PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1928

 

CÂU CHUYỆN HẰNG NGÀY

 

TIỂU DẪN CỦA NGƯỜI SƯU TẦM

 

Như chính Phan Khôi, dưới bút danh Thông Reo trong bài hài đàm Giấc mộng kỳ khôi trên báo Trung lập (ngày 10.2.1931) đã tiết lộ: Tân Việt là bút danh mà Phan Khôi và Diệp Văn Kỳ ký chung ở những bài viết cho mục Câu chuyện hằng ngày trên Đông Pháp thời báo và sau đó trên báo Thần chung.

Mục Câu chuyện hằng ngày xuất hiện trên Đông Pháp thời báo từ số 673 (thứ năm 19.1.1928). Ban đầu các bài trong mục này thường là của Q.C. (Quán Chi tức Đào Trinh Nhất) (ở các số 673, 677, 678, 679, 680, 684, 685, 687, 697), của Phiêu Linh Tử (ở các số 705, 707, 709, 710, 712, 713, 747), của B.T.M. (Bùi Thế Mỹ), của Sơn Xuyên Bút (một độc giả, ở số 715); đôi khi cuối bài không ký tác giả (ở các số 675, 676, 681, 683, 691). Phan Khôi cũng có vài bài ký C.D. đăng trong mục này (ở các số 714, 717) trong số đó bài Mấy cái quái trong sách và báo ta đã gây thành một cuộc thảo luận kéo dài mấy tháng.

Bút danh Tân Việt xuất hiện trong mục Câu chuyện hằng ngày từ số 723 (24.5.1928), trước đó đã xuất hiện dưới dạng viết tắt T.V. (số 693, ngày 10.3.1928). Từ đó cho đến lúc chấm dứt Đông Pháp thời báo, Tân Việt trở thành tác giả duy nhất của Câu chuyện hằng ngày, tưởng như chỉ do một người viết, nếu không có sự "bật mí", vài năm sau, của một trong hai tác giả.

Ban đầu, các bài trong mục này cũng chưa có sự xác định về thể tài; thậm chí đôi khi nó biến thành nơi mà người của toà soạn bất đắc dĩ phải đôi co với đối tượng bị mục này nói đến (ví dụ xung quanh chuyện Hồ Hải thư xã huy động tiền trước khi in và gửi sách cho người góp tiền). Về sau, nhất là với việc ổn định một bút danh Tân Việt, mục này định hình dần về thể tài  báo chí với tính cách một loại "hài đàm", nhàn đàm, dùng giọng điệu hài hước, mỉa mai để nói về một đề tài thời sự nào đó; tác giả mục này cũng tự xây dựng hình ảnh của mình ít khi như là tự tả thực về bản thân, nhưng thường khi lại là bồi tụ những nét của kiểu người đùa rỡn, bỡn cợt, chọc cười thiên hạ.

Dầu biết rằng đây là chuyên mục do hai người viết ký chung một tên, chúng ta vẫn hiểu không phải hai người cùng "viết chung" từng bài. Có thể căn cứ vào giọng văn, vào phạm vi đề tài, vào cách lập ý, v.v... để nhận định và dự đoán từng bài cụ thể có thể là sản phẩm của ngòi bút Phan Khôi hay không. Tuy nhiên sự nhận định và dự đoán như vậy vẫn không thể thay thế những căn cứ xác đáng hiển nhiên về tác giả thực của từng bài, -- điều mà  ngày nay hơi khó tìm biết.

Vì vậy, dưới đây xin bạn đọc tiếp nhận Câu chuyện hằng ngày như là loạt tác phẩm viết chung của Phan Khôi và Diệp Văn Kỳ.

 

                                                                                                                                     N.S.T.

 

- Có mấy đấng thượng đế

- Ông Nguyễn An Ninh và báo La Tribune Indochinoise...

- Hai đêm hát giúp các hội học sinh bên Pháp

- Ông quận Cầu Kè bị phạt - Điên hoàng đế

- Một tờ thông tư... - Tại sao mà chúng tôi lại công kích...

- Đố ai biết An Nam chết ngày nào lợi hơn hết.

          - Dân Tàu ở Nam Kỳ...

- Mùa hát năm nay

- Đổi tên An Nam theo điệu chữ Lang Sa...

- Nước lã khuấy nên hồ. - Chuyện một học trò...

- Cái bia của đức Quốc công. - Đã lại vì dành đất

- Mình cứ lỗ luôn. - Cấm lạy còn lạy

- Cái thói nói tiếng Lang Sa

- Người Tây chép chuyện Tàu...

- Đàn bà có nên diễn thuyết. - Thầy giáo Tân Hương

- Đốc học Levrat. - Chuyện mấy ông thơ toán

- Tại sao An Nam đánh Chà

- Vậy mớin thú. - Chủ quận có quyền bỏ "bót" không?

- Nỗi khổ của nhà báo. - Đốc học Vĩnh Long

         - Báo Impartial hỏi. - Dân Pha-Lang-Xây. - Nửa thỏ nửa heo

- Vậy là xong một mối tự do tín ngưỡng.

         - Không ai cấm Bàng Quý Phi

- [Ngày lễ...]

- Nhơn chánh của nhà nước bảo hộ

- Câu chuyện diễn binh. - Hai chú cai ở Long Xuyên

- Hai cán án. - Phủ Phước bị tẩy chay

- Nha phiến với văn minh

- Một phép toán mới

- Lý sự giữa sa mạc. - Khổng Tử với quan Toàn quyền

- Thấy người lại gẫm đến ta

- Dịch phát trên xe hỏa. - Thầy kiện thầy cò

- Đá gà với đấu vỡ

- Một cái quảng cáo hay mà dở, dở mà hay. - Thôi, để tôi kêu là...

- Tiếp câu chuyện cáo bạch số trước

- Mỗi người một việc

- Lo gì hết chuyện

- Cấm thuốc phiện

- Một câu chuyện buồn cười trong làng báo

- Tòa án Pháp với tòa án Nam

- Một trăm năm về trước

- Không hạn chế xe kéo là trợ cấp thể thao

- Theo luật bài xạo

- Cái phương pháp khoa học

- Thơ viện với nhà làm báo

- Điều luật "bất ưng vi"

- Huớ người ta, rừng động

- Nghi như Tào

- Nửa câu đáng tội

- Gian giữ gian

- Lụt đại hồng thủy

- Ngủ ngày cày đêm

- Tên và hiệu vua Bảo Đại

- Giặc biển tung hoành

- Cái máy chiêm bao

- Ông lớn

- Hội kín Nguyễn An Ninh

- Luận lý học mới: Nhứt đoạn luận

- Hữu danh vô thiệt

- Vô dụng mà hữu dụng

- Người với khỉ

- Cử hình đồng làm đại biểu

- Chuyện lạ ở Huế

- Quyền hạn

- Sư đi tìm Phật

- Dư luận Pháp với Nam

- Nếu xử theo luật Gia Long

- Cái nội các nửa

- Ăn cắp lối mới

- Cải chánh cũng như chưa cải chánh...

- Đố nhau

- Toán đố, văn sách làm chung motọ đề

- Vợ chồng bằng giấy

- Cũng thế thôi

- Nha phiến và hội liệt quốc

- Bức điện tín lôi thôi

- Phải chi tôi là một tên dân trên sao Mars

- Muốn sửa, sửa cho

- Cuộc đời thay đổi

- Ai muốn làm Président ?

- Mình ốc mang rêu rửa sạch ai ?

- Không nhìn, phải, mà nhìn cũng phải

- Giã từ Đông Pháp

 


Có mấy đấng thượng đế?

 

Mới rồi, các vụ triều thần ta trong Huế mới thông tư cấm không được truyền bá đạo Tin Lành và đạo Cao Đài trong nội địa Trung Kỳ, duy có đạo Thiên Chúa là được phép tự do truyền bá mà thôi.

