|
PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1928
Thầy trò trong khám(*) Chánh trị Tiểu thuyết Dịch giả: C.D.
I Vào khoảng năm 1815, tại cửa biển Mạc-xây nước Pháp có chiếc tàu buồm tên là Phan-long, vững chãi, đẹp đẽ và chạy mau có tiếng trong thời đó. Người chủ có tàu kêu là Mã-lặc-nhi, là người công bình, ngay thật, làm vai đàn anh trong các đám nhà buôn tàu ở Địa Trung Hải. Anh ta ở bờ mà dùng một người tên là Lý-khắc-lai làm chúa tàu thế cho mình. Lại có một người phó chúa tàu nữa tên là Đàm-đức-tư, anh nầy còn trẻ, chưa được hai mươi tuổi. Ngày kia chiếc Phan-long ở Y-ta-li chạy về, giữa đường Lý-khắc-lai thình lình đau bịnh óc mà chết, trối lại cho Đàm-đức-tư lên làm chúa tàu thay mình. Sự ấy anh em thủy thủ trong tàu đều lấy làm phục tình cả. Duy có người mại bản tên là Đặng-cách-luân, lớn hơn Đàm sáu tuổi, người có tánh hiểm độc và khéo nịnh hót, bình nhựt trong tàu ai cũng ghét, thấy Đàm sẽ làm lớn trên mình thì sanh lòng ganh tị, tìm trăm phương ngàn chước để mà hại Đàm. Đàm cũng không nhịn, lừa khi tàu chạy ngang qua cù lao Cơ-lê-mây, anh ta phỉnh Đặng-cách-luân lên đó, toan bỏ Đặng lại đó mà nhổ neo chạy mất, song vì Đặng đã kêu van xin lỗi mới thôi. Dầu vậy, Đặng vẫn cứ ganh tị như trước. Lúc Lý-khắc-lai chết giữa đường, chính là lúc hoàng đế của nước Pháp là Nã-phá-luân âm mưu trở về nước mình. Số là, vua Nã-phá-luân hay đánh đông dẹp bắc, làm cho dân nước Pháp đồ khổ, về sau thất bại, bị đày qua cù lao Ên-ba, và bị cấm cố tại đó không được về. Song sự ấy chẳng qua là những người thuộc đảng nhà vua về dòng vua Bua-bông chủ trương mà thôi, còn những người về phe vua Nã-phá-luân, gọi là Nã đảng, thì lại phản đối với đảng kia mà hằng tìm cách cho Nã-phá-luân trở về. Lúc đó, bên Nã đảng đương bí mật vận động cho Nã-phá-luân đi lén về nước, chỉ còn đợi bàn định điều ước với Huê-linh-tôn, ấy là xong việc, Huê-linh-tôn tức là ông tướng đại tài ở nước Anh về sau đánh phá quân Nã-phá-luân tại Hoát-tét-lô. Lý-khắc-lai cũng là người trong đảng Nã-phá-luân, nhơn làm chúa tàu thì gánh lấy việc đi về đem tin tức cho người trong đảng. Việc ấy Lý giữ kín đáo lắm, chẳng những nhà chủ là Mã-lạc-nhi không biết mà thôi, dầu đến những người đồng sự với va trong tàu cũng không ai biết cả. Khi Lý đau ngặt, biết mình không qua được, bèn lấy ra một phong thơ đưa cho Đàm-đức-tư, dặn đến khi tàu ghé cù lao Ên-ba thì chịu phiền đem giao cho ông quan binh theo hầu Nã-phá-luân, tên là Bùi-khuất-luân, và lấy thơ trả lời đem về nước Pháp. Lý trao thơ nói như vậy rồi lại còn dặn đi dặn lại năm bảy lần. Đàm bấy giờ chưa trải việc đời, chưa hề biết đến sự âm mưu của Nã đảng, bèn hăng hái mà nhận lời của Lý và thề rằng thế nào cũng không phụ lòng kẻ hầu chết(**). Sau khi Lý qua đời, Đàm ghé cù lao Ên-ba và đưa thơ y như lời dặn, thì quả nhiên được một phong thơ trả lời mà Bùi-khuất-luân phó cho, nhờ về nước Pháp đưa cho Nã đảng ở phố Khảo-hoàng thành Ba-lê. Khi ấy Đặng-cách-luân ở trong tàu, thường rình xem đường đi nước bước của Đàm, tuy rằng không biết rõ việc gì, song đại khái sự Đàm đưa thơ đi thơ về thì hắn đã biết chắc lắm. Khi tàu đỗ bến Mạc-xây, Mã-lạc-nhi tiếp rước rất tử tế, đãi đằng rất hậu, và y theo lời trối của Lý-khắc-lai, cho Đàm-đức-tư thiệt thọ chức chúa tàu. Đặng bấy lâu lăm le cái ngôi chúa tàu đó, bây giờ trật đi, mà lại là một người kém tuổi hơn mình đã chiếm được, thì va lấy làm bất bình lắm. Đàm là người có hiếu, khi tàu đến bến rồi, liền về thăm cha mình. Cha va đã già, ở nhà thiếu thốn thì có vay của người láng giềng tên là Cảnh-đặc. Nợ đã đến hẹn rồi mà chưa có tiền trả, bị đòi hỏi luôn, ông già lấy làm phiền và cứ mong mỏi cho con mau về. Khi Đàm về, đem tiền trả nợ xong và thuật chuyện mình đã được thăng làm chúa tàu thì người cha mững rỡ khôn xiết. Rồi đó Đàm lại đi thăm người vợ mình mới hỏi cưới là Mai-tây-đương. Mai-tây-đương vốn là người Tây-ban-nha. Nàng có một người anh em cô cậu tên là Phất-nhĩ-nam, tuổi mới hai mươi hai mà tác(***) lớn lắm, cũng muốn hỏi nàng làm vợ. Ngày kia chính mình y tới nhà nàng, nằn nì nói việc cầu hôn. Nàng vội gạt đi mà rằng: -- Thân tôi đã hứa cho Đàm-đức-tư rồi, không thể nào dời đổi được. Phất-nhĩ-nam hỏi rằng: -- Thế ra cái chỗ sở nguyện của em chỉ có vậy là đủ ư? -- Đủ lắm chớ, Đàm-đức-tư mà làm chồng tôi, thì tôi còn mong gì nữa! -- Thế thì em có quả quyết tin rằng cái ái tình em đối với chàng va sẽ được trước sao sau vậy không? -- Uả hay! Tôi còn sống một ngày thì cái tình ấy cứ đượm đà một ngày chứ sao? Phất-nhĩ-nam nghe nàng nói hẳn hoi như vậy thì cúi đầu thở dài rồi lại đứng phắc dậy hỏi rằng: -- Nếu chẳng may mà chàng va chết đi thì thế nào? -- Chàng chết thì tôi đây cũng nguyện chết theo chàng. -- Nếu lại chẳng may mà chàng phụ em thì mới tính sao? -- Không chàng không phụ tôi, Đàm-đức-tư không hề phụ tôi đâu! Nói rồi, nàng vội bước trái. Phất-nhĩ-nam liền kêu giật ngược lại mà rằng: -- Mai-tây-đương! Mai-tây-đương! Trong khi đương nói ồn ào đó thì vừa Đàm-đức-tư đẩy cửa vào. Nàng cười mà nói rằng: -- Đó, nào tôi nói có quả không? Đàm-đức-tư quả không phụ tôi mà! Phất-nhĩ-nam thấy vậy ngơ ngẩn cả người, hai hàm răng cắn sít lại thùi lùi ra ngồi phịch xuống ghế dựa không nói không rằng gì cả. Đàm thấy Mai nương người đằm thắm ưa nhìn, đầu tóc như mây nước da tợ ngọc, mặc áo ngắn tay từ cùi tay đến cổ tay lòi ra trắng nõn trắng nà, ngón tay mụt măng cầm nhành bông, chân bước đi cách yểu điệu thì anh ta mê mẩn tâm thần. Hai người cầm tay nhau kể lể khúc nôi, rồi lại choàng tay nhau mà cười cợt. Khi ấy Đàm chỉ để tâm giắt mắt vào một mình Mai nương mà thôi, ngoài ra không biết có gì cả, thình lình xây lại thấy một người ra dáng sững sờ ngồi trên ghế dựa, một tay thò vào túi áo núm con dao nhỏ. Đàm vội vàng vừa chào vừa nói rằng: -- Xin tha lỗi cho tôi, tôi vào nhà mà mắt măng mắt vược không thấy người quý khách. Kế xây hỏi Mai nương người ấy là ai. Mai đáp rằng: -- Ấy là bạn thiết của thiếp đó mà lại là anh em cô cậu, ngoài chàng ra không còn có ai thân thiết với thiếp hơn người ấy. Đàm nói rằng: -- Nếu vậy thì cũng lại là bạn thiết của tôi nữa. Nói đến đó hai người vẫn cứ cầm tay nhau chẳng rời. Phất-nhĩ-nam nhăn nhó tuồng mặt, chẳng nói một câu, rồi đứng dậy ra đi. Phất đổi đường, tình cờ gặp Đặng-cách-luân và Cảnh-đặc rủ nhau vào quán uống rượu. Đặng vừa ưa nhớ đến chuyện Đàm vừa được thăng chúa tàu, thì hỏi một câu để chọc Phất-nhĩ-nam rằng: -- Ờ! Chớ cái việc hôn nhân của con Mai-tây-đương thế nào đây? Khi ấy Phất đã hơi có chén toan mở miệng trả lời thì bỗng thấy Đàm-đức-tư cùng Mai-tây-đương choàng vai nhau mà vào trong quán, vì ngày mai là ngày đám cưới hai người nên vào đó để mời anh em. Hai người nói mời rồi liền đi ra. Phất-nhĩ-nam cứ thở dài mãi không nói gì; còn Đặng-cách-luân đã say ngà ngà lấy mắt nhìn Cảnh-đặc tròng trọc. Cảnh bèn rót cho Đặng một cốc lớn; mấy người lại nói nốt câu chuyện Mai-tây-đương. Đặng có ý ghen muốn hại Đàm, bèn kiếm lời khích cho sanh chuyện, nói rằng: -- Đàm-đức-tư với Mai-tây-đương hai đứa nó thương nhau làm cho kẻ đứng ngoài thấy cũng nóng mặt. Có điều ta không thèm làm chi đó thôi, chớ làm ra thì chốc lát mà chia rẽ chúng nó cũng chẳng khó gì. Phất-nhĩ-nam nói: -- Thôi đi, coi bộ hai đứa nó thương nhau riết lắm, họa chăng chỉ có cái chết mới làm cho chúng nó rời nhau được. Song nếu thằng kia chết thì con nọ cũng chẳng chịu sống một mình thì mới làm thế nào? Đặng-cách-luân nói: -- Anh mới khờ cho! Tôi hỏi anh chớ sống mà lìa nhau với chết mà xa nhau có khác gì không? -- Hẳn là không khác. -- Vậy chớ sống mà ngồi trong ngục với chết mà nằm trong