gào to để át tiếng vô tuyến! Mode tiếp khách bằng vô tuyến không còn thịnh hành, nhiều người chuyển sang mode uống rượu, bia. Một dạo vào ngày Tết, ở Hà Nội có mode sắm rượu vang Thăng Long, sau lại chuyển sang mode sắm bia, nhà phong lưu cũng phải có một vài “két” hoặc thùng. Ngày Tết trời rét căm căm, chủ nhà chúc mừng bằng một cốc bia ngầu bọt, chẳng lẽ lại không nâng cùng, làm ngụm bia vào là tê tái hết cả người. Đi thăm được vài nhà là chỉ muốn chuốn về, không thì chúc tụng nhau xong là lại lúng búng hỏi gia chủ xem toilette ở đâu. Sau rồi mode uống kiểu đó cũng phai nhạt, có lẽ do bất hợp lý… hơi phức tạp! Mấy năm nay, thấy mode mời nhau chủ yếu là ly rượu thuốc hoặc chút rượu ngoại, nhà nào thanh đạm thì mời chén chè sen ấm nóng. Kể cũng vui!

 

- PV: Các mode đó thay đổi cũng nhanh, hình như đó là sự thay đổi để đi tìm tính hợp lý?

 

- NH: Cũng có thể là như thế, như một cách thức lựa chọn mô hình. Song cần lưu ý, trong quan hệ với khả năng kinh tế, những mode ấy chỉ xuất hiện trong các gia đình từ trung lưu trở lên mà thôi, còn với gia đình bình dân hoặc nghèo thì trong rất nhiều trường hợp, mode vẫn chỉ là mong ước. Không phải ngẫu nhiên xưa kia các cụ có câu thành ngữ “phú quý sinh lễ nghĩa” đâu. Hoàn toàn không nói “đãi môi”, nhiều lúc tôi chạnh lòng khi thấy có gia đình sắm vật dụng một cách dễ dàng thì lại có gia đình đang nhìn vật dụng ấy như thuộc về một thế giới khác. Mong sao sẽ có ngày mức sống của mọi người không chênh lệc nhau nhiều.        

 

- PV: Có thể đưa ra một định nghĩa rằng: Mode là sự thay đổi, là nhu cầu khách quan chính đáng, là biểu hiện của sự tìm tòi làm đẹp mình và môi trường sống của mình, là khát vọng vươn tới cái mới của mọi người, đặc biệt là trong lớp trẻ?

 

- NH: Về bản chất, có thể định nghĩ như vậy và với việc khẳng định về tính khách quan của mode, nó đòi hỏi chúng ta cần cẩn trọng trước khi đưa ra các đánh giá chủ quan.

          Phạm vi biểu hiện của mode là cực kỳ rộng rãi, cập nhật trên đa số phương diện, lĩnh vực hoạt động của xã hội - con người, thậm chí chi tiết đến cả việc để móng chân, móng tay, khẩu ngữ hàng ngày. Ngẫm ra thấy người Việt mình cũng hóm hỉnh thật, vì cứ vài năm thì trong sinh hoạt xã hội lại xuất hiện một khẩu ngữ nào đó được nhiều người thích thú sử dụng, như hết ý, hết xảy, như điên, cực kỳ, lăn tăn, hoành tráng, hơi bị… chẳng hạn. Buồn cười là ở chỗ các khẩu ngữ loại này được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh mà chỉ cần phân tích sơ sơ cũng đã thấy vô nghĩa, nhưng oái oăm là người nói và người nghe lại đều thấy có nghĩa, kiểu như: “Váy hôm nay hơi bị hoành tráng!”, “Con bé nhìn hơi bị đẹp!” chẳng hạn. Một hai năm nay xuất hiện mode sử dụng tên một người, một địa danh nào đó để vận vào nội dung muốn đề cập. Thấy có cảnh sát giao thông kiểm tra thì thông báo: “Triệu Quang Phục đấy!”, hai người có tư tình với nhau thì bình luận: “Vừ A Dính rồi”, nhắc người khác rót rượu thì nói: “Phan Đình Giót đi chứ!”, muốn uống rượu bình đẳng thì yêu cầu: “phải Cao Bằng!”. Một lần ở bản Ten trên Điện Biên, ngồi cạnh mâm cơm toàn Thái với cá trê nướng, nộm rau má… mà cô gái người Thái mời rượu tôi lại ỏn ẻn: “Hôm nay anh phải Bắc Cạn với bọn em rồi mới được về!”… Là mode gắn với đời sống hàng ngày nên khẩu ngữ loại này ra đời nhanh, rồi bị thay thế cũng nhanh. Có trường hợp khi sử dụng, người ta chủ ý nghịch ngợm bằng cách đặt nó vào sự mập mờ giữa thanh và tục, nhưng ít thấy ai cố tình đẩy sang nghĩa tục. Nếu không nắm được tính khách quan, lịch sử của mode trong khẩu ngữ, người máy móc và xét nét thường dễ bắt bẻ. Song thật ra đó là lối nói “phản ngữ pháp” cho vui của dân gian, nói đấy rồi quên đấy. Tuy nhiên, tôi rất dị ứng với lối nói cố tình ngọng để tỏ ra sành điệu, kiểu như: “Cho hai lóng nhé!” khi gọi café, hoặc: “Tao lói cho mà biết…!” khi muốn nhấn mạnh điều gì.