Tôi không tin Phật, tôi không tin Cao Đài, thứ nhứt là tôi không tin ông chúa Trời, cho nên tôi không thèm nói tới vấn đề tôn giáo. Nhân thế mà tôi không muốn bình phẩm tới cái lệnh cấm của các cụ Cơ mật là phải hay trái, khôn hay dại, đúng hay sai làm gì.

Song tôi lấy làm lạ, mà tự hỏi mình rằng: Có mấy đấng Thượng đế?

Đây tôi chỉ nói về đạo Tin Lành và đạo Thiên Chúa.

Hai thứ đạo nầy cũng là con một mẹ đẻ ra, nghĩa là cũng thờ phụng ông Giê-su cả. Nhưng hồi thế kỷ thứ XVI, họ mới chia nhau ra, vì có một phái không chịu phục ông Giáo hoàng La Mã, và cho lệ luật của nhà thờ bó buộc người ta quá, cho nên mới đứng riêng ra một mình, gọi là Gia-tô tân giáo (le Protestantisme) hay gọi là đạo Tin Lành, theo tiếng ở ta đây. Thời kỳ ấy kêu là thời kỳ Cải lương Tôn giáo (la Réforme).

Tuy có đạo Tin Lành chia ra, nhưng mà cũng vẫn là thờ ông Giê-su, chỉ khác có một điều là không phục ông Giáo hoàng La Mã, không đi nhà thờ, không có mọi lệ luật bắt buộc mà thôi.

Họ cho cái đạo ấy là đạo rối. Mấy ông cố đạo ở đây gọi đạo Tin Lành là đạo rối, mà dịch chữ Catholicisme là công giáo, để bày tỏ ra rằng duy có đạo Thiên Chúa là một đạo công, là một đạo chơn chánh thanh nguyên, còn bao nhiêu là đạo rối hết. Ngay đến cái bọn cũng thờ ông Giê-su, chỉ không đi nhà thờ, không theo Giáo hoàng, cũng là đạo rối mới lạ cho!

Thượng đế của Tin Lành là ông Giê-su, mà Thượng đế của Thiên chúa cũng là ông Giê-su. Nay sao lại cấm Tin Lành mà cho đạo Thiên chúa được tự do, thế thì có mấy ông Thượng đế?

Đức chúa Giê-su ở trên trời, chắc cũng lấy làm lạ, nhưng tất người nghĩ rằng: "Các cụ đại thần nước Việt Nam làm vậy cũng phải, vì họ thấy ta là bậc chí tôn vô thượng, thì không nên nhị tâm nhị đức, theo bên nầy lại theo bên kia".

                                                                                                                                   T.V.

                                                                                                                        

 

Đông Pháp thời báo,Sài Gòn, s. 693 (10.3.1928)

 


  Ông Nguyễn An Ninh và báo La Tribune Indochinoise

 

Mới rồi trong bài kỷ sự(*) đêm hát giúp các hội học sinh An Nam bên Pháp, báo La Tribune Indochinoise có chép một đoạn như vầy:

".... Đến đây thì có một tiếng người, tiếng ấy đáng lẽ là tiếng nín đi trọn đời, tiếng của Nguyễn An Ninh là một người xưa nay chưa từng làm học sinh bên Pháp, mà năm nọ đã đem hai lá thơ khốn nạn mà làm xấu cho cả đám thanh niên Nam Việt; tiếng người ấy cất lên cãi lại ông Dương Văn Giáo mà nói rằng bọn thanh niên ta bên Pháp phần nhiều không học".

Thiệt sự là trong đêm ấy, mới dở màn ra, ông Dương Văn Giáo, thong thả, chậm rải, từng tiếng một mà nói rằng học sanh ta bên Pháp hư ít nên nhiều, thì ông Ninh đương ngồi coi ở từng thứ nhứt cãi lại rằng: "Hư nhiều chớ!"

Có ngần ấy thôi, mà báo La Tribune Indochinoise lại nhơn đó mà viết ra một đoạn khá dài, thiệt cũng đáng khen cho cái tài kỷ sự của quý đồng nghiệp, khen cũng không ai khen bằng, chê cũng không ai bì kịp!

Song tôi chỉ xin quý đồng nghiệp nên nghĩ lại. Vì đối với một người như ông Nguyễn An Ninh, thì tưởng không nên quá lời. Vả ông Ninh bây giờ đã bỏ mình ra cuộc ngoài, ai quấy ai phải ông Ninh cũng đều đã làm thinh hết.

Còn như hai lá thơ của ông ta đã viết lúc nọ, thì ông ta đã nhiều phen tự nhận cho là một điều dở. Mà chúng tôi đây cũng bảo là không hay. Song hay cùng dở là một điều riêng về danh dự của ông Ninh, chớ cũng chẳng có chi đáng gọi là hại đến đoàn thể Việt Nam mà ai phải hòng nhắc lại, nhằm khi không có cớ gì đáng nhắc.

Ôi, nếu ông Ninh là người đáng nín thinh trọn đời như báo La Tribune đã nói, thì nào ai là người mỗi ngày mỗi nói, hai ngày nói một độ, nói để nịnh cùng người quyền quý, để binh người giàu sang, nói đến có khi làm dơ danh tiết cho kẻ khuê môn tưởng cũng nên nín đi như ai mới phải.

Chí như nói rằng báo La Tribune Indochinoise vì thấy nói xấu học sanh mà phải ra binh một cách thái quá như vậy, thì tôi lại xin nhắc cho quý đồng nghiệp nhớ rằng: trong quý báo cũng đã nhiều phen than phiền về cái thái độ học sanh bên Pháp, than phiền có lúc đến quá đáng. Theo cách lịch sự ở đời, thì hôm nay quý đồng nghiệp cũng nên nín bớt đi một chút.

Cái chuyện không có gì hết, bỏ qua đi e tốt hơn. Lỡ đã trót bươi ra nên chúng tôi phải cắt nghĩa sơ như vậy. Mà chúng tôi chỉ ước mong rồi đây ông chủ nhiệm quý báo sẽ nói rằng điều ấy thiệt quý chủ nhiệm không bao giờ muốn viết. Mà vậy là phải.

 


Tên tuổi lạ lùng, mục đích kỳ quái

 

Mới rồi bổn báo có tiếp được một tập điều lệ của hội "Cựu viên hàm đại điền chủ hội".

Thấy tên thì ngạc nhiên, không biết thứ chữ gì mà kỳ quái như vậy.

Hay là hội nầy là một hội lập ra để làm chánh trị như có người đã nói vậy. Quả thiệt như thế, thì cái hội nầy sẽ ra mà làm hại cho đoàn thể Việt Nam nhiều lắm.

Một là hiện thời bây giờ bất kỳ là người hạng nào mà đã tự biết mình là dân Việt Nam thì cũng chẳng nên chia nhau ra từng hạng, từng giai cấp. Nếu như có quyền mà lập chánh đảng thì cũng nên lấy ý kiến, chương trình mà chia nhau. Chớ nếu chia nhau ra từng hạng, thì sẽ thấy không biết bao nhiêu là hại. Huống chi có chia nhau ra từng hạng, thì tôi cũng chưa hiểu tại sao mà điền chủ với quan về hưu lại thuộc về một hạng, mà để riêng mấy ông chủ phố ra ngoài?

Hai là đương lúc mình chưa có quyền lập đảng chánh trị, mà lại có một hội công nhiên nói rằng hội chúng tôi sẽ làm chánh trị, thì thật đáng nghi. Cũng tại sao mà chánh phủ mới nhắm mắt giùm cho họ mà lại mở mắt cho mình?

Rốt lại thì có thể cho hội nầy là một cái hội tương tế. Vậy thời tôi không hiểu tại sao mà một ông Đốc phủ về hưu mới chết lại muốn cho tất cả các điền chủ Nam Kỳ đi điếu tang? Hay là lại muốn lễ tân quan một lần chót? Còn ông điền chủ nào gả con lấy chồng lại muốn cho cả các ông quan hưu đi hạ? Hay là thấy mấy quan lớn về hưu rồi, muốn gỡ lại một đôi chút chăng?