mả có khác gì không? -- Cũng hẳn lại không khác. Đặng-cách-luân bèn nói trắng cùng Phất-nhĩ-nam rằng: -- Vậy thì anh nếu muốn bứt đứt sợi tơ duyên chúng nó chỉ có làm cho chúng nó sống mà lìa nhau là được. Cảnh-đặc xem lo vào hỏi rằng: -- Đàm-đức-tư có tội gì mà anh làm cho nó ở tù được anh? Đặng cười chúm chím mà rằng: -- Tôi làm được. Rồi lại bắc đầu(****) mà nói cùng Phất-nhĩ-nam rằng: -- Song le ấy là việc ông, chẳng phải việc tôi mà! Phất nói nếu ông làm cho nó vào tù được thì tôi xin vâng mạng ông hết thảy, bảo gì nghe nấy. Tức thì Đặng lấy giấy và viết bằng tay trái như vầy: "Có tên Đàm-đức-tư làm việc trong tàu Phan-long, khi tàu ghé cửa biển Na-bấc-lặc và Phật-la-lăng thuộc về đất Y-ta-ly, có người tên là Ma-lặc đưa cho nó một phong thơ nhờ trao lại cho bạo chúa Nã-phá-luân, nó đã trao rồi và lại có lãnh thơ trả lời của Nã-phá-luân đem về Ba-lê giao cho người trong Nã đảng. Bây giờ cứ bắt tên Đàm-đức-tư mà hỏi thì lòi mối, những thơ từ bí mật ấy hoặc dấu trong mình nó, hoặc để tại nhà cha nó, hoặc để tại buồng riêng nó trong tàu Phan-long, soát ngay thì bắt được. Kẻ tố cáo đây vì nghĩ đến sự lợi hại cho cả nước nên mới bới việc nầy ra, xin các quan xét cho." Viết rồi Đặng ra dáng đắc ý lắm mà nói cùng Phất-nhĩ-nam rằng: -- Làm như vầy thì anh đã trả thù được mà không bị liên lụy gì, cái chước của mỗ có thần diệu không? Cảnh-đặc nói hớt rằng: -- Cái chước thì thần diệu thật song vô cớ mà xô người xuống giếng thì cũng có hơi tiểu nhân một chút! Đặng tiếp theo mà rằng: -- Bác nói phải lắm, tôi viết giấy đó, chẳng qua đùa chơi vậy thôi, chớ có phải làm thật ở đâu, huống nữa Đàm-đức-tư là người trung hậu hiền lành nếu chẳng may mà bị người khác hãm hại, chúng mình còn thương xót mà cứu nó thay nỡ nào lại đang tay hại nó cho đành. Nói rồi Đặng vò viên mảnh giấy đã viết ấy lại liệng vào xó tối, rồi kéo Cảnh-đặc ra đi. Còn Phất-nhĩ-nam đứng lại lượm lấy mảnh giấy chạy ngay đến tòa Cảnh sát. -------- * Dịch phẩm Thầy trò trong khám đăng 31 kỳ Đông Pháp thời báo. Phần sưu tầm của tôi (LNÂ) thiếu 1 kỳ (kỳ 14). Như dịch giả khi trả lời bạn đọc đã nói rõ, ông chưa dịch xong tác phẩm này. Tuy báo đăng không ghi xuất xứ nhưng có thể thấy Thầy trò trong khám chính là tiểu thuyết Bá tước Monté Cristo ( Le Comte de Monté Cristo, 1844) của nhà văn Pháp Alexandre Dumas-père (Duy-ma bố, 1802-1870). Có lẽ Phan Khôi đã dịch tác phẩm này từ bản dịch hoặc bản lược dịch chữ Hán; mệnh danh « tiểu thuyết chánh trị » hẳn cũng là do bản dịch chữ Hán gắn cho tác phẩm này. ** hầu chết: sắp chết; *** tác: vóc dáng; **** bắc đầu: có lẽ là « lắc đầu » (báo gốc in lầm?) II
Ngày hôm sau chính là ngày đám cưới Đàm. Mã-lạc-nhi, chủ tàu Phan-long thấy Đàm trai trẻ mà thật thà thì yêu và nể lắm, chẳng những tôn lên cho làm chúa tàu mà lại giùm giúp cho việc hỉ sự mau thành. Hôm đó khách đi đám đông như hội, Mã-lạc-nhi và cha của Đàm lấy làm vui lòng. Phất-nhĩ-nam cũng có đến đó chỉ có một mình, va buồn thiu buồn thỉu không chuyện trò chi hết. Một chặp chi đó chàng rể cô dâu ra chào họ. Bên hữu Đàm là Mã-lạc-nhi bên tả là Đặng-cách-luân còn Mai-nương thì ngồi giữa cha của Đàm và Phất-nhĩ-nam. Khi quá trưa lễ cưới xong rồi thấy Mai-tây-đương càng thêm trổ mã lịch sự lạ lùng. Phất ngắm nghía phỉ sức rồi lại thở dài, rồi lại ngồi phịch xuống trên ghế mây để kề cửa sổ ngó bộ như ngây như dại. Thình lình nghe tiếng người ta đi lọp đọp từ thang gác mà lên lại có tiếng gươm đao cọ nhau choảng choảng, cả họ hàng nhà trai nhà gái đều sợ hãi. Kế lại nghe như là nặm gươm gõ vào cánh cửa ba cái thật mạnh, ai nấy càng sửng sốt nhìn nhau. Một ông quan cảnh sát ngoài cửa bước vào theo sau có bốn tên lính. Quan hỏi ai là Đàm-đức-tư, Đàm đứng dậy thưa rằng: -- Chính tôi là Đàm-đức-tư đây, chớ ông hỏi gì tôi? -- Ta vâng lịnh trên đến bắt ngươi đây. Đàm hơi biến sắc mặt, hỏi rằng: -- Tôi có tội gì mà bắt? Quan đáp rằng: -- Không cần ta bảo ngươi, đợi khi tòa án hỏi rồi ngươi khắc biết. Nói đoạn, kéo Đàm xuống gác bỏ vào trong xe, lính ngồi vây bốn phía chở ngay về bót. Ông thân Đàm vội vã chạy theo toan bề cứu gỡ song không biết làm thế nào được. Sau nghe nói Đàm bị người ta tố giác rằng có âm mưu với vua Nã-phá-luân cho nên phải bắt như vậy, thì chạy về thuật lại, ai nấy đều chắc lưỡi kêu oan. Riêng phần Mai-tây-đương nghĩ mình với Đàm chưa vui sum hiệp đã sầu chia phôi thì vật mình lăn ra mà khóc. Cảnh-đặc ghé tai nói với Phất-nhĩ-nam rằng: -- Nếu vậy thì chú đã thi hành cái kế hôm qua rồi sao? Tôi đây thật không nỡ nào trông thấy cái cảnh cha già khóc con, gái tơ khóc chồng cho đành, thế nào tôi cũng khui sáng việc nầy ra mới nghe. Đặng-cách-luân vội vàng vừa kéo cánh tay của Cảnh-đặc vừa nói: -- Anh nầy mới dại cho, anh khui sáng ra thì liệu anh có yên thân ở ngoài vòng được không? Vả lại có chắc chi vì anh nói một lời mà người ta tha bổng. Nó đã đậu tàu tại cù lao Ên-ba cả ngày, mười con mắt đều thấy, thì sự đưa thơ cho ngụy đảng đó chưa chắc là không, nếu sau mà nghiệm thật quả tang thì người ta sẽ gia cho anh cái tội đồng mưu thì rõ là anh se giây buộc mình, ăn năn sao kịp. Cảnh nghe qua thấm ý, cười rằng: -- Phải phải, khi nãy tôi nói chơi đó thôi, phận tôi đây chẳng xong thay rồi, đâu lo việc người khác! Ai nấy đều cười giả lả rồi tan về. Khi Đàm-đức-tư bị bắt rồi tàu Phan-long không ai cai quản, Mã-lạc-nhi bèn cho Đặng-cách-luân lên kế chân. Đặng có miếng mấm đã lâu bây giờ vớ được thì đắc ý lắm, chỉ e một nỗi không bao lâu mà Đàm lại được thả ra. Tiệc cưới của Đàm-đức-tư vì một lá thơ của Đặng mà giữa chừng bị đình chỉ; cùng trong lúc ấy lại có kẻ vì việc Đàm mà giữa chừng cũng đình chỉ tiệc cưới của mình; ấy là Phi-lập-phúc. Phi-lập-phúc là quan chủ quận Mạc-xây, người trẻ tuổi mà tinh ranh thông thạo về luật pháp. Ông thân va là Nô-đăng vốn là người trong Nã-đảng, va lấy vậy làm xấu hổ, kiếm thế làm cho trái lại với cha thành ra cả được vua nước Pháp tin dùng. Hôm ấy Phi-lập-phúc đương kết hôn với nàng Thánh-mỹ-lan con gái một nhà quý phái kia, giữa đám khách đông, có một ông hầu tước lấy giọng trên mà nói cùng va rằng: -- Nầy quan chủ quận! Bây giờ phàm việc gì ích lợi cho nhà nước, có thể làm gương cho người khác và có thể che được cái lỗi của cụ nhà ta thì xin ngài cố gắng mà làm đi! Phi-lập-phúc nhăn trán lại, rồi cười ruồi mà rằng: -- Bẩm ngài, ông thân tôi ngày nay đã chừa bỏ những sự hành vi lúc trước rồi, khá gọi là một người lương dân trong vòng chánh trị và tôn giáo; còn tôi đây, việc làm của tôi chắc là được các ngài tin cậy, vì tôi chỉ có lòng nhiệt thành yêu nước, muốn làm thế nào cho đền bù được tội lỗi của thân phụ tôi mà thôi. -- Ừ phải, nếu ngài hết lòng với nhà vua, thì nhà vua đâu lại có lẽ bạc đãi ngài, tức như hôm nay về việc hỉ sự của ngài đây, hoàng đế thiệt đã quyến chú một cách hậu tình lắm đó.. Từ rày về sau nếu có đứa ngụy đảng nào bị ngài bắt được, chắc là khó lòng mà thoát khỏi tay ngài..... Hầu tước nói chưa dứt lời, thì cái giấy tố giác của Phất-nhĩ-nam đưa đến. Phi-lập-phúc vội vàng thảo tờ sai lính đi bắt Đàm-đức-tư. Vì anh ta cốt muốn vớ vụ nầy để tỏ lòng trung thành của mình đối với Pháp hoàng, mà cũng nhơn đó nhờ vả ơn huệ của nhà vua nữa. Phi-lập-phúc nhà giàu có, mới hai mươi bảy tuổi, làm quan to, người vợ y đương cưới là Thánh-mỹ-lan lại lịch sự mà nhiều của, cha anh nàng đều làm quan sang, oai quyền lừng lẫy, của hồi môn đến sáu vạn phật-lăng, sau nầy lại sẽ chia gia tài của cha nàng được chừng hai trăm vạn nữa, cái cảnh ngộ của va như thế cũng đã sướng mê rồi, song va còn một chút canh cánh bên lòng là ông thân va đã từng vào đảng với Nã-phá-luân.