 

- PV: Nhưng ý nghĩa quan trọng của mode là sự tìm tòi làm đẹp mình và môi trường sống của mình, là khát vọng vươn tới cái mới, anh hiểu điều đó ra sao?

 

- NH: Tính từ thời mà Ph.Ănghen cho rằng người nguyên thủy bắt đầu biết trau truốt làm đẹp công cụ lao động của mình thì hàng vạn năm đã trôi qua. Một trong các thành tựu có tính nhân văn do con người đạt được sau hàng vạn năm ấy là năng lực biết tự làm đẹp một cách có ý thức, nói cách khác là chỉ con người mới biết làm đẹp mình và làm đẹp môi trường sống của mình một cách lành mạnh. Tuy nhiên cần phân biệt giữa cái đẹp - trong tính cách là một phạm trù thẩm mỹ có tầm vóc và ý nghĩa nhân loại… với vẻ đẹp - trong tư cách là quan niệm về hình thức thể hiện bên ngoài. Thực tế cho thấy, quan niệm vẻ đẹp như thế nào chủ yếu phụ thuộc vào quan niệm thẩm mỹ của từng cộng đồng, nên mới có hiện tượng ở cộng đồng này người ta xác nhận vẻ đẹp qua việc “cà răng, căng tai”, ở cộng đồng kia lại coi cô gái có cổ vừa cao vừa dài như “hươu cao cổ” là đẹp, ở cộng đồng nọ thì vẻ đẹp lại được khẳng định bởi phải kéo môi dưới sao cho thật rộng thật dài và họ coi đó là đẹp…. Ở Việt Nam, răng “hạt na” từng là tiêu chuẩn về vẻ đẹp của phụ nữ một thời. Khi so sánh văn hoá các cộng đồng, trước hết phải thừa nhận sự khác nhau. Có thừa nhận sự khác nhau mới biết tôn trọng các văn hoá khác mình. Đừng nhạo báng khi cha ông người khác “cà răng, căng tai”, vì ngược lại, sẽ nghĩ sao khi người khác nhạo báng cha ông chúng ta để răng đen và nhai trầu bỏm bẻm?

 

          Văn minh phát triển, các thành tựu của văn minh như máy tính điện tử và phương tiện đi lại, mỹ phẩm và thời trang cao cấp, phương tiện nghe nhìn và kiểu sống hiện đại… đang có khả năng vượt qua mọi biên giới địa lý, đồng hoá mọi bản sắc. Vì thế các vẻ đẹp ít nhiều “dị biệt” đang dần dần bị thu hẹp ảnh hưởng ngay cả trong chính cộng đồng văn hoá đã khai sinh ra chúng. Cho nên các dân tộc đã ý thức được điều đó đều cố gắng đi tìm một “hoà sắc” mới về vẻ đẹp giữa các giá trị nội sinh và các giá trị ngoại sinh. Ngay cả khi comple đã trở thành lễ phục có phạm vi thế giới thì không phải lúc nào các nguyên thủ quốc gia cũng mặc, có lúc họ khoác quốc phục như một lời khẳng định. Cũng tức là việc làm đẹp bản thân ngày càng có liên hệ chặt chẽ với sự tự ý thức. Cụ thể hơn, khi coi mode như một phương tiện làm đẹp mình thì đồng thời cũng luôn phải đặt nó trong tương quan với vẻ đẹp của xã hội. Dẫu biết các mode lố lăng, dị hợm là nhất thời, song nếu không có chúng thì vẫn hay hơn!

