Các tạp văn dưới đây được tôi viết trong mấy năm qua và đã được đăng tải trên các báo và tạp chí như Văn nghệ Quân đội, Thế giới mới, Thể thao & Văn hoá, Văn nghệ, Văn nghệ Trẻ, Giáo dục & Thời đại, Công an Nhân dân, An ninh thế giới Cuối tháng, Tiếp thị và Gia đình, Văn hóa - Thông tin (nay là Thế giới Văn hoá), Thị trường và tiêu dùng, Lao động - Xã hội… Để gửi đăng trên viet-studies, tôi đã tập hợp chúng một cách ngẫu nhiên, không theo trình tự thời gian hay ý tưởng, và việc sắp xếp theo các nhóm “tạp văn 1”, “tạp văn 2”… chỉ nhằm mục đích ấn định một dung lượng (dù tương đối) để bạn đọc có quan tâm dễ theo dõi.

 

Nhân đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới GS Trần Hữu Dũng đã giúp tôi đăng tải các tạp văn này!     

Nguyễn Hoà

 

7

Cẩu Nhi, và sau này còn gì nữa...?

 

          Cách đây gần hai mươi năm, vào thời trên hòn đảo nhỏ ở hồ Trúc Bạch - Hà Nội, hiện lên sừng sững một nhà hàng có tên gọi Restaurant Cổ Ngư, dư luận đã một lần xôn xao về việc hậu thế đang xâm phạm một “di tích lịch sử”. Bằng tấm lòng tâm huyết với văn hóa dân tộc, với truyền thống văn hiến Thủ đô, hai nhà sử học vào hàng đầu bảng của ngành sử học nước nhà đã nhanh chóng, khẩn thiết lên tiếng bảo vệ một di tích được hai ông gọi là đền Cẩu Nhi - đền Chó con. Trong đó một vị coi ngôi đền đã “cắm một cái mốc lớn trên chặng đường dài lịch sử Hà Nội”. Còn vị Giáo sư kia thì nhấn mạnh đây là “một kỷ niệm lịch sử của Thăng Long thời Lý”. Thế là từ sự ồn ào của dư luận và hình như còn có cả sự bảo đảm bằng vàng từ uy tín của hai giáo sư sử học lừng danh, cái nhà hàng tọa lạc nhầm chỗ kia liền nhanh chóng bị xóa bỏ (dù hai vị chưa một lần đem tới cho lớp chúng sinh còn thiếu am hiểu về lịch sử một câu trả lời rõ ràng rằng tại sao ngôi đền lại là “cột mốc”, là “kỷ niệm”?).

 

          Gần hai mươi năm sau, khi ngân sách thành phố Hà Nội đã có một khoản cỡ 3 tỷ đồng sẵn sàng chi ra để biến hòn đảo nhỏ trên hồ Trúc Bạch thành một danh lam thắng cảnh, thì “Cẩu Nhi” lại được “phục sinh” và để giúp đi tìm những lý do lịch sử, mấy cuộc thảo luận mang dáng dấp như đấu trường “tỷ thí” giữa các nhà khoa học bảo vệ “Cẩu Nhi” và các nhà khoa học phản đối “Cẩu Nhi” đã diễn ra. Điều trớ trêu là dẫu thảo luận có bất phân thắng bại như thế nào thì theo lãnh đạo Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội: “Sở vẫn đồng ý với việc xây dựng đền Cẩu Nhi trên hồ Trúc Bạch theo đúng quy trình và Luật Di sản. Vấn đề còn lại chỉ là quy mô xây dựng sẽ được điều chỉnh” (báo Thể thao & Văn hóa, số 88, ngày 23.8.2005). Qua đó xem chừng tiếng nói của các nhà khoa học cũng không quan trọng tới mức như người ta tưởng; khi đã có tiền, khi đã quyết xây thì ý kiến phản đối quyết liệt của các ông Đỗ Văn Ninh, Bùi Thiết... xem ra cũng giảm thiểu trọng lượng!

 

          Kẻ viết bài này không quan tâm nhiều lắm đến sự kiện ngôi đền “Cẩu Nhi” có được xây dựng lại hay không và quy mô của nó lớn nhỏ ra sao, khi việc xây dựng “Cẩu Nhi” trở thành sự thể hiện tình yêu văn hóa dân tộc và khả năng tiêu tiền vào những việc quan trọng hơn xóa đói giảm nghèo của những người có trách nhiệm thì một cá nhân có quan tâm cũng không còn quan trọng nữa. Nhưng cái cung cách mà các nhà khoa học đưa ra trong thảo luận để bảo vệ hay phản đối “sự tích Cẩu Nhi” lại buộc tôi phải viết bài này, bởi tôi e ngại rồi đây sau “vụ đền Cẩu Nhi”, với cung cách ấy, các nhà khoa học khả kính của nước nhà sẽ tiếp tục phô diễn quan niệm và năng lực khoa học của họ để đưa các sự kiện lịch sử - văn hóa còn “bí hiểm” của dân tộc trong quá khứ sẽ đi tới đâu?

 

          Trước hết xin bàn đôi chút về Tây Hồ chí - tài liệu duy nhất để các nhà khoa học trung thành với “Cẩu Nhi” dựa vào để chứng minh sự đúng đắn của mình. Với một dân tộc không có truyền thống làm sử cập nhật và chính xác như Việt Nam, lại thêm chiến tranh giặc giã, thiên tai làm cho thất lạc... tôi không tin Tây Hồ chí là một văn bản có khả năng đưa tới những thông tin xác thực. Bởi ngoài việc không có tên tác giả, cho đến nay, chưa ai xác định được Tây Hồ chí ra đời trong “khoảng” thời gian nào, người bảo đầu thế kỷ XIX, người nói giữa thế kỷ XIX, người lại đồ rằng đầu thế kỷ XX. Song điều đáng nói là dù cuốn sách được viết trong “khoảng” thời gian có biên độ rộng rãi như trên thì liệu có tin cậy được không, khi nó đề cập tới một sự kiện diễn ra từ thế kỷ XI, tức là diễn ra trước Tây Hồ chí quãng 8 thế kỷ. Đặc biệt hơn, sự kiện đó lại chưa từng được ghi chép trong bất kỳ một cuốn sách lịch sử nào, chưa có mặt trong bất kỳ một truyền thuyết nào? Mặt khác ngoài “thần tích” còn rất mông lung (hay có thể nói là không có thần tích) cho đến nay chưa có bất kỳ một nhà khoa học nào biết được nghi thức hành lễ, vật cúng tế..., rồi ngày lễ đền “Cẩu Nhi” được tổ chức ra sao, vào ngày nào tháng nào hàng năm?

 

“Tả xung hữu đột” để giành phần thắng trong một đề tài còn hết sức mù mờ, đã có vài ba nhà khoa học tung ra nhiều chủng loại “vũ khí chuyên môn” mà thiển nghĩ nếu họ không tung ra tôi còn “kính nhi viễn chi”, còn khi họ tung ra rồi thì tôi nghi ngờ “con người khoa học” của họ. Ví dụ:

 

- Một ông tiến sĩ ở Viện Hán - Nôm khẳng định: “Tây Hồ chí là cuốn sách có ký hiệu hẳn hoi (A3192.1/2) tại thư viện Viện Hán Nôm. Công trình được viết bằng chữ Hán, có thể được sao vào khoảng cuối Lê đầu Nguyễn" và ông khuyến nghị hậu thế cứ “theo những gì các cụ đã viết chứ không nên đưa ý kiến đoán định chủ quan về những thông tin sách nêu”. Té ra theo ông tiến sĩ thì hễ cuốn sách nào có “số hiệu hẳn hoi” trong thư viện Hán - Nôm là chuẩn xác, cứ thế dựa theo mà làm. Tôi không rõ chuyên ngành khoa học mà Tiến sĩ theo đuổi, nhưng xem chừng với ông thì khoa học sinh ra trên đời này hơi bị... vô bổ!

