BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

(TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VIỆT NAM)

 

Tham luận khoa học tại hội thảo DI SẢN VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT ĐÔNG NAM Á TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHÂU ÂU/ BA LAN, tổ  chức tại thành phố Krakow, Ba Lan, từ ngày 29/9 đến 2/10/2011.

TS. Nguyễn Thị Hậu

 Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

 

 

 

Thành phố Hồ Chí Minh (trước năm 1976 mang tên Sài Gòn) tọa độ 10º10' – 10°38' Bắc và 106º22' – 106°54' Đông. Có vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không trong nước và còn là một cửa ngõ quốc tế của Việt nam. Nằm ở vùng hạ lưu và là cửa biển của  hệ thống sông Ðồng Nai – sông Sài Gòn, địa hình thành phố Hồ Chí Minh là một mạng lưới sông ngòi kênh rạch lớn nhỏ đan xen chằng chịt, những gò đất cao bên cạnh khu vực rừng ngập mặn ven biển (hiện nay là Khu dự trữ sinh quyển thế giới) làm cho môi trường tự nhiên rất đa dạng phong phú.

 Vị trí địa lý và tiến trình lịch sử đã tạo nên những đặc trưng văn hóa độc đáo của thành phố Hồ Chí Minh.

1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển.

Thành phố Sài Gòn (từ sau năm 1975 là thành phố Hồ Chí Minh) có một hệ thống di tích khảo cổ học niên đại từ 3000-2500 năm cách ngày nay. Tuy số lượng không nhiều nhưng tiêu biểu của quá trình phát triển của thời tiền sử: đây là trung tâm của lưu vực sông Đồng Nai, phát triển một “cảng thị sơ khai” giao lưu thương mại đường biển với quần đảo Đông Nam Á, Trung quốc và Ấn Độ. Từ đó có đóng góp quan trọng vào sự hình thành và thịnh đạt của văn hóa Óc Eo và vương quốc cổ Phù Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên.

Từ đầu thế kỷ XVII, Sài Gòn trở thành trung tâm chính trị – hành chánh (1689), trung tâm chính trị – kinh tế (1790) của thời chúa Nguyễn rồi vương triều Nguyễn (1802).

Nửa sau thế kỷ XIX chính quyền thực dân Pháp đã cải tạo, xây dựng khu vực Bến Nghé – Sài Gòn thành  trung tâm của chính quyền thực dân ở Đông dương. Và phát triển Chợ Lớn thành một trung tâm kinh tế lớn.

Từ giữa thế kỷ XX Sài Gòn là trung tâm chính trị - kinh tế – văn hóa của chính quyền miền Nam Việt Nam, một trung tâm quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á. Thành phố được mở rộng hơn nhiều và trở thành một đô thị lớn và hiện đại.

Từ sau năm 1975 tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh quá trình đô thị hóa phát triển  mạnh mẽ để phục vụ cho cuộc sống của hơn 7 triệu cư dân thành phố và khỏang 2 triệu người nhập cư.

Trải qua các giai đọan lịch sử Sài Gòn luôn là một trung tâm kinh tế quan trọng có tầm ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn, đồng thời có những đặc trưng văn hóa khác với nhiều thành phố khác ở Việt Nam.

2. Những di sản văn hóa đặc trưng của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh

2.1 Sài Gòn là đô thị sông nước:

Sông Sài Gòn là giao thông đường thủy quan trọng nhất, cảng Sài Gòn là cửa ngõ thông thương với nước ngoài. Hệ thống kênh rạch dày đặc là những con đường huyết mạch để vận chuyển lúa gạo và các loại nông sản, hàng hóa khác từ đồng bằng sông Cửu Long lên Cảng Sài Gòn để xuất khẩu.  Thương cảng Sài Gòn, từ góc độ lịch sử có thể coi là đặc điểm chủ yếu của đô thị Sài Gòn.

- Hệ thống đường sông, kênh rạch ở Sài Gòn phục vụ cho sự phát triển của nghề thủ công làm gốm nổi tiếng là Xóm Lò Gốm” còn lại nhiều dấu tích như kênh Lò gốm, đường Lò Siêu, khu lò lu, bến mảnh sành, cầu lò chén… Từ đầu thế kỷ XX do quá trình đô thị hoá nên vùng gốm Sài Gòn không còn điều kiện để phát triển sản xuất, truyền thống và kỹ thuật sản xuất “gốm Sài Gòn” sau đó phát triển ở vùng gốm Biên Hòa (Đồng Nai), Lái Thiêu (Bình Dương)…

- Hệ thống sông rạch làm nên cảnh quan “trên bến dưới thuyền” của Sài Gòn: những con sông, kênh rạch với những bến sông nổi tiếng sinh họat buôn bán, cảnh quan văn hóa đặc trưng: sông – bến chợ – phố chợ ven sông - làng ven sông – giao thông đường thủy – ghe thuyền - cầu qua sông…

Hiện nay đại lộ Đông Tây được xây dựng đã đáp ứng nhu cầu giao thông và mang lại  hiện đại cho thành phố, nhưng trả giá cho việc này là dọc hai bên sông – cũng là dọc theo đại lộ, những dãy nhà phố buôn bán biến mất, những tòa cao ốc đã và đang mọc lên. Vẻ đẹp cổ xưa “trên bến dưới thuyền” sầm uất mà hồi giữa thế kỷ XX vẫn còn được ghi nhận đã không còn nữa.