 

- PV: Còn “cái mới”, thưa anh?

 

- NH: “Cái mới” là một để tài vừa trừu tượng vừa cụ thể, rất dễ đẩy tới tranh luận nếu không xây dựng một số tiêu chí chung để định tính. Không lạm bàn trên phạm vi rộng, tôi chỉ thử đưa ra một quan niệm về “cái mới” trong mode. Nguồn gốc ra đời của mode là rất phức tạp, từ nhu cầu nói chung đến nhu cầu thẩm mỹ, điều kiện kinh tế, đặc điểm tâm lý, truyền thống văn hoá, lớp tuổi, nghề nghiệp xã hội… Trong nhiều trường hợp, qua mode, có thể đánh giá được phẩm giá của con người. Như vậy về xã hội học, một mode nào đó ra đời thường chỉ đáp ứng nhu cầu của một nhóm xã hội, không nhất thiết là đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Mode mới chỉ trở nên phổ biến khi các nhóm xã hội đồng thuận, và sử dụng nó. Do đó hiện tượng nhóm này thì “đua theo mode” còn nhóm kia lại thờ ơ, hoặc nhóm này đánh giá nhóm kia theo tiêu chí riêng… là luôn luôn có thể xảy ra. Vấn đề còn lại là những tiêu chí chung, và theo tôi để đánh giá “cái mới” của một mode vừa ra đời và thịnh hành là soi chiếu với các “giá trị người”, xem mode ấy có góp phần làm con người đẹp hơn, tốt hơn, có phù hợp với điều kiện kinh tế cụ thể của cá nhân - xã hội, có phù hợp với bản sắc văn hoá cộng đồng… hay không. Thoạt nghe thì ý kiến của tôi có vẻ chung chung, nhưng với mode cụ thể là hoàn toàn có thể, với điều kiện trước khi soi chiếu phải xác định thái độ khách quan và xác lập tiêu chí.

 

- PV: Anh có thể ví dụ?

 

- NH: Như mấy năm nay ở các cơ quan thuộc Nhà nước có mode sắm vi tính chẳng hạn. Xét về xu hướng là cần thiết, vì vi tính là công hữu hiệu và cụ quan trọng của thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Song từ thực tế, tôi có thể khẳng định hiện tại nó đang trở thành một mode có tính hình thức, nhiều khi người ta trang bị như để khoe khoang nhiều hơn là sử dụng một cách hữu ích. Tôi từng đến nhiều cơ quan có phòng vi tính được trang bị hiện đại có nhôm kính sáng choang, thảm trải ngang dọc, điều hoà chạy êm ru… và nhân viên chủ yếu đang ngồi chơi điện tử hoặc… chát! Lại thấy có cán bộ đi đâu cũng kè kè laptop, về đến phòng thì bật vi tính nhoay nhoáy để xem tin tức, còn khi cần gõ văn bản thì… gọi thư ký, hay nhờ anh em dưới quyền! Tôi đã lên tiếng cảnh báo về mode này nhưng chẳng ai buồn nghe, và người ta vẫn chi cả đống tiền để làm mấy việc là thay thế cái máy chữ Olimpia gõ lóc cóc, chạy xoèn xoẹt ngày xưa bằng máy vi tính, biến nhân viên “đả tự cơ” thành nhân viên vi tính, và cán bộ Nhà nước được trang bị thêm một thứ đồ trang sức cho trí tuệ… để rồi vấn nạn văn bản giấy tờ ngày càng thêm nặng nề!