Ấy đó, tên tuổi lạ lùng, mục đích kỳ quái như vậy, tôi dám chắc, các quan trí sĩ vậy, điền chủ vậy, chẳng ai mà chẳng nghĩ như tôi, mà không bao giờ có ai đã nghĩ kỹ mà còn chui bước vô. Chí như một ít ông đã vị tình mà để cho họ biên tên vào, thì nay mai chi cũng sẽ nghĩ lại mà rút ra chắc chắn.

                                                                                                                      TÂN VIỆT

                                                                          Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 723 (24.5.1928)

------

* kỷ sự: tường thuật


Hai đêm hát giúp các hội học sanh bên Pháp

 

Trong hai đêm hát giúp các hội học sanh bên Pháp đều đã đặng công chúng hoan nghinh, đêm nào cũng chật ních. Bao nhiêu những người Sài Gòn, Chợ Lớn, đủ cả các hạng, đã chen nhau đến giúp.

Nghe nói tổng cộng tất cả hai đêm, vừa tiền quyên, tiền vô cửa đặng chừng lối 2300 đồng.

Số tiền tuy chẳng bao nhiêu, chớ thấy công chúng đoái nghĩ đến học sanh ta như vậy, thiệt là đáng cảm bội. Mà rồi đây mấy anh em bên Pháp hay tin chắc cũng vui mừng nhiều lắm.

Đặng vậy cũng là nhờ thầy năm Tú và thầy Vương Có đã có hảo tâm giùm giúp cho ban trị sự làm nên việc.

Thấy tên trong ban trị sự tuy đông, song mỗi người cũng đều lo mỗi việc. Ông Nguyễn Văn Cữa, hội trưởng, thì đã chịu phí tổn tiền in yết thị chương trình mà giúp cho cuộc hát.

Năm ba cô thiếu nữ cũng đã hết lòng sốt sắng giúp giùm lãnh việc đi bán chương trình. Mệt mà sắc mặt vẫn cứ tươi cười, thiệt là đáng quý.

Đào kép hai ban cũng hết lòng hết sức.

Hôm đêm thứ nhì, thì có cô Nguyễn Thị Long Nhàn đọc bài cảm tạ, dạn dĩ, rõ ràng ai ai cũng khen ngợi. Còn đêm thứ nhứt, thì ông Dương Văn Giáo, mà đã xảy ra cái chuyện đáng tiếc mà cũng đáng bỏ qua.

Nó tóm lại, thì cái cuộc hát nầy cũng là một điều đáng khen, đáng giúp.

Phải chi mỗi khi mấy ông muốn lập cuộc hát gì làm nghĩa, thì nên hỏi người thạo việc, mà người ấy chẳng thiếu gì đặng hoặc chỉ cho kép hát, hoặc lựa thứ tuồng cho hơi có nghĩa lý, thì tôi tưởng e tốt hơn. Vì đã hay những ai đã đến xem thì đều là đến mà làm nghĩa. Song nếu như mình làm sao mà khi họ ra về họ lại nói với nhau rằng chẳng những làm nghĩa mà thôi mà thiệt cũng là đáng đồng tiền thì tốt hơn nữa. Huống chi chẳng lẽ tính làm nội trong hai đêm ấy mà thôi, mà một ngày kia gặp chuyện phải còn làm nữa. Nếu như tuồng tập lôi thôi, hát xướng nghêu ngao, thì còn ai dám đến. Tệ nhứt là Lưu Bị với Tôn Phu Nhơn thì muốn nhảy đầm mà Khổng Minh thì bận áo bà ba cổ giữa. Tệ thật!

Tôi cũng muốn nhơn đây mà bàn qua điệu hát cải lương. Song để rồi sẽ hay. Đương khi người ta sẵn lòng làm nghĩa mà mình lại kiếm mà chê bai, thì sợ  họ không hiểu ý mình mà trở lại  trách rằng nhiều chuyện. Thôi!

 


Sài Gòn lại muốn lập nhà hội

 

Hiện bây giờ đã có một đôi người hữu tâm đương lo đi kiếm người đồng chí mà lập cho Sài Gòn một cái nhà "xét"(*) cho xứng đáng.

Điều ấy chẳng những là một điều hay mà lại là một điều cần phải có.

Ai cũng còn nhớ mấy bài trong báo La Tribune Indochinoise nói về chuyện nhà "xét" Lang Sa và mấy bài của ông chủ nhà "xét" ấy trả lời. Ai mà đã có một chút nhiệt huyết đọc đến mà không buồn không tức?

Ấy vậy, bây giờ mà có lòng làm cho xong thì thiệt là rất phải.

Song tôi chỉ sợ e, rồi đây lại chia ra phe nầy phe khác, ông nầy ông kia mà gây ra ác cảm như mấy lần trước. Mới rồi đây, chỉ có một chuyện  kiếm ít người đặng lo hai đêm hát đã nói trên đây, mà đã có người chạy ra cản trở không cho biên tên người nầy vào, biểu biên tên người khác vô. Lạ thiệt, nhiều ông tuổi cao tác lớn sao mà vẫn giữ cái thói "a, b, c" như vậy?

Tôi chỉ ước mong chuyến nầy sao sao anh em ta cũng phải trừ tuyệt cái thói chia rẽ hèn hạ ấy đi mới đặng. Phải hiệp tất cả những ai là người có thể giúp vào cuộc lập nhà hội, bất kỳ là ai, chớ đừng có nói ông nầy ưa, ông khác không chịu thì chẳng bao giờ xong.

Rủi mà không xong một lần nữa, thì xấu hổ lắm.

Sa Đec là một tỉnh nhỏ, mà ngày nay còn có một cái nhà hội nguy nga tráng lệ, mỗi khi tiếp rước ai thì thật có thể thống mà thật đáng khen. Chỉ có một tay ông Ngỡi và ông Mỹ mà làm xong, mà bây giờ lại đương cất thêm ra cho lớn, cho có đến phòng khách qua đường ở. Còn đồ trong nhà thì chẳng thiếu món gì, có đủ đồ đãi đến một trăm người. Quí thật! đáng khen thật.

Còn Sài Gòn mình, Sài Gòn mình mắc nhiều ông lớn quá!!! Cũng bởi ông lớn, ông sồn sồn, ông nhỏ mà làm gì cũng không nên gì hết.

Vây mà lần nầy nữa rồi có nên không?

                                                                                                             TÂN VIỆT

                                                                              Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 724 (26.5.1928)

----

* nhà "xét": (đọc đúng là nhà "xéc"): từ tiếng Pháp cercle, câu lạc bộ, nhà hội.

 


 

Ông quận Cầu Kè bị phạt

 

Các báo khác cũng đã có đăng tin ông quận Cầu Kè mới bị  tòa Cần Thơ phạt một trăm quan tiền vạ, một quan tiền thiệt hại và tất cả các số tiền chi phí về vụ đánh người chứng trong một vụ kiện mà con ông ta là người thủ phạm.

Tòa mà công minh như vậy thì cũng là thật may, thật tốt cho dân trong quận Cầu Kè. Mà có lẽ một chuyện nầy rồi cũng có thể làm gương cho dân trong các quận khác. Mà một ít ông quận thường hay có tánh hung hăng cũng hơi dựt mình mà nghĩ lại một chút.

Tiện đây tôi chỉ xin nhắc lại cho anh em trong các thôn xã nhớ rằng quan tốt hay xấu, hiền hay dữ, tham hay liêm, phần nhiều cũng do bởi nơi dân. Dân mà biết quyền  lợi, thì chẳng lựa là quan tuần lương là một chuyện quí, mà dẫu cho tham quan ô lại thật cũng không dám hoành hành. Thói xưa thường gọi là "dân chi phụ mẫu", là chẳng phải nói rằng làm quan thì có quyền hiếp đáp dân như cha mẹ hiếp con. Không đâu, câu ấy nghĩa là làm quan thì phải lấy lòng cha mẹ thương con mà ở với dân. Vì người xưa thường nghĩ, chẳng bao giờ có cha mẹ xấu (Thiên hạ vô bất thị để phụ mẫu), nên mới dùng câu ấy mà làm gương cho quan.

