"Café Văn học",
một sân chơi văn học mở
Từ đầu năm 2007, Hội đồng Anh (British Council)
tại Việt Nam đã triển khai một hoạt động gây
được tiếng vang trong công chúng văn học ở hai
thành phố lớn nhất nước, đặc biệt là Hà Nội. Đó
là chương trình "Café Văn học" được tổ chức mỗi
tháng một lần ở Hà Nội và hai tháng một lần ở
TPHCM. Trong mỗi buổi, tuỳ theo chủ đề, "Café
Văn học" mời một số nhà hoạt động văn hoá, văn
học của Anh quốc và Việt Nam thuyết trình và toạ
đàm về các vấn đề khác nhau của văn học Anh (mở
rộng ra là văn học tiếng Anh) và văn học Việt
Nam, với sự tham dự và đối thoại của một cử toạ
gồm rộng rãi những người quan tâm, tức là một
thứ diễn đàn mở. Chương trình được xây dựng với
sự tư vấn của nhiều nhà văn, nhà thơ, dịch giả,
nhà nghiên cứu phê bình văn học quen thuộc:
Dương Tường, Hoàng Hưng, Phạm Toàn, Phạm Xuân
Nguyên, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Minh
Thái, Nguyễn Chí Hoan, Trịnh Lữ, Trần Tiễn Cao
Đăng, Phan Thị Vàng Anh, Nhật Anh, Cao Việt
Dũng, Phạm Thị Thu Thuỷ, Trần Tiến Dũng, Nguyễn
Hữu Hồng Minh, Trịnh Cung, Phan Đan.
Tại Hà Nội, sau ba buổi tối được sự hưởng ứng
khá nhiệt liệt của những người yêu văn học, đặc
biệt là các bạn trẻ, với các chủ đề:
Trình diễn Thơ (nhà thơ Anh Roger
Robinson & các nhà thơ Việt Nam: Nguyễn Vĩnh
Tiến, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Dạ Thảo
Phương, Nguyễn Thị Thuý Hằng), Văn hoá đọc
(Graham Sutcliffe & Nguyễn Thị Minh Thái), Dịch
thuật văn học (Graham Sutcliffe, Dương Tường,
Hoàng Hưng, Trịnh Lữ, Hương Lan), tối 22/06/2007
vừa qua, "Café Văn học" tổ chức buổi toạ đàm với
chủ đề "Phê bình văn học trên báo chí - lý tính
và cảm tính". Buổi toạ đàm do Mai Chi, người
được ban tổ chức giới thiệu là thành viên Ban
biên tập mạng talawas, điều phối.
Phần đầu của chương trình là phần giới thiệu văn
học Anh. Ông Graham Sutcliffe (giám đốc nghệ
thuật của Hội đồng Anh) giới thiệu vắn tắt về
thời sự văn học Anh, các giải thưởng văn học
tiếng Anh, tình hình phê bình văn học ở Anh;
tiếp đó hai dịch giả Trịnh Lữ và Cao Việt Dũng
giới thiệu đôi nét về tác phẩm tiếng Anh mà mình
đã dịch và được xuất bản trong thời gian gần
đây: Cuộc đời của Pi (tiểu thuyết của
Yann Martel, giải Booker 2002, Trịnh Lữ dịch,
NXB Văn học & Công ty Nhã Nam), Khúc quanh
của dòng sông (tiểu thuyết của V. S.
Naipaul, giải Nobel 2001, Cao Việt Dũng dịch,
NXB Lao động).
Phần chính của chương trình, phê bình văn học
Việt Nam, lại chia làm hai mục: "Điểm sách Việt
Nam" và Toạ đàm về chủ đề "Phê bình văn học trên
báo chí".
Điểm sách: Khen chê thẳng cánh
Bốn nhà phê bình được mời lên "sân khấu": Nguyễn
Chí Hoan (Biên tập viên báo Văn nghệ),
Nguyễn Hoà (được giới thiệu là "Trưởng phòng Lý
luận Phê bình Văn học báo Nhân dân"), Văn
Giá (Trưởng khoa Lý luận, Phê bình, Sáng tác Văn
học, trường Đại học Văn hoá), Phạm Xuân Thạch
(Giảng viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Khoa
học Xã hội Nhân văn Hà Nội), trên diễn đàn
"miệng" này đã tỏ ra khá thẳng thắn, nhất là
trong những ý kiến phê phán.