 

- PV: Xã hội chúng ta đang chuyển mình và hình như đã xuất hiện các dấu hiệu của “xã hội tiêu thụ”, như vậy mode có điều kiện để tồn tại và phát triển?

 

- NH: Về xu hướng, đó là một khả năng, còn xét từ biểu hiện, tôi lại nghĩ chúng ta đang phải đối mặt với một kiểu “xã hội tiêu thụ hoang dã”, bởi sự tiêu thụ mang nhiều màu sắc nhộn nhạo hôm nay dường như là kết quả của quá trình chưa chuẩn bị về tâm thế văn hoá có tính chất nền tảng, nói cách khác là nhiều người đang “tiêu thụ” bằng thói quen của người tiểu nông tư hữu. Chớ nghĩ chỉ cần ngồi trên BMW, thanh toán bằng Master Card, xài điện thoại đi động đắt tiền nhiều tính năng, dùng nước hoa Hugo, đầu năm du lịch ở Pháp cuối năm du lịch ở Nhật, uống rượu Tây bạt ngàn, chiều chiều vác vợt tennis ra sân… là có phong cách sống hiện đại. Bởi vấn đề còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực tư duy, vào khả năng ứng xử, vào các tập tính ứng xử văn hoá mới… - những giá trị mà nếu chỉ bằng tiền, người ta cũng không thể mua được. Sự chuẩn bị văn hoá còn thiếu cơ bản trước khi hình thành xã hội kiểu công nghiệp đã đưa tới nhiều những hiện tượng kỳ lạ, mà nổi lên trên bề mặt xã hội là hiện tượng nhiều người bằng mọi cách làm cho bản thân nổi trội bằng những cách thức kém cỏi và đáng chê trách. Nếu ở thế hệ lớn tuổi có các ông chủ mới, các quan chức lắm tiền hợm hĩnh đến lố lăng trong tiêu xài, và nhìn người đời bằng nửa con mắt từ địa vị của các “trọc phú tân thời”; thì trong giới trẻ, không ít người đã gia nhập vào lối sống hưởng thụ với tất cả sự say mê, nhiều khi mù quáng, để trở thành “sát nhân” theo đúng nghĩa đen của hành vi này. Tôi không có hứng thú với các dấu hiệu kiểu như thế!

 

          Còn mode ư, nó đã và đang được các nhà sản xuất (cả vật chất lẫn tinh thần) tận dụng đến mức có thể, để đẩy con người vào lối sống tiêu thụ, tiêu thụ và tiêu thụ. Trong khi đồng tiền đang không phải là thứ dễ kiếm ra đối với đa số dân chúng thì một làn sóng quảng cáo sản phẩm, một làn sóng ngôn từ và hình ảnh có khả năng tác động đến tâm lý hưởng thụ… tràn ngập trên toàn bộ hệ thống thông tin đại chúng. Chúng làm cho dân chúng không thể cưỡng nổi sự tò mò khi mở một trang báo, bật một kênh truyền hình. Và ngay cả khi đi trên đường, người ta còn bị kích thích nhiều hơn nữa với các chiến dịch quảng cáo dưới mọi hình thức từ dưới thấp đến trên cao, từ sáng lóe đến lập lòe với đủ loại màu sắc, kể cả trên các bảng điện khổng lồ sáng rực rỡ giữa ban ngày. Xe máy Dylan, Spacy. Ô tô Ford, Mitsubishi. Điện thoại Nokia, Samsung. Vô tuyến LG, Sony. Nước hoa Chanel, Enchanteur. Mỹ phẩm L’Oréal, O’hui. Dầu gội đầu Rejoy, Sunsilk. Băng vệ sinh Kotex, Diana. Rồi vô số restaurant với các món ăn Á Âu, các loại đặc sản dưới bể trên rừng được quảng bá kèm theo cả phần thưởng. Ăn có thưởng, cũng là sự hiếm thấy! Rồi hình ảnh lăng-xê đến mức ngán ngẩm của các ngôi sao ca nhạc sớm nở tối tàn với các ca khúc hát tuần này sang tuần sau đã quên, rồi là các ban nhạc ồn à trong ánh sáng lập loè chỉ giúp người ta nghe chứ không giúp người ta hiểu. Theo đó, các loại mode lũ lượt ra đời tạo ra khả năng “móc túi” người tiêu dùng, làm suy giảm một phần các thành tựu đạt được của một xã hội mới bắt đầu làm quen với khái niệm “tăng trưởng”.

