|
PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1930 CÂU CHUYỆN HẰNG NGÀY
Ghi chú của người sưu tầm: Dưới đây là các bài trong mục “Câu chuyện hằng ngày” của Tân Việt trên nhật báo Thần chung trong năm 1930. Như đã nói ở tập trước: trong tổng số 61 kỳ xuất bản của báo Thần chung trong năm 1930, trước khi báo bị cấm (từ 2.1 đến 24.3.1930), mục “Câu chuyện hằng ngày” của Tân Việt có mặt ở 59 kỳ báo, tức là chỉ vắng mặt ở 2 kỳ báo do bị kiểm duyệt bỏ (các số ra ngày 21.1 và ra ngày 25.2.1930). Về bút danh Tân Việt, như đã nói rõ ở 2 tập trước, đây là bút danh mà Phan Khôi và Diệp Văn Kỳ ký chung khi họ viết bài trong mục này. L.N.A.
NGHỀ BÁN SÚNG SÁU VÀ NGHỀ IN SÁCH QUỐC NGỮ Theo như mấy chị em mộ thể thao ngoài Bắc, thì “nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh”. Chim, Giao vậy mà nghề nào cũng vậy. Báo Le Phare, số ngày chúa nhựt 29 Decembre có thuật chuyện người bán súng sáu nói với quan thẩm án: - Trong một tuần lễ mà anh bán đến 30 cây súng sáu, anh bán cho ai mà nhiều dữ vậy? - Thưa bán cho đủ hạng người, đàn ông có, đàn bà có, trẻ có, già có, quý phái cũng mua, bình dân cũng sắm. - Họ nói với anh, họ mua súng để làm chi? - Người thì tập bắn, kẻ để hộ thân… Ngài hãy biết có ai chịu nói với tôi rằng mua súng để tự vẫn hay là để giết người đồng loại đâu… Bởi tôi không chắc, nên tôi bán… Cái nghề của tôi, tôi biết sao bây giờ? Ừ, nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh. Nghề bán súng, tất phải làm sao mà bán cho đặng nhiều. Chớ nếu mỗi khi ai hỏi mua một cây súng sáu mà còn phải dò cho ra, xét cho kỹ coi thử người mua ấy có ý mua để mời chồng đi dạo một vòng dưới âm phủ hay là đưa vợ vào cung vua Diêm vương, thì biết bao giờ bán cho đặng một cây súng. Cái mục đích của cây súng, nhứt là súng sáu, là cốt để giết người… Thế nên xưa nay mình chưa thấy trong vụ án mạng nào mà tòa phạt người bán súng. Đó là nghề bán súng sáu và ở bên Pháp. Còn bên ta, lại có cái nghề in sách quốc ngữ. Nói rằng in sách quốc ngữ là hại hơn bán súng sáu, thì nghe qua thật khó hiểu. - Tác giả có nói với anh in cuốn sách này ra để làm chi không? - Thưa tôi không có hỏi, vì tôi biết chắc in ra để bán. - Anh không biết cuốn sách nầy có thể làm rối cuộc trị an sao? - Thưa tôi đâu có ngày giờ mà đọc cho hết sách của họ đem lại in. - Thôi để tôi giải anh ra tòa. Người in sách không hiểu. Có kẻ chỉ cho rằng: Súng sáu bán được, chớ sách anh không phép nhắm mắt in càn. Vì nhiều khi, bởi tại cuốn sách mà anh đưa người ta đến nhà anh bán súng sáu. - Ở đây ai bán cho anh mà anh đưa lại? - Đó lại là một chuyện khác nữa. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.285 (2.1.1930) MỘT MÓN ĐỒ QUÀ ĐỂ ĐI TẾT CHO MẤY ÔNG PHÁI VIÊN ĐIỀU TRA THUỐC PHIỆN Chiều 31 tây, như tuồng các báo Lang Sa ở Sài Gòn muốn đi lễ tết cho ban phái viên điều tra thuốc phiện nên đều có chép chuyện ông Lambert chết dưới tàu Chenonceau. Ông Lambert, 24 tuổi, qua đây làm việc ở nhà thuốc Solirène, thấy Nam kỳ thiếu chi thuốc phiện, nên mới hút thử chơi. Ban đầu chơi, sau thiệt, thét rồi ghiền mà phải lâm bịnh. Thầy thuốc biểu về tây nghỉ. Nửa muốn ở, nửa muốn đi. Đi ra một bước một ngừng: tới Cap St.Jacques(*) tính trở lại, qua Singapour, sắp để tàu Chenonceau đi một mình. Chung quy cũng gượng gạo mà theo cho gần đến Colombo. Song ở dưới tàu, tối ngày gặp ai cũng nói: Tôi chết! Tôi chết! Và đương khi tàu đương ở giữa biển, ông ta ghiền quá sanh ra đau, thầy thuốc dưới tàu phải đem vào phòng bịnh, biểu người canh giữ ông ta, vì quá ghiền nên đã nhiều phen muốn lấy dao cắt mạch máu mà chết. Hôm nọ, giữa Ấn Độ Dương, có lẽ vì ông ta nhớ “anh chị” quá trí, chịu hết nổi, lén chạy tuốt lên sàn tàu nhảy xuống biển mà chết. Đó là một cái kết cuộc của người ghiền thuốc phiện, và cũng có thể làm cái quà tết tây cho mấy ông phái viên của Hội liệt quốc. Vì chuyện ông Lambert tức là chuyện chung của cả muôn bợm phiện ở xứ này. Cần gì điều tra đâu cho xa, đọc lấy bài thời sự đó cũng đủ. Khó, là trong khi mình hay tin [. . . . . . ](**) phái viên kia đương nhởn nhơ ở Huế, lên viếng các lăng nhà vua. Đi khắp cùng, thấy thờ đủ hết mà không đâu có một cái mâm hút. Cho đến Vĩnh Cơ là lăng vua Khải Định, thờ không thiếu một món, nào là dầu thơm Coty, bàn chải răng Gibs mà cũng chẳng thấy một cái mâm hút nào. Rồi đó chắc mấy ngài lại phải lạy mà nói: Dân Đông Dương đâu có hút nhiều. Coi mấy ông vua đây cũng đủ biết… Nghe nói hôm nay họ đã ra đến Bắc kỳ. Chừng dạo chơi mấy xóm ả đầu, nghe “hãm”, nghe trống, thì họ lại nghĩ: Trong một cái nước mà đã có cái điệu hát như vậy thì bỏ thuốc phiện đi thật là một thú. E khi, lúc nào mấy ngài trở lại Geneve, chắc sẽ làm một cái tờ phúc bẩm khá dài khuyên Hội liệt quốc phải chuẩn ra một số tiền phụ cấp khá lớn để ban cho… sở nấu nha phiến ở đường Paul Blanchy và bày ra một mớ mày-đay để tặng cho mấy chủ tiệm thuốc. Thế mới kêu là Hội liệt quốc. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.286 (3.1.1930)