Đối với quan, thì phải giữ lấy quyền lợi của mình là một lẽ tự nhiên, song đối với quan cũng nên giữ phận sự mình mới là tốt. Chẳng nên nghe theo một ít người hay có tánh sanh sự, nay xúi nầy, mai xúi khác mà làm những chuyện không đáng làm. Vì mấy người ấy có nhiều khi họ không lợi dụng được ông quan, thì họ lại trở lại xúi dân làm thiệt hại.

Mà hễ đã làm dân, thì phải giữ phận sự trước, rồi mới đủ sức mạnh mà không cho ai phạm đến quyền lợi của mình. Nhứt là đừng nên phân biệt quan quận Tây, quan quận Nam; thấy quan Tây thì sợ, thấy quan Nam thì có ý khinh. Nghĩ như vậy là thật sai lầm mà có thể làm mất cả thể thống của một tên dân Nam Việt. Nói tóm lại, quan là tay sai của dân mà dân là người chủ cần phải giữ tròn phận sự.


Điên hoàng đế

 

Mới rồi trên Tây Ninh có người vô một cái quán nọ, tự xưng mình là hoàng đế Nam Việt. Người ở đó thấy vậy biết là điên, vừa sẵn có xe hơi của ông Tây đi ngang qua, họ liền kêu ghé vào. Ông Tây nọ bước vô hỏi anh là ai? Anh ta trả lời rằng: ta là hoàng đế Đại Nam chớ ai!

-- Muôn tâu bệ hạ. Bệ hạ đã ngự lâm đến đây, mà tỉnh chúng tôi không kịp nghinh giá, thật là thất lễ. Song quan chủ tỉnh chúng tôi cũng đã  có trần thiết nghi trượng mà đợi chầu Bệ hạ. Chúng tôi cúi xin Ngài nhơn tiện theo xe chúng tôi vào Tỉnh, thì quan chủ tỉnh chúng tôi lấy làm hân hạnh nhiều lắm.

-- Vâng. Quả nhơn xin vâng!

Chừng đến dinh Tham biện, hỏi Bệ hạ có giấy thuế thân không?

-- Thuế thân gì? Ta chỉ có một cái cấp bằng chứng chắc rằng ta đây là Đại Nam Hoàng đế thiệt.

Nói rồi móc ra một tấm giấy của hội Cao Đài, chớ không có gì lạ. Thấy vậy, người trong dinh Tham biện lại nói rằng nếu anh không có giấy thuế thân, thì sẽ bị giam vào ngục liền.

-- Cái đó là lẽ tự nhiên. Quả nhơn sẵn lòng đến đó...

Nghe đâu bây giờ đã đưa Bệ hạ sang nhà thương điên Biên Hòa rồi phải.

Thiệt là điên kiểu mới. Anh nầy nữa có lẽ là năm người.

Song mấy kỳ trước, ba anh kia với một chị khác lại đến sở lính kín mà đòi trả nước Nam lại.

Nghe cái chị nữ anh hùng hôm đó đem về nhà thương Chợ Quán, tối ngày cứ chỉ ngồi ca, tiếng tốt, hơi trong,  ca mãi có một câu:

"Kia núi sông ai, ai bỏ núi sông?"

...............?

                                                                                                                           TÂN VIỆT

                                                                                Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 725 (31.5.1928)


Một tờ thông tư của quan Thống đốc(*) Nam Kỳ

 

Mới rồi báo L'Echo Annamite có đăng tờ thông tư cho các ông chủ tỉnh bảo phải truyền cho các quan viên Lang Sa tùng sự trong tỉnh, phải cư xử với người An Nam cho ôn hòa tử tế. Bằng không tuân lịnh, thì mỗi khi có ông viên quan Lang Sa nào hiếp đáp dân An Nam, là sẽ bị tòa hình buộc tội theo phép mà còn phải bị trừng trị một cách nghiêm nhặt theo phép cai trị.

Có người lại hỏi đối với quan An Nam, thì tờ thông tư ấy có thi hành không?

Điều ấy chẳng cần phải nói. Vì theo lẽ thường thì ai ai cũng hiểu quan An Nam tất nhiên sao cũng ở lễ phép tử tế với người An Nam.

Ai cũng nghĩ vậy. Mà chánh ngay mấy ông quan mình có hiểu vậy chăng?

Sao mà còn thấy một ít ông vẫn còn vô lễ thái thậm. Người tới không mời ngồi, đụng ai cũng nói sỗn sản, nhiều khi thậm chí gặp mấy ông hương chức già cả mà cũng kêu lão nầy, lão kia.

Mấy ông ấy đọc cái tờ thông tư nầy rồi có hổ thầm không? Người ngoài còn biết lấy lễ mà đãi mình, sao mình đãi nhau mà lại ra tuồng vô lễ như thế?

Tờ thông tư đã rõ ràng như vậy. Mà đối với ông Nguyễn Hữu Hạnh, quận Cầu Kè là người vì đánh dân mà mới bị tòa Cần Thơ phạt 100 quan tiền vạ, với một quan tiền thiệt hại, thì quan Thống đốc Nam Kỳ sẽ xử trí làm sao?

Tưởng dân cả quận Cầu Kè đều chờ câu trả lời ấy lắm.

Rốt hết, tôi xin nhắc cho dân ta nhớ rằng tờ thông tư ấy là một điều tốt của Chánh phủ. Song muốn có hiệu quả không, đều do ở nơi mình. Mình mà biết quyền mình, thì không tờ thông tư ấy cũng như có; bằng mình cứ ngu hèn, thì có cũng như không.

 


Tại sao mà chúng tôi lại công kích hội "Nam Kỳ cựu viên hàm đại điền chủ"

 

Thôi, chẳng nói cái tên lạ lùng ấy làm chi. Ở đời có nhiều người dốt mà vẫn đeo đến chết; cái đó quyền họ. Mà cái tên ấy rồi đây nó cũng sẽ đem vào nhà bác cổ, thì cũng chẳng hại gì ai mà phải nói nhây.

Chúng tôi mà công kích là vì dòm thấy cái cử chỉ của người xướng lập có lẽ hại cho đoàn thể Việt Nam nên mới nói.

Mới đây ông Phạm Chánh Lý hội trưởng và người sáng lập hội ấy cũng có đến bổn báo đôi ba lần mà xin cổ động giùm.

Chừng đó cũng đủ chứng chắc rằng chẳng phải như ai đã nói vì người ta không vấn kế chúng tôi, nên chúng tôi công kích.

Không đâu, chẳng luận thân sơ, hễ ai làm phải thì cũng khen, ai làm quấy cũng đều công kích hết.

Đã nói là hội tương tế, thì phải biết hai lẽ. Một là một hạng người nào có quyền lợi giống nhau, hiệp nhau lại đặng người mạnh giúp kẻ yếu, người đủ giúp kẻ thiếu, như các hội công thương tương tế, các hội hữu ái hiện đã có lập ở Nam Kỳ nầy, hai là lập ra một hội tương tế cực kỳ lớn mà lo các điều giúp ích cho xã hội như các hội phước thiện ngày nay. Chớ xưa nay chưa từng thấy người bạn hàng với chủ góp tiền chỗ thôi làm việc mà cùng nhau lập hội tương tế bao giờ!

Mà cái phương diện của hội nầy lại gần ra như thế.