 

- PV: Nói như anh thì mode lại có lỗi đối với sự phát triển chung?

 

- NH: Tôi không muốn nói như vậy, bởi tôi luôn đề cao mặt tích cực của mode, song tôi muốn cảnh báo về các tác động tiêu cực của mode trong điều kiện một nền kinh tế chưa phải đã đủ sức lo cho tất cả mọi người. Với lớp trẻ, tôi không kỳ thị các mái tóc vàng choé và tua tủa dựng ngược, tôi không lo sợ sự trụy lạc sẽ là nhãn tiền nếu phải chứng kiến các cô gái đang khoác lên người chiếc áo hai dây mỏng mảnh hở hết cả lưng và mặc jube cũn cỡn… Vì tôi biết trong cuộc đời, các mái tóc không thể mãi mãi “dựng ngược”, những chiếc jube cũng không thể ngắn hơn… Nhưng tôi e ngại vì nhiều người lớn tuổi trong khi chạy theo mode đã nêu tấm gương “mờ” về thói hợm của và sở thích hưởng lạc, về những mánh khóe kiếm tiền và coi thường các tiêu chí lịch lãm tối thiểu…, rồi cả về sự lười nhác trong việc trau dồi tri thức ngõ hầu làm phong phú trí tuệ cùng vốn liếng văn hóa của chính bản thân mỗi người. Tôi nghĩ cái giá phải trả cho tương lai sẽ cao gấp nhiều lần nếu hôm nay, chúng ta không kịp thời tự giác điều chỉnh hành vi thoả mãn nhu cầu nói chung và nhu cầu thẩm mỹ nói riêng.

 

          Thật ra, nếu nói là có lỗi thì cũng không hẳn chỉ thuộc về lớp người lớn tuổi, bởi xét đến cùng thì ít nhiều người trong số họ cũng là kết quả của một quá trình đào tạo chưa thật sự toàn diện và hoàn chỉnh trong một thời gian dài. Thiếu chuẩn bị về văn hóa, tới khi cần có một bản lĩnh và một lòng tự trọng, tới khi phải đối mặt với những thách thức văn hóa vật chất - tinh thần của thời kỳ mới, nhiều người trong chúng ta đã không đủ sức đứng vững trên nền tảng văn hóa mà nhẹ dạ (thậm chí cả tin?) chạy theo một số xu hướng thiếu lành mạnh của văn minh công nghiệp, không biết rằng chính các xu hướng này ở phương Tây - nơi đã khai sinh và phải trả giá cho nó, đã được cảnh báo từ lâu và lời kêu gọi phát triển bền vững không phải là lời kêu gọi chỉ dành riêng cho nước Việt Nam này, nó là lời kêu gọi cho toàn nhân loại.

 

- PV: Liệu vấn đề đã đến mức nặng nề như vậy chưa, thưa anh?

 

- NH: Quan sát sinh hoạt ở đô thị, tôi nhận thấy trên một số lĩnh vực cụ thể vấn đề đã thật sự nặng nề, nhất là thói vô cảm giữa những con người với nhau. Tôi đã đi, đã có mặt trên hầu hết mọi miền đất nước. Tôi đã tiếp xúc, đã suy ngẫm về những con người, những số phận, những mảng đời tôi đã gặp. Hàng triệu con người đang sống và hoàn toàn không biết tới mode, không biết rằng kết quả cả năm lao động cực nhọc của họ chưa đủ mua một thỏi son môi! Một nghịch cảnh đầy phi lý đang diễn ra ở nhiều nơi. Sau lũy tre làng, trên con đường gập gềnh về bản… có hàng vạn, hàng vạn con người đang lầm lũi sống, lầm lũi lo toan miếng ăn, thì cách đó không xa, ngay huyện lỵ, các cuộc nhậu nhẹt như một thứ mode vẫn tổ chức vào lúc chiều về, những chuyến ngao du dưới danh nghĩa tìm hiểu, nghiên cứu vẫn được tổ chức thường xuyên để chức sắc huyện này giao lưu với chức sắc huyện nọ, để quan chức tỉnh này giao lưu với quan chức tỉnh kia, mà sự tốn kém như thế nào thì chỉ có người trong cuộc mới biết và vẫn được… quyết toán hợp lệ. Kể cũng kỳ, giờ lại có thứ mode lạ lùng là tổ chức hội thảo thì ra Đồ Sơn, Bãi Cháy… Họp đoàn thể thì kéo nhau lên tận Sa Pa… Sử dụng tiền bạc cá nhân để thoả mãn nhu cầu mode mà phung phí quá đã là đáng trách, đằng này người ta sử dụng tiền bạc của Nhà nước, tức là của nhân dân, để phục vụ cho nhu cầu về mode thì quả là hiếm thấy trên thế gian.