III
Phi-lập-phúc rồi đó đứng dậy đi ra, để gặp mặt Phất-nhĩ-nam, bộ oai nghiêm đường bệ lắm. Có một viên cảnh sát đã đứng như trời trồng chực sẵn đó. Phất thấy quan ra thì rảo lối mà đón chào, Phi tươi cười mà bảo rằng: -- Cái điều người nói trong thơ hiệp với đại nghĩa lắm; song Đàm-đức-tư là người nào, mà nó đưa thơ âm mưu với nhau đó là việc gì, người khá bảo cho ta? -- Bẩm quan lớn, Đàm-tư-đức là chúa tàu Phan-long, tầu ấy thường đi lại các cửa biển Á-lặc-tán và Sỉ-môi-na, chuyên nghề buôn bông sợi. Người chủ có tàu tên là Mã-lạc-nhi, dân thành Mạc-xây nầy. Còn như việc tên Đàm-đức-tư âm mưu thì bí mật khó biết lắm, khi quan lớn tra tấn bắt nó và lục soát cả thơ từ giấy má của nó thì sẽ biết đầu đuôi. -- Nó bao nhiêu tuổi? -- Nó mới mười chín tuổi. Hai đàng đương vấn đáp cùng nhau thì thấy Mã-lạc-nhi lang thang chạy đến, Phất bước trở đi, Mã vào thì hỏi ngay Phi-lập-phúc rằng: -- Bẩm quan lớn, làm sao lính của ngài tự dưng đến bắt người chúa tàu của tôi là Đàm-đức-tư và dẫn về bót, dễ thường là bắt lầm chăng? Phi trả lời rằng: -- Ta biết rồi mà, để đợi hỏi xem thực hư thế nào. -- Bẩm ngài, người ấy trai trẻ mà giỏi giang, không làm điều chi bậy, tôi yêu và kính hắn lắm, xin ngài làm ơn mà khoan dung cho, chớ để họ đãi như kẻ tù thường. Phi là người về đảng nhà vua mà nghe lọt mấy lời đó thì hồ nghi cho Mã-lạc-nhi cũng là người trong Nã đảng, bèn hơi tỏ ra ý khinh bỉ, cười lạt mà nói rằng: -- Trong đời nầy chán chi người hoặc có tánh hạnh tốt, hoặc có tài nghề giỏi về sự vượt biển buôn tàu, làm cho ai cũng phải yêu phải kính, song đối với nhà nước thì lại là người có tội to, ông nghĩ thử câu tôi nói đó có quả vậy không? Nghe vậy Mã-lạc-nhi tuồng hơi thẹn, vì bình nhựt anh ta đối với cuộc chánh trị trong nước cũng có ý bất bình, và nghe chừng như cái việc Đàm-đức-tư đưa thơ cho Nã-phá-luân ở cù lao Ên-ba là quả có, nên anh ta cũng phải cứng miệng. Một chặp mới nói tiếp rằng: -- Tôi vẫn biết quan lớn là phước đức nên mới dám mạn phép đến xin ơn ngài. Phi nói rằng: -- Khoan khoan chớ vội, đợi hỏi xem khắc biết là thực hay hư. Nếu quả bị người ta vu oan thì tôi thả cho về ngay, không đợi phải xin xỏ gì; còn nếu chẳng may mà tội trạng đành rành, thì tôi đây chỉ biết làm hết bổn phận mình, dầu phước đức mấy mặc lòng cũng không có thể dung thứ được. Lúc đó hai người vừa đi ra vừa nói. Khi gần đến tòa án thì Phi cáo biệt. Mã đứng sững hồi lâu, nghĩ không biết làm thế nào, thì ra về thất tha thất thưởi. Phi-lập-phúc đến tòa án, thấy bọn lính đương ở nhà ngoài xúm giữ một người rất nghiêm ngặt thì biết chính là Đàm-đức-tư, bèn biểu dẫn vào. Đàm vào tòa, cất tay lên chào, rồi lui ra ngồi trên ghế. Phi xem thấy Đàm người rộng trán mà tròng mắt đen đen, lông mày không rậm lắm, môi dày, răng trắng, dáng bộ khoan thai như hồi bình thường, không có ý sợ hãi, bèn biểu khai qua lý lịch thế nào. Đàm nói mình 19 tuổi, làm việc cho tàu buôn, vừa đương cưới vợ thì bị bắt, trẻ người non dạ, vốn không có tư tưởng về quốc sự, bình sanh chỉ để tâm có ba việc: một là phụng dưỡng cha già, hai là hết lòng giúp việc ông chủ Mã-lạc-nhi, ba là yêu thương vợ mình là Mai-tây-đương mà thôi, ngoài ra không dính dáng đến việc gì cả. Phi nghe Đàm nói năng hẳn hoi ngay thật lắm, thì riêng nghĩ rằng hoặc giả những lời Mã-lạc-nhi nói với mình lúc nãy là thật chăng, bèn hỏi luôn coi thử Đàm hồi bình nhựt có oán thù với ai không, thì Đàm thưa rằng: -- Tôi chưa mấy lăm tuổi, vả danh phận lại hèn mọn, nào có làm gì mà oán thù với ai? -- Chưa chắc đâu! Anh mới 19 tuổi mà đã làm chúa tàu, lại cưới được vợ đẹp, hai điều đó là phước của anh, song biết đâu chẳng cũng là họa của anh. Tôi thấy anh người chất phác thật thà, tôi thương hại cho anh lắm, đây nầy, cái thơ của người ta cáo anh đây, tôi lấy cho anh xem... Phi vừa nói vừa đưa cái thơ của Đặng-cách-luân viết cho Đàm coi, và nói luôn rằng: -- Anh có nhìn ra bức thơ nầy là chữ ai viết không? Đàm coi kế một chặp rồi thưa rằng: -- Chữ viết lạ lắm, tôi không nhìn ra được. Song le, may phước cho tôi là dường nào! Thế nầy chẳng những quan lớn không thợp nạt tôi thì chớ mà lại rủ lòng thương xót, đãi tôi như tình bạn hữu, may phước cho tôi biết dường nào. -- Phải rồi, anh đừng coi tôi là ông quan mà tôi cũng không coi anh là kẻ có tội đâu. Có điều những lời trong thư nầy chẳng phải là vô cớ, hư thực thế nào anh cứ nói mồn một cho tôi nghe là được. Trong khi Phi nói đó thì tự nghĩ thầm rằng nếu vợ mình là Thánh-mỹ-lan thấy cách cư xử với thằng nhãi con nầy như vầy chắc nó cũng không bắt tròn bắt méo gì mình đâu. Vì Thánh-mỹ-lan với cả nhà nàng đều là người trong đảng nhà vua nổi tiếng trung thành lắm mà khi Phi hỏi việc Đàm đây thì lại làm lành, bỏ nhỏ, như là có ý thương xót một người bên phe nghịch, song kỳ thật là làm bộ để tra cho lòi mối chớ không phải có ý binh vị đâu, cho nên Phi mới nghĩ thầm mà tự nói như vậy. Đàm-đức-tư thấy nói dễ dãi như vậy thì thưa rằng: -- Nay quan lớn đã rủ lòng nhơn đức mở đường cho tôi, tôi dám