 

- Một nhà Hà Nội học thì “đoán mò”: “Chuyện đó không ai bịa đặt ra cả vì nó đã được chép trong Tây Hồ chí. Tác phẩm này ra đời từ giữa thế kỷ XIX. Tây Hồ chí khẳng định đúng là trên gò hồ Trúc Bạch có một đền gọi là đền Cẩu Nhi thờ Thần Chó con. Về sau, tín ngưỡng thờ chó của người Việt phai nhạt đi nên cái đền đó, hoặc một cái đền mới xây trên vị trí đó lại được dân đổi qua gọi là Thủy Trung Tiên tự, tức là thờ Mẫu”. Tôi thành thực không hiểu nhà nghiên cứu lấy gì làm cơ sở cho kết luận “tín ngưỡng thờ chó... phai nhạt đi”, rất mong ông sẽ chứng minh xưa kia “tín ngưỡng thờ chó” từng thịnh hành trong đời sống tâm linh của người Việt?

 

- Một Giáo sư khác thì dứt khoát hơn: “Theo quan điểm của tôi, nó là ngôi đền thờ cả Thần Cá lẫn thần Cẩu Nhi cùng một lúc! Không có gì lạ khi có hai thần được thờ trong cùng một ngôi đền. Trong các kiến trúc cổ của Việt Nam có ngôi đình thờ đến 21 Thành Hoàng thì sao?”. Trong trường hợp này, có lẽ Giáo sư đã đánh đồng tín ngưỡng thờ thành hoàng với các tín ngưỡng dân gian khác chăng, và trong ngôi đình thờ 21 thành hoàng mà Giáo sư đề cập, có vị nào ở dưới nước như cá, lại có vị ở trên cạn như... chó không nhỉ? Và tôi nghĩ đây là lối “nói lấy được” chứ không phải là nghiên cứu khoa học!

 

- Ông Giáo sư nọ thì biện dẫn: “Nên thấy một điều này nữa, một trong năm con vật được Phật Giáo liệt vào hàng những con vật thiêng, đó là chó, ngựa, voi, khỉ và thỏ. Nếu bác bỏ tục thờ Chó, vậy tôi xin hỏi chim Lạc là chim gì? Chim ấy cũng là bịa ra, cả con rồng cũng không có thật, vậy tại sao người Việt vẫn thờ?”. Với những câu hỏi mang màu sắc “cảm tính” do Giáo đặt ra, tôi thấy buồn cười, hình như ông ít được tạo điều kiện để “nạp” thêm kiến thức về tín ngưỡng dân gian (?). Đến mức này thì quả thật chỉ biết nói là chịu thua, và khoa học có lẽ chỉ là phương tiện làm nên danh tiếng cho ông, chứ còn thế nào là “làm khoa học” thì ông không quan tâm. Lại nữa, tôi không rõ Giáo sư đã thấy ngôi chùa nào ở Việt Nam thờ chó, thờ thỏ chưa nhỉ? Và tôi tự hỏi, Giáo sư đã nghĩ gì khi lấy niềm tin về “chim Lạc”, về “rồng” đã đạt tầm mức phổ cập quốc gia để so sánh với tín ngưỡng về “chó”, trong khi chắn chắn là ông chưa biết tín ngưỡng ấy từng được hiểu và thờ cúng như thế nào!   

 

- Còn vị Giáo sư ngày trước từng quả quyết “đền Cẩu Nhi” đã “cắm một cái mốc lớn trên chặng đường dài lịch sử Hà Nội” thì nay khẳng định: “Không thể phủ nhận Tây Hồ chí mặc dù sách này không phải không có chỗ nhầm lẫn; song nói về nhầm lẫn thì Đại Việt Sử ký toàn thư cũng có cả chục sai sót. Càng không thể căn cứ vào việc không có tên tác giả để phủ định giá trị sách. Bao nhiêu sách không có tên tác giả: Đại Việt sử lược cũng có đề tác giả đâu, mà ai phủ nhận được giá trị của sách này. Còn chú thích là thói quen làm khoa học hiện đại, chứ xưa không...”. 18 năm sau ngày đưa ra một ý kiến “như đinh đống cột”, ông Giáo sư vẫn không đưa ra một chứng lý lịch sử - văn hóa nào ngoài việc quyết tâm bảo vệ sự chính xác của Tây Hồ chí. Vậy Giáo sư giải thích sao đây khi ông thấy trong Đại Việt sử ký toàn thư (bản Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, GS Hà Văn Tấn hiệu đính, GS Phan Huy Lê tham gia Hội đồng chỉ đạo và duyệt) có đoạn: “Tháng 5, trồng 500 trượng toàn cây muỗm (suốt từ bến Hồng đến đê quai vạc Cẩu Thần)” để từ đó suy ra tục “thờ chó”; trong khi cũng sự kiện này, trong Đại Việt sử ký toàn thư (bản Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú giải) lại viết: “Tháng 5, trồng 500 trượng toàn cây muỗm (suốt từ bến Hồng đến đê quai vạc Tuẫn Thần)”? Giữa ông Giáo sư này và cụ Đào Duy Anh có sự khác nhau trong việc phải đọc là “cẩu” hay phải đọc là “tuẫn” và sự khác nhau ấy liệu có bảo đảm rằng Giáo sư đọc chính xác hơn? Ý kiến Giáo sư làm tôi nhớ tới chuyện ngày 13.10.2003 tôi đọc trên website talawas - trong cuộc tranh luận về GS Trần Đình Hượu, thấy học trò người Đức của Giáo sư là Patrick Raszelenberg kể lại rằng trong buổi nói chuyện với Patrick Raszelenberg (tháng 3.1996), Giáo sư nói: ông “phải bịa ra những dữ kiện vì phía chính trị muốn thế”. Trước một ý kiến “động trời”, ngày ấy tôi hy vọng Giáo sư sẽ lên tiếng bác bỏ hoặc công nhận nhưng tuyệt nhiên cho đến nay vẫn thấy ông im lặng (do ông tảng lờ hay ông chưa biết?). Nhân tranh luận về “đền Cầu Nhi”, phát biểu của Giáo sư làm tôi liên tưởng: phải chăng Giáo sư cũng lại “bịa” nốt?...

 

Từ diễn biến của sự việc, tôi thấy chẳng sớm thì muộn rồi đây giữa Hà Thành hoa lệ sẽ mọc lên một ngôi đền thờ Chó. Qua đó, biết đâu một tín ngưỡng đã bị quên lãng nay sẽ được phục hồi (nếu nó đã từng có?), và nếu như nó chưa từng có thì cũng biết đâu từ nay con dân nước Việt sẽ có thêm một chú chó để thờ. Hướng tầm nhìn về tương lai, tôi nghĩ rồi đây không biết các nhà tổ chức sẽ lấy ngày nào để làm lễ đền và tôi xin mạo muội đề xuất: nên chăng lấy giờ Tuất, ngày Tuất, tháng Tuất đầu tiên của năm Âm lịch để tổ chức là thích hợp nhất. Và để cho hoàn bị và nghiêm túc về khoa học, ban tổ chức nên mời một vị giáo sư tuổi Tuất đứng ra là chủ lễ. Tuy nhiên, riêng về phần các phẩm vật được dùng để cúng tế “Cẩu Nhi” thì tôi không dám góp ý, mà chỉ mạo muội đưa ra một giả thuyết rằng liệu có mối liên hệ nào đó giữa Thành hoàng làng Cổ Nhuế với “Cẩu nhi” không đây, vì biết đâu Thành hoàng làng Cổ Nhuế chính là vị thần chuyên lo phần “hậu cần” cho “Cẩu Nhi” thì sao!?