THẾ NÀO GỌI LÀ ĐIÊN? Theo một tờ báo kia, thì có nhà toán học Ăng Lê liệu trước rằng trong ba thế kỷ nữa, người Âu châu sẽ điên hết. Rồi đó quý đồng nghiệp lại tự hỏi: Nói vậy hay vậy, chớ ai sống đặng 300 năm mà biết lời nghịnh liệu ấy trúng hay trật. Theo ý tôi, thì không trúng không trật chi hết. Vì điên là một tiếng ở trong cái lệ tương đối, tuy người ta hay nói hay dùng, kỳ thiệt chưa ai hiểu rõ nghĩa nó ra sao hết. Cái dấu điên dễ hiểu nhứt là xé áo xé quần. Ấy vậy mà thế gian sanh ra lắm chuyện điên khùng vốn bởi từ hôm bà Ê-và lấy lá mà che mình lại. Và nếu như lấy sự loã thể mà gọi rằng điên, thì chẳng cần chi phải chờ đến ba trăm năm; ngay bây giờ Âu châu cũng đã gần điên hết phân nửa. Người ta lại nói điên là kẻ nào hoặc tư tưởng trái với lệ thường, hoặc hành động khác hẳn với phần đông. Napoléon một tay dựng nên cái sự nghiệp Đế quốc cho nước Pháp là một chú điên, mấy nhà philosophes(*) trong đời thế kỷ 18 xướng ra cái thuyết dân quyền cũng đã bị người ta cho là một phường lãng trí. Chí như nói kiểu Ăng Lê, vì sợ cho dân Ấn Độ độc lập, chắc họ sẽ chém giết nhau, nên nhiều khi phải đem tàu trận sang mà bắn trước, thì có thể nào điên hơn nữa đâu? Chiếu theo gương của người Ăng Lê, thì Âu châu ngày bây giờ cũng ít ai đáng gọi là tỉnh. Đó là chuyện người, còn mình đây, ai điên? ai tỉnh. Ai tỉnh? Ai điên? Những ai là kẻ trăm mưu ngàn chước, vào cúi ra lòn, chỉ biết tính sao cho nhiêu thân(**) phì gia mà chắc gì là không phải điên? Còn như kẻ tấm thân trôi nổi, bỏ nhà cửa vợ con, vào tù ra khám, thiên hạ đều tưởng là đồ khùng, mà chắc gì là không tỉnh? Anh chàng tự xưng hoàng đế với ông thánh Tây Ninh là điên hay tỉnh? Cô thiếu nữ bị nhốt vào nhà thương điên Chợ Quán, rồi cứ ngồi thơ thật ca một mình: “Kia nước non ai, ai giữ nước non?” Điên hay tỉnh? TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.287 (4.1.1930)
(*) philosophes: những triết gia. (**) nhiêu thân: khỏi sưu thuế (theo H.T.Paulus Của, sđd.) NĂM NAY SẼ CÓ TẾT HAY KHÔNG? Theo mọi năm, bữa rày gần tới Tết rồi, còn không đầy một tháng nữa. Nhưng năm nay, ngoài Trung kỳ, người ta đương ngần ngại hỏi nhau, không biết sẽ có Tết hay không? Người ta ngần ngại vì một điều rằng: nếu không Tết thì sẽ lợi cho chánh phủ; nhưng nếu không có Tết luôn luôn, năm nọ qua năm kia lu bù, thì lại hại cho chánh phủ. Báo Tiếng dân số 244 ra ngày 20.12.29, có một đoạn thời sự rất buồn cười. Dân làng Quán Khái Đông, tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, kêu rằng số dân làng ấy hết thảy là 388 người, mà trong giấy thuế về năm 1929 của quan phát ra, người nào cũng y tuổi năm ngoái hết. Nghĩa là người nào năm 1928 là 30 tuổi thì năm nay cũng 30 tuổi, không phải là 31 tuổi theo như lệ thường. Mà hết thảy 388 người đều như vậy cả. Lạ cha chả là lạ! Nếu vậy thì cái Tết mới rồi, họ ăn Tết mới là tầm bậy. Lẽ đáng không ăn Tết mới phải. Vì nếu có Tết thì một người đã thêm lên một tuổi. Năm ngoái ăn Tết lỡ rồi thôi; còn năm nay mới nghĩ sao? Cứ theo lẽ trên đó thì năm nay cũng không có Tết mới phải. Không có Tết thì những người đóng thuế cứ trẻ hoài, cứ đóng thuế hoài , không đời nào ra lão, chỉ khi nào chết đi mới hết đóng thuế, như vậy có phải lợi cho chánh phủ không? Nhưng lại ngặt một điều: nếu không có Tết thì không đổi năm, và nhà nước sẽ không thâu thuế mới, bởi vì thuế mỗi năm thâu một lần, mà nay không có Tết, không có chia phân từng năm ra, thì thôi, còn thâu thuế chi? Như vậy, trở lại hại cho chánh phủ. Thôi bỏ sự lợi hại đó đi đừng nói. Chỉ nghĩ mà khoái cho cái cuộc thái bình xứ Đông Dương nầy thật đáng nên ca tụng. Sách xưa có nói “Đời thái bình thì người ta không già”, thật phải. Năm ngoái ba mươi tuổi, năm nay cũng ba mươi tuổi thì thôi, còn già chi được? Nếu chẳng thái bình thì sao có được cái cảnh tượng ấy? Ước gì đâu đó được như dân làng Quán Khái Đông cả thì sướng lắm. Ba mươi tuổi cứ ba mươi tuổi hoài thì dầu không ăn Tết cũng chẳng hại chi. Tân Việt nầy cũng muốn nhập tịch làng Quán Khái Đông để cứ trẻ hoài mà viết câu chuyện hằng ngày chơi! TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.288 (5 và 6.1.1930) HỘI ĐỒNG KIỂU MỚI Hội đồng “oui”!(*) Tưởng chắc cái tiếng đó lúc mới phát sanh nó cũng đã làm cho người ta mua cười không ít và nó đã tả ra một cách rất rõ ràng cái hình trạng ở trong các nghị viện xứ nầy. Song một cái danh từ, dầu cho ngộ đến bao nhiêu cũng phải nhàm, phải cũ. Vì thế nên chi hôm nọ ở nhà hát tây mới có một ông khôi hài đứng nói: - Chư vị cử tri cứ cử tôi đi. Tôi không phải như người ta đâu. Tôi chẳng bao giờ chịu làm hội đồng “oui”. Nói thiệt cho chư vị biết, tôi không phải hội đồng “oui”, tôi đây là hội đồng “dạ”. Đó thành ra hai kiểu hội đồng. Ấy vậy mà từ khi chánh phủ Pháp do quan Toàn quyền Pasquier lập thêm ra một cái nghị viện mới lạ, mới lạ cho đến nỗi hiện nay cũng chưa biết tên An Nam nó là gì – Kinh tế? Lý tài? Đại hội đồng? – thì lại sanh ra một hạng hội đồng kiểu mới. Không “oui” cũng không “dạ”. Hội đồng câm! Thật ra cái danh hiệu đó cũng chẳng có chi là quá đáng. Cứ xem ngay theo lời kỷ thuật của những nhà làm báo có chưn ở hội đồng đó, thì cũng đủ thấy trót một tháng trời nhiều ông không hề nói một tiếng. Tội nghiệp! ăn làm sao nói làm sao bây giờ? Ở Hội thì mỗi việc mỗi dùng tiếng Lang Sa, mà mấy ông kia lại không hề học một chữ. Chỉ duy ông Quỳnh, ông Vĩnh là hai tay sành tiếng Pháp mà trong kỳ hội vừa rồi như tuồng cũng mắc phải cái chứng truyền nhiễm đó mà hở miệng không ra. Bởi thấy lạ nên Thần chung lúc nọ mới than phiền sao ông Quỳnh ông Vĩnh cũng nín khe như thế. Hay là mỗi khi đi hội đều nhớ sực đến câu: “Nói năng là bạc, nín khe là vàng”? Và cũng bởi câu chuyện như thế, nên mới đây nhơn việc ông Quỳnh diễn thuyết về vấn đề: “Người nhà quê An Nam”, cụ Bùi lại chạy ra binh mà nói: “Đó, thấy chưa? Ông Quỳnh có phải là câm như mấy thằng hay dóc đã tưởng đâu.” Ủa, sao hôm nay cụ lại binh ông Quỳnh? Thưa cụ, cụ tưởng lầm. Chúng tôi trách ông Quỳnh sao vào hội mà lại chỉ mặt làm thinh. Chớ có phải nói ông ta câm đâu. Cụ sai, diễn thuyết là một việc, làm nghị viên mà nín thinh lại là một việc khác nữa. Huống chi sự làm thinh cũng chưa chắc là hại. Có nhiều khi đụng đâu nói đó, gặp chuyện chi cũng nói xàm nói đế, thì cái hại lại càng nhiều hơn. Nói để bào chữa rằng ông Quỳnh không câm, thì nín khe như ông Quỳnh, đi hội e còn tốt hơn. Luận ngữ có câu: “Đức Khổng Tử đương ăn thì không nói”. Cái nầy vừa nói vừa ăn mới là khả ố. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.289 (7.1.1930) (*) oui (tiếng Pháp): vâng, tán thành, đồng ý. CẤM HUN Cái sự hun nhau là để tỏ tình thân ái, chẳng dân nào là chẳng có. Khác nhau là cái cách hun và cái chỗ hun mà thôi. Như người Tây họ hun bằng môi, An Nam ta hun bằng lỗ mũi (vì hun bằng mũi, cho nên tiếng ta cũng có nói tiếng đôi là hun-hít), ấy là cái cách hun khác. Còn người Tây họ hun giữa công chúng; An Nam ta hun con nít thì hun chán chường, khi hun người lớn thì hun trong buồng cùng chỗ khuất, ấy là cái chỗ hun khác. Bên Âu châu, nước nào cũng cho sự hun là thường, coi như một cái lễ. Nhứt là ở nước Nga, khi gặp nhau, bất kỳ là bà con, bạn hữu, hay là tình nhơn, đàn ông đàn bà chi cũng đều hun nhau, như là chào vậy. Lâu nay chánh phủ Tô Nga hạ lịnh cấm hun, vì cho là hại vệ sanh. Họ mở cuộc diễn thuyết, phát truyền đơn, quảng cáo để cổ động bỏ tục hun. Trên tường, trên các bao thơ qua nhà giây thép, đều có thấy những chữ như vầy: “Mỗi một khi hun ai, người bị hun đó phải rước lấy một lần bốn vạn con vi trùng!” Ấy là nói chuyện bên nước Nga. An Nam ta? An Nam ta thì không cấm chi hết. Ai hun mấy đó thì hun, không cấm, vì có hai lẽ. An Nam hun bằng mũi, chớ không hun bằng môi, vả lại khi hun đó, người hun hít vô, thì dầu cho có vi trùng đi nữa, có làm sao truyền qua bên người bị hun được? Ấy là một lẽ. Lại, An Nam mình có hun thì hun trong kín, không thì cũng chỗ vắng người, vậy có ai thấy đâu mà cấm? Ấy là hai. Đi lại chỉ có làm dân An Nam là sướng. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.290 (8.1.1930) HÁT CẢI LƯƠNG HUẾ Hôm rồi, thiên hạ ở Huế đều mục kiến được một tấn hí kịch buồn cười vỡ bụng. Ấy cuộc nghinh tiếp tân quan mà quan ấy chính là quan huyện Hương Trà. Ông Ph. – năm nay độ 25 tuổi, trước đỗ bằng Thành chung, làm ký sự tòa Sứ, rồi qua học trường Cao đẳng Luật khoa trường Hậu bổ ở Huế, đến lúc hạch ra được bổ làm còm-mi tòa Sứ; bấy lâu nay công trạng cao dày làm sao không biết; bây giờ được cải bổ làm tri huyện Thừa Thiên. Cái lai lịch ấy phải khai rõ để cho biết cái văn hóa của quan huyện mới, cũng là ở trong đám thanh niên tân học mà cái não lại còn cũ rích đâu như tuồng ở những lớp thượng cổ. Vậy ngày đó là ngày lễ đáo nhậm của quan huyện mới nên quan đã sức trước, thành ra cái lễ nghinh tiếp ấy ắt là oai nghiêm long trọng. Đi trước là cái xe tay quan huyện, quan ngồi thóm nhóm ở trong, mặc lễ phục đeo một cái bài ngà to tướng “Thừa Thiên huyện tri huyện”. Xe chồng mui vì có hơi mưa, ở bến xe, một phía có một tên lính lệ cầm cái lọng đen, giương cao lên trên để che cho quan. Bên kia, có vài ba chú lính khác cầm cờ và chạy và phất, gió đánh bạch bạch; hai bên nữa thì có đôi ba tên phu, cầm hèo chạy theo (cái hèo là như một cây baton mà dài; ấy là cái hiệu của quan huyện). Sau nữa có một bọn đánh trống lớn, dộng phèng la, nghe chát lỗ tai; đến sau rồi, lại có vài ba cái xe khác nữa; ngồi trỏng là các ông lại, thầy đề, cả thảy đều mặc áo rộng xanh, ngồi cách rất cung kính (ta đi rước quan huyện người ta thế mà!). Cả đám rước tất cả sau gần mươi người, mà đã diễn ra một tấn hí kịch rất khôi hài. Trước, xe quan chạy bon bon; sau, lính tráng, đề lại cũng phi bộ ruổi rong cho kịp, cờ bay phấp phới, trống đánh tơ mơ, phèng la dộng bon-bon, lọng giương cao, hèo vác thẳng, cả đám chạy qua các phố phường như là đám hát cải lương buổi chiều ăn mặc kết đoàn để đi làm quảng cáo. Trước hết đám rước đi từ bên Đập Đá là chỗ tư thất quan, rồi chạy ngang tòa Khâm, vụt qua cầu Trường Tiền, lướt qua đường Paul-Bert, chợ Đông Ba, rồi thẳng ra đường Đông Ba, dong ruổi một mạch đến Huyện. Thấy đám rước chạy qua, ai ai cũng phải đứng dừng lại mà coi thử cái gì lạ vậy, mà coi rồi thì ai cũng chíp miệng cười dài. Lại có vài ba đứa con nít láu-cá lại chạy theo la lớn lên: “Dè-è-è-è! Đi coi đám cưới bay! vợ chồng đi lạy mặt. Dè-è-è-è! Anh rể ngồi trước đó (chỉ quan Huyện) còn mi-xừ dâu ở đâu, sao lại không thấy! Dè-è-è!” Thế mà quan huyện cứ ngồi tỉnh táo chễm chệ như thường, cái mặt làm nghiêm dễ biết lắm! Không biết quan huyện ta nghĩ làm sao mà lại sắp đặt cuộc nghinh tiếp ấy chạy dông cả các con đường thâu tập nhứt ở Huế. Dám chắc là quan mới đáo nhậm, nên muốn “chưng” cho dân xứ Huế biết rằng ta là quan huyện mới đây, rồi sẽ cai quản chúng bay (vì kinh thành Huế thuộc về huyện Hương Trà) nên mới mưu cái sự nghinh tiếp loè loẹt ấy. Ta là kẻ bàng quan thấy thế không khỏi phì cười được, nhưng cười rồi thì lại có cái bi cảm vô hạn mà tự nói một mình rằng: Sao bọn tân học thanh niên trong nước ta hy vọng, tinh hoa của nước nhà, mà lại diễn ra những tuồng khả ố thế! Trước đã có ông Tú du học bên Tây về, bắt làng đi rước, bây giờ lại quan Tham bổ Tri huyện cũng giăng cuộc nghinh tiếp rầm rột thế. Ôi, xã hội ta có cái tội tình gì mà sản xuất ra những hạng người quái gở đến thế… TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.291 (9.1.1930) DƯ GIẤY LÀM CHI “Dư giấy làm chi chẳng vẽ voi”. Nhìn lại bao nhiêu sách vở báo chương, trước mắt mình ngày nay mà nghĩ cho câu thơ cổ nầy thật là thú vị. Ừ, nếu như có giấy dư thì vẽ voi còn vô hại. Song cũng uổng thiệt. Và có khi e nhiều kẻ trước tác An Nam cũng vì sợ đem ra vẽ voi mà phải gắng công làm sách. Từ đây