đâu giấu diếm việc mình để phụ lòng ngài và chuốc lấy tội vạ. Ngày trước chúa tàu Phan-long là Lý-khắc-lai đau bịnh óc ngặt lắm, đến ngày thứ ba va biết mình không qua khỏi được, bèn cầm lấy tay tôi mà trối rằng: Hỡi Đàm quân ơi! từ rày đôi ta không còn thấy nhau nữa! Tôi có một việc rất hệ trọng muốn đem phiền anh, xin anh đừng sai lời. Tôi gật đầu mà rằng: Xin ông chúa tàu cứ dạy đi, tôi sẽ vâng theo chẳng dám sai. Va bèn nói rằng: tôi có một phong thơ đây, sau khi tôi chết rồi nhờ anh đem cho người bên cù lao Ên-ba; người ấy nhận thơ rồi sẽ có thơ trả lời nhờ đem về trong nước Pháp, thì anh khá lãnh lấy mà chớ từ chối. Người ở Ên-ba đó tức là hoàng đế cũ Nã-phá-luân. Nay tôi trao cho anh một cái cà rá vàng làm tin cầm lấy mà xin vào yết kiến ngài thì thế nào ngài cũng tiếp. Việc nầy là việc của tôi, tôi làm chưa xong mà chết, anh biết tôi ân hận là dường nào; nếu anh không phụ lời tôi cũng được hả lòng nơi chín suối. Phi xen vào mà hỏi rằng: -- Thế rồi anh nói với va làm sao? -- Bấy giờ tôi đối với một người hầu chết mà lại là bề trên mình thì còn từ chối thế nào được! Tôi tưởng chẳng những một mình tôi vui lòng nhận lời va mà thôi, dầu ai lâm cảnh tôi có lẽ cũng phải vui lòng như tôi vậy. Kịp khi tàu ghé Ên-ba tôi đem thơ và cà rá đến thì được gặp Nã-phá-luân. Nã hỏi tôi về tình hình Lý đau mà chết, thương tiếc một hồi rồi đưa ra một phong thơ trả lời khiến tôi đem về Ba-lê. Ngày hôm sau thì tôi đi liền. Phi nói mộ cách ôn tồn mà rằng: -- Tôi tin cho anh nói là thật và không giấu diếm gì cả. Song le, việc ấy là việc chẳng nên làm, có điều tại anh ăn chưa no lo chưa tới đó thôi. Dầu vậy, cái đó cũng tại Lý-khắc-lai báo hại anh chớ không phải tội anh tự làm vậy. Phong thơ trả lời ấy nếu chưa gởi đi thì anh lấy mà đưa đây cho tôi, rồi anh cứ việc đi về đi. Đàm vừa nghe thì mừng quýnh mà rằng: -- Thế thì tôi được thả rồi hẳn? -- Phải, sau khi anh đưa cái phong thơ cho tôi rồi thì tôi tha anh. Họ đã khuân rương hòm của tôi vào đó rồi, xin quan lớn lại đây mở ra mà coi. Phi gật đầu rồi lại hỏi rằng: -- Thơ của Nã-phá-luân đó gởi cho người nào ở Ba-lê? -- Bẩm quan lớn, gởi cho Nô-đăng tức là Nô-nhĩ-đích, ở đường phố Khảo hoàng. Phi-lập-phúc nghe quá sửng sốt lần lần tái cả mặt thụt lùi lại ngồi trên ghế dựa chặp lâu mới biểu đưa phong thơ ra xem, vừa nhìn phong thơ, vừa lặp đi lặp lại mà rằng: « Nô-đăng tức Nô-nhĩ-đích số nhà 13 đường phố Khảo-hoàng ở Ba-lê ». Một chặp lại lặp lại như vậy nữa. Đàm không hiểu bởi cớ gì hỏi rằng: -- Vậy thì quan lớn có quen biết người ấy chăng? -- Không không mà! Có đâu tôi là người trung nghĩa mà lại đi làm quen với đồ gian đảng ấy? Phi-lập-phúc miệng nói lèm lẻm như vậy song thực ra thì tên Nô-nhĩ-đích tức là cha va. Đàm có biết cái chỗ hiểm ấy đâu, nghe nói thì dớn dác mà hỏi rằng: -- Người đã là gian đảng sao? Phi không trả lời câu ấy mà hỏi Đàm rằng: -- Vậy thì thơ nầy đã có ai thấy chưa? -- Bẩm không có ai thấy cả. -- Cái nầy thật là lỗi của anh. Phi-lập-phúc nói thế mặc dầu song bộ mặt sớn sác ké né ngồi không yên, những cái khí phách nghiêm trang hồi mới vào biến đi đâu mất cả. Kế lấy tay che mặt lại mồ hôi đổ ra như tắm nghĩ rằng may mà Đàm không biết Nô-nhĩ-đích tức là cha mình lại may mà quan chánh án hôm nay đi khỏi, bằng chẳng vậy thì mình còn ra gì nữa! Số là Phi làm chủ quận kiêm chức phó án, nhơn lúc chánh án đi vắng phát ra vụ nầy Phi đã bỏ bụng là một dịp tốt cho mình dâng công với nhà vua không ngờ cái người mà Nã-phá-luân đưa thơ đó lại là cha mình làm cho va khó nghĩ, chặp lâu va mới nghĩ ra một chước nói cùng Đàm rằng: -- Tôi vốn định thả anh, ngặt vì quan chánh án đi khỏi chưa về, anh phải tạm trú lại đây chờ ngài về mới được. Rồi lại nói tiếp rằng: -- Người ta bắt tội anh được chỉ vì có phong thơ nầy mà thôi, bây giờ tôi làm phước đốt đi cho anh. Phi vừa nói thế vừa cầm phong thơ bỏ vào lò lửa giây lát đã cháy ra tro. Đàm thấy vậy lấy làm cảm kích vô cùng. Phi lại căn dặn mà rằng: -- Nay tôi bày cho anh nếu có ai hỏi có thơ trả lời hay không thì anh phải kiên một mực mà nói rằng không có; bằng chẳng vậy thì họa anh mà lây đến kẻ cứu anh là tôi đây nữa. Phong thơ nầy đưa ra là anh mà đốt đi là tôi, ngoài ra không còn có ai biết đến; anh phải cẩn thận chớ có dại làm thiệt mình mà hại đến ta! Đàm giơ tay lên mà thề rằng mình sẽ giữ lời. Phi lại hỏi: -- Ngoài phong thơ đó còn có vật gì nữa không? Bẩm không có gì nữa. Phi hỏi như vậy mấy lần, Đàm cũng thưa không, Phi bèn rung chuông kêu viên cảnh sát vào ghé tai nói gì đó, chỉ thấy viên ấy cứ vừa ngúc đầu xuống vừa dạ lia lịa. Rồi Phi kêu Đàm mà nói rằng: -- Anh hãy đi với ông nầy. Hai người bước ra, cửa vừa khép lại. Phi-lập-phúc ngồi phịch xuống ghế dựa, ra dáng bực mình than thở mà rằng: « Nguy cha chả là nguy! Cái nền phú quý của tôi thiếu chút nữa đã bị một phong thơ nầy mà đi đời nhà ma rồi! Cha ôi là cha! Làm sao mà cha cứ chơi cái kiểu đẩy người xuống hố như vậy? » Phi than thở một hồi lâu rồi mới ra về, bộ mặt buồn rượi.