 

          Rồi tôi hình dung vào một ngày đẹp trời nào đó, khi “đền Cẩu Nhi” khánh thành, trên chiếc cầu vắt mình soi bóng trên hồ Trúc Bạch, các nhà tổ chức cùng các nhà khoa học khả kính sẽ kính cẩn bước theo chiếc kiệu sơn son thếp vàng mà trên đó, chồm chỗm một “Cẩu Nhi” xinh xắn đáng yêu. Và trở thói quen, mỗi năm vài lần, trong không khí linh thiêng khói hương nghi ngút, các vị lại thành kính cúi lạy trước bàn thờ một chú chó con đã từng “cắm một cái mốc lớn trên chặng đường dài lịch sử Hà Nội”. Trong khi đó xa xa bên đê Nhật Tân, cách đấy vài trăm mét đường chim bay, từ dãy nhà hàng nào là Anh Tú, nào là Hồ Kiểm... mùi giềng mẻ mắm tôm đang bốc lên ngào ngạt, và hàng đoàn thực khách mặt mũi hả hê dắt xe ra về, sau khi đã “xơi tái” một hai báo xáo, vài ba đĩa nhựa mận với dăm bảy đoạn dồi... Nhưng tôi vẫn băn khoăn không rõ sau khi hành lễ, các vị quan khách khả kính nọ có “nháy” nhau lỉnh ra đê Nhật Tân hay không, nên tự an ủi, hãy để thời gian trả lời!  

         

Hoa đào và không chỉ về hoa đào…

 

Không biết tự bao giờ, loài hoa “dường như” có nguồn gốc ở vùng núi cao có khí hậu gần gũi với khí hậu miền ôn đới đã được người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ thuần hóa để trở thành hoa có cái tên giản dị: hoa đào. Và cũng không biết tự bao giờ đối với người Việt, hoa đào đã trở thành một loài hoa mang theo biểu tượng của mùa xuân, nên ngày nọ thi nhân Vũ Đình Liên chỉ cần viết: “Mỗi năm hoa đào nở” là người đọc hiểu ngay rằng đó là câu thơ dành cho thời điểm “Tết đến, Xuân về”. Hoa đào, cụ thể hơn là hoa đào Nhật Tân, đã ăn sâu bám rễ vào tâm thức không biết bao nhiêu thế hệ người Hà Nội nói riêng, người Việt Nam nói chung. Sự có mặt của hoa đào đã thành một mỹ tục của ngày Tết, đến chiều ngày Tất niên, gia đình nào chưa sắm sửa được hoa đào đều như thấy thiêu thiếu một cái gì. Ngay cả với người Việt xa xứ cũng vậy, mỗi độ xuân về trên cố quốc, ở nơi “đất khách quê người”, họ cũng phải gắn lên mấy cành cây “tây” khẳng khiu những bông hoa giấy “na ná” như hoa đào để gợi không khí quê nhà. Xem ra, nếu chỉ nhằm chuyển tải ý nghĩa thực dụng, người ta trồng hoa đào hay bẻ cành đào ở đâu chẳng được, miễn là có hoa cắm vào bình, vào lọ, trồng vào chậu, thậm chí có thời đã có gia đình trồng cả vào “xô”. Không dám bàn tới việc liệu hoa đào trồng ở Nhật Tân có tốt hơn, đẹp hơn hoa đào trồng ở nơi khác, chỉ xin nói rằng hoa đào Nhật Tân với tính phổ cập của nó đã thực sự vừa là niềm vui của lớp bình dân vừa là niềm kiêu hãnh của người thượng lưu, đã và đang là “hoa của ngày Tết”. Đồng thời chính hoa đào đã làm nên một “thú chơi có văn hóa” trong những ngày cuối tháng Chạp khi nam phụ lão ấu, trai thanh gái lịch rủ nhau lên Nhật Tân dạo bước vườn đào, mua lấy một cành, chọn lấy một gốc sau khi đã thỏa thích chụp ảnh, ngắm hoa… Đào Nhật Tân đã không còn là một sản phẩm thuần túy vật chất, nó đã chuyển tải trong nó những giá trị tinh thần, nói cách khác là nó đã chứa đựng trong bản thân nó một ý nghĩa văn hóa. Người trồng hoa đầu tư công sức và trí tuệ để uốn cành, tỉa lá, tạo dáng, đảo gốc… Người mua đào lượn đi lượn lại ngắm nghía chọn một cành đào, chọn một cây đào theo quan niệm thẩm mỹ của mỗi người và thích thú khi được khen là tinh tế bởi đã chọn được một cành đào đẹp, một cây đào đẹp.

 

Và như thế mấy trăm năm nay, hoa đào trở thành một sản phẩm tự nhiên đã được “nhân hóa”, còn về sâu xa, mỗi cây đào, mỗi cành đào Nhật Tân đã tự mang trong nó “một cá tính thẩm mỹ”. Do vậy, việc thay đổi nơi trồng trọt, chăm sóc một sản phẩm văn hóa như đào Nhật Tân, ngoài việc phải tính toán xem sẽ nên trồng ở đâu cho hợp lý, thiết tưởng còn phải cân nhắc làm thế nào để không đánh mất cái phần “văn hóa” mà con người gửi gắm. Điều này khác hẳn với tàu điện bánh sắt - đường ray. Tàu điện là phương tiện văn minh của một thời. Đối với thế hệ người Hà Nội năm nay trên dưới tứ tuần, một thời họ đã quen với những tiếng leng keng. Nhưng khi các phương tiện giao thông văn minh hơn, vừa túi tiền hơn, phù hợp với sở thích hơn như xe máy, ôtô đã trở nên phổ biến thì sự thiếu vắng tiếng leng keng của tàu điện không còn quan trọng, nó chỉ gợi lên kỷ niệm của một thời, và đám trẻ choai choai cũng không háo hức nghe kể chuyện ngày xưa cha chúng từng đu boong, nhảy tàu “xiếc” như thế nào. Tàu điện như thế chỉ còn là kỷ niệm của ký ức thế hệ chứ không phải là ký ức của thời gian (?). 