 

- VP: Nghe anh nói, tôi nghĩ anh có vẻ dị ứng với mode của các “đại gia”, dẫu thế nào thì đồng tiền họ bỏ ra vẫn là đồng tiền của cá nhân, họ có quyền sử dụng theo ý thích?

 

- NH: Về nguyên tắc thì đúng vậy, và không ai có quyền phê phán nếu đó là đồng tiền được làm ra một cách lương thiện. Nhưng “đồng tiền liền khúc ruột” bạn ạ, đồng tiền do bản thân mình đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được sẽ không dễ chi dùng cho mode một cách thoải mái và có lúc như vô bổ đâu. Vả lại, phần nào đó có thể nói những sự phung phí để theo kịp với mode thời đại kia còn gián tiếp đẩy một số người tới chỗ phạm tội dù chỉ đề sắm một chiếc điện thoại cho “sành điệu”, mua một chiếc xe máy cho bằng người, hoặc có tiền đưa bạn gái du hí đó đây… Mode đẹp nhưng đôi khi lại giống như bông hồng có gai!

 

- PV: Như vậy quả cũng có điều để suy nghĩ, và phần nào xin được chia sẻ với anh! Tuy nhiên, xã hội ngày càng hiện đại, con người càng khó có thể quay lưng lại với mode?

 

- NH: Tôi không phủ nhận điều bạn khẳng định, song tôi còn quan tâm tới các “vấn nạn” từ mode. Thử bàn tới một mode đang thịnh hành như điện thoại di động - loại vật dụng mà nếu thiếu nó, nhiều người như cảm thấy mình không “sành điệu”. Ra đời như một phương tiện để liên lạc, vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn điện thoại di động đã chinh phục hầu hết mọi lứa tuổi, đặc biệt là hấp dẫn lớp trẻ với các tính năng luôn được bổ sung. Chuyện sẽ không có gì đáng bàn nếu điện thoại di động không được sử dụng một cách tuỳ tiện đến mức báo chí phải lên tiếng về “văn hoá điện thoại”. Ngày tôi còn dùng chiếc điện thoại cục mịch, nặng chình trịch, không ít lần đang sử dụng giữa đám đông, tôi đã nhận được những ánh mắt không lấy gì làm thiện cảm, nếu không nói là coi thường, thậm chí có người còn bảo: bây giờ mà còn dùng “cụ gạch” này à?! Nhiều người sắm điện thoại mới, sử dụng ít ngày rồi bán đi mua cái khác vì sợ mình lạc hậu. Mà nhiều khi để tỏ ra “sành điệu”, chiếc điện thoại hàng chục triệu cũng chỉ để đáp ứng hai nhiệm vụ gọi và nghe, khá lắm là nhắn tin, các chức năng khác xem ra vẫn còn là… bí mật! Với người nhiều tiền bạc thì không sao, người ít tiền cũng chơi điện thoại di động thì chuyện bi hài xảy ra quanh nó không phải là hiếm. “Nô lệ của đồ vật” - tình trạng này dường như đã đến lúc cần phải đặt ra và khảo sát nghiêm túc.