Ông quan với các nhà điền chủ tuy chẳng phải là cừu địch chi nhau. Song quyền lợi vẫn khác hẳn với nhau. Ấy vậy tại sao mà đến lúc về hưu thì cần hiệp ngay với các điền chủ. Nếu như mỗi ông quan đương khi làm  quan đều có ý để trí sĩ rồi sẽ vô hội nầy, thì trong lúc ấy mặc sức theo mấy ông điền chủ là người đồng hội tương lai của mình mà hiếp dân nghèo.

Nói rằng lập ra hội nầy mà bảo thủ quyền lợi cho các điền chủ, thì mấy ông quan hưu, quan hàm đến đó làm chi?

Như ông quan hưu, quan hàm nào là người có sản nghiệp thì cần chi phải mượn chức quan mà vô hội? Còn ông nào không có sản nghiệp thì vô đó mà mong nhờ hột lúa hay sao?

Hội nầy là hội bảo thủ quyền lợi cho các quan hưu, thì điền chủ đến đó mà làm gì? Vì lợi quan hưu bao nhiêu, thì hại cho điền chủ là người đóng thuế bấy nhiêu. Dầu như không hại, thì cũng chưa hiểu hiệp nhau lại mà làm ra điều lợi gì?

Huống chi đương buổi người người đều khuyên dân An Nam nên bớt cái tánh chuộng hư danh như những médaille, hàm tước mà lại có một cái hội nhảy ra lấy đó làm chuẩn đích, thì không công kích ngay từ lúc  trong nôi sao đặng!

Tôi chán biết cái ý người sáng lập hội ấy ra để làm gì. Song cái tên thế ấy, còn người thế ấy, thì có ai thèm vô đâu mà tôi phòng công kích cho dài.

Một việc đã không nghĩa lý như vậy mà rồi đây cũng vì cái hội ấy mà sanh ra chia rẽ giàu nghèo, là một điều hại  vô cùng cho cái tương lai của nòi giống. Mà chánh ngay những người có sản nghiệp cũng sẽ thấy cái hại ấy. Còn chớ như mấy ông hưu quan Nam Kỳ tôi tưởng đều là điền chủ. Vậy có điều chi hay hơn là mấy ngài nên chung cùng điền chủ mà hiệp vào mấy cái hội "canh nông tương tế" là một cái hội có ý nghĩa rất hay cho một xứ ruộng rẫy như Nam Kỳ ta.

Nói qua bấy nhiêu cũng đủ.

                                                                                                                          TÂN VIỆT

                                                                                            Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 726 (2.6.1928)

------

* báo gốc là "Tổng thống", có lẽ in sai, phải là "Thống đốc" như nói trong bài mới đúng; ở đây sửa lại.


 Đố ai biết An Nam chết ngày nào lợi hơn hết

 

Ta thường nghe những kẻ chán đời hay than: "Sống một ngày một nợ"! Song nghe là nghe vậy, chớ cũng chưa hiểu nghĩa sâu xa của câu ấy ra làm sao.

Đến nay thấy lá trát nầy mới hiểu là thật đúng. Trát như vầy:

No: 38 Canton de Thuận Bình

Trát cho làng Vĩnh Kim tuân cứ: có trát tòa bố số 181 nên tôi trát lại cho làng hay.

Những dân đứng bộ chánh, chết sau ngày 1er Janvier, thì phần thuế thân của nó chẳng hề được chuẩn trừ. Phần thuế ấy phải thiếu chung niên và phải đóng trước. Như có dân chết, mà chưa đóng thuế thì số thuế ấy làng phải thâu nơi những người ăn gia tài của nó.

                                                                                        Nay trát, Thuận bình le 31 Janvier 1928

                                                                                                        Le BANG BIỆN

Sống một ngày một nợ là thế ấy.

Tòa kiểm duyệt bỏ hết một đoạn

 


Dân Tàu ở Nam Kỳ sắp sửa tẩy chay hàng hoá Nhựt Bổn

 

Nghe tin các báo Tây cho hay rằng Nam Kỳ cũng gần bắt chước các phụ đầu(*) khác, dân Tàu cũng đương sắp sửa tẩy chay hàng hóa Nhựt Bổn.

Theo như báo Impartial, thì hiện bây giờ họ đã khỉ sự(*) rồi. Nhứt là về sự vận tải các đồ hàng hóa trên các tàu Nhựt Bổn đậu tại Sài Gòn.

Cách họ làm êm lắm. Mỗi khi có ai đến hỏi mướn ghe chở đồ ra tàu Nhựt thì họ vui vẻ mà trả  lời rằng: Ghe mắc chịu mối hết.

Vì lẽ ấy mà hiện bây giờ trong các bến có ghe chài, thấy nhiều chiếc đậu đó mà không có bạn bè gì hết.

Dân Tàu ở đây mà làm vậy thì có lẽ cũng thiệt hại cho sự buôn bán lúa của mình nhiều. Vì Nhựt Bổn là một nước ăn lúa Nam Kỳ nhiều lắm.

Song cũng không nên phiền họ, vì tẩy chay là một cái lợi khí độc nhứt vô nhị của dân hèn yếu. Không biết lấy chi mà cự lại với tàu với súng, thì chỉ biết cái khoanh tay mà thôi. May sao mà cái khoanh tay của người yếu lại có thể làm cho người mạnh sợ đặng. Thú thiệt! Nay ta chỉ nhơn lấy cuộc nầy mà nghĩ lại thì té ra đất nước là đất nước của ta mà mỗi khi ai giận ai cũng có thể làm cho mình thiệt hại được.

Lúa gạo là thổ sản của mình mà đến nay Tàu với  Nhựt phiền nhau ở tận bên Tế Nam mà họa lây đến ông chủ ruộng trong đồng Tháp Mười, buồn thiệt!

Thấy người như vậy, đồng bào ta mới nghĩ đến mình làm sao đây?

 

                                                                                                    TÂN VIỆT        

                                                                Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 727 (5.6.1928)                    

-----

* phụ đầu: thương cảng (theo Đào Duy Anh, sđd.); ** khỉ sự: khởi sự


Mùa hát năm nay

 

Đây là nói về mùa hát Tây ở rạp hát lớn Sài Gòn.

Năm nào mình thấy bạn hát bên Tây qua Sài Gòn, thì mình cũng phải nhớ rằng năm ấy đã tốn mất hằng trăm ngàn đồng bạc của công nho, nghĩa là tốn tiền của người mình là người chịu bao nhiêu những tiền chi phí ở xứ nầy.

Cũng vì mỗi khi hát, thì mỗi tổn phí công nho như vậy, nên thường khi mấy ông hội đồng thành phố An Nam ở Sài Gòn đều đã không chịu bỏ thăm về chuyện mướn người qua hát. Mà cũng vì họ không chịu, nên nhiều khi các báo tây đã chê họ là người không biết thú vị gì hết.

Năm nay, lại khác ngay. Năm nay, thì không mướn người bao lãnh nữa. Thành phố Sài Gòn tự xuất tiền ra, rồi đặt người làm chủ và tự đi chiêu mộ kép hát qua đây mà hát. Song làm thế nào cũng phải xuất công nho ra những một trăm ngàn mới đủ sở phí.

Chuyện nầy đã dây dưa ra từ mấy tháng nay.

Mới rồi, hội đồng thành phố Sài Gòn nhóm lại một lần nữa mà nhứt định coi thử năm nay có mùa hát ấy không?

Mấy ông Hội đồng Lang Sa trong mấy kỳ trước đều bỏ thăm ưng chịu, còn mấy ông An Nam thì lại không chịu dự vào chuyện ấy mà đều không bỏ thăm.

Kỳ nầy đổi ngay, phần nhiều trong mấy ông Lang Sa trở lại không chịu, mấy ông An Nam chịu.

Cũng một chuyện mùa hát, mà sao lại thấy hai bên đổi thay thế ấy?