 

Với trình độ phát triển của thời đại, ngày nay con người đã có khả năng sản xuất quần áo hàng loạt, sản xuất xe máy hàng loạt, tivi hàng loạt, máy vi tính hàng loạt, máy bay hàng loạt… nhưng thiết nghĩ khó có thể tổ chức sản xuất hàng loạt để làm ra những cây đào khác nhau. Vì như trên đã nói, trong sâu thẳm của nó mỗi cây đào là “một cá tính thẩm mỹ”, nên sẽ là một thách thức khó vượt qua nếu ai đó muốn gieo trồng chúng đại trà như gieo trồng hoa hồng trên những cánh đồng ở huyện Mê Linh. Tương tự như thế với “phở Hà Nội”. ở Hà Nội, không phải hàng phở nào cũng đông khách vì ngon, tính ra chỉ có vài ba hàng có khả năng khiến ai đó đã một lần ghé thăm là không quên được. Chủ nhân của mọi hàng phở có thể nắm vững “bí quyết” làm phở, nhưng thực hành như thế nào thì không phải bất cứ ai cũng thông thạo và làm ra kết quả đúng như ý muốn. Sau này biết đâu sẽ có người sáng chế ra một cái “máy làm phở” có thể đáp ứng cấp tập hàng nghìn thực khách, nhưng chắc chắn cái “máy” đó không tạo ra hương vị và không khí đặc trưng mà một ông chủ hàng phở phải mất hàng chục năm đứng trước quầy hàng mới rút đúc và chế biến được bát phở như là sự gặp gỡ giữa sở thích - khẩu vị của chính ông với sở thích - khẩu vị của số đông. Trong khi đó, bánh cuốn Thanh Trì, cốm Làng Vòng… xét đến cùng lại là loại sản phẩm có thể sản xuất hàng loạt, miễn là người sản xuất nắm được “bí quyết” nghề nghiệp. Có thể ở Thanh Trì, ở Làng Vòng, có gia đình làm bánh cuốn ngon hơn, làm cốm ngon hơn các gia đình khác, song các địa chỉ ấy chỉ có ý nghĩa trong phạm vi hẹp, còn khi hàng hóa đã được đem ra với công chúng rộng rãi, khi đã nằm trong đôi quang thúng theo bước chân duyên dáng của các cô gái làng dạo trên hè phố thì chúng không còn ý nghĩa ấy nữa, nếu không nói đã mất hẳn, và người ta chỉ biết đó là cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì - những đặc sản ngày nay đang ở trong tình trạng thực hư khó phân biệt!.

 

Xã hội phát triển, chúng ta không thể khư khư giữ lấy những cái cổ truyền, và về nguyên tắc, chỉ có “cái cổ truyền” nào tìm được tiếng nói chung với “cái hiện đại” thì mới có “cơ” tồn tại, còn nếu không, sẽ bị đào thải. Nhưng chính ở đây, lại cần có cái nhìn tỉnh táo trong khi chọn lọc, nhất là với những trường hợp “cái cổ truyền” lại góp phần tạo ra bản sắc riêng của mỗi “vùng văn hóa”. Về lâu dài, một câu hỏi thiết yếu đang đặt ra là có nhất thiết Hà Nội sẽ phải là một đô thị to lớn kỳ vĩ như Bắc Kinh, Tokyo… và xa hơn là New York, Paris… hay không, hay nó phải giữ được và bổ sung thêm những bản sắc riêng, vì nếu không Hà Nội sẽ trở thành bản sao của các đô thị đã phát triển trước nó. Vậy bản sắc tương lai của Hà Nội là gì, phải chăng chỉ là hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, hồ Thiền Quang hay cái sông “cụt” có tên Tô Lịch… Và phải chăng đến một ngày nào đó, viễn cảnh về một Hà Nội “ngựa xe như nước”, lèn ứ hàng chục triệu người sẽ trở thành hiện thực? Gần đây ở Phương Tây đã xuất hiện xu hướng xây dựng những đô thị mới theo mô hình “rải tập trung”, tức là xây dựng những đô thị “nhỏ và đẹp”, chỉ khoảng 50 vạn đến 1 triệu dân, có hệ thống giao thông liên hoàn. Trong điều kiện mức sống ngày càng được nâng cao, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc thông suốt thuận lợi, đặc biệt do phải chịu hậu quả của kiểu đô thị quá tải, người đông như kiến cỏ, nhà cửa chật chội…, ở phương Tây người ta đã phải nghĩ đến mô hình “rải tập trung”. Quy hoạch cho một thành phố phát triển như Hà Nội, lẽ nào lại không nên tham khảo những bài học mà người khác từng phải trả giá mới có được? Tầm nhìn chiến lược là tầm nhìn xa chứ không phải là tầm nhìn cho dăm bảy năm hoặc vài thập kỷ. Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, sự “bế quan tỏa cảng” cùng với kiểu tư duy tiểu nông nhỏ hẹp không cho phép cha ông chúng ta hướng tới một quá trình phát triển đô thị có lớp lang, có kế hoạch. Còn hôm nay trình độ và khả năng con người, điều kiện và tình huống xã hội đã khác xưa, điều đó đòi hỏi mọi sự quy hoạch đô thị cần phải phóng tầm nhìn “thấu” tới tương lai nếu không muốn hậu thế phải tốn công tốn của và tốn thời gian để khắc phục.

 

Nghĩ đi thì vậy, nhưng nghĩ lại thì vài ba sự kiện diễn ra gần đây đã không khỏi khiến nhiều người lo ngại. Karaoke bị lạm dụng, người ta nghĩ ngay đến việc cấm karaoke. Tai nạn giao thông trầm trọng, người ta nghĩ ngay đến việc cấm xe máy, thậm chí cấm xe máy ngoại tỉnh vào Hà Nội… Và tất nhiên là khi cần đất xây dựng, người ta nghĩ ngay đến việc giải tỏa vùng trồng đào Nhật Tân, với một lý do rất “giản dị” là trồng đâu chẳng được. Giống như các “sáng kiến” dành cho xe máy và karaoke, dường như những người có trách nhiệm đang dành sự quan tâm tới phần “ngọn” của các vấn đề mà chưa quan tâm đến phần “gốc” của chúng. Một khả năng hoàn toàn có thể sẽ xảy ra là đa số những người dân Nhật Tân được đền bù sẽ nhanh chóng trở thành “thị dân nông nghiệp”, và hiển nhiên con cháu họ cũng chẳng dại gì “kế tục” cái nghề chăm chăm bón bón, uốn uốn tỉa tỉa của cha ông. Để tránh hệ quả có thể xảy ra, liệu sẽ có bao nhiêu người Nhật Tân di cư đến vùng đất mới để tiếp tục nghề truyền thống của mình? Tin rằng sẽ không phải là một con số không thuộc về đa số.

 

Nhân sự kiện “hoa đào Nhật Tân” có khả năng mất hút tên gọi, thiển nghĩ hơn lúc nào hết, những người có trách nhiệm cần có kế hoạch cẩn trọng hơn nữa cho sự phát triển của Hà Nội, để Hà Nội không trở thành bản sao của các thành phố khác. Bức tranh về một Hà Nội - một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa hiện đại, đẹp, xinh xắn, có vùng trồng hoa độc đáo, lẽ nào không đáng tham khảo, không đáng để tự hào. Và nên chăng một ngày nào đó sẽ mất đi một mỹ tục văn hóa, khi vào ngày giáp Tết, người Hà Nội không còn được rủ nhau lên Nhật Tân thủng thẳng dạo bước thỏa sức ngắm nhìn, lựa chọn cho mình một cây hoa đào, một cành hoa đào ưng ý?

 

 

Một thời… “hồ dễ mấy ai quên”!