 

          Mỹ phẩm cũng là chuyện đáng bàn. Với mỹ phẩm cao cấp, ít ra người sản xuất đã tính đến việc hạn chế thấp nhất các tác hại đối với làn da. Nhưng để mua được đâu có dễ. Một thỏi son “hàng hiệu” đã vài triệu đồng, rồi còn nước hoa, kem, phấn nền… Vậy mà đua theo mode, nhiều người cố “trát” lên mặt, tự mình sáng chế ra những gương mặt loè loẹt, na ná như mặt nạ tuồng không đúng quy cách và da mặt theo đó mất dần vẻ mịn màng! Đánh phấn tô son, muốn đẹp phải có kỹ năng, kỹ xảo, đâu phải cứ bôi lên là đẹp, “hàng hiệu” mà không biết sử dụng thì xấu vẫn cứ hoàn xấu. Các chị trung niên là nên chú ý hơn cả, thời trẻ không có điều kiện, giờ có đồng ra đồng vào lại thích “trẻ hoá” bằng mấy lớp phấn son quá dày và quả thật, nhiều chị đã không ý thức được “vẻ đẹp” của mình trước đồng loại.

 

          Còn nhiều mode đáng ngại khác, như phô trương trong đám cưới chẳng hạn. Không biết bạn nghĩ gì khi tôi dẫn lại mấy con số từ bài Đám cưới nhà giàu đăng trên vnexpress ngày 22.8.2006. Đám cưới anh Lê Quốc ở Hà Nội: ngày lễ đính hôn thuê trên 30 chiếc xe con loại 5 chỗ ngồi để xuống Hải Phòng hỏi vợ, đoàn xe xếp hàng dọc từ đầu đến cuối phố không hết; hai bữa tiệc cưới tại khách sạn 5 sao sang trọng bậc nhất có 1.400 người dự, hết hơn 300 triệu đồng; 2 chiếc váy cô dâu đặt mua từ Italia giá 17.500 USD, chi phí chụp ảnh quay phim 69 triệu đồng. Đám cưới anh Hùng, cán bộ cơ quan nhà nước, ở ngoại thành Hà Nội: 5 buổi tiệc cưới với 500 mâm cỗ, trong đó có một bữa cho các sếp tại khách sạn lớn tại Hà Nội; nhà chú rể ở nông thôn, nhiều ruồi muỗi nên đã chi 5 triệu tiền thuốc khử trùng; chi phí cho đoàn ca nhạc về biểu diễn 16 triệu đồng… Về phần mình, đọc các số liệu này, tôi liên tưởng tới thu nhập khoảng 600 USD/người/năm ở Việt Nam và thấy… hơi bị tê tái!

 

- PV: Vậy theo anh, để hạn chế những “vấn nạn” có thể xảy ra, chúng ta cần làm gì?

 

- NH: Để trả lời bạn, tôi rất dễ đi theo xu hướng lý thuyết xuông. Nhưng thà đưa ra một lý thuyết xuông song là ý kiến chân thành về một loại hiện tượng có thật, còn hơn là không nói gì. Cuộc sống vốn có nhiều nghịch lý, mà đa số các nghịch lý ra đời là do sự thiếu sáng suốt của con người. Theo tôi, một trong những biểu hiện thiếu sáng suốt của con người được thể hiện trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu không ngừng tăng lên và khả năng đáp ứng luôn luôn có giới hạn. Điều này đẩy tới một vấn nạn là sự ra đời và hoành hành của thói tham lam, vị kỷ, ham hố hưởng lạc… bất chấp các điều kiện vật chất - tinh thần cụ thể. Trên Tạp chí Người đọc sách, tác giả Khánh Huyền đã tổng kết một số tính cách đáng báo động của giới trẻ mà theo tôi rất đáng lưu tâm, gồm: hình thức, trọng hư danh, hội hè đình đám, dĩ hòa vi quý, khôn lỏi, thiếu tính kỷ luật, a dua, ỷ lại, vô trách nhiệm, thiếu tự tin, thiếu khả năng làm việc theo nhóm, dám nghĩ mà chẳng giám làm, khoe khoang. Xét kỹ ra, các “tính cách” này còn xuất hiện trong cả thế hệ cha anh, và ít nhiều cha anh còn tạo điều kiện giúp chúng phát triển trong giới trẻ. Khi mode ham chơi, lười nhác và tâm lý hưởng thụ trở thành phổ biến, thì phải thừa nhận rằng sự vận hành của xã hội đã và đang phát ra tín hiệu SOS của một cuộc khủng hoảng trong lối sống và các giá trị người. Trước khi tìm kiếm nguyên nhân từ ngoại cảnh, hãy tìm kiếm nguyên nhân từ chính chúng ta, như cha ông đã nói: “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Trung thực nhìn thẳng vào thực trạng - đó là phương cách duy nhất có khả năng giúp tìm ra các giải pháp hữu dụng, có ý nghĩa hiện thực!