về sau may ra họ khỏi giới ý về chuyện ấy nữa. Vì vừa rồi, một tờ báo Lang Sa ở Sài Gòn có đăng cái tin chỉ cách dùng giấy. Nghe nói có người kinh nghiệm đã ba mươi năm mới tìm ra một phương thuốc rất thần hiệu trị lợi(*), bịnh tả. Nhà kinh nghiệm ấy bảo cứ lấy sữa bò và giấy trắng mà nấu thành một thứ “soupe” rồi uống vào là hết bịnh ngay, và lại cắt nghĩa rõ ràng rằng giấy nấu ra thành hồ, uống vào nó sẽ dính vào mấy cái kẽ ruột mà làm cho chặn huyết lại rồi khỏi bịnh. Ấy đó, thấy chưa? Từ rày anh em đã biết cách dùng giấy rồi đó. Tưởng ai là người có giấy dư, thôi thì chớ vẽ voi nữa. Đem ra mà giúp cho người có bịnh tốt hơn. Song tôi chỉ còn tiếc một điều là nhà kinh nghiệm ấy không cho mình hay coi thử giấy đã in ra thành sách còn dùng đặng không. Nếu đặng thì tốt vô cùng. Vì hiện nay có nhiều bản sách quốc ngữ tưởng đem ra dùng, chẳng những là thành hồ đặng chặn huyết, mà uống vô dầu cho bịnh lợi(*) đáng bao nhiêu cũng sẽ cầm ngay tức khắc. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.292 (10.1.1930) (*) bệnh lợi tức bệnh lỵ, kiết lỵ (theo H.T. Paulus Của: sđd.) CÓ PHẢI CÂM ĐÂU! Trong số báo hôm ngày thứ ba vừa rồi bởi Tân Việt hiểu lộn cái ý của một câu mà làm cho thất lễ với cụ Bùi cùng quý đồng nghiệp La Tribune Indochinoise. Quý đồng nghiệp nói Phạm tiên sanh không câm là khôi hài, chớ không phải có ý chi binh. Tân Việt hiểu lộnTân Việt xin mạo cựu. Tân Việt lại còn xin lỗi với mấy ông nghị mà bấy lâu nay các báo đã cho là hội đồng câm nữa. Có phải câm đâu! Để Tân Việt nhắc lại một tích xưa của ông bạn mới nói cùng Tân Việt cho mà nghe: Trong một “họ”(*) ở đâu tận bên Tàu, từ những đời “ông Nhạc” có ông cha thường ngày hay bị mất rượu lễ, biết chắc chú trùm xơi lén. Song không dám rầy, vì chú trùm có cô vợ khá đẹp và nghe ra như tuồng “cha” cũng có tánh lẹo tẹo sao đó.(**) Bữa nọ một nhà giàu có trong “họ” đem đến cúng một cái bàn để xưng tội, bàn thiệt lớn, người đứng xưng tội cách cha cũng hơi xa xa. Cha mới kêu tên trùm vô mà nói: - Đâu nà! Con thử đứng dưới chỗ xưng tội, cha ở trên cha hỏi coi con có nghe rõ không… - Dạ. Cha hỏi: - Trùm ơi, con có biết ai uống lén rượu lễ của cha không? … Trùm ơi, con có biết ai uống lén rượu lễ của cha không? Hỏi bao nhiêu anh trùm cũng cứ lắc đầu, ra dấu mình không nghe chi hết. Cha tức giận lấy làm lạ: - Thôi mầy lên đứng đây mầy hỏi coi tao có nghe không! Trùm lên, trùm hỏi: - Cha ơi, cha có biết ai hay lẹo tẹo với vợ trùm không? Cha ơi, cha có biết ai hay lẹo tẹo với vợ trùm không? Cha cũng cứ lắc đầu như trùm khi nãy và kêu trùm xuống mà nói: - Thiệt con, thiệt không nghe chi hết. Ấy đó, ở đời biết bao nhiêu khi gặp phải cái cảnh ngộ như “cha” với trùm. Tại cái cảnh ngộ nó khiến xui, xây vần như thế, chớ có ông nghị nào đáng gọi là hội đồng câm đâu, huống chi là ông Quỳnh và ông Vĩnh. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.293 (11.1.1930) (*) họ đây là họ đạo, một đơn vị cộng đồng tín đồ Công giáo (Thiên Chúa giáo ) (NST). (**) Huình Tịnh Paulus Của (sđd) ghi nghĩa lẹo tẹo là “chẹo nẹo, vương vấn lấy nhau; âm thầm dính dấp cùng nhau”. CÁI NĂM RỒNG RẮN Trong sách xưa của Tàu có câu rằng: “Tuế tại long xà, hiền nhân kỳ ta.” Long là rồng, xà là rắn, chỉ nghĩa năm thìn và năm tỵ. Hiền nhân kỳ ta, có ý nói rằng những người hiền hay chết về hai năm ấy. Người đời xưa đã nói ra lại viết vào sách như vậy, há có phải là câu chuyện xàm, bạ đâu nói đó? Chắc người ta cũng đã kinh nghiệm lắm rồi mới nói. Năm thìn là năm ngoái, cách nay tới một năm, xa quá, Tân Việt không nhớ ra có người nào chết hay không. Chớ năm nay, năm Tỵ nầy, thiệt chết ròng những người hiền là người hiền. Kể ra in ít mà nghe, cũng đủ thấy lời ấy là thiệt. Nhưng lại phải biết người hiền có đâu cho nhiều mà không ít. Bên Pháp, ông Thống tướng Foch chết vào khoảng tháng ba, ông Clémenceau chết vào khoảng tháng mười. Hai ông ấy chẳng phải là người hiền của nước Pháp sao? Bên An Nam mình, nửa năm trên, không thấy chết ai, tưởng là qua khỏi; té ra có mấy tháng cuối cùng về phần nửa năm dưới mà chết hết bộn bề. Ông Lê Văn Huân, ông Ngô Đức Kế, ông Nguyễn Sanh Huy, rủ nhau về có một lúc. Mấy ông đó đều là người hiền của An Nam ta vậy. Xin những người Pháp ở đây thấy vậy mà chớ nói rằng đem mấy ông đó sánh với ông Foch và ông Clémenceau của các ông. Không đâu, không ai so sánh đâu; các ông có người hiền của các ông, chúng tôi có người hiền của chúng tôi. Người Pháp cũng vậy mà người An Nam cũng vậy, không nên câu mâu(*) sự so sánh đó mà nên suy nghĩ sự sau nầy. Nếu câu sách Tàu ấy là thiệt, mấy người chết đó là hiền, vậy thì nội những người còn sống lại đây, bất luận là Pháp, Nam, đều là bất hiền hết cả sao? Hoặc giả chúng ta đều là hiền hết cho nên mới qua khỏi cái năm tam tai nầy? Ai muốn làm người hiền thì năm tỵ nầy cũng chưa hết đâu, còn cho non một tháng nữa lận, cứ việc mà chết đi; chết đi để được làm người hiền, để được tiếng khen ngợi. Còn Tân Việt nầy chịu mặt bất hiền, rồng rắn đâu có bắt, nên cứ sống luôn, sống hết ngày này qua ngày khác, mỗi ngày mỗi có chuyện. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.294 (12 và 13.1.1930) (*) câu mâu: H.T.Paulus Của (sđd) ghi nghĩa câu mâu là “hay quạu, hay bắt lỗi bắt phép”. HÒA BÌNH GÌ? ĐỒ ĂN LƯỜNG NÀ! Cái điệu cờ bạc, không chơi thì thôi, chớ đã chơi thì phải chơi cho mãn sòng, ăn thua mới sướng. Còn như ăn nửa chừng, rồi kiếm cớ không đánh nữa, kiểu đó xấu lắm, người ta kêu bằng “ăn lường”. Nếu có người ngồi vô sòng, đánh chén nào trúng chén nấy, vơ bạc đầy túi, rồi đứng lên diễn thuyết, nói rằng: Nghề cờ bạc làm hại người ta lắm, chúng ta nên tắt đèn, cuốn chiếu đi, đừng đánh nữa, - thì thúi quá, còn ai nghe được? Lâu lâu lại nghe có người xướng lên cái thuyết thế giới hòa bình. Hòa bình hay là ăn lường? Sau những phần thưởng hòa bình Nobel, điều ước phi chiến K-H, lại có một phương pháp hòa bình mới. Một nhà thiệt nghiệp Huê Kỳ mới đây có đưa một bức thơ cho phòng thương mại vạn quốc mà bày ra một phương pháp hòa bình rất hay. Va khai tên ra 32 nhà thiệt rất có thế lực trong thế giới ngay nay, và nói rằng nếu 32 người ấy đồng tâm với nhau kết thành một đoàn thể, thì bất luận nước nào, dầu có cái dã tâm muốn gây việc chiến tranh cũng không có thể được. 32 người ấy tức là những người giàu về sắt, gang, than đá, dầu săng, cao su, bạch kim, đồ nguyên liệu làm giấy và các thứ của mỏ, khi họ kết thành đoàn thể rồi, có nước nào muốn gây việc binh đao, mà họ nhứt định không chịu cung cấp vật liệu cho, thì cũng phải thua(*). Va quyết luận rằng cuộc hòa bình của thế giới nằm trong tay 32 nhà thiệt nghiệp ấy, miễn là họ đoàn kết lại với nhau là được. Theo Tân Việt, cái phương pháp ấy thì hay, mà cái kiểu chơi thì dở. Chơi như vậy không sướng: ai chơi? Cái sòng bạc cả thế giới nầy mở ra đánh có vài ba thế kỷ nay. Từ hồi đó đến giờ ai ăn? Từ giấy săng giấy hoảnh cho đến tắt đèn, cuốn chiếu, đừng chơi nữa, thì thật là vô lý quá. Người đâu lại có người ích kỷ như vậy? Ăn thua lỡ rồi. Định thừa phải theo thừa. Thắp đèn lại đi. Trải chiếu ra. Ai còn đồng nào cho đặt hết. Dở cả “kè” nữa. Bất kỳ “mua bán” hay là “ăn có” chi cũng cho phép ráo. Như vậy mới là công bình chớ. Người ta thua, không cho người ta gỡ hay sao? Nếu còn ai nói chuyện hòa bình, còn ai diễn thuyết về cái hại của cờ bạc, còn ai vội vàng tắt đèn cuốn chiếu thì hết thảy con bạc họ vừa đi ra ngõ, vừa khạc nước miếng vừa nói: Đồ ăn lường nà! TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.295 (14.1.1930) (*) bản gốc là “phải cua”, ở đây sửa là “phải thua” vì ngờ là có lỗi in sai. GHEN TUÔNG LÀ CŨNG NGƯỜI TA THƯỜNG TÌNH! Ngày hôm qua Thần chung đã có thuật lại cái chuyện cô kia ngoài Bắc “vì thương con nên đến nỗi lụy chồng”. Trời ơi! Lụy một cách tôi tưởng cũng không lấy chi làm dễ ghét lắm, lấy làm lạ lắm. Song tôi chắc có nhiều người đọc qua cái chuyện ấy cũng cho là quái gở. Không quái gở chi hết. Cách mấy trăm năm xưa, tụi đàn ông mình cũng từng bày ra lắm chuyện chẳng khác chi chuyện mình mới hay đây. Bên Á châu, thì chữ “xuân” của ông chi đó. Còn bên Âu, thì ai đã từng vào viện tàng trân Cluny(*) lại chẳng thấy mấy dây nịt có ống khóa sắt kêu là giây “bảo trinh”. Tiếng tục Lang Sa có câu: “Trong mình người ta có con heo đương ngủ”. Chẳng phải riêng chi một việc trinh tiết của đàn bà đối với đàn ông, “trung tín” của đàn ông đối với đàn bà. Bất kỳ là việc chi mà loài người đã gọi là một cái “đức”, thì cũng cần phải có đồ bảo vệ. Bằng không, chẳng làm sao mà tránh cho khỏi “con heo trong mình” nó thức dậy. Có khi e cũng vì quá thạo nhơn tình, mà triều đình An Nam ta ngày xưa có bày ra một thứ lương bổng riêng gọi là tiền “dưỡng liêm”. Cô Bắc kỳ kia quả là người thạo nhơn tình thế thái mà lại thêm thuộc lịch sử. Mấy cái hòa ước của nước này ký với nước nọ mà người ta còn coi như “tờ giấy lộn” thay, huống chi là mảnh giấy cam đoan của lão chồng hứa rằng chịu giữ trung tín với vợ. Song tôi chỉ lo cho cô đó một điều, là rủi như may khỏi bịnh, thì ôi chào chà! mới ăn làm sao nói làm sao bây giờ? Hay là rồi lại ôm chồng mà sửa câu thơ cổ: “Có chồng ai dễ sống chi lâu!” TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.296 (15.1.1930) (*) Cluny: tên tu viện từng dẫn đầu phong trào cải cách trong Giáo hội công giáo (catholique) từ cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI. AI MUỐN SỐNG HAI SÁU MƯƠI? Chánh phủ mới gởi châu tri cho các báo hay rằng chừng tới trung tuần tháng Février, thì ông lương y Voronoff sẽ đến Sài Gòn. Ông Voronoff là một ông lương y có cái ý tưởng lạ thường, từ mấy năm nay, cứ bo bo lo kiếm cho ra thứ thuốc trường sanh bất tử. Vả như lời Đức Chúa Giêsu đã dạy: “Ai kiếm, thì sẽ gặp”. Ông Voronoff gặp. Ông ta tìm ra thứ thuốc, chưa chắc là trường sanh, song cũng có thể nói như tục ngữ An Nam: “Nối tóc sống hai sáu mươi”. Cái nguyên lý của phương thuốc ấy như thế nầy: Tinh lực người ta đều ở nơi hai bộ thận. Vậy muốn cho người đặng sống lâu hơn thường, thì không có chi hay hơn là bỏ bộ thận cũ mà đổi bộ thận mới vào, làm như lối tiếp mộc, bắt cây nầy tiếp qua cây kia mà làm cho cái cây tiếp thêm mạnh. Đó là lý. Nhưng đến lúc thật hành, thì lại cần phải kiếm ra bộ thận. Ông Voronoff lại nghĩ: Chỉ duy có khỉ là giống người hơn hết, thôi khỉ được rồi. Mà nghĩ vậy thật nhằm. Chẳng phải khỉ là con thú giống người hơn hết mà lại người tức là khỉ. Song tôi chỉ trách Voronoff tiên sanh một điều, là không quan sát cho kỹ. Chắc chi người hơn khỉ mà lại làm cho khỉ chết đặng giúp người sống thêm? Thôi, cũng bỏ điều đó đi. Nói ra người ta giận. Tôi nói cái phương thuốc ông Voronoff nghe nói thi hành bên kia đã có ít nhiều hiệu quả. Chánh vua Guillaume cũng đã để cho ông Voronoff “tiếp thận” rồi. Ấy vậy mà chuyến nầy qua đây, sao lại chỉ tinh thí nghiệm thú vật mà thôi, chớ trong tờ thông tư không thấy nói chi đến người hết? Hay là, tuy chưa hề qua Viễn Đông chớ ông Voronoff cũng đã thạo biết người An Nam mình rồi? Phải. Khôn thiệt. Không nói đến người khôn thiệt! Ở xứ nầy đây, sống theo lệ thường mà coi đã chịu hết muốn nổi rồi, huống chi là nghe theo lương y Voronoff mà sống hai sáu mươi, thì