|
Ba tôi, một người nông dân Nguyễn Minh Hiền
N hững câu hát trên đây trích từ bài “Trong mùa lúa” của Văn Lương. Tôi không nhớ rõ bài hát sáng tác khi nào, chỉ biết năm 1965, ở chiến khu Đông Nam bộ, tôi được xem hoạt cảnh hát múa này do nhóm bạn diễn nhí của tôi ở đoàn văn công Giải Phóng dàn dựng. Ca từ giản dị và giai điệu pha chút dân ca nên dễ hát, dễ thuộc. Khi sắp qua tuổi tri thiên mệnh và ba tôi không còn hiện diện trên cõi đời này, tôi bỗng nhớ và thắm thía những câu hát đó, như một phát hiện. Đúng rồi, ba tôi là một người nông dân. Ông là con người gắn bó máu thịt với đất, mảnh đất nhỏ của tổ tiên mình.Người nông dân là ba tôi cũng đã từng sớm hôm trên đồng ruộng, cấy cày. Ông vác cuốc ra đồng khi gà gáy canh ba và trở về nhà khi chị em chúng tôi vừa cắp sách đến trường. Từ ruộng về, trên vai ba tôi vẫn là cây cuốc cán dài, nhẵn bóng, bộ quần áo bà ba đen ướt sủng vắt ngang. Một bên tay ông là cái đụt đầy lươn cá tự tay ba tôi bắt ngoài ruộng. Ba tôi tự nấu các món mà ông thích, ăn cơm trước và chừa phần còn lại cho chị em chúng tôi. Chúng tôi đi học về, thường thì ba tôi đã ngủ, lưng trần trên chiếc võng thắt bằng dây đay, thô nhưng êm và mát, chiếc áo bà ba đen vắt hờ ngang bụng. Khi chị em tôi còn nhỏ, ba hay dùng chiếc khăn rằn quấn cổ của mình lót trên võng cho chúng tôi nằm chung, ba vừa đưa vừa ru bằng nhiều giọng thơ khác nhau, khi truyện Kiều, khi Lục Vân Tiên hoặc những câu hát dân gian, những câu ca dao. Cũng có lúc ba đổi giọng bằng những câu thơ trúc trắc của Đoàn Thị Điểm hoặc Hồ Xuân Hương. Có mấy câu nghe ba tôi thường đọc “ ...Giọt máu nóng thấm quanh hồn nước/Chút thân tàn lần bước dặm khơi/Trông con tầm tã châu rơi/Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên” mà mãi đến sau này, khi được học hành đến nơi đến chốn tôi mới hiểu tác giả của nó là ai và câu thơ ra đời trong bối cảnh nào. Tuy nhiên, ba tôi có tật dễ mềm lòng với men rượu, ông say mèm và bi kịch là chị em chúng tôi phải đứng xếp hàng từ lớn tới nhỏ không thiếu vắng đứa nào, khoanh tay thật tròn bên cạnh ba tôi cho đến khi nào ba tôi ngủ say. Má tôi ghét hành động này của ông và cho rằng ba tôi hành hạ con cái một cách vô lý. Và vô lý thật, khi ba má tôi cãi nhau vì chuyện không đâu này. Khi chúng tôi đã trưởng thành, ba tôi đã già, có lần tôi hỏi, hồi đó ba hay bắt tụi con đứng khoanh tay bên ba để làm gì. Ba tôi cười, một nụ cười thật hiền: tại rượu đó mà. L àng tôi thật nhỏ, một phía ven sông Sài Gòn là những cánh đồng xanh mượt. Phía trên gò cao là con đường liên tỉnh nối với Sài Gòn và cả với Bình Dương, Long An, Tây Ninh. Đường làng thường phủ kín bằng những hàng tầm vông hoặc tre tàu rất đẹp. Nơi đây xưa kia là căn cứ kháng chiến. Địa đạo và chiến hào giăng đầy. Khi tôi còn nhỏ, đồng ruộng xanh rì. Những ngày giáp Tết, mùi lúa mới thơm nồng, cánh đồng ven sông như một thảm lúa vàng. Những năm tháng chiến tranh dữ dội nhất, làng tôi thành bình địa, thành vùng trắng. Những người nông dân và du kích bám đất sống cùng nhau. Họ được