IV
Viên cảnh sát ra khỏi đó, kêu hai người lính nữa điệu Đàm-đức-tư đến một nơi kia, tuy bốn phía có rào bằng song sắt, song sạch sẽ lắm, không tệ lậu quá. Đàm đã xiêu lòng vì cái văn nói ngon chanh ngọt dấm của quan phó án, nghĩ rằng mình chắc được tha cho nên cứ điềm nhiên, chẳng sợ sệt gì. Lúc đó nhằm ngày một tháng ba, cỡ bốn giờ chiều. Một chặp chi thì tối, trong chỗ đó đen mò, ngửa bàn tay không thấy. Đến mười giờ đêm, nghe tiếng mở khóa cửa vẹt ra. Có hai người xách đèn, bốn tên lính cầm gươm trần kêu Đàm ra và dẫn đi. Ban đầu còn dùng dằng, sau nghĩ đến lời quan phó án, rồi không thèm hồ nghi gì nữa, cứ đánh bạo mà bước tới. Ra đến cửa ngoài thấy có một chiếc xe ngựa đậu sẵn đó, Đàm hỏi rằng: -- Xe nầy có phải sắm mà chở tôi không? -- Phải đó. Bọn lính đáp lại như vậy. Đàm cứ việc lên xe, hai tên lính ngồi trước mặt Đàm, hai tên ngồi hai bên, chỉ nghe vó ngựa độp độp ầm ầm, một chốc chi đó đã tới nơi rồi. Ai nấy xuống xe. Lại có mười hai tên lính có đủ khí giới đứng chực sẵn hai bên đường, nhập tụi lính ban nãy điệu Đàm vào trong một chiếc thuyền, ngồi vây chung quanh mà giữ. Lại có bốn tên thủy thủ chèo thuyền. Đàm mới hỏi rằng: -- Các ông định đem tôi đi đâu? -- Cứ việc đi, đừng hỏi, một lát sẽ biết. Bọn lính trả lời như vậy song Đàm cũng cứ gạn hoài thì họ nói rằng: -- Chúng ni tiếc gì mà chẳng bảo cho chú, có điều quan trên truyền rằng, không được bảo trước thì còn ai dám nhạy miệng nữa. Đàm khi ấy hồi hộp trong lòng không biết số phận mình sẽ ra sao, nhơn nghĩ lại phong thơ Phi đã đốt rồi chính mắt mình ngó thấy thì chắc cũng không đến nỗi nào, bèn làm tỉnh được một lúc, song khi nhớ đến phần cha già vợ yếu thì nước mắt ở đâu lại tuôn ra như xối. Thuyền đi được một đỗi, nhác thấy trên bờ có cây cột đèn, đèn khi mờ khi tỏ, chốc lại thấy một tòa nhà ló ra trong lùm cây, trong đó nhấp nhoáng bóng đèn, nhìn ra biết quả là nhà của Mai-nương. Đàm ngó sững ngó sờ không nói không rằng chi hết. Thình lình bóng đèn không thấy nữa, vì cái đê cao dựa biển che đi, thì té ra cái thuyền đã từ sông ra đến biển rồi. Bọn thủy thủ dương buồm lên mà chạy, Đàm cầm lấy tay một tên lính mà nói rằng: -- Xin bác niệm tình bạn đồng giáo, bảo cho tôi biết là đi đâu để tôi được vững lòng. -- Mầy đui à? Hay là cả đời mầy chưa đi biển sao? Chỗ nầy là chỗ nào mầy há lại không biết sao? Tên lính ấy giận mà nộ nạt như vậy, rồi lại bảo Đàm rằng: -- Mầy đứng lên mà trông đằng xa kia kìa. Đàm theo lời đứng dậy trông tới đàng trước, thấy xa xa có hòn núi cao, trên núi có tòa nhà lớn, tức chỗ mà người ta gọi là "ngục Khu-đô". Ngục nầy đặt ra hơn ba trăm năm nay, chẳng biết đã chia rẽ bao nhiêu gia đình của người ta và đã chôn sống bao nhiêu sanh mạng người vào trong đó! Đàm ra tuồng dớn dác lắm, nói với bọn lính rằng: -- Uả đây là ngục Khu-đô đây mà, tôi có tội gì mà đem tôi đến đây? -- Nghĩ lấy thì biết. Bọn lính vừa cười vừa nói như vậy thì Đàm hỏi rằng: -- Thế thì sẽ cầm tù tôi ở đây sao? -- Có lẽ. -- Nếu vậy thì quan phó án nói với tôi không thật sao? -- Chúng ta chỉ biết giải mầy vào ngục Khu-đô mà thôi; còn quan phó án nói với mầy làm sao trối kệ, ai biết. Đàm khóc nức nở mà kêu trời mấy tiếng, rồi cất mình lao xuống biển thì bọn lính xúm lại nắm lấy chơn va mà quẳng vào trong thuyền, kẻ thoi vào đầu, người đạp trên bụng mà nói rằng: -- Cái thằng khốn nầy, nó đã báo hại chúng ông rồi đây. Hãy ngồi yên nếu còn thế nữa tao sẽ cho mầy ăn mấy viên đạn bây giờ. Bấy giờ Đàm không dám cụ cựa nữa, chỉ nghiến răng chằng mắt, căm giận vô cùng. Một chặp chi đó nghe có tiếng nổ rất to, chiếc thuyền chao qua chao lại thì ra đã đến ngục Khu-đô rồi. Bọn lính bồng súng lên, lôi Đàm vô bờ áp điệu vào khám, thấy bốn phía khám có tường dày và rất cao. Liền có một đội lính ở đâu kéo đến, đi bước có nhịp lưỡi lê cắm đầu súng sáng lòa, trong đám có một người hỏi rằng: -- Nào phạm ở đâu? đi với ta đây, ta sẽ dẫn đến chỗ nó nằm. Rồi một tên lính ở đằng sau xô Đàm tới, thét rằng: mau lên! đi đi! Đàm theo đi, tới một gian phòng hình như ở dưới đất, hơi mốc meo ẩm ướt trong phòng xông lên trên vách, nhỏ xuống từng giọt như nước mắt. Một cái đèn để trên cái ghế thấp, ngọn leo lét bằng hột đậu. Đàm biết rằng kẻ đưa mình đi đó là lính canh ngục, nhìn kẻ thấy nó mặc áo rách mới bộ mặt lạnh lùng, ngó dễ sợ lắm. Tên lính ấy bảo Đàm rằng: -- Đây là chỗ mầy nằm đây. Đêm khuya rồi, ông đề lao ngủ rồi, không dám đánh thức dậy, đợi sáng mai, hoặc dời mầy đến phòng khác, chưa biết chừng. Nầy nào bánh, nào nước, nào củi đều có đủ cả trong phòng, mầy khá tự lấy mà dùng; tao đi ra, sáng sớm mai lại đến thăm mầy. Đàm còn muốn hỏi lại thử chỗ để nước ở đâu, song tên lính đã vội vã xách đèn ra, khóa cửa lại và đi trớt. Đàm một mình ở trong xó tối, chỗ ở thì lạnh buốt mà mình va thì nóng sôi. Tảng sáng, tên lính canh ấy trở vào, thấy Đàm còn đứng trơ trơ chỗ cũ, cặp mắt rưng rưng, bèn lấy tay vỗ mạnh vào vai, Đàm thất kinh vùng nhảy cưỡng, như là chợt tỉnh ra từ trong giấc chiêm bao vậy. Tên lính hỏi rằng: -- Đêm qua có mệt mỏi không? -- Không biết. -- Bụng có đói không? -- Cũng không biết. -- Vậy thì mầy có muốn gì không? Tên lính ngó chăm chăm Đàm mà hỏi như vậy, thì Đàm trả lời rằng: -- Tôi chỉ muốn gặp ông đề lao ở đây mà thôi. Tên lính lắc đầu, rún vai, vừa cười tủm tỉm vừa đi; Đàm ngó theo còn muốn nói nữa, song cửa đã đóng lại rồi. Đàm không biết làm sao, nằm sải tay sải chơn trên đống củi mà khóc bằng non bằng nước, tự hỏi mình rằng hỏi Đàm-tư-đức, mầy có tội gì mà đến nỗi nầy? Rồi lại đứng dậy, chạy quanh trong phòng không biết mấy trăm bận, dầu cho con thú trong chuồng, con chim trong bẫy cũng còn chưa thấy cái khổ ấy! Trọn một ngày và một đêm nữa Đàm cũng không hề nhắm mắt. Hôm sau, tên lính lại đến, hỏi rằng: -- Hôm nay mầy đã hơi tỉnh chưa? Ta có một lời khuyên mầy: Hễ đã tới đây thì là cách biệt với thế gian rồi, cũng như tro tàn không bao giờ lại cháy. Ban ngày ăn, ban đêm ngủ, quyền lợi của mầy chỉ có thế thôi, ngoài ra không nên nghĩ đến gì cả. Tức như hôm qua mầy muốn gặp mặt ông đề lao, ấy là việc tuyệt không có thể được, nghĩ làm chi vô ích; chớ dại mà nghĩ vơ nghĩ vẩn, rồi lâu ngày nó đờ người ra có biết không? Đàm nghe vậy thì hỏi rằng: -- Thật vậy hay sao? Tên lính đáp lại rằng: -- Thật thế. Ví như ngày trước ở đây có một lão sư bị tù, hay nghĩ bá vơ bá láp, đến nỗi cậy ta nói với ông đề lao thả cho nó trốn thì nó lót cho một trăm vạn phật-lăng, ít lâu rồi thì nó điên; cái phòng mầy ở bây giờ đây tức là phòng lão sư ấy ở hồi trước. -- Vậy thì lão sư ấy đã được tha rồi sao? -- Nào có tha, nay đã cầm lão dưới khám hầm rồi. Đàm sa mặt xuống mà nói rằng: -- Tội nghiệp cho lão quá chừng! Tuy vậy, tôi đây không phải lão sư, vả cũng không điên như lão, tôi có một việc muốn nhờ bác, xin bác chớ nài hà. -- Việc gì? nói đi nghe. -- Sức tôi thì không đủ phụng cho bác một trăm vạn phật-lăng, song nếu bác làm ơn đem giùm vài chữ cho người thiếu phụ ở Mạc-xây tên là Mai-tây-đương thì tôi xin kính bác một trăm phật-lăng, bác có bằng lòng không? -- Không dám đâu, làm vậy nếu để ông đề lao biết được thì khốn. Ta ở đây mỗi năm được hai chục phật-lăng cũng đủ xài rồi. Đàm tức khi ấy nổi nóng lên, đứng dậy mà nói rằng: -- Thôi thì chỉ nhờ bác nói miệng với người ấy một câu rằng Đàm-đức-tư đã bị tù ở ngục Khu-đô là đủ. Cái nầy mà mầy chẳng nhận lời tao thì nói thiệt, khi khác mầy vào đây, tao sẽ cầm cái ghế thấp nầy núp sau cánh cửa, choảng cho mầy một cái bể sọ. -- Uý! Thằng nầy điên mất rồi. Lúc lão sư mới phát điên cũng làm như mầy một thức. Ba ngày nữa tao sẽ còng mầy lại mà mời vào khám hầm mới được. Tên lính vừa đi thụt lui vừa nói cách giận giữ như vậy, thì Đàm đã cầm cái ghế trong tay, múa cho quay tít đi, rồi lại làm ra tuồng muốn liệng theo. Tên lính hốt hoảng nói rằng: -- Khoan đã! khoan đã! để ta chạy mời ông đề lao đến cho mầy. Đàm bèn bỏ ghế xuống ngồi lên, làm ra bộ điên, nói rằng: -- Đi cho mau! đi cho mau! Ta ngồi đây đợi lão đề lao đây. Tên lính ra rồi có một người cai đến, với bốn tên lính khác. Cai nói rằng: -- Theo lời ông đề lao, lập tức đem tên tù nầy giam dưới khám hầm, hầu cho hai đứa điên nó ở với nhau. Đàm đương muốn cãi cọ thì bọn lính trợn mắt a lại, xoác lấy va, giơ bổng lên mà vác đi, như bồng con nít vậy. Đi xuống khỏi cái thang bằng đá mười lăm nấc thì đến một phòng, thấy đã mở cửa chực sẵn, bọn lính ném Đàm vào đó rồi đóng cửa lại. Trong đó tối đen như mực, không còn chỗ nói nữa. Đàm cất tay lên sờ mó thì chỉ thấy có tường vách mà thôi; mới biết khám hầm là chỗ nầy đây, nghĩa là cái khám dưới đất như là cái hầm vậy. Ôi! một người trai trẻ lanh lợi, trên có cha ngoài có chủ hiền, trong có vợ đẹp, cái hạnh phước của đời người như vậy cũng đã khá rồi. Ngờ đâu chỉ vì không muốn chối lời một người bạn trong khi hầu chết mà phải hãm vào vòng tù tội, nếm đủ mùi cay đắng, tấm thân đày đọa lại còn gấp mấy mươi cá chậu chim lồng! Vì ai xui khiến cho nên nỗi nầy? Nếu chẳng phải trời kia bày đặt để luyện nên khách anh hùng mà chi?