khổ biết bao nhiêu mà nói! TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.297 (16.1.1930) ÔNG CLÉMENCEAU VỚI PHỤ NỮ Sau khi ông Clémenceau(*) tạ thế, một bạn đồng nghiệp có bài nói rằng: Ông Clémenceau chết, có trối lại đừng cho đàn bà lại gần di thể ông; rồi nói thêm rằng: Không biết báo Phụ nữ tân văn đối với tin ấy sẽ có cái cảm tưởng thế nào. Phụ nữ tân văn dè dặt lắm, không vội trả lời; mãi đến số 37 mới ra đây, mới nói đến chuyện ấy. Phụ nữ tân văn nhắc lại đầu đuôi rồi dịch luôn tờ di chúc của ông Clémenceau làm ngày 28 Mars 1929 mà đăng lên báo, để tỏ ra rằng trong di chúc của “Cọp già” nguyên không hề có câu nói về sự cấm đàn bà lại gần. Theo Tân Việt thì trong tờ di chúc của ông Clémenceau, chẳng những không có ý ác cảm với đàn bà, mà lại, đối với đàn bà ông vẫn có tình đượm đà lắm cho đến chết. Theo lời di chúc ông, ông có dặn liệm theo cho ông một cây gậy nạm sắt, một cái hộp nhỏ có bọc da dê, một cuốn sách nhỏ, lại hai bó hoa khô. Trong các vật đó, chỉ cuốn sách nhỏ, ông có nói rõ rằng chính tay mẹ ông đã lấy mà để vào trong hộp, cho nên ông quý lắm; thế thì đủ biết ông đối với đàn bà có cảm tình lắm, vì mẹ ông là đàn bà, không phải đàn ông. Còn cái vật kia, tuy ông không nói rõ, song Tân Việt biết rằng đều là của đàn bà tặng ông hết. Cây gậy nạm sắt của người cô họ ông tặng ông, cái hộp da dê của người em gái ông; sau hết, hai bó hoa của mấy người tình nhơn ông đưa cho ông làm kỷ niệm trong trận đánh Verdun hồi Âu chiến, vật đã mười năm nay mà ông còn giữ. Nếu có ai hỏi Tân Việt thấy những sự tích nầy ở đâu thì xin trả lời rằng: Hễ bạn đồng nghiệp thấy cái tờ di chúc nói cấm đàn bà ở đâu, thì Tân Việt thấy những sự tích nói trên nầy ở đó. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.298 (17.1.1930) (*) George Clémenceau (1841-1929) chính khách, cựu thủ tướng (1906-09; 1917 – 20) Cộng hòa Pháp. CÁCH XƯNG HÔ CỦA NGƯỜI MÌNH Cách xưng hô của người mình hiện có thuở nay, thật là phiền phức quá. Phải tuỳ từng đấng bậc, đáng ông kêu ông, đáng thầy kêu thầy, đáng anh kêu anh, đáng chú kêu chú, nói ra không hết được, vì có nhiều cách và nhiều ý quá. Nay tôi chỉ nói sơ về đối với nhân vật hiện thời cùng nhân vật lịch sử, ta nên xưng hô thế nào. Ý tôi cốt muốn tìm một điều thông dụng cho tiện lợi trong khi hành văn. Đối với nhân vật đương thời, tôi tưởng ta nên dùng một tiếng “ông” mà kêu, là tiện hơn hết. Tiếng “ông” của ta đó cũng tức như tiếng “monsieur” của Pháp, và tiếng “tiên sanh” của Tàu. Sự xưng hô nó biểu lộ ra cái tinh thần của một dân tộc. Cách xưng hô trong tiếng ta sở dĩ chia ra nhiều thứ là tại xã hội ta trọng về giai cấp quá. Nay chúng ta muốn cho trong xã hội ta có cái tinh thần bình đẳng thì ta phải bỏ bớt đi mà dùng lấy một tiếng, tức là tiếng “ông” nói trên đó. Cái tiếng “ngài” có vẻ quý tộc, nghe khó chịu quá? Nó cũng như tiếng “Seigneur” của Pháp và “đại nhân” của Tàu. Sau khi Pháp và Tàu lập nền dân chủ thì đã bỏ hai chữ ấy không đem dùng trong lối xưng hô nữa; nếu ta muốn bắt chước họ thì ta cũng phải bỏ tiếng “Ngài” của ta. Còn đối với nhân vật trong lịch sử thì sao ta lại còn xưng những tiếng “ông” tiếng “đức” làm chi cho lôi thôi? Tôi đọc cuốn Việt Nam sử lược của ông Trần Trọng Kim, tôi phục lắm; nhưng có một điều ông ấy hay dùng những chữ “ông” chữ “đức” thành ra nhiều chỗ ngô nghê, lấy làm khó chịu. Tiếng nước nào cũng vậy, về nhân vật trong lịch sử, người ta đều kêu một cái tên trần mà thôi: Khổng Tử kêu Khổng Tử; Văn Vương kêu Văn Vương; Bá Di kêu Bá Di; ta làm sao lại thêm chữ “đức”, chữ “vua”, chữ “ông” vào làm chi cho phiền? Nhứt là về sử học mà lại theo cái lối xưng hô của ta thì thiệt là trái với phương pháp học vấn đời nay. Bởi vì theo lối khách quan bây giờ, nhứt thiết phải dùng khách quan mà nghiên cứu. Nếu mình còn theo lối xưng hô ấy thì trong đó có hàm cái ý chủ quan rồi, thật là không tiện lắm vậy. Do các lẽ trên đó, về sự xưng hô, tôi chủ trương rằng, đối với nhân vật hiện thời nên dùng một chữ “ông”, đối với nhân vật lịch sử thì xưng cái tên trổng mà thôi. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.299 (18.1.1930) GIÀ, HÓA RA CON NÍT Một nhà khoa học trứ danh tên là Wosky, người nước Pologne mà nhập tịch nước Mỹ, mới phát mình ra một cái thuật “phản lão hoàn đồng”, nghĩa là làm cho người già trẻ trở lại. Ông ta nói rằng: Người ta sanh ra đời nay, có nhiều cái làm cho hao tinh lực mà phải mau già, tức như cầm máy xe hơi, nói chuyện bằng điện thoại, coi chớp bóng, tuy không mệt nhọc gì lắm mà thiệt là giảm sức khỏe một cách vô hình, cho nên mau già là phải. Rồi ông ta mới tìm cách làm cho cái sức đã suy kém ấy được hồi phục lại. Cách ấy tức là dùng máu của người trẻ thụt vào trong huyết quản của người già. Lần thứ nhứt ông ta thí nghiệm bằng loài vật ở tại Paris trong năm 1922. Dùng một con ngựa già 24 tuổi, một con dê 13 tuổi và một con chó 14 tuổi. Con ngựa cái 24 tuổi ấy đã gầy còm chết, ông ta lấy máu của con ngựa cái hai tuổi mà thụt cho, làm 16 lần như vậy thì thấy con ngựa già mạnh lần lên và kéo xe được, nó lại sống cho đến năm 1927 mà chưa chết. Con dê cái 13 tuổi cũng dùng phép ấy mà nó trở nên tơ lại, và năm sau thì đẻ con. Ông Wosky hiện có lập một y viện tại Paris, có nhiều người nhờ ông làm trẻ cho. Duy trong khi lấy huyết của người trẻ nào, phải được người ấy bằng lòng trước đã, sự đó hơi khéo một chút. Chính mình ông ta cũng đã thí nghiệm cách phản lão hoàn đồng ấy, nên tuổi đã cao rồi mà người còn trẻ măng. Hay được sự phát minh nầy, chắc có nhiều người mừng lắm và từ đây về sau khỏi than câu: “Cái già xồng xộc nó thì theo sau”. Riêng Tân Việt thì Tân Việt cũng mừng nhưng mừng theo lối khác. Bổn phận của Tân Việt là mỗi ngày phải viết một câu chuyện, viết hoài viết mãi chắc nó phải hết đi. Nếu có thuốc làm cho trẻ lại hoài ắt Tân Việt càng sẽ biết thêm chuyện nhiều để dâng cho quý độc giả. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.300 (19 và 20.1.1930) HÈN CHI MÀ ĐẶT LÀ CÔNG YÊN Vừa rồi bên nước Espagne họ có bày ra một cái lễ “khánh niệm” thuốc lá. Hãng bào chế thuốc bên đó làm lễ truy điệu một người tử vì… thuốc lá. Nguyên đời xưa có một người Espagnol, tên Rodrigue de Ceres là bạn đồng hành của M.Colombo trong lúc đi tìm ra thế giới mới (tức là Mỹ châu bây giờ). Chừng về đến quê nhà, anh Rodrigue de Ceres lại cứ còn đeo theo thói cũ mà ngậm ống điếu. Rủi thay lúc bấy giờ người Âu châu chưa biết hút thuốc nghĩa là gì, nên thấy anh ta trong miệng phì những khói ra thì lại bảo trong mình anh ta có quỷ hiện. Tòa án của đạo thiên chúa (inquisition) bèn bắt anh ta mà giam vào ngục trót 10 năm trời, không cho hút thuốc nữa. Phải chi chúng ta có đủ quyền như họ hễ thấy ai miệng phì tinh những khói là bắt giam ngay thì tôi tưởng chẳng cần chi Hội liệt quốc phải phái người đi dạo. Song chắc không được. Vì hễ thấy khói mà chạy vào đặng bắt, thì đã dòm thấy hai chữ “công yên” lớn tướng nó cản ngay trước cửa. Công yên, nghĩa đen là khói của nhà nước. Khói nhà nước. Bắt nhà nước sao? Chỉ có chút đó trở ngại. Ấy vậy mà trái lại, thì ở đây nhiều khi mình từng thấy bất kỳ chuyện chi, mà hễ có khói là họ bắt. Vào nhà lượm được vài ba cuốn sách, ít tờ nhựt trình thì đã hô lên là cách mạng, cọng sản, thì có khác chi thấy khói thuốc mà hô quỷ hô ma ở đâu? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.301 (21.1.1930) LẠI CÓ CHẠY KINH ĐÀN, ĐỀ PHAN NỮA Ông Phạm Văn Ngỡi, thầy thuốc Sa Đec, gởi thiệp mời khắp lục châu đi xem cuộc chợ phiên Sa Đec. Nghe nói cuộc chơi nầy xưa nay chưa từng có. Tân Việt lật đật dở chương trình ra xem: “…, Hát bộ, hát cải lương, hát bóng, đánh võ An Nam, võ tây, thầy chùa chạy kinh đàn, đề phan, bóng múa và tâu rỗi(*), đề quây liên hình, bắn súng, đánh hồ, phóng lao…” Thật, xưa nay chưa từng có thật. Mà đến cái lối xào bần, thì mấy hàng trên đây cũng là một lối tuyệt diệu. Sao lại có chạy kinh đàn, đề phan nữa? Đã biết Phạm tiên sanh là người có cuộc vui đầy tháng trận cười quanh năm, lại thêm ăn ở không khác gì tây, nên chưa hề có dịp chi phải rước thầy chạy kinh đàn, đề phan. Song tôi tưởng trong hạt Sa Đec hay khắp cả lục tỉnh Nam kỳ cũng còn cả ngàn cả muôn cái nhà An Nam đương lấy việc chạy đàn, đề phan làm một cái nghi tiết trong mấy khi hiếu sự. Đem nghi tiết hiếu sự của người ra làm trò chơi của mình như thế có phải là ngạo mạn không? Có người thạo việc ở Sa Đéc nghe hỏi thì ngâm Kiều mà đáp: - “Thưa rằng chớ lấy làm chơi!” Người ta làm chay thiệt, ông nghĩ coi… - Thôi đừng nói việc riêng của người, không tốt. - Anh kỳ quá. Người ta nói một đàng, anh hiểu một ngả. Người ta nói làm chay thiệt, là vì năm nay anh em Sa Đéc mùa màng thất thoát nhiều lắm, bần dân đói rách, tình cảnh quá thê lương, nên ông Ngỡi mới bày ra cuộc làm chay tâu rỗi mà cầu trời khấn phật… - Ông ta thương dân Sa Đéc đến thế ru? - Trời ơi, anh quên sao chớ? Năm ngoái tây, cũng vì ông muốn cho Sa Đéc khỏi mang cái tiếng ổ cách mạng nên ông mới buộc mấy ông hương chức, đặt bàn hương án, mặc áo rộng xanh mà lạy mừng ông Nguyên soái… Ờ, ông ta không thương sao mà cũng lúc đó, mấy cái “nhà chưng đồ” của mấy ông cai, ông phó ông tinh chỉ có hai ba trăm chi đó… - Vậy sao? TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.302 (22.1.1930) (*) tâu rỗi: tâu gởi mà cứu ai, hoặc cho ai khỏi chết (theo H.T.Paulus Của: sđd.) đề phan: đề chữ trên lá cờ phướn. ĐƯA ÔNG TÁO Ông bữa hăm ba về Đế đình, Ngọc hoàng phán hỏi cứ làm thinh! Cuộc đời thay đổi vần xây thế, Có lạ chi mà khéo trớ trinh? Đó là thư của Tân Việt đưa ông Táo. Nhưng chờ ông đi khỏi rồi mới ấn hành ra. Vì sợ ổng về trển ổng tâu với Ngọc hoàng, Ngài lại bắt chước Toà binh ngày xưa mà bỏ tù mình về tội làm thơ dở. Nhưng nghĩ lại, thì ông Táo có về trển, làm thinh là phải hơn hết. Dưới thế gian nầy có chi lạ đâu mà tâu. Mạnh cũng cứ ăn hiếp yếu, giàu ỷ thế lấn nghèo, người quân tử thì phải chịu khốn nghèo, đứa tiểu nhơn lên xe xuống ngựa, đàn ông cứ thả mèo, đàn bà cứ ghen như chết….. Từ khi có thế gian đến nay, tôi tưởng loài người cũng chẳng có chi gọi là thay đổi. Nhưng về phần ông Táo thì chắc năm nay sẽ có hai chuyện khó, cần phải hỏi lại Ngọc hoàng. Điều thứ nhứt là trong nước An Nam ta phong phanh chia ra làm ba cõi, mỗi cõi sẽ nói một thứ tiếng riêng(*), thì chắc trên trời cũng phải chia ông Táo ra làm ba địa phận, phải học tiếng chuyên môn. Và từ rày về sau ông ở Bắc chẳng bao giờ được đổi vô Trung kỳ hay Nam kỳ, ông ở Nam, ở Trung cũng vậy. Vì đổi lộn xộn thì có nghe chi đâu mà mong làm report gởi về. Điều thứ nhì là nghe Tàu sắp bỏ Âm lịch. Nếu như họ bỏ thiệt, thì ông Táo biết ngày nào đâu mà về trời. Cần phải tâu với Ngọc hoàng coi thử Ngài có cho phép về bữa 23 Décembre không. Đó là việc chung và chuyện riêng của ông Táo. Còn phần Tân Việt: Ông nói hăm ba trở lại trời Ngọc hoàng có hỏi việc chi tôi. Nhớ tâu lẩn quẩn làm ăn vậy, Câu chuyện hằng ngày thiếu mãi thôi! TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.303 (23.1.1930) (*) Đây là tác giả nhắc đến những tranh luận đang diễn ra trên báo Thần chung và một vài tờ báo khác ở Sài Gòn về việc dùng tiếng Việt; có một số ý kiến cho là “tiếng Nam” khác “tiếng Bắc” và yêu cầu soạn sách dạy tiếng Việt riêng cho học trò tiểu học ở Nam kỳ. MƯỜI BẢY VIÊN ĐẠN MÀ CŨNG KHÔNG SAO Chẳng bao giờ ai lại ngờ rằng có đạn súng sáu mà vào trong tạng phủ con người cũng vô hại. Ấy vậy mà mới rồi đây tại thành Reims bên Pháp, Tòa có đem ra xử một vụ rất ly kỳ. Một chị đàn bà kia, bữa nọ, bởi ghen tuông sao không biết rồi lấy súng sáu nhắm ngay lưng chồng mà bắn. Chừng bị bắt giải về “bót”, ngồi như tuồng nghĩ chuyện mình làm mà ăn năn và sẵn hộp đạn đương còn ở trong mình, chị ta bèn lấy ra mà nuốt trộng luôn 17 viên một nghỉn.