Nguyễn Chí Hoan là người duy nhất giới thiệu hai
tác phẩm, cả hai đều được ông khen ngợi:
Thượng đế và đất sét, (tập truyện ngắn của
Nguyễn Nguyên Phước, NXB Phụ nữ & Nhà
sách Kiến Thức, 2007) và
Biển (tiểu thuyết của John
Banville, Trinh Lữ dịch, NXB Văn học & Công ty
Nhã Nam, 2007). Nhà phê bình nêu bật "sự đơn
giản", thậm chí "đơn điệu" như đặc tính nổi bật,
phong cách độc đáo của tác giả Nguyễn Nguyên
Phước: "Không có sự kiện, biến cố hay bất cứ
một tấn kịch lớn nhỏ nào. Không có một tuyến hay
một trung tâm hay một cái gì đại loại như thế để
ta có thể tóm tắt lại câu chuyện cho đúng nghĩa
như một tóm tắt…", "Không có một dấu vết tu từ
nào… Không có bất cứ một sự khoa trương nào…".
"Nói một cách ngắn gọn,… tất cả các truyện trong
tập này đều được xây dựng từ những
ông-uống-chậm-nhìn-quanh-nét-mặt-buồn-bã".
Với cuốn tiểu thuyết của nhà văn Anh, Nguyễn Chí
Hoan không tiếc lời ca ngợi như một tuyệt tác về
cái chết và sự bất tử.
Phạm Xuân Thạch đề cao cuốn Văn chương, thẩm
mỹ và văn hoá, tập chuyên luận về văn hoá,
mỹ học và văn học của Lê Ngọc Trà (NXB Giáo dục,
2006) như một công trình lý luận Mácxít đáng
trân trọng. "Nó góp phần quan trọng trong
việc điều chỉnh lại một cách diễn dịch giáo
điều, cơ học và chính trị hoá thô thiển về mỹ
học Mácxít ở Việt Nam". Cuốn sách thứ hai
được Phạm Xuân Thạch bình luận là một tiểu
thuyết vừa "xuất hiện trong một chiến
dịch PR hoàn chỉnh và rầm rộ":
Đức Phật, Nàng Savitri và Tôi của
Hồ Anh Thái (NXB Đà Nẵng & Công ty Văn hoá
Phương Nam). Ông đánh giá nó là "một cuốn
sách giải trí tốt và có thể mang đến cho người
đọc những phút giây thư giãn thú vị". Tuy
nhiên, trong tối "Café Văn học" hôm nay, có lẽ
lần đầu tiên cuốn sách gây được cảm tình trên
hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng gần
đây đã nhận những lời bình luận tiêu cực thẳng
thắn và nghiêm khắc: "Lại một lần nữa, một
cuốn sách lớn của cuộc đời đã tuột khỏi
tay Hồ Anh Thái. Cái làm nên sự thành công về
doanh thu và khối lượng độc giả của nó sẽ tiêu
diệt nó về mặt nghệ thuật… Sự dễ dãi và hời hợt
trong tư tưởng và ngôn ngữ cũng khiến cho cái ý
hướng triết lý của cuốn sách bị bóp chết ngay từ
trong trứng."
Văn Giá phê phán các truyện ngắn của 12 cây bút
nữ thế hệ 8X trong tập Vũ điệu thân gầy
(NXB Trẻ 2007): "Đa số… bộc lộ những ý nghĩa
hoặc rõ ràng, hoặc mơ hồ, nhưng thảy đều nhẹ,
không có khả năng ám gợi, không khiến người đọc
day dứt. Chúng nhanh chóng bị chuội đi, không có
chất keo dính neo bám vào tâm hồn người đọc. Chữ
nghĩa nhanh chóng bốc hơi. Hầu hết chúng là loại
truyện một nghĩa."