V
Phi-lập-phúc đã bỏ Đàm-đức-tư vào ngục Khu-đô rồi, nội ngày đó lên thành Ba-lê, để ra mắt hoàng đế nước Pháp. Vì trong ý va nghĩ rằng mình mau chơn nhạy miệng, đem cái âm mưu của nghịch đảng mà tâu cho vua trước hơn ai hết thảy, như vậy thì vua sẽ quyến cố mình một cách đặc biệt hơn. Va vốn không thù oán chi với Đàm, chỉ vì chút công tham vinh cố sủng, nên làm hại Đàm để làm lợi cho mình mà không gớm tay. Lại có một điều nầy đáng lo lắng cho va, là sự đốt thơ đó mà người ta biết được thì cha con va cũng chẳng ngồi yên được, vậy thì giam rục Đàm trong khám Khu-đô lại là kế để mà thoát tội cho cha con va nữa. Phi đi dọc đường xảy gặp Mai-tây-đương. Nàng khóc lóc kêu van, hỏi tin tức Đàm thế nào và nhờ Phi ra tay tế độ. Phi vừa trừng trộ vừa quát tháo mà rằng: -- Nó là một tên tù trọng tội, ta không có thể nào cứu nó được. -- Vậy thì xin ngài bảo tôi một lời mà thôi, là: Anh ta đã chết rồi hay còn sống? Mai-nương khóc và hỏi, thì Phi đáp như vầy rồi cứ việc thẳng đường đi về Ba-lê: -- Vụ đó đã giải về Ba-lê rồi, không phải thuộc về phận sự ta nữa, vậy thì nó chết hay sống, ta làm sao biết được? Mai-nương đã tủi lại tức, nghẹn cả họng, chẳng biết than thở cùng ai, lủi thủi đi về, như ngây như dại. Vừa đến ngã ba, bước lên một chiếc xe, Phất-nhĩ-nam ngó thấy, cũng lên theo với nàng, quì xuống bên cạnh, bợ lấy tay nàng mà hôn, thế mà nàng chẳng hề biết tới. Khi về nhà rồi, vật mình xuống nằm liền, trong lòng đau xót muôn phần, cho nên mắt chẳng thấy tai chẳng nghe gì hết. Sáng ra, thấy Phất-nhĩ-nam, nàng mới chưng hửng mà rằng: -- Ủa, té ra anh ở đây sao? Phất thở ra mà đáp rằng: -- Ta đến đây hôm qua, có điều tại em không thấy đó thôi! Lúc đó, ông thân Đàm cùng Mai-nương cứ hằng ngày ngó mặt nhau mà than khóc, chẳng ai hề biết Đàm đi đâu. Duy có Mã-lạc-nhi biết Đàm đã bị cầm tù ở ngục Khu-đô, thì chạy đã đủ vành, cậy với bao nhiêu người có thế lực ở Ba-lê tìm phương cứu gỡ, song bấy giờ họ đều nghĩ rằng Nã-phá-luân không tài nào về nước được, mà Đàm mắc tội vì âm mưu với Nã-đảng, là việc quan trọng lắm, nên không ai dám vì Đàm mà hở một lời. Mã-lặc-nhi dầu hết lòng thương Đàm, cũng phải chịu phép. Còn Cảnh-đặc thấy Đàm-đức-tư vô tội mà gặp phải tai bay hoạ gởi như vậy thì lòng va dửng dừng dưng, cả ngày chỉ uống rượu giải phiền, bưng kín miệng bình, không khi nào giở chuyện ấy ra mà nói. Chỉ có Đặng-cách-luân là vui vẻ lắm, đã thỏa lòng trả oán, lại vững chãi cái ngôi chúa tàu Phan-long, sung sướng đến đâu! Đôi khi va ngó thấy ông thân Đàm đi tha thưởi dọc đường, tìm dò tin tức thì cứ lấy cặp mắt mà cười ngầm. Phi-lập-phúc đi rút đường lại trong ba ngày thì đến Ba-lê. Đầu hết vào ra mắt quan thủ tướng Bạch-lan-khắc, mách chuyện Nã-phá-luân toan trở về nước Pháp làm vua lại, Bạch-lan-khắc liền đem việc ấy vào tâu. Vua còn chưa lấy làm tin. Bạch mới dựng chứng lên mà rằng ấy là lời của Phi-lập-phúc nói đó. Vua nghe tiếng Phi đã lâu, liền đòi vào. Phi-lập-phúc đi đường dài ngày, mình mẩy dơ dáy, chưa kịp tắm rửa gì hết, nghe vua đòi thì vào chầu ngay. Vua ban chuyện vui vẻ hồi lâu mới hỏi đến việc Đàm-đức-tư, thì Phi tâu rằng: -- Nã-phá-luân đã sắm sẵn ba chiếc tàu binh, mới rồi đã lìa khỏi cù lao Ên-ba. Khi Đàm- đức-tư biệt mà đi thì Nã có dặn miệng về nói với tên gian đảng kia trong nước, bảo làm nội công, đặng toan bề khôi phục, song cái tên của đứa gian đảng ấy thì Đàm-đức-tư nó đã quên mất. Số là, có một ông đại thần bình nhựt hay nói với vua rằng Nã-phá-luân đã mất cả thế lực rồi, không đủ sợ nữa. Đến hôm mà Phi-lập-phúc vào yết kiến đó, chính ông đại thần ấy cũng được tin chắc rằng Nã-phá-luân ở Ên-ba xuống tàu về nước ngày 26 tháng 2, và ngày 1 tháng 3 sẽ đến đất An-ti-bê, bèn vội vàng đem tin ấy vào tâu với Pháp hoàng. Vua nổi giận đùng đùng, quở cho ông đại thần đó một chặp, may nhờ có Phi-lập-phúc xin giùm mới thôi. Trong lúc đó, lại có tin báo rằng quan Đại tướng Khuê-nãi-nhĩ bị ám sát ở đường phố Thánh-gia-cơ, kẻ hành thích là người trong Nã đảng, tuổi chừng trên dưới năm mươi, da xám, tròng mắt đen, lông mày sưa mà râu tóc thì rậm, mặc áo xanh màu chàm, trên nút chỗ ngực có găm bông hường, giết xong thoát thân ngay, lính đuổi theo đến đường phố Khảo hoàng thì mất tích. Phi nghe tin ấy thì sảng sốt, vì biết trong trí rằng đó là Nô-nhĩ-đích cha mình. Phi đứng dậy xin lui ra, vua ân cần hỏi rằng: -- Ngươi về đây vẫn ở chung với ông thân nguơi chớ? -- Tâu hoàng thượng, chúng tôi không ở chung. -- Vậy thì ngươi có tới thăm ông thân ngươi không? -- Tâu hoàng thượng cũng không. Pháp hoàng bèn ban khen rằng: -- Ngươi có lòng ái quốc đến nỗi đành lòng từ bỏ cả cha mình, như thế đáng gọi là trung thần thật. Lại truyền ban cho Phi một cái bửu tinh để tỏ dấu yêu quý. Phi cảm kích bội phần, đến nỗi rơi nước mắt, tay cầm cái bửu tinh hun lấy hun để hầu tỏ lòng trung ái của mình. Khi Phi bước ra, vua còn phán dụ thêm rằng: -- Ngươi hãy nhớ lời! Nầy, ngươi dầu chẳng ở Ba-lê hầu hạ một bên ta, song cứ ở Mạc-xây mà dốc lòng trung thành và làm việc cần mẫn, thì công trạng ngươi sẽ lớn lắm và ta sẽ nhớ đến ngươi luôn. Phi cúi đầu và nói rằng: -- Nếu vậy thì kẻ hạ thần nầy xin đi về ngay.