(*) Trong ý chị ta cũng nghĩ như mình rằng hễ đạn súng đã vào mình nhứt là vào đến tạng phủ thì phải chết. Chớ chị ta có ngờ đâu đến 17 viên mà cũng vẫn còn sống. Nghe nói anh chồng nay cũng đã mạnh và cũng đã trở về hú hí với chị ta như cũ. Anh đó gan thiệt! Không biết nhiều khi đương ngồi với vợ, anh ta có giựt mình mà nhớ đến 17 viên đạn trong lòng chị ta không? Ừ, gan thiệt! chớ phải chi nhằm Tân Việt, thì chắc e mỗi phút mỗi giựt mình, biết nó nổ “bất tử” lúc nào mà tránh. Tân Việt cũng đã thường thấy lắm người chưa hề nuốt đạn, mà cũng có dịp làm cho nó nổ thình lình, mình không biết đâu mà tránh. Huống chi chị nầy đây sẵn có 17 viên trong ruột. Mà nghĩ rồi cũng buồn cười. Đạn vào mình thì chết. Chớ có ai ngờ đâu cả 17 viên chun vào tạng phủ mà cũng cứ sống tràn. Chuyện ở đời thường khi giống như 17 viên đạn kia hay là chị đàn bà nọ. Mà đời cũng vẫn cứ tưởng là khôn. Tân Việt cũng vậy. TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.304 (24.1.1930) (*) một nghỉn: một hơi, một mạch (theo Đặng Thanh Hòa: Từ điển phương ngữ tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2005). CÁI “MOA” Tết thì phải chúc. Nhưng chúc theo cái lối chuyên môn của Tân Việt, thì Tân Việt phải chịu bó tay. Vì cụ Tú Xương đã dành hết rồi. Nếu lục lại mấy bài thơ “chúc giàu”, “chúc sang” của cụ Tú vào đây, thì chắc e độc giả sẽ lại đường Filíppini mà biểu trả năm xu lại. Vì vậy nên Tân Việt không chúc. Huống chi Tân Việt sợ e cái lễ Nguyên đán nầy chỉ còn năm nay là hết. Vì tết thời chưa tới, mà Tân Việt đã nghe lắm người sắp dở vấn đề Âm lịch, Dương lịch ra mà biện bác lại. Âm lịch phải, mà Dương lịch cũng phải. Ai theo Âm lịch thì được ăn bánh tét, ai theo Dương lịch thì xực “bòn bon”. Tân Việt tưởng cũng vô hại. Huống chi trong nghề làm báo mỗi năm thường có cái mùa mà chư quý đồng nghiệp bên Pháp họ thường hay kêu là “mùa chết”. “Mùa chết” biết lấy chi đặng trám cho vừa cột báo, nên bên họ, thì họ bày ra thứ “rắn biển”: “Bề dài, dài bây dài vầy. Còn bề ngang… bề ngang… ùa ua giựt vừa, chớ giựt làm con rắn tao vuông còn gì chơi!” Bên mình có Âm lịch, Dương lịch. Tân Việt nói chơi, xin chư quý đồng nghiệp đừng giận. Tân Việt cũng biết dùng Dương lịch có nhiều điều lợi, thứ nhứt là để ghi chép những sự lớn lao trong lịch sử cho thích hợp với đời nay. Tàu họ tính vậy là phải lắm. Từ đây về sau trong nước Tàu chắc sẽ xảy ra nhiều sự lớn lao làm cho rúng động cả thế giới, nếu cứ dùng Âm lịch, thì bất tiện cho sự biên chép. Mình theo Tàu cũng như ông Darwin nói người ta con cháu của khỉ, nên hễ Tàu làm chi mình bắt chước nấy. Hồi trước Tàu dùng Âm lịch, mình Âm lịch; bây giờ, Tàu Dương lịch, mình, Dương lịch chớ sao? Nói vậy Tân Việt chịu lắm, bỏ thăm luôn hai tay. Chớ nếu có ai bảo rằng: An Nam mình cũng nên theo Dương lịch để tiện chép chuyện lớn lao trong nước của mình, thì Tân Việt nhứt định xin lỗi với họ mà nhắc cho họ nhớ câu tục ngữ Lang Sa: “Đừng có để cày ra trước con bò”. Trước khi bỏ Âm lịch dùng Dương lịch để cho tiện sự biên chép sử sách, thì phải tính coi rồi đây mình có sẽ làm chuyện chi đáng chép không đã… Mà không sao, Tân Việt dòm xem bên phái Dương lịch có thiếu chi anh hùng họ sẽ làm lắm chuyện đáng ghi chép. Lo chi chuyện ấy mà lo? Tân Việt chỉ còn ngại có một điều. Ngại cho người Tàu – là nếu như họ dùng Dương lịch, thì họ sẽ chia năm ra 12 cái gì? Vì chữ “nguyệt” là bởi âm lịch tính theo mặt trăng. Nay tính năm theo năm mặt trời, thì dùng “nguyệt” nữa sao đặng? Hay là họ lại kêu là cái “moa”(*)? mình cũng bắt chước mà kêu theo, lại thêm ra một tiếng đồng âm nữa “việc moa nầy túng quá!” - Vậy thời như Tây chớ sao? TÂN VIỆT Thần chung, Sài Gòn, s.305 (28.1.1930) (*) Tiếng Pháp: moi: tôi; mois: tháng; nhưng đều đọc là “moa”; vì vậy có thể xem là từ đồng âm. MẤY CHỤC NĂM NỮA, THÌ AN NAM MÌNH BỎ TỤC ĂN TẾT? Trong số báo tết của Thần chung, vì Tân Việt thấy một ít ông bạn đồng nghiệp cổ động biểu bỏ tết, nên sợ mà nói rằng: “E khi cái tết năm nay là cái tết chót”. Ấy vậy mà tết qua rồi, thì Tân Việt nghĩ e còn trên 21 triệu năm nữa, người mình mới hết ăn tết. Đừng tưởng nói chơi, cái số năm ấy là Tân Việt đã cứ theo phương pháp khoa học mà tính đành rành lắm đa! Tết vừa rồi, tuy là cổ động bỏ tết, chớ các báo cũng cứ nghỉ như mọi năm thường, nghỉ đến rạng mặt mùng sáu mới bắt đầu làm việc. Hỏi ra mới biết là bởi ấn công không chịu đi làm bữa mùng năm, ngày xấu. Nếu chiếu vậy mà bàn, thì hiện nay bài cổ động vẫn còn chưa ảnh hưởng đến ấn công là hạng người gần mấy tòa báo hơn hết. Thế thời bao giờ mới phổ cập đến người trong nước? Mà thôi, tục ngữ Lang Sa có câu: “Chẳng ai thánh thần đặng với người trong xứ của mình”. Ấn công là người trong làng báo, thì chắc cũng theo cái lệ ấy. Và bởi vậy nên Tân Việt không chịu lấy số ấn công mà tính. May đâu lại gặp đặng ông bạn đồng nghiệp, người chủ động việc bỏ âm lịch, bỏ ăn tết. Tối mùng một ông ra đường lù dù đi ăn tết. Tân Việt hỏi: - Ủa, anh cũng ăn tết sao?
|