Nguyễn Hoà trân trọng giới thiệu cuốn Số phận
các nền văn minh và thế giới ngày nay của
Nguyễn Chí Tình (NXB Thanh Niên 2007) như
"một công trình khoa học xã hội-nhân văn được
tiến hành một cách nghiêm túc" của "một
người chưa từng có một tấm bằng từ cử nhân trở
lên, đã bỏ ra gần 10 năm suy ngẫm và đọc… rồi
tiến hành triển khai ý tưởng khoa học trong hai
năm để có một bản thảo viết tay hơn 1500 trang."
Ông cho rằng "không phải bất kỳ vị giáo
sư, tiến sĩ nào ở Việt Nam hiện nay cũng xác lập
được mục đích, có khả năng, động năng tinh thần
để tiến hành một công trình khoa học như Nguyễn
Chí Tình", và "công trình của Nguyễn Chí
Tình đưa tới một tham vấn cần thiết cho những ai
làm công việc nghiên cứu, lý luận, phê bình văn
học - lĩnh vực mà theo tôi hiện tại đang ở trong
tình trạng của một cuộc khủng hoảng đã tới hạn".
Tình hình "khủng hoảng" này còn được ông
nhấn mạnh khi nặng lời phê phán cuốn sách nghiên
cứu Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh của
Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương và Võ Thị
Thanh Hà (NXB Hội Nhà văn 2007). Nguyễn Hoà cho
biết đây là tập hợp 3 khoá luận tốt nghiệp đại
học và luận văn cao học bảo vệ tại trường Đại
học Sư phạm Hà Nội mà chất lượng của chúng chỉ
chứng tỏ "sự dễ dãi trong việc xuất bản đã
đến lúc cần phải được báo động" và khẳng
định sự có mặt của nó "chỉ góp phần làm nhiễu
loạn thêm hoạt động nghiên cứu phê bình văn học
vốn đang khá nhiễu loạn của chúng ta".
Bóng tối trong phê bình
Những bất cập của phê bình văn học hiện nay vừa
hé lộ trong phần "Điểm sách", đến phần toạ đàm
và đối thoại đã sôi động hẳn lên khi nhà nghiên
cứu Lại Nguyên Ân trong thành phần cử toạ đề
nghị các diễn giả giải thích về tình trạng có
một "bóng tối" rộng lớn sau lưng phê bình và các
nhà phê bình. Ông cho rằng "có cái gì đây
trong hoạt động phê bình trên báo chí". Ông
thừa nhận là trong tình hình hiện nay tất nhiên
có những cuốn sách mà "báo chí không được nói
đến như Cọng rêu dưới đáy ao của Võ Văn
Trực" [1]
; song bên cạnh đó có những cuốn không bị xử
lý gì hết, và không phải không có giá trị, nhưng
hầu như không báo nào nhắc đến. Ông Ân đơn cử
chính các công trình của bản thân như
Tư liệu về cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc,
các cuốn sách tập hợp tác phẩm báo chí của
Phan Khôi.
Người dẫn chương trình Mai Chi cho biết việc tồn
tại "bóng tối" trong phê bình ở đâu cũng có, như
ở Đức số sách được điểm trên báo chí chỉ chiếm
khoảng 3% tổng số sách xuất bản. Đó là do báo
chí không thể có đủ đất để thông tin về xuất
bản, họ chỉ chọn những gì nổi trội mà thôi. Song
ở Việt Nam, vấn đề là tình hình chính trị đã quy
định các nhà phê bình được phép soi đèn đến đâu,
cho nên nhiều cuốn sách phải nằm trong "bóng
tối" và trong tình hình ấy internet đã trở thành
công cụ để thoát ra khỏi sự hạn chế.
Nguyễn Hoà nói ông "chia sẻ" băn khoăn của Lại
Nguyên Ân, nhưng ông lại đưa ra một nhận định
trái ngược: hệ thống báo chí hiện nay cho phép
thông tin rất rộng rãi về các tác phẩm, nên nếu
nhà phê bình không có chọn lọc, không công tâm,
không dám nói "không", thì sẽ khó lòng vượt qua
những ràng buộc, hệ luỵ tinh thần và vật chất,
những cạm bẫy giữa "biển sách" của thị trường
xuất bản, dẫn đến tình trạng như lừa dối người
đọc.