VI
Phi-lập-phức vừa về đến nhà trọ một chặp, có người xin vào thăm mà không chịu xưng tên mình. Hỏi kẻ hầu thì hình trạng người ấy không khác gì với người ám sát quan đại tướng mà va mới nghe nói ban nãy. Phi ngần ngừ chưa chịu mời vào, thì người ấy đã đi xồng xộc vào, quả là cha va không sai. Phi sợ mất vía, một chặp mới nói được rằng: -- Tôi về ngay bây giờ, cha lặn lội tới đây làm chi? Rồi đem việc đốt thơ và việc vào yết kiến vua Pháp mà nói cho cha mình nghe; lại rằng: -- Nhà vua đã dự bị đâu vào đó rồi, rồi đây quân Nã-phá-luân sẽ bị thua bét. -- Chưa biết. Hôm nay đã đến Nô-năp-bột rồi, mười ngày nữa đến Lạp-an, hai mươi ngày nữa đến Ba-lê, chánh phủ ở đây có phòng ngự cách mấy đi nữa cũng chẳng được nào. Nô-nhĩ-đích trả lời như vậy, Phi bắt qua chuyện khác mà hỏi rằng: -- Nầy, chớ cha mới với ám sát Khuê-nãi-nhĩ, người ta đã dò biết rồi, bây giờ làm thế nào? Nô-nhĩ-đích cứ việc điềm nhiên, thủng thẳng nói rằng: -- Khuê-nãi-nhĩ trước kia vốn là bạn đồng chí với ta, đến chừng nó biết cả việc bí mật của đảng chúng ta hết rồi, nó lại nhập với đảng nhà vua, như vậy chẳng giết để làm gì? Nói vừa dứt lời, Nô-nhĩ-đích lại chỗ bàn rửa mặt, cầm dao cạo cả hàm râu, cổi bỏ áo mũ mình mà mặc áo đội mũ của Phi-lập-phúc, rồi đường hoàng đi ra, dầu cho lính kín có theo va nữa cũng khó lòng mà nhìn ra được. Phi đã về Mạc-xây, cả ngày chỉ ngồi tính sự thắng bại của hai đảng. Va liệu rằng giá phỏng bên Nã-đảng mà được thắng thì thế lực của ông thân va cũng đủ che chở cho va, còn nếu bên Vương-đảng được thắng thì cái hạnh phước vô thượng của va đã đành rồi, mà thế lực của va cũng đủ che chở cho cha va nữa. Hai cha con ai phò chúa nấy, rút lại ai thắng bại mặc ai, còn phần nhà va chỉ có lợi mà không có hại, cái kế như vậy cũng đã quyệt thay! Không bao lâu, Nã-phá-luân trở về nước Pháp, lại lên ngôi hoàng đế. Bấy giờ Phi-lập-phúc cũng còn cứ bám chặt lấy cái chức chủ quận Mạc-xây; nhưng mà sự va kết hôn với Thánh mỹ-lan thì lại vì cớ ấy mà chậm đi một độ. Lúc đó Đàm-đức-tư bị giam trong ngục Khu-đô đã được năm mươi bốn ngày rồi. Mã-lặc-nhĩ thấy Nã-phá-luân đã trở về làm vua, bèn đến xin Phi-lập-phúc thả Đàm ra khỏi ngục. Phi làm bộ nói rằng: -- Ờ! té ra cái việc Đàm-đức-tư tôi đã quên lửng rồi nhé! – Khi tra lại bổn án rồi Phi mới nói rằng: -- Người nầy hồi trước ở đây giải về Ba-lê, rồi ở Ba-lê giải qua Khu-đô, bây giờ nếu được tờ sức của quan thủ tướng thì chắc anh ta về đặng. Nói xong, cầm viết thảo tờ tư bộ, đại ý như vầy: "... Cái việc Đàm-đức-tư đưa thư ở cù lao Ên-ba không có chứng cớ chắc chắn gì cả, mà nếu quả có đi nữa thì va lại là một vị công thần của hoàng đế bây giờ, thưởng công chẳng hết, lẽ nào lại phạt tội mà giam vào nơi lao ngục..." Mã-lặc-nhĩ cầm tờ thảo lên đọc dòn khay, khen rằng: -- Tốt lắm quan lớn! -- Ừ phải, đây là tờ tôi tư về bộ trình với quan thủ tướng, để tôi bảo phát mã-thượng liền bây giờ cho ông. Mã-lặc-nhĩ cảm ơn đôi ba lần, về thuật lại với ông thân Đàm, hai người mừng cấp ca cấp củm. Ngờ đâu! Phi-lập-phúc là tay đáo để, va nghĩ đi nghĩ lại, không sót nước gì. Va nghĩ rằng bây giờ nếu mình phát tờ tư trình nầy đi, và nếu muôn một mà vua Lu-y 18 lại phục vị, thế là phải lòi cái mặt tráo trở của mình ra, bấy giờ chẳng những là hỏng cả cuộc giàu sang mà còn e cho họa đến trở tay không kịp. Thế rồi va giấu tờ trình ấy không phát đi. Tội nghiệp cho Đàm-đức-tư, bấy giờ va bị giam rục trong khám Khu-đô, là nơi nước chảy không thông, gió vô không lọt cho nên cái việc Nã-phá-luân trở về nước làm vua, va tuyệt nhiên không nghe biết gì hết. Mã-lặc-nhĩ có lòng thương va, đến giục Phi-lập-phúc năm ba lần bảo gởi tờ đi. Phi cứ nói gởi rồi mà kỳ thiệt không chịu gởi. Kịp chẳng bao lâu mà đến trận đánh Hoa-tẹt-lô, Nã-phá-luân bị Huê-linh-tôn đánh cho thua xiểng rồi đi đày luôn không trở về; Lu-y 18 lại lên làm vua, từ đó Mã-lặc-nhĩ cũng không hề bước đến cửa Phi-lập-phúc nữa. Bấy giờ, Phi đã thăng làm quan chánh án tỉnh Tu-lông, sau một tuần lễ thì mới kết hôn với nàng Thánh-mỹ-lan. Còn Đặng-cách-luân từ khi hãm hại Đàm-đức-tư rồi tuy có phần vui mừng mà lòng riêng vẫn lo ngay ngáy. Vừa khi Nã-phá-luân về nước, va đồ rằng thế nào rồi mình cũng không khỏi họa, bèn từ chức chúa tàu đi qua làm ăn bên nước Y-pha-nho, về sau cũng không ai biết chung cuộc va thế nào. Ngày mà Đặng ra đi tức là ngày thứ hai sau khi Nã-phá-luân phục vị. Lúc vua Lu-y 18 lên làm vua lần thứ hai rồi, phàm trong nước người dân nào có sức vác súng được đều phải đi lính cả. Cho nên Cảnh-đặc, Phất-nhĩ-nam đều dự vào số ấy. Khi Phất ra đi, nàng Mai-tây-đương xách gói để lên vai chàng mà nói rằng: Nếu muôn một mà anh nầy liều thân nơi hàng trận, có đi không về, thì lại làm cho tôi suốt đời không có một người bạn nào nữa! Phất nghe câu ấy, yên trí rằng nếu một mai mà Đàm-đức-tư không trở về nữa, thì Mai-nương chắc sẽ làm vợ mình rồi, bèn từ giã nàng một cách rất trân trọng mà đi. Ông thân Đàm từ khi Nã-phá-luân thất trận lại bị đày qua cù lao Hy-lợi-nạp rồi, không còn trông mong cho con mình về được nữa, bệnh già ngày một mòn mỏi rồi chết. Khi ông già ấy mất, Mai-nương hai tay ôm lấy đầu người mà khóc. Việc chôn cất người thì nhờ có Mã-lặc-nhĩ tư trợ cho. Từ đó về sau, Mai nương chiếc thân vò võ dật dờ dật dưỡng như kẻ thất tình, khi thì một mình đứng dưới cụm cây, ngắm bóng mát mà than vắn thở dài; khi thì bâng khuâng nơi bờ biển đem tâm sự mà tỉ tê với con sóng bạc? Nhiều lúc thấy cảnh nhớ người, mối thương tâm không làm sao gỡ được, thì toan gieo mình xuống biển một thác cho rồi, song cũng chỉ nghĩ thế mà thôi. ấy không phải là nàng sợ chết đâu, nàng biết rằng có chết đi cũng phí cái đời mà vô ích, thân nầy đã hứa với ai rồi, thì chi bằng nuối lại mà chờ ai! ...