rèn luyện kỹ càng như những người lính trận bởi bất cứ đám ruộng xanh nào cũng đều được xem là kho dự trữ lương thực của du kích. Mỹ - ngụy căm thù cả màu xanh của hoa lá cỏ cây, cả ruộng lúa vàng ươm nên cứ nhằm đúng những cánh đồng mà rải chất khai hoang và bom tấn, pháo bầy. Đương nhiên, người nông dân khi đó cũng là mục tiêu bắt sống hay ít ra cũng là mục tiêu di động “tìm và diệt” của những khẩu AR15 trên những chiếc cá rô quạt tung các cánh rừng, vườn cây. Nông dân Củ Chi kể: lính trên những chiếc trực thăng đó có thể vạch từng bụi lúa để bắt từng con cá nhỏ dưới mặt ruộng. Vậy mà những người du kích vẫn bám chiến hào, vẫn sống và tồn tại như những chiếc gai nhọn đâm nát kẻ thù. Người nông dân là ba tôi cũng đã tồn tại như vậy bất chấp sự hủy diệt của bom B52, pháo tầm xa và cả những trận càn xé võ trái đất của Mỹ thuở nào. Cũng có một thời gian ngắn ba tôi buộc phải rời khỏi làng khi ông bị bọn Mỹ xúc chở đi trên máy bay vào một trại tập trung. Ra khỏi trại, ông đi tìm má và em tôi đang tạm thời lánh nạn ở nhờ tại khu vực Tòa Thánh, Tây Ninh. Nhưng rồi ba tôi lại trở về cái làng nhỏ mà toàn bộ gia sản của ông đã nát tan. Ở đo, ông chỉ còn mấy người em và nhiều người cháu ruột. Ông sống với họ trong những căn hầm sâu trong lòng đất, chăm cho họ từng chút một, cả miếng ăn và canh cho họ từng giấc ngủ. Ông cũng là người duy nhất chứng kiến sự hy sinh của bao người thân yêu: những đứa cháu trai, cháu gái. Ba người anh con bác tôi hy sinh, ông khóc. Em gái con của chú tôi bị mìn chết, ông khóc. Đứa em trai con người cô ruột của tôi hy sinh, ông khóc. Ba tôi cùng với những người du kích phải lần lượt chôn hết người thân này đến người thân nọ như vậy trong vài ba năm ngắn ngủi. Nỗi buồn mất mát đó làm cho ba tôi quắc queo và chẳng bao giờ muốn rời xa mảnh đất đã thấm đẫm mồ hôi và máu xương của cháu con. Trong nhiều năm, ngôi nhà không lành lặn của ba tôi thành nơi tập trung của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực chuẩn bị cho nhiều đợt tấn công vào sào huyệt Mỹ – ngụy sau này. Nơi đó còn là điểm tựa cho những người trong làng tha hương vì chiến tranh trở về chốn cũ dựng lại ngôi nhà, hay phát hoang một vuông ruộng đầy cỏ Mỹ. Ba tôi dành cho họ tất cả tình yêu thương, chia sớt với nhau từng chén cơm cho đến những hạt gạo cuối cùng. Ngày ba tôi mất, bà con xóm làng chẳng thiếu một ai. Đặc biệt có một người thương binh sống sót trong cuộc chiến, trước đây từng đóng quân ở nhà tôi, đến thắp cho ba tôi nén nhang. Anh khấn và xin hương hồn ba chấp nhận anh như một đứa con. Nhìn lên di ảnh trong khói nhang nghi ngút, ba tôi như mỉm cười. Nếu còn sống, chắc ba tôi sẽ cầm chai rượu đế và rót hai ly đầy...Nhà nước có trao tặng ba tôi huân chương cao quý trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Rất tiếc, ba tôi mãi mãi không nhìn thấy tấm huy chương đó. Thành tích lớn nhất của ông là làm tròn bổn phận của một người nông dân – công dân. Có một vị nguyên Phó Chủ tịch UBNDTP. HCM, trong thời chiến tranh, căn hầm trú ẩn