Cứ theo ông Nguyễn Phan Long đã nói trong báo L'Echo Annamite thì bởi tại thế nầy:

Vì bởi một ít  ông hội đồng thành phố Lang Sa, từ khi cuộc cử nghị viên Nam Kỳ đến nay thì trở lại theo phe ông Outrey mà nghịch với ông Rouelle. Họ muốn nhơn dịp mùa hát nầy mà lật ông Rouelle xuống, buộc phải từ chức đặng họ đem phe họ lên. (Điều ấy là một điều Đông Pháp đã cho chư độc giả biết trước, ngay từ khi ông Outrey mới đắc cử). Vì hễ ông Rouelle đã bị hội đồng bác ngay ý kiến ông ta về chuyện nầy, thì theo lẽ thường ông ta phải từ chức ngay; ông xã đã từ chức, thì có lẽ tất cả hội đồng thành phố Sài Gòn cũng phải bị giải tán.

Bởi các lẽ ấy và không muốn cho phe Outrey thừa cơ mà phá ông Rouelle, nên mấy ông hội đồng An Nam mới nhảy ra mà bỏ thăm chịu cho thành phố Sài Gòn xuất công nho mà lập mùa hát năm nay.

Còn báo La Dépêche là một tờ báo cơ quan của đảng Outrey, thì lại chê mấy ông hội đồng An Nam sao có nay vầy mai khác. Và làm như vậy, thì cũng chẳng qua là muốn đền ơn ông Rouelle về chuyện cho cụ Phan Văn Trường mượn nhà hát Tây mà chưởi chánh phủ Pháp đó thôi.

Điều ấy ta không cần bàn đến. Mà cái chuyện mấy ông hội đồng An Nam vì muốn trừ mưu của phe Outrey mà bỏ thăm ưng thuận, thì cũng khó cho rằng phải hay quấy.

Nay ta chỉ nên nhơn dịp nầy, lấy theo phương diện An Nam mà bàn đến cái chuyện mùa hát nầy.

Bao nhiêu những tiền sở phí trong nhà hát tưởng người đóng thuế An Nam chịu nhiều hơn hết. ấy vậy mà mỗi khi có mùa hát, thì như tuồng  không ai thèm ngó ngàng chi đến An Nam ráo. Thậm chí những nhà làm báo quốc ngữ tưởng cũng ít ai đặng một chỗ ngồi nào trong rạp hát. Vậy mà theo ý tôi tưởng phải chi mà có ai cắt nghĩa rõ ràng điệu hát, lớp lang tuồng tập Lang Sa thì cũng có nhiều người An Nam đến xem. Và ít nữa là thành phố Sài Gòn mỗi bữa hát cũng nên nhơn ra một số chỗ ngồi bán sụt giá để cho mấy thầy làm trong công sở là những người biết nhiều ít về điệu hát tây đến xem. Vì bởi tuỳ theo lương bổng của họ, thì làm sao mà trả tiền cho thường đặng.

Ấy là một lẽ.

Còn lẽ thứ nhì là mỗi năm thành phố mỗi xuất bạc hằng muôn bày cuộc vui cho người Lang Sa, thì tưởng mấy ông hội đồng An Nam cũng đủ quyền mà xin một số tiền đặng bầy cuộc vui cho người An Nam. Thứ nhứt là chuyến nầy đây, nếu không có mấy ông hội đồng An Nam, thì đâu có mùa hát nầy?

Giả tỷ như trong lúc rạp hát Tây để vắng, hội đồng cho phép gánh hát An Nam nào xứng đáng đến đó mà hát, mỗi tuần lễ chừng một hôm. Buộc phải hát những tuồng cho có nghĩa lý, bày lớp lang cho đúng cách. Mà nếu như hiện bây giờ chưa có gánh nào đáng gọi là trúng cách, thì hội đồng cũng nên rao cho ai nấy đều biết rằng nếu như có ai đương nổi chuyện ấy, thì hội đồng sẽ cho mượn rạp và xuất cho một số tiền phụ cấp.

Làm vậy, chẳng những là bày cho dân An Nam có một cuộc vui, mà lại có thể nhơn đó mà chấn chỉnh điệu hát An Nam lại đặng ít nhiều. Chớ hiện bây giờ thiệt là tệ quá!

 


Câu chuyện nhà câu lạc An Nam

 

Mỗi khi nói đến điều lập nhà hội An Nam ở Sài Gòn, thì đã có thấy điều lôi thôi. Song những điều lôi thôi ấy cũng bất quá do ở một người hay là ít người mà sanh ra, thì tưởng cũng nên dẹp đi mà bàn qua cái chuyện nhà hội An Nam là một chuyện chung rất cần kíp cho tất cả người An Nam.

Trước hết tôi tưởng tiếng "Cercle" của Tây, là nên dịch ra như người Nhựt, người Tàu, mà kêu là nhà Câu lạc. Câu lạc nghĩa là vui chung, nghe cũng vừa đúng nghĩa và đúng cái tôn chỉ của mình muốn lập nhà hội ấy.

Bây giờ đã có tên rồi, thì nên hỏi coi cái sự ích lợi của nhà Câu lạc ấy ra làm sao?

Trước hết, tưởng ai cũng công nhận rằng ở xứ mình, mà người Lang Sa, người Tàu, người Nhựt bất kỳ là ai cũng đều có tại Sài Gòn một cái nhà hội đặng có thể cùng nhau khi chơi đùa, khi tính công chuyện. Chỉ duy An Nam là chủ mà rủi đã thành ra người khách, mà lại không có một chỗ nào cho tử tế đặng gặp nhau hay là có dịp gì mà đãi ai là người khách riêng của mình. Tưởng ai cũng còn nhớ năm nọ An Nam muốn đãi ông Albert Sarraut về Pháp và mượn cái xã Tây họ không cho, sau phải mướn nhà Philarmonique mà đãi.

Hai là hiện ở Sài Gòn có cái nhà "xéc" Tây mà chẳng bao giờ họ chịu cho người An Nam dự vô. Chỉ duy có một mình ông quan ba Xuân là được đến chơi mà thôi! Song lúc mới xin vô thì cũng đã thấy nhiều người cản trở, đến chừng tất cả các quan binh pháo thủ đòi xin thôi hết, họ mới chịu để cho ông quan ba Xuân vào hội. Thì cũng có một mình ông Xuân mà thôi!!! Thậm chí mỗi khi có cuộc chi vui mà họ cần phải có người An Nam dự vào, thì An Nam cũng phải ra đứng ngoài cỏ, như mấy khi tranh vô địch banh vợt(*) mới rồi đây.

Nội trong hai lẽ ấy cũng đủ làm cho ta phải ráng làm sao mà làm cho Sài Gòn có một cái nhà Câu lạc An Nam.

Huống chi còn cả muôn ngàn chuyện ích lợi khác nữa, như những là có chỗ tập thể thao, có chỗ lập cuộc diễn thuyết mà giúp cho nhau về đường học vấn kiến văn. Chớ hiện bây giờ, người An Nam, mỗi khi muốn thừa nhàn(**), thì chẳng biết đi vào đâu hết. Mà có lẽ cũng vì không có một chỗ mà giải hứng, nên mới sanh ra nhiều chuyện thương phong bại tục.

Thế thời, tôi dám chắc ai ai cũng đồng ý kiến với tôi mà bảo rằng cái nhà Câu lạc An Nam ở Sài Gòn là một điều cần phải có. Mà phải có làm sao cho tất cả những người An Nam có đủ thể thống đều dự vào được, bất kỳ giàu hay nghèo, nghĩa là phải thế nào cho số tiền vào hội đừng quá cao mới đặng.

Nếu nói như ông kia hôm nọ, bàn tính định mỗi tháng góp đến 10 đồng, thì có bao nhiêu người vô được. Mà chánh ngay ông ấy cũng đã nói chỉ kiếm được chừng 50 người mà thôi. Có năm chục người thì hội nhau lại mà làm chi? Mà gọi là nhà Câu lạc của An Nam sao đặng? Huống chi 5 chục người, mỗi người 10 đồng một tháng cũng chẳng ra trò gì.

Vậy thời làm thế nào cho có nhà Câu lạc An Nam đặng?

