Thông tin thêm về truyện viễn tưởng
(hay huyễn tưởng)
của Nguyễn Ái Quốc

 

Nguyễn Văn Dân

 

Đọc mấy bài tranh luận giữa hai ông Ngô Tự Lập và Nguyễn Tôn Hiệt trên mạng phongdiep.net và viet-studies, tôi xin phép được cung cấp mấy thông tin để mọi người tham khảo.

Tôi xin nhắc lại ngay từ đầu: Tôi không tham gia tranh luận với hai người, mà chỉ đơn giản là cung cấp thêm thông tin.

Trong cuộc tranh luận này, ông Ngô Tự Lập cho biết rằng: Trong các bài viết của ông từ năm 2005, ông có ý định muốn chứng minh Nguyễn Ái Quốc là “cha đẻ của thể loại văn học viễn tưởng hiện đại Việt Nam”.

Ông Nguyễn Tôn Hiệt thì cho rằng: “Trước năm 2005, chưa từng có cuốn sách Việt ngữ nào nói rằng truyện ‘Con người biết mùi hun khói’ là truyện viễn tưởng. Đến năm 2003, Hayes Edwards mới phát hiện rằng ‘Con người biết mùi hun khói’ là truyện viễn tưởng đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc. Đến năm 2005, sau khi đọc bài của Hayes Edwards, Ngô Tự Lập mới viết ra rằng truyện ‘Con người biết mùi hun khói’ là truyện viễn tưởng đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc”.

Ở đây trước tiên có một vấn đề cần làm sáng rõ. Trong các cuốn sách tra cứu về lý luận văn học ở Việt Nam, ví dụ như cuốn sách Từ điển thuật ngữ văn học (nhiều tác giả; Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên), Nxb. Giáo dục, 1992; hay cuốn sách 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân biên soạn), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, có một mục từ “Văn học viễn tưởng”. Lại Nguyên Ân cũng là một trong những tác giả biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học nói trên, cho nên tôi đoán ông cũng là người biên soạn mục từ “Văn học viễn tưởng” của cuốn từ điển đó.

Theo định nghĩa của hai cuốn sách này thì “Văn học viễn tưởng” là những tác phẩm văn học “lấy viễn tưởng làm phương thức xây dựng hình tượng và tổ chức cốt truyện. Viễn tưởng là một phương pháp miêu tả đặc thù, sử dụng những dạng hình tượng (...) trong đó những yếu tố của thực tại được kết hợp với nhau theo lối siêu tự nhiên, kỳ lạ, khó tin” (Từ điển thuật ngữ văn học, tr. 288). Còn trong cuốn sách của Lại Nguyên Ân, ông còn chua thêm cho thuật ngữ “Viễn tưởng” bằng hai từ nước ngoài: “fantasy” (tiếng Anh) và “fantastique” (tiếng Pháp).

Song, trước đó mười năm, từ năm 1982, trong bài “Huyễn tưởng văn học - một hình thái nhận thức thẩm mỹ” (đăng trên tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 10 năm1982), tôi - Nguyễn Văn Dân - đã viết về phạm trù mỹ học “le fantastique” trong tiếng Pháp (tương đương với “phantastikos” trong t. Hy Lạp, “phantasticus” trong t. Latin, “the fantastic” trong t. Anh, “fantastika” trong t. Nga). Và, sau khi phân tích những hạn chế của nhiều cách dịch, tôi đã đề xuất cách dịch sang tiếng Việt là “cái huyễn tưởng”. Cái huyễn tưởng này sẽ bao gồm nhiều sắc thái, trong đó có sắc thái huyễn tưởng khoa học - bao gồm thể loại giả tưởng khoa học và viễn tưởng khoa học.

Tôi không chắc tôi là người đầu tiên viết về chủ đề này, nhưng quả thực tôi chưa phát hiện thấy có bài nào viết trước tôi. Nhưng có một điều tôi có thể khẳng định rằng tôi là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “huyễn tưởng”. Hiện tại cũng có nhiều người đồng ý với cách gọi của tôi. Nhưng cũng có người dùng thuật ngữ khác, đó có thể vì họ không được đọc bài viết của tôi (hoặc cũng có thể họ không đồng ý).