của cơ quan bà dưới gốc tre trước nhà tôi. Bà nói với mọi người rằng ba tôi là một người nông dân rất đặc biệt, nếu có ai đó yêu đất, chung thuỷ với đất chắc cũng chỉ bằng ông mà thôi. Ba tôi có tới sáu đứa con rễ và một con trai. Mỗi lần gia đình sum họp, ba tôi thường là người làm món nhậu. Món ăn do ba tôi nấu thường rất dân dã, đặc biệt là món lươn um bắp chuối, bắp bò luộc chấm nước mắm thấm, nhưng nhậu bắt cả mồi lẫn rượu. Mấy cha con mỗi người một ly như nhau. Những lúc vui khuya lơ khuya lắc, ba tôi thường nhắc khéo: “Ở nhà có thằng chồng nhậu thì khỏi nuôi chó vì đã có người canh cửa rồi. Cứ ba một ly, con một ly, đầu hôm thì chai êm chai gắt, tới nửa đêm thì chai gắt chai êm, ăn trộm rình mãi đành chào thua”. Mấy cha con cười vui vì tính hay tếu của ba tôi. Năm 1973, sau gần 10 năm vào chiến khu, trong một chuyến công tác ở khu Sài gòn – Gia Định, tôi được về nhà thăm ba tôi. Ba tôi nhìn tôi hồi lâu mới nhận ra. Năm 1964, khi đưa tôi theo đoàn tân binh lên R tham gia kháng chiến, ba tôi chi dặn tôi đúng một câu: “Đi thì không trốn về, ráng làm việc và học hành”. Ông nói rồi quay mặt đi, không nhìn theo tôi. Tôi về nhà mấy hôm, ngày nào ba tôi cũng đi đăng, cá tôm trên sông Sài Gòn lúc đó còn nhiều. Ba tôi nướng tôm càng xanh, làm cá dứa kho mẳn cho tôi ăn tha hồ. Dường như ba tôi muốn bù đắp cho tôi những ngày thiếu cơm lạt muối, sốt rét rừng. B à nội tôi mất sớm, trong kỳ sinh nở người cô là em kế của ba tôi. Ông nội tôi tục huyền với một người phụ nữ dám chấp nhận gánh nặng con cái nhỏ dại của ông. Nhưng chẳng may, ông nội tôi cũng mất sớm khi chưa quá tuổi năm mươi. Ba tôi cùng mấy người chị lo lắng chăm sóc, dạy dỗ nghiêm khắc các cô chú tôi khi họ còn nhỏ. Ông không phân biệt anh em giòng trước giòng sau, bên nội bên ngoại gì cả. Ngọt ngào, yêu thương nhau cho đến tận sau cùng. Khi anh em tóc đã trắng, ba tôi vẫn hừng đông lặng lẽ sang nhà cô tôi, nằm trên chiếc võng phía nhà phụ chờ cô tôi thức dậy. Pha cho ba tôi tách trà nóng hay chén cháo trắng với cá kho tiêu, đôi khi cả một ly rượu nhỏ. Hai anh em lại kể cho nhau nghe những câu chuyện của ngày xưa. Khi ba tôi mệt nặng, nghĩ mình không thể qua được, người mà ba tôi muốn gặp đầu tiên là bà nội kế của tôi. Ba tôi dặn chị hai tôi là bác sĩ phải chăm sóc bà nội chu đáo khi đau yếu. Chúng tôi hay hỏi đùa sao ba không viết di chúc, trao quyền thừa kế ruộng đất mà ba đang có cho tụi con. Ba tôi nói chắc nịch: Không có di chúc gì hết. Ruộng đất của ba chính là của tất cả các con, nhà này là của chung mấy chị em, đứa nào khó thì về ở. Cuối cùng, ba tôi chỉ dặn một điều thôi: nhớ cắt miếng ruộng nhỏ cho cô tôi, người vợ liệt sĩ nghèo khó với 5 đứa con cũng trong tình trạng thiếu thốn. Ba tôi không nói là đền ơn cô nhưng ba tôi luôn nhắc: ngày xưa, khi ba má tôi trốn một cuộc truy lùng nguy hiểm, cô tôi là người ẵm bồng, cực khổ với chị tôi. Cũng có một trường hợp khác, đó là người bạn của ba tôi phụ trách công an huyện Củ Chi, chính ông đã báo tin cho ba má tôi thoát được cái