Muốn cho có nhà Câu lạc, thì trước hết phải để cái óc chánh trị, phe đảng ra ngoài. Đã kêu bằng Câu lạc thì bất kỳ  là ai cũng nên hiệp nhau lại mà cùng vui.

Bao nhiêu những nhơn vật ở Sài Gòn đều hiệp nhau  lại mà quyết làm cho xong cái  nhà Câu lạc, rồi, chừng ấy mới phái một ít người quen biết lục tỉnh đi xin mấy ông nhà giàu quyên trợ vào. Bao giờ mấy ông chịu nhận như chúng ta rằng điều lập nhà Câu lạc là một điều rất cần ích, ta mới có thể mong cho thành được. Bằng như mấy người hằng sản An Nam ta mà làm ngơ, thì chẳng bao giờ xong đặng.

Mà muốn cho họ tin, thì trước hết mình phải đừng chia rẽ nhau, đừng mời ông nầy, bỏ ông kia như hôm nọ. Vì phải lựa người có tín nhiệm mới làm cho tin mà nghe đặng.

Cách chừng một năm nay, tôi đã có nói với ông Trương Tấn Vị ở Châu Đốc về chuyện ấy, thì ngài cũng đã có hứa rằng, sẽ hết sức đi cùng lục tỉnh mà cổ động  tán thành cho việc lập nhà Câu lạc An Nam ở Sài Gòn.

Kỳ nầy sao không cậy ông Trương Tấn Vị thử coi?

                                                                                                                            TÂN VIỆT

                                                                                   Đông Pháp thời báo,Sài Gòn, s.728 (7.6.1928)

-------

* banh vợt: quần vợt, tennis, banh nỉ; ** thừa nhàn: nhân lúc rỗi rãi, thong thả.


Đổi tên An Nam theo điệu chữ Lang Sa

 

Cách mấy tuần nay, ông Jacques Danlor là người thường hay viết giùm bài xã thuyết cho báo La Tribune Indochinoise mới viết ngay ở trong tờ báo ấy rằng người An Nam nên sửa tên lại cho giống như tên Tây đặng người Lang Sa dễ đọc. Ông Danlor lại có cho thêm thí dụ rằng giả tỷ như tên cụ Bùi, thì nên sửa lại mà kêu là M. Bouille. Cụ có nghe theo không, chúng tôi chưa dám biết; mà điều ấy cũng là một cái quyền riêng của cụ.

Lạ thiệt, người như Jacques Danlor, tức là ông trạng sư Garros ngày xưa ở Sài Gòn là một người mà mình thường hay cho là có lòng yêu An Nam, mà sao lại có cái tư tưởng kỳ quái như vậy? Sao mà muốn cho đổi tên theo kiểu mình? Mà lạ nhứt là một cái tư tưởng kỳ quái như vậy mà báo La Tribune Indochinoise cũng đăng tống vào!

Song nghĩ kỹ, thì cũng chẳng lạ gì. Vì nội trong mấy người trợ bút của quý đồng nghiệp, có người cũng đã tự cho cái tên An Nam là xấu mà ký là Alpha. Vậy chớ bao giờ mới chịu ký ngay là Beta?

Nói chơi đừng quạu!

Chớ muốn sao cũng không sao, tôi chỉ lo cho mấy nhà sử học ngày sau, thấy mình tên Tây rồi cứ ngồi mà nghiệm mãi: "Kỳ thiệt! Thứ dân Gaulois nào đây mà lỗ mũi lại xẹp lép như vầy?"

Khổ cho họ thiệt!


Cũng là đất Rạch Giá

 

Hổm rày ở trong báo L'Echo Annamite, cũng vì một vụ đất Rạch Giá mà thấy ông Diệp với thầy cai tổng Huê biện bác cùng nhau luôn mấy kỳ.

Đến nay lại có một người dân làm ruộng trong làng Tân Hiệp đến tại bổn quán mà kêu nài về chuyện thầy cai tổng Huê choán đất. Cứ theo số biên tên trong một lá đơn họ đã gởi cho quan Thống đốc Nam Kỳ, thì số người dân nghèo đã can thiệp vô chuyện ấy hằng đến sáu bảy chục tên.

Nhưng vì chúng tôi chưa biết rõ thiệt hư ra sao, nên không muốn nói ngay vào đây, rồi phải bị hai đàng đôi chối mãi.

Hay hơn hết là nhơn nay đã sẵn có hội phái viên ra khám đất chánh phủ mới đặt thì mấy ông bị hiếp đáp trong vụ đất Tân Hiệp cứ gởi đơn lên bàn hội mà kêu nài. Tôi cũng xin nói ngay cho bàn hội phái viên ấy biết rằng làng Tân Hiệp có nhiều chuyện lôi thôi lắm. Xin mấy ngài nên chú ý.

Còn phận sự nhà báo chúng tôi, thì mỗi khi hội xét đất đến đâu chúng tôi sẽ phái người đến đó đặng xem xét coi có điều chi bổ ích cho hội, thì sẽ đăng vào báo đặng giùm giúp cho người đương việc nặng nề ấy rõ biết đầu đuôi mà làm cho ra vẻ công bình. Còn như rủi có chuyện chi yêm ẩn, thì chúng tôi cũng sẽ tuyên bố đặng cho chánh phủ, dư luận biết tường.

Tiện đây, chúng tôi xin nói cùng mấy ông trong làng Tân Hiệp cùng trong các làng khác cũng vậy đừng nên quá tin cậy nơi cái biên lai của mình đóng thuế. Vì theo pháp luật, thì mấy cái biên lai đóng thuế cũng chẳng qua là tỷ như một cái biên lai trả tiền phổ. Chớ không phải hễ đóng thuế rồi, thì cho mình là chủ vĩnh viễn. Xin ai nấy phải nhớ lấy, mà lo tính cho xong với nhà nước, cho có giấy tờ hẳn hoi; bằng không, thì sẽ bị quân tham nó đủ mưu kế mà dành dựt mất hết công khó của mình.

Chúng tôi lại cũng xin chánh phủ nhứt là bàn hội xét đất nên hiểu giùm cho dân nghèo, vì không biết luật phép mà thành ra phải bị không biết bao nhiêu là sự khốn nạn. Hội phái viên cũng nên thể tất theo cái tánh quê mùa của dân ruộng rẫy mới mong khỏi sự bất công.

Sẵn dịp chúng tôi chỉ xin nhắc lại cho chư độc giả nhớ rằng cũng vì bởi mấy bài nói về ruộng đất của người đồng sự của bổn báo là ông Dương Quang Thình mà chánh phủ xét cho rằng phải, mà ngày nay mới có cái bàn hội xét các vụ ruộng đất tranh dành chánh phủ mới lập ra đây.

Cũng có khi Đông Pháp của chư quí độc giả làm đặng chuyện có ích.

                                                                                                                        TÂN VIỆT

                                                                                          Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 729 (9.6.1928)


 Nước lã khuấy nên hồ

Sau khi chúng tôi công kích ông chủ quận Cầu Kè, thì có tiếp được bức thơ của thầy bang biện Vui trong quận gởi đến trách chúng tôi rằng sao ông Nguyễn Hữu Hạnh là một người quan yêu dân chuộng mà khi không(*) chúng tôi lại nước lã khuấy nên hồ. Rồi bảo chúng tôi đừng gởi Đông Pháp cho thầy ta nữa.

Thầy bang, vậy chớ tòa Cần Thơ cũng nước lã khuấy nên hồ nữa sao?

Chí như cái chuyện thầy không mua báo nữa là một cái quyền riêng của thầy.

Tôi chỉ xin nhơn dịp nầy mà tỏ cho ai nấy đều biết rằng nhà làm báo chỉ biết phận sự làm trước. Hễ thấy điều phải thì làm. Đã làm một tờ báo ra thì cũng cầu cho có người đọc, không thời làm làm chi. Song cái chuyện ấy dầu cho quan thiết đến đâu, chúng tôi vẫn cũng để sau cái chơn lý.