2.2 Sài Gòn là đô thị của sự giao lưu và hội nhập văn hóa.

          Sài Gòn có một hệ thống sông lớn và có cửa biển Cần Giờ nên đây là một cảng thị từ rất sớm, cũng là nơi có sự giao lưu mạnh mẽ với các quốc gia khác qua đường biển. Từ thế kỷ XVII nhiều cư dân từ nơi khác đến khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Sự hình thành đô thị Sài Gòn là quá trình tụ cư và hội nhập văn hóa nhanh chóng của người Việt, người Hoa với những tộc người bản địa. Họ đã duy trì và phát triển những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của mình và xây dựng các ngôi đình, chùa của người Việt; đền, miếu, hội quán của người Hoa; chùa của người Khmer; nhà thờ của người Chăm Hồi giáo, nhà thờ Công giáo, Tin lành… Các kiến trúc tôn giáo xây dựng trong khoảng 300 năm nay thể hiện sự đa dạng và hội tụ văn hóa của nhiều cộng đồng cư dân. So với Hà Nội hay Huế thì di tích ở Sài Gòn không nhiều, niên đại muộn, đặc trưng kiến trúc- trang trí thể hiện sự giao lưu văn hóa đậm nét, cần nghiên cứu từ góc độ bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù của vùng đất này thì mới đánh giá thỏa đáng.

Ngoài ra còn có nhiều ngôi nhà cổ, một số khu lăng mộ…Do nhu cầu của cuộc sống mà  những di tích là đối tượng bị phá hủy nhiều nhất trong quá trình đô thị hóa.

2.3 Sài Gòn là đô thị được quy họach và xây dựng theo kiểu phương Tây:

Di sản văn hóa nổi bật là cảnh quan đô thị kiểu phương Tây: lấy sông Sài Gòn làm chuẩn các đường phố ngang dọc chia đô thị Sài Gòn (vốn trải dài ven sông, kênh rạch) thành những ô vuông, trong đó là các công sở, biệt thự, trường học, bệnh viện và các công trình công cộng khác. Kiến trúc tôn giáo quan trọng là nhà thờ công giáo trở thành trung tâm của một khu vực dân cư, có thể nhận thấy trung tâm thành phố Sài Gòn nằm trong tam giác có 3 đỉnh là 3 nhà thờ cổ: Tân Định – Đức Bà – Huyện Sĩ (khu vực trung tâm). Những công trình kiến trúc dành cho công sở cho đến nay vẫn còn giữa được công năng, cảnh quan khu trung tâm thành phố là những con đường với hàng cây cao vút, những biệt thự mang vẻ đẹp của kiến trúc cổ điển châu Âu nhưng gần gũi và đã trở nên quen thuộc, là một phần không thể thiếu của thành phố, là “dấu ấn Sài Gòn” đối với người đi xa và người đến Sài Gòn.

3. Bảo tồn di sản văn hóa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh.

Những khó khăn, thách thức

Thách thức lớn nhất đối với TP. Hồ Chí Minh là khẳng định được đặc trưng và bản sắc văn hóa của mình trong quá trình lịch sử và sự phát triển liên tục hướng đến thành phố hiện đại trong tương lai. Tuy nhiên, một thời gian dài vừa qua do trình độ quản lý đô thị chưa tốt, nhận thức không đầy đủ về di sản văn hoá  thời thuộc địa, quy hoạch phát triển thành phố chưa mang tầm chiến lược…dẫn đến việc thu hẹp các công viên, tận dụng tất cả khuôn viên của các kiến trúc cổ, việc làm biến dạng thậm chí “giết chết” các kênh rạch, vùng cây xanh, ao hồ, đập bỏ hay thay đổi kiến trúc các công trình cổ… mang lại cái lợi trước mắt cho một nhóm người nhưng đồng thời xóa bỏ linh hồn văn hoá của thành phố.

  • Quá trình đô thị hoá ào ạt làm cho rất nhiều giá trị của đô thị vốn có sẽ mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai khu vực trung tâm của đô thị cũ. Quá trình đô thị hoá tại các nước đang phát triển như Việt Nam dưới áp lực toàn cầu hoá cả về địa – kinh tế lẫn áp lực của “nghệ thuật kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị.