chết oan trong thời tảo thanh Hoà Hảo năm 1947. Ba tôi luôn nhắc tới người đó như một ân nhân. Trong thâm tâm ba tôi lúc nào cũng ghi nhớ những người đã một lần giúp đỡ - dù là nhỏ mọn nhất - mình hay người thân của mình.Ba tôi có một cách nghĩ kỳ lạ. Càng tình cảm bao nhiêu, càng tỏ ra cứng cõi bấy nhiêu. Ở trong nhà toàn con gái, chỉ có một đứa con trai, nhưng khi em trai út của tôi hỏi: “Nhà mình ba thương ai nhất”, em tôi hỏi và hy vọng câu trả lời của ba tôi sẽ xác tính ngôi vị số 1 của mình trong gia đình. Nhưng ba tôi không trả lời, ông nghiêm nét mặt: “Tao cho mày ăn học đàng hoàng, sao mày hỏi câu ngu dữ vậy?”. Mọi người cười nhạo em tôi, nhưng ai cũng biết rằng ba tôi luôn dành cho em trai tôi sự yêu thương như là duy nhất. K hông giống như mọi người, ba má tôi yêu nhau cũng kỳ lạ lắm. Má tôi được mệnh danh là hoa khôi của vùng Phú Mỹ Hưng khi bà ở độ tuổi trăng tròn. Không đông anh chị em, lại thuộc gia đình có của ăn của để và rất ngoan nên má tôi được họ ngoại tôi đặc biệt yêu thương. Ngược lại, ba tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, anh em đông đúc, nên gần như ông chẳng có tuổi thơ. Nhưng rồi duyên phận, má tôi đã chọn ba tôi. Thương con, chấp nhận gã, nhưng ông ngoại tôi quyết bắt rễ. Ba tôi cũng bằng lòng, nhưng không thể thực hiện lời hứa với ông ngoại khi các cô chú của tôi chưa trưởng thành. Năm 1947, trên đường dắt chị hai tôi về thăm ông ngoại, má tôi bị Tây bắt nhốt ở bót Hố Bò trong khi đang mang thai người chị gái kế của tôi. Sau khi đi làm đồng về nghe tin, ba tôi khăn gói quày quả đi thẳng vào bót xin ở tù thay cho má và chị tôi được tự do. Cậu tôi kể hoài chuyện này với chúng tôi, ông xem sự chọn lựa của ba tôi khi đó như một huyền thoại của tình yêu.Những ngày cuối đời ba tôi thường đau yếu. Ông cắn răng chịu đau. Ông thường nói với chúng tôi rằng tử sinh là lẽ thường. Già rồi cộng với đau yếu thì phải chết. Các lãnh tụ vĩ đại nhất thế gian này, có biết bao bác sĩ tài giỏi chăm sóc trực tiếp, thuốc men nhiều vô kể mà vẫn phải ra đi, không cưỡng lại được số mệnh. Ông tự đi chụp ảnh chân dung thờ của mình để sẵn. Hôm chúng tôi tổ chức mừng thượng thọ cho ba tôi, lần đầu tiên ông mặc áo dài khăn đóng. Trông ba tôi đẹp như một cụ đồ nho hơn là một người nông dân gắn bó với đất. Cũng từ lễ mừng thượng thọ đo, ba tôi thường nói với chúng tôi rằng đám tang của người già 80 tuổi như ba tôi thì phải tổ chức sao cho ấm cúng, sum vầy. Phúc họa vô ưu với người đã bát thập. B a tôi về với ông bà tổ tiên đã hơn mười năm. Ngôi mộ của ba tôi đặt trong khuôn viên nhà. Hằng ngày má tôi vẫn bên ba chăm sóc vườn cây. Cây bưởi ba tôi trồng ngày nào trái vẫn oằn cành, hoa vẫn rực rỡ. Sự ấm cúng của khu vườn xanh mát dường như càng tăng nỗi nhớ ba tôi - một người nông dân. Người nông dân đã trải một vùng sáng trên cánh đồng vàng của riêng tôi. Chính người nông dân cả đời chung thủy với đất ấy đã bắc cho chị em chúng tôi những bậc thang chắc chắn để thành NGƯỜI..Nguyễn Minh Hiền
Lên trang viet-studies ngày 17-1-12 |