VII
Vua Lu-y 18 lên làm vua lại được một năm, sai quan thanh tra đến khám Khu-đô, xét lại tù phạm và hỏi xem ai có sự tật khổ gì không. ấy cũng là một điều nhân chánh mà vua mới thi hành. Đàm-đức-tư đương ở trong khám hầm, lắng nghe lính tráng qua lại xôn xao, kẻ rửa người quét, như là sửa soạn chực có quan khách nào đến. Lại nghe họ thầm thì với nhau, hỏi ra thì biết rằng viên thanh tra hầu đến. Đàm bấy lâu chịu oan không biết kêu cùng ai được, gặp dịp nầy, va lại có hơi trông mong một chút, nên ngày đêm ngỏng cổ chờ tin. Khỏi ít lâu, viên thanh tra ấy đến. Sau khi đến các khám tù khác mà hỏi từng người một rồi, thì nói với viên đề lao rằng: -- Thế đã hết rồi hay chưa? Viên đề lao thưa rằng: -- Còn một tên tù điên, giam dưới khám hầm. Quan thanh tra ngó bộ đã hơi mệt mỏi, song xây lại nói với viên đề lao rằng: -- Phải đưa ta đến xem tên tù ấy luôn, hầu để rủ ơn huệ nhà vua và thông tình kẻ dưới, thì sự đi của ta đây mới là được việc. Viên đề lao bảo hai tên lính đi trước giàn mặt, và nói cùng viên thanh tra rằng: -- Xin ngài cẩn thận một chút vì thằng tù ở dưới khám hầm nó có chứng điên, khi nó thình lình đổ chứng ra, ngó dễ sợ lắm, đừng đi xộ vào, e nó làm bướng chăng. -- Có người giàn mặt đàng trước rồi, ngại gì. Viên thanh tra nói như vậy rồi cùng với đề lao đi xuống từ nấc thang, ở trong đó đã dơ lại tối, làm cho mắt mờ, mũi nghẹt, không thở được, viên thanh tra than rằng: -- Có ai lại đem loài người mà đặt chốn nầy! -- Bẩm ngài trong nầy có một tên tù nghịch đảng, trước kia có lịnh quan trên ở Ba-lê truyền sang, bảo phải giữ nó cho kỹ, nên cực chẳng đã mà phải giam nó vào đó. -- Vậy thì trong đó chỉ có một mình tên ấy mà thôi sao? -- Bẩm phải. -- Cầm nó ở đây bao lâu rồi? -- Bẩm hơn một năm. -- Thế thì hồi nó mới tới đã phải nhốt vào đây sao? -- Bẩm không, nó tới đây ít lâu rồi nó phát điên, toan giết lính canh, nên mới nhốt nó vào đó. -- Ta có nên vào để hỏi nó có oan ức gì không? -- Bẩm nó điên, không biết ai là ai cả, hỏi nó cũng vô ích. -- Hãy hỏi thử, hoặc giả ta sẽ giải oan cho nó được, chưa biết chừng. Coi mấy lời đó đủ biết viên thanh tra có lòng nhân ái là dường nào. Song viên đề lao lại thưa rằng: -- Bẩm ngài có lòng trọng mạng người như vậy, tôi đâu chẳng thể theo ý ngài, duy còn có một khám nữa, cách đây chừng vài chục bước, đi qua thang khác thì đến đó được, là chỗ một lão sư kia ở. Lão là nguyên thủ lãnh một đảng kia ở nước Y-ta-ly, năm 1811 bị cầm tại đây, được hai năm thì lão phát điên. Một điều rất lạ, là trước kia thì lão hay khóc, mà bây giờ thì hay cười, trước kia thì ốm nhách, mà bây giờ thì mập đẫy. Lão làm nhiều trò dễ buồn cười lắm. Xin ngài trước đến thăm lão ấy rồi sẽ đến tên kia, thế nào? Viên thanh tra nói: -- Được, để rồi ta cũng đi thăm luôn. Đều là tù tội thì ta coi tên nào cũng như tên nào, song tiện đây thì ta thăm tên nầy trước. Nói rồi biểu lính đi tới khám hầm Đàm-đức-tư ở. Vừa mở cửa ra, thấy Đàm-đức-tư nằm queo trong một xó, nghe tiếng người ta thì ngước đầu lên, mở mắt ra nhìn mặt không còn chút máu, ngó bộ tội nghiệp lắm. Đèn thắp lên, hai tên lính đứng hai bên, viên thanh tra bèn bước tới. Đàm biết người đó tức là quan thanh tra thì vừa khóc vừa tỏ nỗi oan khổ của mình. Quan chăm nghe và hỏi: -- Mầy muốn gì? -- Bẩm ngài, tôi chẳng biết tôi có tội gì mà giam hoài ở đây. Bằng không có tội thì tha đi, bằng có tội thì giết đi, sao lại trấn tôi vào chỗ lỡ sống lỡ chết nầy, làm cho tôi muốn chết không chết được, khổ quá! Viên đề lao xen vào mà hỏi rằng: -- Bữa này mày nói còn có lẽ, song hôm trước mầy toan giết lính canh là ý làm sao? -- Không, tôi có toan giết đâu. Tôi bị giam lâu thì bực tức quá mà làm như vậy đó thôi. Viên thanh tra hỏi rằng: -- Mầy nói bị giam lâu, thế là mấy năm nay rồi. -- Bẩm, khi tôi đến nhằm ngày hai mươi mốt tháng hai năm 1815, lúc hai giờ rưỡi chiều. -- Bữa nay là ngày 30 tháng sáu năm 1816, vậy thì mầy ở đây mới có 17 tháng. -- Trời ôi! mới có 17 tháng ư, sao mà ít dữ vậy? Viên đề lao cười mà nói với va rằng: -- Mầy ở trong ngục, còn biết chi là ngày tháng nữa? 17 tháng hay là 17 năm, đều là cái số mà mầy không thể nào biết được. Đàm nghe vậy thì càng ra dáng ủ dột mà nói cùng viên thanh tra rằng: -- Nay may mà quan lớn đến đây, ngài lại sẵn lòng thương xót, vậy dám xin ngài cho tôi biết tôi bị tội vì cớ gì. Vì giam lâu mà không biết mình có tội chi, thì cái khó chịu ấy nó lại càng gấp mấy sự giam lâu nữa, có lẽ chết cũng không nhắm mắt được! Viên thanh tra nói: -- Ta thấy bộ mầy và nghe mầy nói thì thương hại lắm. Rồi quay lại nói với đề lao rằng: -- Hãy đem bổn án cho ta xem, để ta sẽ biết nó có tội gì. Viên đề lao dạ. Quan lại hỏi Đàm: -- Chớ hồi đó ai bắt mầy? -- Bẩm, ông Phi-lập-phúc. -- Ông Phi-lập-phúc có thù oán gì với mầy không? -- Bẩm không, ông ta chẳng những không oán với tôi mà còn là ân nhân của tôi. -- Ông Phi-lập-phúc đã bỏ Mạc-xây mà đến ở Tu-lông rồi. Đàm nghe quan nói như vậy thì riêng nghĩ rằng mình sở dĩ bị giam lâu ở đây hoặc giả vì cớ ấy. Vừa khi đó viên đề lao bước tới thưa cùng viên thanh tra rằng: -- Ngài muốn xem bổn án ngay bây giờ hay là đợi rồi việc sẽ xem? -- Thôi để rồi việc cũng được. Quan nói dứt lời ấy thì xây nói cũng Đàm rằng: -- Thôi mầy hãy nhịn nhục ở đây, ta sẽ vì mầy mà xem lại bổn án coi thử mầy bị tù vì tội gì. Đàm-đức-tư cúi sát đất khóc và cảm ơn. Ai nấy đi ra, đóng cửa lại. Bấy lâu Đàm đã tuyệt vọng rồi, bây giờ lại có hy vọng chút đỉnh thì cũng gọi là đỡ buồn được một ít. Song, nghĩ như Phi-lập-phúc là người thế nào, khi không hãm hại va, làm cho cha con, vợ chồng xa nhau, bị tù bị tội, oan khổ đến như dường ấy, mà va trở lại kêu bằng ân nhân! ân nhân và cảm ơn khôn xiết! Ôi thế mới biết Phi là con người nham hiểm, dễ sợ mà cũng dễ thương thật. Bấy giờ viên thanh tra mới qua bên khám hầm lão sư ở. Dọc đường, hỏi viên đề lao rằng: -- Lão sư ấy điên cách làm sao? -- Buồn cười lắm, nó khoe mình giàu, của tiền mấy đời cũng không hết. Năm đầu nó mới đến, nó nói muốn lót tôi một trăm vạn phật-lăng để cho nó trốn. Năm sau tăng lên hai trăm vạn. Năm thứ ba tăng lên ba trăm vạn. Đến năm nay ở đây 5 năm rồi. Bây giờ ngài vào chắc lão sẽ nói với ngài năm trăm vạn cho mà coi. -- Lạ è! Lão sư ấy tên gì? -- Bẩm, tên là Phan-lan. Đến nơi, thấy trên cửa đề "số 27". Mở cửa vào thấy lão sư đương ngồi chính giữa phòng, bốn phía đầy những bụi đất, là đồ lão quào trên vách rớt xuống. Lão mặc áo rách tả tơi, không che kín thân, đương vẽ một cái vòng tròn trên đất như cách làm toán. Mắt lão chăm chăm ngó cái vòng đó không nháy, và tai cũng không nghe. Thấy có đèn sáng, lão mới đủng đỉnh ngước đầu lên, nhìn xem người ta đông đảo thì ra ý bợ ngợ, vội vàng lấy cái mền rách quấn mình lại, nằm xuống thim thíp. Viên thanh tra bước tới hỏi rằng: -- Mầy có xin gì không? Lão sư Phan-lan đáp rằng: -- Không, tôi chẳng xin gì. -- Hoặc giả mầy không biết ta là ai chăng. Ta vâng mạng nhà vua đến đây xét tù và hỏi xem có ai xin xỏ điều gì. -- Vậy thì bẩm ngài lão sư Phan-lan là tôi đây! Tôi sanh tại thành Rô-ma, làm thơ ký cho ông sư cả Tư-ba-đạt đã 12 năm, đến năm 1811 thì tôi thình lình bị tù mà chẳng biết mình có tội gì. Từ đó nhẫn nay tôi vẫn có ý kêu nài cùng hai chánh phủ Y-ta-ly và Pháp-lan-tây để trả tự do lại cho tôi mà thôi. -- Không, câu mầy đáp đó không ăn với câu ta hỏi. ý ta chỉ muốn hỏi mầy ở đây có điều gì khó chịu không. -- Tôi không có gì khó chịu cả. Cơm tù hẩm hút tôi cũng ăn được, khám hầm tối tăm dơ dáy tôi ngủ cũng được; duy có một điều tôi muốn thưa với ngài là trong tay tôi có năm trăm vạn phật-lăng mà không biết dùng làm chi, tôi chỉ muốn đem dâng chánh phủ, là tôi thỏa lòng. Viên thanh tra cười mà nói rằng: -- Nhà nước há muốn lấy của mầy làm chi? Hãy giữ lấy đợi khi nào mầy ra tù mà xài. Sư Phan-lan lại gần, cầm lấy tay viên thanh tra mà nói một cách thật thà rằng: -- Bẩm ngài, chẳng may mà tôi bị giam rục ở đây suốt đời, hoặc là tôi chết mòn ở đây, thì cái của tôi đó thành ra vô dụng đi mất, chi bằng hiến cho nhà nước dùng còn có ích hơn. Huống chi ngoài năm trăm vạn tôi định dâng cho chánh phủ đó, tôi lại còn có vô số nữa, giá tôi được ra tù mà xài cả đời tôi cũng không hết. Viên thanh tra xây lại nói với các người kia rằng: -- May mà ta biết trước là lão điên, chớ không thì đã nghe lão mà tin phăm phắp rồi. Sư Phan-lan nghe vậy thì cãi lại mà rằng: -- Tôi không điên đâu. Món tiền tôi nói đó quả có thật, xin các người đi với tôi đến chỗ đó mà lấy, nếu tôi nói dối, thì lại đem tôi về giam ở đây, có hại gì.< |