 

          Những con đường mới mở, những phố xá mới tinh, nhà cửa san sát, nhôm kính sáng choang, lập lòe quảng cáo. Đứng trên đê sông Hồng hướng ra xa, tầm mắt đã ít nhiều bị giới hạn bởi các ngôi nhà cao tầng nhấp nhô, không còn thấp thoáng bóng dáng khuất mờ của Tam Đảo, Ba Vì… Vậy là mới một hai chục năm, Hà Nội đã thay da đổi thịt, và hình như không còn lưu lại nhiều lắm dấu ấn của những ngày chưa xa. Cái hối hả của thời gian, sự bộn bề của công việc đôi khi như không làm cho ký ức trỗi dậy, nhưng trong dòng chảy của cuộc đời, quá khứ - hiện tại - tương lai cứ như luôn luôn hiện hữu và nếu một hôm nào đó trên đường, chợt nhớ rồi nói với con cái rằng góc phố này ngày trước có một chú Khách già thường đứng bán kẹo hồng và bánh “chín tầng mây”, gốc cây nọ là nơi cha đã chia tay mẹ để lên đường ra trận… thì một quá khứ tưởng chừng đã qua, lại trở nên hiển hiện.

 

          Nhớ ngày mở đường Thanh Niên, anh chị tôi và bạn bè cùng lứa cơm nắm cơm đùm, người đi tầu điện, kẻ cuốc bộ, ai phong lưu mới có chiếc xe đạp vắt vẻo đèo nhau, tất cả ra công trường. Xẻng cuốc lỉnh kỉnh. Vậy nhưng vui. Vậy nhưng hồ hởi. Mà với con mắt trẻ thơ của tôi, ngày ấy Hồ Tây sao mênh mông thế. Cái ấn tượng mênh mông nhìn mãi không thấy bờ còn theo tôi suốt đến tận hôm nay, dù đã biết có một tỷ lệ nghịch về kích thước các đồ vật khi người ta lớn lên. Cuối năm 1970, thành phố tiến hành đào hồ Giảng Võ, huy động cả thanh niên, học sinh, đến lượt tôi cũng cuốc, cũng xẻng, cũng cơm nắm bánh mì… mặt mũi lấm lem cùng bạn bè làm hồ Giảng Võ. Chúng tôi lốc nhốc kéo nhau đi. Đứa đi bộ. Đứa đi xe điện. Đứa đi xe đạp. Dụng cụ lao động có công trường lo, nước chè tươi để trong thùng “phuy”. Lạ thế, trong những ngày cả nước có chiến tranh mà giữa Hà Nội lại mọc lên một cái công trường, đông nghịt những người là người. Công trường làm hồ Giảng Võ thật sự là một công trường xã hội chủ nghĩa, cờ đỏ phất phới, loa phát thanh oang oang. Tôi to lớn lộc ngộc vào hàng “đầu bảng” của Chi đoàn thanh niên lớp 10 nên được phân công đứng “thủ mai”. Con trai Hà Nội mà cầm mai xắn đất miếng nào ra miếng nấy. Buồn cười nhất là chuyện mấy tay cùng học một lớp thi thoảng lại lên phòng phát thanh của công trường xung phong hát một bài, giọng như ống bơ gỉ. Biết tỏng là chúng láu cá trốn việc, mọi người châm chọc mà chúng tỉnh queo… Mệt nhưng hồ hởi. Cái hồ hởi của những người trẻ tuổi, thấy việc là làm, thấy ồn ào là ngó nghiêng. Buổi sáng những hôm đi lao động, mỗi đứa chúng tôi đều mang theo cặp-lồng đựng bữa ăn trưa. Thương con lao động vất vả, gia đình nào cũng cố chuẩn bị cho con bữa ăn cho tươm tất. Trưa đến, chúng tôi kéo nhau sang Thủ Lệ để bày mâm bát. Ngoài cơm độn ngô hay độn mì sợi, đứa nào cũng chỉ có vài miếng đậu phụ dim, chút bí đỏ sào, nhúm rau muống luộc, mấy hạt lạc rang muối phủ trắng. Đứa nào có quả trứng thì chia đều, có khi chủ nhân quả trứng chỉ còn một mẩu. Vậy mà vui. Vậy mà ầm ĩ ra trò!

 

          Đường Kim Mã bây giờ thẳng băng hai làn xe chạy, liệu ai nhớ vài chục năm trước nơi đây phố xá vắng teo. Ra khỏi đầu phố Núi Trúc là gặp ao hồ, đường xe điện cao hơn mặt đường quãng nửa mét. Đối với cánh học trò đi học sơ tán ở Cầu Giấy như chúng tôi, đây làm thao trường biểu diễn trò “nhảy tàu”, cứ như là cascadeur. Thằng nhảy từ tàu điện xuống xe đạp, đứa nhảy từ xe đạp lên, rồi “đu boong”, rồi leo từ toa này sang toa khác. Đám bạn bè cùng tôi lao động ở hồ Giảng Võ ngày xưa giờ đầu đã hai thứ tóc, có tay đã lên ông lên bà. Hôm nào cao hứng rủ nhan ra “bãi bia”, cười nói ồn ào. Nhìn người bạn gái tôi từng “thầm yêu trộn nhớ” một thời lại thấy vui vui, nhớ đến cú chạm tay như bị “điện giật” lần bạn đưa cho bát nước chè xanh ngoài công trường. Vậy mà đã vài chục năm. Có lẽ ngày ấy chẳng mấy ai hình dung ra một chiếc hồ Giảng Võ đẹp như hôm nay, nước trong xanh, liễu rủ hàng hàng và bóng những ngôi nhà nhiều tầng. Hóa ra ngày ấy mình lao động cho con cháu mình, cho Hà Nội ngày mai thật. Hàng chục năm trước, gặm bánh mì kẹp ca-la-thầu ngồi nghe cán bộ Đoàn động viên lại nghĩ chỉ là chuyện xa lắc xa lơ…! 

 

          Lại nhớ một sinh hoạt văn hóa từng khá thịnh hành ở Hà Nội từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước mà cho đến gần đây lại thấy như đang mai một, đó là các điểm biểu diễn ca nhạc (nói theo ngôn ngữ bây giờ là “tụ điểm”) hàng tuần, nơi cứ đến tối thứ bảy mọi người lại náo nức tập trung đến xem. Tôi còn nhớ mấy điểm biểu diễn, như trên quảng trường trước cửa Ngân hàng Nhà nước, nhà tám mái trong vườn hoa Lý Thái Tổ, trước cửa Đền Bà Kiệu… Ở đó thời nhỏ tôi đã nhiều lần được nghe các nghệ sĩ Minh Đỗ, Thương Huyền, Thanh Huyền, Quốc Hương, Mai Khanh, Trần Khánh, Trần Thụ, Trần Hiếu…, và sau này là các anh chị Thúy Hà, Bích Liên, Mỹ Bình, Lô Thanh, Quang Hưng, Mạnh Hà, Trần Tiến,… hát. Xem ca nhạc không mất vé, ra vào tự do. Người đến sớm kiếm được chỗ gần sân khấu thì ngồi phệt xuống đất, kẻ đến sau thì đứng như xếp hàng cùng nghển cổ lên xem, thậm chí tôi thấy có anh còn chịu khó giữ xe đạp để bạn gái đứng lên gac-ba-ga nhìn cho rõ, trông cứ như làm xiếc. Khoái nhất là những hôm có Đoàn Quân nhạc tham gia biểu diễn, bác Đinh Ngọc Liên đứng chỉ huy, kèn sáo sáng bóng, nhạc công khoác quân phục chỉnh tề, các giai điệu hùng tráng cất lên. Thật mê ly, nghe mãi không chán! Tôi biết những bài hát như Tình ca, Nhạc rừng, Những ánh sao đêm, Xa khơi, Bài ca anh Hồ Giáo, Bế Văn Đàn sống mãi… rồi Nhạc chiều, Trở về Sôrientô, Mặt trời của tôi, Palôma, Santa Luxia… là từ ngày được các anh chị tôi “kiệu” lên vai đến xem ở các điểm biểu diễn ca nhạc như thế. Xem xong, mấy anh em ra về, lon ton chạy ven Bờ Hồ. Hôm nào trước khi đi được bố mẹ cho mấy hào thì ghé qua hiệu kem Hồng Vân, Long Vân mua mỗi người một chiếc rồi kéo nhau ra Bờ Hồ ngồi nhấm nháp, tinh thần xem ra có phần hỉ hả. Những bài hát đẹp và trong sáng từ ngày ấy đã theo suốt tuổi thơ tôi, trong những năm đi học sơ tán, rồi lại theo tôi ra chiến trường… Tới hôm nay, tôi vẫn nhớ như in…!