  • Sự thay thế của một bộ phân dân cư sau 1975 và sự nhập cư ồ ạt những năm gần đây và tình trạng chuyển đổi sở hữu chung, riêng đối với các công trình này. Tư duy buôn bán nhỏ lẻ làm phát triển xu hướng tận dụng “nhà mặt tiền”, vỉa hè… để buôn bán, làm cho cấu trúc thay đổi xấu, cảnh quanh lộn xộn không có sự văn minh của một đô thị hiện đại.

  • Hệ thống luật pháp, chính sách bảo tồn di sản văn hóa chưa được phổ biến rộng rãi. Việc tuân thủ luật pháp của người dân, của các nhà đầu tư chưa tốt do chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế  trước mắt. Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa chưa đủ năng lực và điều kiện thực thi chức trách. Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ.

          Một số dự án bảo tồn di sản văn hóa đô thị.

  • Tổng điều tra di sản văn hóa thành phố; Danh mục những di sản đã được công nhận, danh sách 180 công trình cần bảo tồn.

  • Phối hợp với Trung tâm dự báo và nghiên cứu đô thị vùng Lyon (Cộng hòa Pháp) – PADDI điều tra nghiên cứu bảo tồn khu vực trung tâm thành phố, phối hợp với một cơ quan tư vấn của Tây Ban Nha điều tra nghiên cứu bảo tồn khu vực Chợ Lớn. Quy hoạch chung toàn thành phố đến năm 2025, quy hoạch đô thị khu trung tâm do công ty Nikken Seikei Nhật Bản thiết kế, quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm do công ty tư vấn Pháp thiết kế… đều lưu ý và đặt vấn đề bảo tồn di sản văn hóa lên hàng đầu.

  • Bảo tồn di sản gắn với việc phát huy giá trị di sản qua du lịch văn hóa, đưa cộng đồng tham gia và trực tiếp được lợi từ việc bảo tồn di sản thông qua việc nâng cao kiến thức và sự hiểu biết cho người dân.

Xây dựng chiến lược bảo tồn di sản đô thị:

  • Căn cứ pháp lý:  Luật Di sản văn hóa năm 2002 và bổ sung năm 2010, Luật xây dựng, Luật Đô thị và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật. Các quy định về việc xếp hạng, công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố, quốc gia.

  • Vấn đề bảo vệ di sản văn hóa thực chất là chính sách và thực thi chính sách quản lý đô thị. Khi dân cư chưa có đầy đủ ý thức, khi luật pháp và các biện pháp chế tài chưa đủ mạnh thì ý chí của chính quyền đô thị cực kỳ quan trọng. Từ ý chí này sẽ có những quyết sách và giải pháp hữu hiệu để thực thi việc bảo vệ di sản văn hóa, cũng là biện pháp quan trọng để giáo dục ý thức của người dân.

  • Quy hoạch chung: Xác định khu vực di sản văn hóa phải bảo tồn, từ đó có chính sách quy định cụ thể của các ngành liên quan sự phát triển xây dựng mới của khu vực gồm các quận 1, quận 3, quận 5.Từ đó triển khai các dự án khảo sát, nghiên cứu bảo tồn từng khu vực, phối hợp với các tổ chức nước ngoài là khả thi nhất vì tận dụng được kinh nghiệm, phương pháp khoa học, cách tiếp cận mới và qua đó, đào tạo nhân lực cho công tác bảo tồn di sản.

  • Bảo tồn di sản văn hóa vật thể gắn liền di sản văn hóa phi vật thể: lể hội, sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, lối sống… của cư dân. Xây dựng cho cư dân nếp sống Văn minh đô thị là một yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa.

  • Phát triển một thành phố hiện đại với những công trình sẽ trở thành di sản văn hóa trong tương lai: quy hoạch xây dựng những công trình có giá trị biểu tượng văn hóa chứ không chỉ thể hiện tiềm lực kinh tế.

 

4. Kết luận

 Mỗi thành phố được hình thành với những đặc điểm riêng, địa thế, môi trường, lịch sử và con người đã tạo nên tính cách của nó. Bởi thế không có thành phố nào giống thành phố nào. Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh cũng vậy. Với lợi thế của vị trí địa lý thuận tiện cho thông thương và giao lưu kinh tế - văn hóa, là một đô thị trẻ, năng động, sáng tạo, TP Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, xây dựng thành phố văn minh hiện đại và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Trong bối cảnh của sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và TP Hồ Chí Minh, “phát triển bề vững” không chỉ là mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và các vấn đề văn hóa – xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh có 3000 năm lịch sử, một đô thị hơn 300 tuổi. Là trung tâm kinh tế - văn hóa lớn nhất Việt Nam, hiện nay  các di sản văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh đang chịu nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa,  Làm thế nào để thành phố vừa phát triển hiện đại vừa bảo tồn được những di sản văn hóa trên mặt đất và di tích khảo cổ học dưới mặt đất?  Giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển là vấn đề quan trọng hiện nay của thành phố Hồ Chí Minh và của nhiều đô thị khác ở Đông Nam Á.