Phạm Xuân Thạch xác nhận là có "bóng tối". Ông
tâm sự là có những bài viết ông phải chiến đấu
hàng tháng để được đăng. Ông khẳng định:
"Phải chiến đấu không ngừng với bóng tối, bóng
tối có rất nhiều kiểu, có khi chỉ đơn giản là
cảm tình của ông Tổng biên tập". (Mai Chi
"bình" thêm: "Phải chiến đấu với những
thế lực đen tối".)
Nguyễn Chí Hoan cho rằng nếu có sự đồng thuận dễ
dàng để trùm "bóng tối" lên một tác phẩm thì
thật là không ổn, vì một nền phê bình nghiêm
chỉnh thì không thể đồng thuận một cách dễ dàng.
Nhưng ông lại nói không chỉ một số tác giả ở
nước ta gặp phải tình cảnh đó, mà đó là tình
trạng ở nhiều nước khác. Mặt khác, có nhiều lớp
bóng tối khác nhau, phải phân định rõ.
Về vấn đề này, nhà thơ, nhà điện ảnh và phê bình
văn học Đỗ Minh Tuấn trong cử toạ đặt lại câu
hỏi: "Bóng tối hay là sự lãng quên?". Ông
cho rằng ý kiến của Lại Nguyên Ân dường như hàm
ý là có bàn tay đạo diễn nào đó dẫn dắt nhà phê
bình rọi ánh sáng vào đâu, nói cách khác là điều
tiết phê bình. Theo ông, trong tình hình hiện
nay không ai có khả năng làm việc đó. "Như
bản thân tôi, nếu Ban Tư tưởng Văn hoá có bảo
tôi không được viết thì tôi vẫn cứ viết, không
đăng được trên báo chí trong nước thì tôi gửi
lên talawas". Nhưng ông thừa nhận có tình
trạng "lờ" và "stop": "Lờ" là món võ siêu
đẳng: phóng viên "lờ", tổng biên tập "lờ" vì
ngại đụng chạm. Còn stop thì rất khó nói ai
stop? Tổng biên tập hay Ban Tư tưởng? Ông
cho rằng không có một ai cụ thể có thể chỉ đạo
được việc "lờ" hay "stop", mà là không khí bao
quát của xã hội nó chỉ đạo. Trong tình hình ấy,
nhà phê bình chưa đủ ánh sáng của chính mình
(bản lĩnh, trình độ) thì không thể xuyên thủng
bóng tối.
Văn Giá lại có một lý giải khác về "bóng tối":
ông cho rằng phê bình ở Việt Nam chủ yếu là tài
tử, hầu như không có ai được trả lương để chuyên
viết phê bình, nên trong điều kiện ấy, nhà phê
bình gặp được quyển sách gì và thấy hào hứng thì
viết, không ai có trách nhiệm bắt buộc phải làm.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, được biết đến như
người viết giới thiệu, điểm sách tích cực nhất
trên các báo, khẳng định về "bóng tối" mà Lại
Nguyên Ân muốn nói. "Ta hãy xem một tác phẩm
như Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn,
có một bài viết nào về nó trên báo chí trong
nước? Và mới đây,
Ba người khác của Tô Hoài đã có cả
một
hội thảo do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức
mà muốn biết mọi thông tin về nó chỉ có thể đọc
trên mạng talawas." Ông kết luận: "Bóng
tối là ở đó"
Phê bình lý tính và phê bình cảm tính
Vấn đề được nêu thành tiêu đề cuộc toạ đàm lại
chỉ được đề cập khá muộn, khi một sinh viên
trong cử toạ khẳng định phê bình văn học trên
báo chí Việt Nam là phê bình cảm tính. Anh đề
nghị các diễn giả giải thích nguyên nhân của
tình trạng đó: do bản chất "duy tình" của người
Việt Nam hay do trình độ của các nhà phê bình
chưa đạt đến mức lý tính?
Trả lời câu hỏi này, Nguyễn Chí Hoan cho rằng
phê bình thực tế vẫn tuân theo các quy chế lý
tính. Nói cụ thể hơn, là các lý thuyết văn học.
Hàng chục năm trở lại đây nhiều lý thuyết văn
học mới đã được giới thiệu ở Việt Nam. Phê bình
dựa trên cơ sở lý thuyết mới đã được tăng cường,
hoặc đã vượt ra khỏi những lý thuyết cũ.