 

          Hà Nội những năm đầu thế kỷ XXI như đang thưa dần những anh tào-phớ, những chị bán cốm đầu mùa có lá sen xanh, lạt rơm xanh cùng đôi quang thúng có chiếc đòn gánh hai đầu uốn cong, không còn những gánh phở khuya khói thơm nghi ngút, vắng bóng những chiếc xe đẩy bán thịt bò khô kéo khua lách cách, không còn những gánh cháo hoa đậu phụ rim mà những sáng mùa đông bà nội tôi thường gọi vào nhà. Thấy tôi thắc mắc, bà tôi bảo gọi là “cháo hoa” vì hạt gạo nở như những bông hoa và tôi tỷ mẩn ngồi đếm mỗi thìa mình “chén” được bao nhiêu bông… Lớn lên đọc sách, thấy nói xưa kia người Trung Hoa trước khi vào bữa mâm cao cỗ đầy bao giờ mỗi thực khách cũng được mời một bát cháo như là muốn gửi theo một lời răn dạy rằng hôm nay bạn được “xơi” sơn hào hải vị thì không được quên những ngày từng “húp cháo”, thứ cháo nấu theo kiểu đó được người Việt gọi là “cháo Hoa”. Giải thích của bà nội tôi và điều tôi đọc được trong sách đều có lý, riêng tôi, lúc bông phèng với bạn bè thì lại “xuyên tạc”: có khi đấy là “chiêu thức” của mấy bác “bợm rượu”, trước khi chén chú chén anh thì làm một bát cháo để “đổ bê-tông”! Bà nội tôi còn sống, liệu có vừa lòng với một đứa cháu tếu táo như tôi không nhỉ?...

 

          Cuối những chiến tranh phá hoại, vì gia đình không đi sơ tán nên hàng ngày từ sáng sớm tôi đã đứng chờ xe buýt ở Ngã Tư Sở để “ra” Cầu Giấy đi học. Ngã Tư Sở ngày ấy không như bây giờ, nhỏ và hẹp, giữa ngã tư có chiếc cột đồng hồ bằng gang có từ thời Pháp thuộc, cao ngất ngưởng. Đứng trên vỉa hè chờ xe, hôm nào tôi cũng được “ngửi” mùi vani từ một cửa làm hàng bánh quy gai quy xốp cạnh đấy toả ra, thơm điếc mũi. Tôi để ý thấy trước khi đi học, trẻ con nhà này bao giờ cũng cầm một miếng bánh xốp vàng hươm, to bằng bàn tay, vừa đi vừa nhai nhồm nhoàm. Nhìn mà phát thèm. Thời ấy, bữa sáng của đám trẻ con chúng tôi nếu không là bát cơm nguội nấu bằng “gạo hẩm” rắc muối vừng thì cũng là nửa chiếc bánh mì kẹp một miếng ca-la-thầu đen sì, mặn chát. Hôm nào rủng rỉnh lắm thì mẹ cho một hào, đến cửa hàng ăn uống Cầu Giấy hay cửa hàng mậu dịch cạnh chỗ tránh xe điện trên phố Nguyễn Thái Học - đối diện với Viện Gớt bây giờ, xơi một bát “mì không người lái”. Đấy là bát mì sợi chan nước dùng trong vắt, thoang thoảng mùi xương lợn, không thịt, không hành, bốc khói nghi ngút, vào buổi sáng mùa đông mà có bát mì để húp sì sụp là sung sướng lắm rồi. Buồn cười nhất là một hôm thằng bạn đang đứng gọi tôi vào chén “mì không người lái” thì chú công an tóm được. Chú bắt nó đứng nghiêm, đọc đi đọc lại một trăm lần đúng một câu: “Mì không có thịt chứ không phải mì không người lái. Mì không có thịt chứ không phải mì không người lái…!”. Từ đó trở đi, nhắc đến “mì…” là đám học trò chúng tôi chỉ thì thào chứ không gào to như mọi khi. Vâng, trong hoàn cảnh ấy mà lại có được miếng bánh xốp như ở Ngã Tư Sở kia thì đúng là “đế vương”!

 

          Kể cũng lạ, thời ấy mọi người đều khổ, đều thiếu thốn, mãi rồi cũng quen. Đám trẻ chúng tôi thuộc lòng các loại tem phiếu, hôm nào nghỉ học, từ sáng sớm đã rủ nhau đi xếp hàng mua chất đốt, mua thịt, mua đậu phụ, mua nước mắm… Đứa nào mua được miếng thịt lợn ngon, về nhà mẹ khen nức nở, xem ra cũng phần tự hào! Gia đình nào có người nhà làm nghề bán lương thực, thực phẩm thì đúng là một điều may mắn vô cùng. Cách đây không lâu, ngồi tào lao ở nhà anh bạn trên phố Cầu Đông, tôi nhắc lại bát mì có cà chua và thịt do chị Hạnh của anh bạn nấu cho ăn, cả nhà ngạc nhiên, sực nhớ những năm đó chị Hạnh bán lương thực ở Bờ Hồ! Tuy khổ và thiếu thốn, nhưng người Hà Nội vẫn giữ được thói quen làm đẹp, thấy chị gái có mái tóc “phi-dê” xoăn tít, tôi đua theo mấy thằng bạn hát rống lên theo một bài hát bị pha phách thành “người phi-dê trông cao-bồi, người phi-dê trông chán ghê…!”. Anh trai tôi cũng thích ăn diện, anh có một bộ đồ làm bằng sắt, cái thì trông như chiếc đũa cả, cái thì trông như chiếc kìm, thi thoảng tôi thấy anh ngồi chầu hẫu trước bếp mùn cưa, hơ hơ nướng nướng rồi hí húi... ép tóc. Bộ đồ đúng “mốt ăn chơi” của thanh niên Hà Nội ngày ấy là giầy ba-ta xanh, mũ lưỡi trai xanh, quần ka-ki xanh may theo kiểu “ống tuýp” bó chặt lấy chân, còn phần trên là chiếc áo bộ đội gọi là áo “Tô Châu” vừa dài vừa rộng thùng thình. Các anh thanh niên đi xe Phượng Hoàng thì hai đầu gối phải cố chìa ra hai bên, anh nào gầy gò, đầu gối trông nhọn hoắt. Người sang nhất thì có quần si-mi-li, anh trai tôi cũng có một chiếc, tôi thấy giặt xong phơi khô là anh lại mặc ngay, nên anh bị cả nhà trêu là “công tử nhất bộ”. Ngày ấy, sự thiếu thốn về vật chất xem ra còn xâm nhập và trở thành một tiêu chuẩn trong lĩnh vực tình yêu. Như những câu đồng dao thời đó, với tình yêu sang trọng thì: “Một yêu anh có Sen kô - Hai yêu anh có Pơ giô cá vàng...”, còn với tình yêu bình dân thì có vẻ thiết thực, cụ thể hơn: “Một yêu anh có may ô - Hai yêu anh có cá khô ăn dần...”!