Chúng tôi chỉ biết lấy chơn lý làm tôn chỉ, rủi như gặp nhằm chuyện phải thì chúng tôi cứ làm, rủi mất hết mười ngàn độc giả của chúng tôi, thì cũng cam chịu, huống chi là một mình thầy bang Vui!

Nói thế, chớ có bao giờ mà người đọc báo lại chẳng biết yêu tờ báo chơn chánh.

Trong việc Cầu Kè, chúng tôi mất một thầy bang Vui mà lại được tăng thêm hàng mấy mươi độc giả trong quận; điều ấy cũng đủ khuyến lệ cho chúng tôi cứ đi theo chơn lý.

Cũng vì lẽ ấy mà nghe ông quận Tân Châu đương cổ động cho người ta đừng đọc Đông Pháp nữa, mà chúng tôi mừng. Vì tưởng như quả có vậy, thì trong ít ngày đây, trong quận Tân Châu chẳng còn ai là người không đọc Đông Pháp.

Mà Cầu Kè cũng vậy.


Câu chuyện một người học trò ở Thanh Hóa

 

Mới rồi trong các báo tây ngoài Bắc mà nhứt là báo La Volonté Indochinoise, đã hết sức phản kháng mà trách chánh phủ Đông Dương sao đối với vấn đề giáo dục lại không giữ cái địa vị trung lập.

Nguyên vì kỳ thi sơ học mới rồi ở Thanh Hóa, về bài thi văn Lang Sa, thì giám khảo ra một đề như vầy: "Tả cảnh một cái chùa phật". Trong đám khóa sanh có một trò nhỏ con nhà có đạo Thiên Chúa nhứt định không chịu làm bài. Bảo rằng cái đề ấy trái hẳn với cái lòng tín ngưỡng của cậu ta.

Câu chuyện có chừng đó mà báo La Volonté hết sức trách chánh phủ sao không giữ phận sự mà lại nhảy xen vào can thiệp đến vấn đề tôn giáo.

Trách như vậy, phải hay không, thì đã có chánh phủ với ông De Montpezat là chủ nhiệm tờ báo đã nói trên kia, chúng tôi không cần phải bàn đến. Còn như đạo Thiên Chúa, thì ở đây họ cũng có thừa thế lực mà chống cự với chánh phủ về vấn đề tôn giáo, chẳng cần chi Đông Pháp phải phụ họa vào.

Chúng tôi chỉ xin nhơn lấy dịp nầy mà nói cho dân ta biết rõ hai điều:

Thứ nhứt là người phương Tây họ trọng sự tự do tín ngưỡng là dường nào. Một cái đề thi nói đến cảnh chùa phật là cũng đủ cho họ phản kháng một cách rất kịch liệt. Mà hễ muốn cho có tự do tín ngưỡng thì tất phải có tự do giáo dục, nghĩa là cho phải bất kỳ là người đạo nào cũng được phép thong thả mở trường mà dạy theo tôn chỉ đạo của mình. Miễn là phải đủ tư cách mà thôi.

..............................

..................................

Hai là một trò nhỏ An Nam vừa tuổi đi thi sơ học mà đã biết giữ cái đức tín ngưỡng của mình đặng như vậy, thật là một điều đáng quí, đáng tiêu biểu. Đạo Thiên Chúa tuy không phải là đạo của phần đông của dân An Nam. Song bất kỳ là đạo nào mà trong đạo ấy đã có người biết hi sanh cái thân mình cho tôn chỉ như vậy, thì ta cũng nên bái phục.

Huống chi trò em nhỏ ấy lại là một đứa con nít nhà An Nam, ta lại mừng thêm nữa.

.......................................

........................................

Thấy trò nhỏ nầy mà nhớ đến chuyện đứa con nít Hy Lạp. Trong lúc Hy Lạp bị người La Mã chiếm cứ, binh La Mã bắt một đứa nhỏ thật bé, mà dò hỏi điều nầy điều khác. Chừng thấy đứa nhỏ ấy mọi điều một trả lời một cách anh hùng khẳng khái, tướng giặc muốn thử coi nó đã có học ít nhiều chi chăng, mới bảo nó viết một câu trên cát. Nó liền lấy que mà gạch ngay mấy chữ: "Tôi rất yêu quý quê hương của tôi".

                                                                                                                           TÂN VIỆT

                                                                                   Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 730 (12.6.1928)

------

* khi không: tự dưng, bỗng dưng (theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, sđd.)


Cái bia của đức Quốc công

 

Đức quốc công là công thần của bà hoàng thái thái hậu, mẹ vua Tự Đức mà tôn hiệu là Từ Dũ, quê ở Gò Công. Tưởng cũng nhiều người biết rõ sự tích ấy và biết nhà thích lý(*) họ Phạm và nhà thờ của ông đức quốc công ở tại Gò Công, cách châu thành chừng ít cây số.

Mới đây chúng tôi có tiếp được ông Phạm Đăng Trung là người giám thủ nhà thờ của đức quốc công đến nói chuyện tấm mộ bia như vầy:

Cách chừng 70 năm nay, trước khi nhượng giao Nam Kỳ cho chánh phủ Lang Sa, ông Phan Thanh Giản, lúc ấy  làm Nam Kỳ kinh lược và ông Trương Tác Dụng có làm một bài minh chạm vào đá cẩm thạch, rồi dựng trước mộ của đức quốc công. Bia ấy đề ngày tháng chạp niên hiệu Tự Đức thứ mười.

Từ khi dựng bia đến sau, vật đổi sao dời, quan Phan Thanh Giản nhượng Nam Kỳ cho Chánh phủ Pháp rồi uống thuốc độc mà tử tiết, ông lãnh Tân lén lấy đầu thầy là ông lãnh Định giúp nhà nước Lang Sa dẹp yên đám giặc Tháp Mười; từ ấy nhẫn nay sao dời vật đổi, không biết vì duyên cớ gì mà tấm bia ấy ngày nay lại đương đứng sững ở trong đất thánh Tây.

Ông Phạm Đăng Trung thấy vậy có viết thơ cho quan Thống đốc Nam Kỳ và Triều đình Huế mà xin phải giao tấm bia ấy lại cho từ đường họ Phạm gìn giữ. Chánh phủ trả lời rằng đồ trong đất thánh tây là thuộc về của thành phố Sài Gòn. Ông Phạm Đăng Trung lật đật lại xã tây(**). Song chưa gặp đặng ông Rouelle.

Ông Phạm Đăng Trung còn xin thành phố Sài Gòn phải bôi mấy hàng chữ tây trên tấm bia ấy và sửa bài minh lại y như cũ rồi cho đem lại nhà thờ của ông đức quốc công, ông Phạm Đăng Trung mới chịu lãnh.

Sao mà tấm bia ấy lại lạc vào trong đất thánh Tây? Để đến kỳ sau chúng tôi sẽ tra xét và lấy hình mà đăng lên báo.

Hôm nay chúng tôi chỉ xin chánh phủ và ông Rouelle là người đã có tiếng yêu người An Nam nên mau mau đem tấm bia ấy mà giao lại cho Phạm từ đường.

Ai ăn ai thua, ngày nay cũng đã phân minh rồi, thành phố Sài Gòn có giữ chi lại cái dấu tích đường tên mũi súng!

Mà tôi tưởng mấy ông hội đồng thành phố An Nam cũng nên can thiệp vào vụ này. Chúng tôi chờ mấy ông lắm.


 Đã lại vì dành đất!

 

Mới rồi, cách chừng hai ngày rày, ở Cà Mau lại mới sanh ra một vụ đánh chém rất dữ dội.

Theo như lời báo Impartial thì mấy người tá điền của Nguyễn Văn Thanh, chủ điền ở Cà Mau, một hôm nọ xách dao mác đến tại miếng đất mà chủ điền chúng nó đang tranh dành kiện cáo