Phạm Xuân Thạch thì khẳng định: nòng cốt của phê
bình là lý tính, nhưng nó không thoát ly cảm
tính. Nhất là khi cái mới xuất hiện, nó thường
"cãi lại" mọi lý thuyết đã có, do vậy nhà phê
bình phải "đánh hơi" để nhận biết. Ý kiến của
ông được sự hưởng ứng của một người trong cử toạ
(tự giới thiệu là người làm khoa học tự nhiên).
Ông nói rằng: ngay triết học hiện giờ cũng được
coi là mang tính chủ quan, tức là cảm tính. Điều
quan trọng là người phê bình có đặt chuẩn mực
nhất định cho mình tuân thủ hay không?
Phạm Xuân Nguyên lại đề cao trực giác của người
viết giới thiệu, điểm sách trên báo. Ông cho
rằng phê bình trên báo chí là phải có ý kiến
ngay trước những tác phẩm mới, phải "tức thì,
bây giờ, ở đây", phải khẳng định ngay: hay hay
dở. Như thế người viết phải "đặt cược" uy tín
của mình vào bài viết, phải chấp nhận đó là một
nghề "nguy hiểm". Văn Giá ủng hộ quan điểm này,
vì theo ông, báo chí là thời sự, người viết phê
bình trên báo phải có tiếng nói đồng hành với
đời sống văn học, và họ phải "được quyền sai".
Nguyễn Hoà nhắc đến quyển sách Hái giữa đôi
bờ của nhà phê bình quá cố Thiếu Mai để ủng
hộ quan niệm phê bình là sự hài hoà lý tính và
cảm tính. Song ông khẳng định phê bình trên báo
chí hiện nay là "khủng hoảng, nhiễu loạn, cảm
tính". Thí dụ được ông đưa ra là hiện tượng Hồ
Anh Thái (đây không phải lần đầu tiên ông lớn
tiếng về chuyện này) luôn được một số cây bút
thân hữu lăng xê trên báo chí. Tình trạng phê
bình cảm tính (hiểu với nghĩa tiêu cực) này
Nguyễn Hoà cho là "chưa có hy vọng thay đổi ít
nhất là trong 5, 7 năm nữa". Khi Mai Chi hỏi:
"Vậy theo ông làm thế nào để thoát ra?", Nguyễn
Hoà tuyên bố: "Tôi tin ở thế hệ mới. Tôi chỉ là
một gạch nối, chỉ là người giữ trật tự cho thế
hệ mới làm việc." Và ông khẳng định các tiêu chí
cơ bản của phê bình phải được dạy từ trong nhà
trường, các nhà phê bình phải được đào tạo
chuyên nghiệp (ông cho biết bản thân cũng chỉ
được học trường văn hoá quần chúng, không biết
thế nào lại nhảy ra viết phê bình văn học, và
lại "nói to ra phết" - có lẽ vì "méo mó nghê
nghiệp"!). Song: "khi chính các ông thầy còn
trình ra những cuốn sách phê bình rỏm thì biết
làm sao?"
*
Ngoài những vấn đề
nổi bật được bàn luận sôi nổi trên đây, cuộc toạ
đàm còn đề cập một số khía cạnh khác của phê
bình văn học trên báo chí và phê bình văn học
nói chung, như: vai trò phát hiện của phê bình,
phê bình viết và phê bình rỉ tai… Tiếc rằng vì
thời gian hạn chế (tất cả diễn ra trong vòng 2
giờ), vì chủ đề toạ đàm đã rộng lại không được
xác định trọng tâm từ đầu nên buổi "Café Văn
học" chỉ mới xới lên một số vấn đề thú vị và đôi
lúc chạm đến những vấn đề nghiêm túc thật sự
sống còn của phê bình văn học Việt Nam. Thế cũng
đã là bước đầu đáng ghi nhận trên con đường xã
hội hoá, dân chủ hoá đời sống văn học nước ta.
© 2007 talawas
[1]Truyện
của Võ Văn Trực (NXB Hội Nhà văn & Công ty Võ
Thị), vừa bị chính NXB quyết định thu hồi do áp
lực của cấp trên, sau khi phát hành được gần 1
tháng.