 

          Trong ký ức của nhiều người trong chúng ta, “thời ba cấp” có thể được hiểu như là một khái niệm, như là một giai đoạn lịch sử hay như là một hoàn cảnh sống… Nhưng dẫu đó là gì thì “thời bao cấp” đã từng tồn tại như một thực tế mà hôm nay mỗi khi nhắc đến, người lớn tuổi thì… tủm tỉm cười, còn người trẻ tuổi thỉ không khỏi tò mò. Sau hai mươi năm đổi mới, những chiếc phiếu vải, phiếu thịt, phiếu đậu phụ, phiếu nước mắm, phiếu chất đốt... xanh xanh đỏ đỏ; những chiếc quần bạc phếch và có miếng pích-kê dày cộp; những chiếc sơ-mi màu cháo lòng đã “lộn cổ” từ phía trước ra phía sau; những đoàn người lam lũ kiên nhẫn cùng mũ nón, gạch đá chầu chực xếp hàng trước quầy lương thực; những chú ỉn hì hụi xoay trở trong công trình phụ… lại một lần nữa xuất hiện, nhưng lần này là các hình ảnh của “thời bao cấp” mới được phục dựng và trưng bày trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Những hình ảnh ấy chưa phai mờ trong trí nhớ của những người cùng thời với chúng, vậy mà lại như xa lắc xa lơ và lạ lẫm trước trước con mắt của lớp người trẻ tuổi. Đã có thời như vậy hay sao? Cha mẹ ông bà đã sống như thế nào…? Trong nhà Bảo tàng thi thoảng lại thấy thì thào một câu hỏi, và thật kỳ lạ, dường như câu trả lời lại có vẻ hảo sảng hơn hoặc hóm hỉnh hơn. Chúng ta từng sống như thế. Ăn đói, mặc rét, thiếu thốn đủ đường. Chúng ta đã vượt qua những khó khăn như thế. Để hôm nay nhìn lại, dẫu có vương vất nỗi buồn về một thời gian khó thì các ví von ngộ nghĩnh: “buồn như mất sổ gạo”, “quý như mì chính cánh”, “lừ lừ như tầu điện” đã trở thành điển tích của ngày hôm qua.        

 

          Vật đổi sao dời, cái hối hả của cuộc sống như đang cuốn mỗi người trong chúng ta đi, để vào một lúc nào đó rảnh rỗi ngẫm nhìn về quá khứ mới nhận ra cuộc đời đã đổi thay rất nhiều. Những ước mơ giản dị, những nhu cầu thiết thân từng là điều mong mỏi hàng ngày của thế hệ đi trước nay không còn là điều bức xúc. Và trong tính liên tục của nó, lại thấy thấm thía điều Nguyễn Hồng Linh (34 tuổi, ở 78 phố Mã Mây - Hà Nội) đã viết trong Bảo tàng: “Chính trong thời gian khó ấy, chúng tôi mới thật sự thấm thía hết những tình cảm gia đình. Sự hy sinh hết lòng của ông bà, cha mẹ cho con cháu khiến thế hệ chúng tôi cảm thấy mình đang mắc những món nợ rất lớn. Muốn trả được món nợ cho gia đình và xã hội, không còn cách nào khác hơn là phải vượt lên mọi hoàn cảnh để làm giàu một cách chính đáng”. Vâng, đó cũng chính là tâm niệm của tất cả chúng ta!

 

“Học sử không cần tư duy... !”?

 

        Tôi có một anh bạn yêu thích văn chương nhưng khả năng sáng tác lại hạn chế, anh hơi buồn. Một lần anh tâm sự với tôi: mình hy vọng đứa con lớn sau này sẽ theo nghiệp văn chương, nó viết văn hay ra phết. Anh đưa tôi xem mấy bài tập làm văn của cháu. Toàn điểm 8, 9. Đọc thấy đôi chỗ cháu tỏ ra có khả năng cảm thụ khá tinh tế. Tôi nửa đùa, nửa thật: ông nên quan tâm đến nó, ông không theo được văn chương, biết đâu nó lại thay ông làm việc ấy. Được tôi chia sẻ, anh phấn khởi lắm. Từ đó trở đi, thi thoảng anh lại thông báo kết quả học tập của cháu, điểm Văn khá cao, và cháu viết cũng có phần "lên tay". Kết thúc năm học 2001 - 2002, không hiểu sao bạn tôi tỏ ra băn khoăn: điểm tổng kết môn Văn của cháu mấy năm trước đều trên dưới 9 điểm, nay bỗng tụt xuống còn hơn 7 điểm, mà bài vở của cháu vẫn không đến nỗi nào. Tra vấn mãi, cháu thú thật: hồi đầu năm học, lớp cháu có thầy dạy Văn mới, giảng về Hịch tướng sĩ, thầy nói Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải là hai tướng giỏi của nhà Trần, nhưng hai ông không phục tài nhau, dẫn đến mâu thuẫn. Về sau, vận nước lâm nguy, Trần Quốc Tuấn đã gạt sang một bên mối mâu thuẫn để hai ông cùng nhau lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Thấy thầy nói không chính xác, cháu xin được đính chính rằng, mâu thuẫn giữa Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải không phải do hai ông không phục tài nhau mà có nguồn gốc từ quan hệ giữa Trần Liễu và Trần Cảnh, rồi cháu kể lại câu chuyện Trần Liễu và Trần Cảnh để cả lớp cùng nghe. Thầy không nói gì, nhưng từ đó, dù cháu có có chuyên chú học hành đến đâu thì điểm số môn Văn cũng không khá hơn. Hóa ra, cháu bị thầy "trù". Thầy "trù" vì cháu đã chạm tới sự hời hợt trong kiến thức lịch sử của thầy!

 

Mấy năm nay, báo chí đã nhiều lần lên tiếng về kiến thức lịch sử của học sinh phổ thông, thậm chí còn báo động về tình trạng học sinh lười học môn Lịch sử, nên có em không biết Hùng Vương là ai, có em lẫn lộn các sự kiện theo kiểu "râu ông nọ cắm cằm bà kia"…. Chuyện này thiết nghĩ rất quan trọng, nhưng trước khi bàn tới việc học Lịch sử của con em chúng ta, có lẽ cũng cần tiếp cận vấn đề từ nhiều người trong chính chúng ta - những "người lớn", trong khi tiếp nhận và truyền bá kiến thức lịch sử.