Ở đây, nội dung của khái niệm “viễn tưởng” của một số người ở Việt Nam về sau cũng giống với nội dung của khái niệm “huyễn tưởng” trước đó của tôi, khác nhau chỉ là tên gọi. Và trong bài viết nói trên, tôi đã khẳng định rằng thủ pháp huyễn tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại có nguồn gốc từ cái huyễn tưởng trong loại truyện truyền thuyết bình dân phi thần thánh như các truyện được sưu tập trong bộ Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh và Kiều Phú từ thế kỷ XV. Cái thủ pháp đó về sau đã được thể hiện trong truyện ngắn cổ điển Việt Nam như các truyện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ở thế kỷ XVI.

Đến năm 1984, trong bài viết của tôi nhan đề: “Triển vọng của thể loại huyễn tưởng khoa học” (đăng trên tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 9-1984),  tôi lại khẳng định rõ thêm rằng thủ pháp huyễn tưởng đã được sử dụng trong truyện ngắn những năm 20 của Nguyễn Ái Quốc.

Như vậy, thứ nhất: tuy tôi không dùng thuật ngữ “văn học viễn tưởng” mà dùng thuật ngữ “văn học huyễn tưởng” vì thấy thuật ngữ này chính xác hơn và hay hơn, nhưng nội dung của sự việc đã cho thấy rõ rằng trước khi có bài viết của Hayes Edwards về truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc rất lâu, tôi đã khẳng định rằng trong số các truyện của Nguyễn Ái Quốc, đã có những truyện thuộc loại “văn học huyễn tưởng” [hay “viễn tưởng” theo cách nói của những người khác]. Thứ hai: ngay từ năm 1984, tôi đã cho thấy cái huyễn/viễn tưởng đã tồn tại trong văn học cổ điển Việt Nam, còn đến văn học Việt Nam hiện đại thì người đầu tiên sử dụng nó là Nguyễn Ái Quốc.

Đến đây tôi muốn nói rằng: Tôi hoàn toàn không muốn kể công để tự nhận rằng mình là người đầu tiên phát hiện ra Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ của văn học huyễn/viễn tưởng Việt Nam hiện đại. Bởi lẽ tôi không cho rằng đây là một phát hiện ghê gớm, vì tôi tin rằng ngoài tôi ra rất có thể đã có nhiều người cũng đã “phát hiện” ra cái điều quá ư hiển nhiên này. Vì điều này không phải là khó nhận ra, bất cứ một người làm văn học sử nào cũng có thể nhìn thấy, chẳng cần đến mức phải sang tận Hoa Kỳ mới phát hiện ra.

Đó là những thông tin hoàn toàn đúng sự thật, mọi người có thể kiểm chứng theo chỉ dẫn tài liệu mà tôi đã chỉ ra. Không biết hai ông Ngô Tự Lập và Nguyễn Tôn Hiệt có rút ra được điều gì hữu ích không. Tôi chỉ muốn đưa ra một lời nhắn nhủ rằng: nghiên cứu vấn đề gì cũng cần phải cố đi cho đến ngọn nguồn của nó, nếu không ta sẽ sa vào căn bệnh “phát hiện lại châu Mỹ”!

Cuối cùng tôi muốn nói rằng ông Hiệt cũng không nên quá khắt khe với ông Lập. Ông Lập đã trích dẫn ý ông Hayes Edwards, mặc dù không ghi chú ngay sau câu dẫn, nhưng có ghi ở đầu đoạn trích là “theo ông Hayes Edwards” và có đề tài liệu tham khảo ở cuối bài, thì cũng có thể chấp nhận được. Cách làm này quả thực là chưa chuẩn xác. Nhưng đây lại là một cách làm khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, kể cả các giáo sư cũng mắc phải. Họ cho rằng chỉ cần làm như thế là đúng, chứ trong thâm tâm họ không nghĩ đó là “đạo văn”. Về điều này chính tôi cũng đã có lần viết bài phê phán (vào năm 2001) và cũng đã nhận được không ít những phản ứng không bằng lòng.

 

Lên trang viet-studies ngày 18-7-10