 

- PV: Nhưng không có mode thì con người vẫn sống đấy chứ, thưa anh?

 

- NH: C.Mark khẳng định con người có bốn nhu cầu cơ bản là ăn, mặc, ở, bảo toàn và phát triển nòi giống, đồng thời C.Mark cũng phân biệt sự khác nhau giữa ăn sống nuốt tươi, dùng răng và móng với ăn chín nấu sôi, dùng fourchette và cuillère (phóng-sét, cùi-dìa). Tiêu chí để phân biệt sự khác nhau là các tiêu chuẩn của văn minh. Từ thời nguyên thủy đến nay, con người vẫn sống với bốn nhu cầu cơ bản và không có mode thì họ vẫn sinh tồn. Nhưng con người phát triển văn minh lại chỉ nhằm mục đích duy nhất là ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống, làm cho bản thân ngày càng hoàn thiện và văn minh hơn, chứ không phải để làm cho bản thân bị tha hoá. Do vậy, hiển nhiên mode ra đời, phát triển trong cuộc sống cũng vì sự hoàn thiện, mà trực tiếp là nhu cầu liên tục hoàn thiện cái đẹp, đó cũng là biểu hiện của quan niệm và hành vi có văn hoá của con người khi sống giữa cộng đồng.

 

- PV: Để kết thúc cuộc trò chuyện “dài hơi” về mode này, anh có thể đưa ra một kết luận?

 

- NH: Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao chỉ đến khi học đại học thì người ta mới trang bị cho con em chúng ta quan niệm về cái đẹp qua mấy chục tiết Mỹ học với các kiến thức rất trừu tượng. Trong khi đó cái đẹp có mặt trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, và con người tiếp xúc với cái đẹp từ khi biết cảm nhận về thế giới xung quanh. Cần trang bị cho con cháu chúng ta quan niệm về cái đẹp một cách cụ thể, thiết thực từ nhà trường đến môi trường sống, từ gia đình đến xã hội và thông qua hành vi cụ thể, vì “cái đẹp” là một giá trị không trừu tượng mà luôn luôn được thể hiện thông qua hành vi của con người. Mặt khác cũng phải thấy rằng, chân - thiện - mỹ là hệ thống giá trị thống nhất, quan hệ chặt chẽ với nhau. Một hành vi đẹp thì chắc chắn phải mang tính thiện và chân; ngược lại, một hành vi xấu thì chắc chắn không bao giờ có ý nghĩa tích cực trong những biểu thiện thuộc về thiện và chân. Xem xét từ quan hệ đó sẽ thấy mode không đơn thuần chỉ là mode, nó còn là đạo đức, là một trong rất nhiều ý nghĩa quan trọng của sự tồn tại. Và như đã trình bày ở phần trên, tôi vẫn nghĩ dù thế nào thì vai trò của các thế hệ cha chú vẫn hết sức quan trọng. Thương con em chính là tạo ra điều kiện lành mạnh để con em phát triển thành con người đích thực. Thương con em bằng sự chu cấp để thoả mãn mọi nhu cầu, mặt nào đó có thể coi là hành vi hủy hoại tương lai. Và hơn tất cả là chúng ta phải trở thành tấm gương cho con em học tập. Nếu chúng ta cũng ham hố, cũng dễ dãi với mode thì “cái đẹp” sẽ trở nên xa lạ với con em chúng ta!

 

- PV: Xin cảm ơn anh và tôi tin, cuộc trò chuyện của chúng ta sẽ có một ý nghĩa nào đó! 

 

                                                                                                            PV (thực hiện)