 

Cách đây không lâu, trên một tờ báo không kém phần uy tín, một nhà nghiên cứu hùng hồn khẳng định: trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam chưa bao giờ chữ Hán là văn tự chính thức của triều đình…! Tương tự, khi một nhà thơ viết: Đâu phải người nước Vệ - Mới có Lã Bất Vi? lập tức một tác giả khác sửa sai: "Xưa nay sử sách đều ghi là Lã Bất Vi vốn người đất Dương Địch thuộc nước Tần chứ chưa thấy ghi là người nước Vệ. Phải chăng tác giả bài thơ đã nhầm Lã Bất Vi với Kinh Kha?!". Hẳn là nhà thơ không nhầm vì trong lịch sử Trung Hoa xưa kia chỉ có một ông Lã Bất Vi (? - 235 Tr.CN) xuất thân trong một gia đình thương nhân ở Bộc Dương thuộc nước Vệ (vùng Hà Nam - Trung Quốc ngày nay), sau ông sang nước Hàn, buôn bán phát tài, tài sản tích lũy lên tới "thiên kim"(mỗi kim tương đương với 20 lạng vàng); năm thứ 42 đời Tần Chiêu vương - năm 265 Tr.CN, ông tới Hàm Đan nước Triệu để buôn bán, kinh doanh, tại đây, ông gặp Công tử Dị Nhân của nước Tần được ông nội là Tần Chiêu vương đưa tới nước Triệu làm con tin; từ đó ông bắt đầu sự nghiệp "buôn vua", như sau này người ta thường gọi. Chỉ tiếc là với kiến thức lịch sử như thế mà người ta vẫn lên tiếng bắt bẻ như không! Còn vài năm trước, một lần tôi may mắn được hàn huyên với một nhà văn có tiếng là thông thạo lịch sử (ông cho biết đã đọc đến thuộc lòng các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục…). Luận bàn về vị trí của Phật giáo trong lịch sử Việt Nam, tôi dẫn lại câu chuyện nhà sư Vương ái dâng vua Lý "cây cau một gốc đẻ bảy mầm" nhà vua không nhận và tôi bình luận tại sao trong lúc Phật giáo thịnh trị mà một nhà sư phải dâng vua một cống vật mang màu sắc Đạo giáo như vậy? Nhà văn không tin, hỏi tôi đọc ở đâu, tôi nói trong sách Cương mục, ông vẫn không tin, ông đọc kỹ cuốn này mà có thấy đâu. Không tranh luận, về nhà tra cứu xong, tôi gọi điện thoại đề nghị ông đọc trang 373 sách Khâm định Việt sử khâm giám cương mục, tập I, NXB Giáo dục, H. 1998. Ông cảm ơn và từ đó không liên hệ với tôi nữa. Cũng từ đó, tôi có phần nghi ngờ các tác phẩm viết về lịch sử của ông. 

 

Lại nhớ, hồi con tôi còn học tại một trường trung học cơ sở, 4 năm với 8 lần họp phụ huynh là 8 lần tôi được nghe thầy giáo dạy Toán của cháu lặp đi lặp lại điệp khúc: các vị cần động viên các cháu tập trung học môn Toán, chỉ có môn Toán mới dạy các cháu tư duy, còn các môn Văn, Sử chỉ cần học thuộc, không cần tư duy! Biết là thầy phát ngôn tùy tiện, nhưng "qua sông phải lụy lái đò", tôi đành chỉ biết nghe. Về nhà hỏi con, cháu nói ở lớp thầy cũng bảo thế! Thử hỏi, trên bục giảng người dạy trau dồi cho học sinh một quan niệm như vậy thì điều gì sẽ xảy ra? Xin dẫn lại những con số về số lượng thí sinh dự thi các môn Chuyên năm học 2002 - 2003 của Trường Trung học phổ thông Chu Văn An đăng trên báo Hà Nội Mới số ra ngày 20.6.2002: dự thi môn Tiếng Anh có 974 em, dự thi môn Toán - Tin có 803 em, dự thi môn Văn có 380 em, dự thi môn Lịch sử có 67 em… Tò mò về con số này, trước giờ thi, nhập vào đám đông tập trung trước cổng trường, tôi hỏi vài cháu: môn Sử ít người thi như thế sao cháu không thi? và đều nhận được câu trả lời: thi Sử phải học thuộc lòng nhiều quá. Một cháu chỉ bạn trai đứng gần, hồn nhiên nói với tôi: hồi nọ thằng kia đi thi học sinh giỏi thành phố, nó học thuộc cả hai tập sách giáo khoa Sử mà nó không thi Chuyên Sử, nữa là cháu. Hóa ra theo quan niệm của các cháu thì Lịch sử là môn học thuộc lòng! Theo chỗ tôi biết, chương trình môn Lịch sử trong 12 năm phổ thông của học sinh hiện được phân bố tương đương với ba cấp học: Tiểu học, Trung học Cơ sở, Phổ thông Trung học (riêng cấp Tiểu học, phần Lịch sử được đặt trong một môn học chung là Tự nhiên và Xã hội). ở cả ba cấp, học sinh đều học lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến gần đây (1992) tức là mỗi học sinh tốt nghiệp Phổ thông Trung học đã có ba lần học lịch sử Việt Nam theo một quá trình: từ đơn giản, sơ lược đến phức tạp, chi tiết để phù hợp với khả năng tiếp thu của từng lớp tuổi. Không dám khẳng định chương trình môn Lịch sử như vậy đã được thiết kế đúng hay sai, tôi nghĩ về thông sử có lẽ còn chưa kỹ, và sự lặp lại ba lần trong 12 năm phần nào đó có thể tạo ra "sức ỳ" trong tiếp nhận kiến thức, chưa tạo ra sự hấp dẫn, sự hứng thú và yêu thích trong người học. Phải chăng chương trình này được thiết kế cho phù hợp với tình hình giáo dục cách đây gần nửa thế kỷ, khi chúng ta xác định mục tiêu "phổ cập cấp I" cho toàn dân và nhằm tạo điều kiện cho bất cứ người nào đã thanh toán xong chương trình cấp I, nếu không học lên nữa thì cũng võ vẽ đôi ba kiến thức về lịch sử nước nhà. Phải chăng giải pháp tình thế ấy đã trở thành một nguyên tắc chi phối cách thức thiết kế chương trình bộ môn Lịch sử trong nhà trường?

 

Tình trạng học tới ba lần trong 12 năm mà học sinh vẫn không chuyên chú với lịch sử dân tộc quả là một tình trạng đáng để chúng ta lưu tâm. Thiết nghĩ, môn học nào được giảng dạy trong nhà trường cũng đều quan trọng, tuy nhiên, mỗi bộ môn lại có vị trí, vai trò khác nhau, trong đó có thể coi Lịch sử là môn học có ý nghĩa nền tảng cho nhiều bộ môn khác. Chúng ta không thể nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc, không thể nói đến lòng tự tôn, lòng tự hào dân tộc cùng vô vàn những nội dung có liên quan tới văn học, ngôn ngữ, tôn giáo, kiến trúc, kinh tế… nếu thiếu đi yếu tố lịch sử. Phải khẳng định rằng không thể đặt vấn đề phát triển các lĩnh vực kể trên nếu chia cắt một cách siêu hình mối quan hệ giữa chúng với lịch sử của chúng. Mà lịch sử của các lĩnh vực này lại liên quan chặt chẽ với lịch sử nói chung, hay nói cách khác, chính lịch sử của các lĩnh vực này đã tham gia cấu thành nên lịch sử. Thờ ơ với lịch sử dân tộc, lỗ mỗ về lịch sử dân tộc có thể không đưa tới hậu quả trực tiếp cho cuộc sống của mỗi con người cụ thể, song sẽ không quá lời nếu coi đó là một hiểm họa cho mai sau. Không thể nói tới chuyện hướng tới tương lai nếu không biết (không cần) nhìn lại nhìn lại quá khứ. Dẫu học lịch sử không phải để máy móc làm theo lịch sử, thì lịch sử cũng là một trong những cái chúng ta cần học để đi tới tương lai. Với ý nghĩa đó, đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận đúng đắn hơn về ý nghĩa của việc học môn Lịch sử trong nhà trường, lẽ nào đây không phải là một trong những phương cách đem tới cho hậu thế một lòng tự tin, một lòng tự tôn khi họ đi tiếp con đường của chúng ta?