|
Nhốt dòng sông lại Trần Chiến
Ban đầu là bến nước hàng quán lèo tèo, bè xuôi tre luồng, măng ngàn, đò dọc gạo muối, Đông sang mấy anh học trò trẩy Kinh, Đoài tới những bà đi chợ. Thi thoảng, là chõng quan đi kinh lý, thưa thoáng hơn có đoàn voi ngựa của nhà vua... Dần dần bến nước có chợ họp. “Nhất cận thị nhị cận giang”, người ta kéo về sinh cơ lập nghiệp. Rồi phủ huyện ra đời, đồn binh mọc lên, bến nước thành trấn, trung tâm cho cả một vùng với hai khu rõ rệt: thành của quan binh, lỵ sở hành chính, và thị, để cho bách tính quần cư. Một cấu trúc kinh điển, kiểu như một ngôi nhà ắt phải trên vườn dưới ao đi liền vậy. Rất nhiều đô thị của xứ ta đã ra đời trên mình những con sông như thế. Và có lẽ cũng chả phải chỉ của mình xứ ta... Giờ, tức là mấy trăm năm sau, thì sao? Đô thị ngày càng phát triển theo hướng “cứng hoá” các vật liệu xây dựng. Từ chỗ nhà vương hầu, phủ chúa chỉ gỗ lạt đốt vèo một cái cháy cả kinh thành, gạch ngói đã dần dần thay thế, nhà cửa tồn tại cả vài chục năm. Thế kỉ trước, người Pháp mang sang những “bê tông ác mê”, xi măng, sắt thép, xây đồn binh sừng sững trước bom đạn, những nhịp cầu cả tỉnh đi mãi không suy suyển. Ao liền ruộng cả lấp lại, tôn lên cho biệt thự tường sáu mươi mọc lên. Nhà nhà ken nhau sin sít, diện tích mặt nước ngày càng co hẹp lại. Sống trong chỗ ấy, đến một lúc người ta quên đi cái hình thái sông hồ, thành thị soi bóng xuống mặt nước của đô thị mình lại. Sang thế kỉ XXI, chuyện đó lại càng rõ. Nhà chọc trời đua nhau lên kìn kìn, cọc móng cắm xuống vấy cả tầng nước ăn. Mặt nước vườn cây biến mất, nước thải chả thoát ra ao chuôm nào được. Gọi đó là “đô thị hoá”. Càng đô thị hoá thì thành phố càng cứng. Có học giả Tây phương, học cách nói Đông phương, bảo những thị thành xứ ta ngày càng bớt phần âm, tức mặt nước cây xanh, mà tăng phần dương – là những bê tông sắt thép. Âm dương không điều hoà, tức thị cuộc sống xã hội, cuộc sống trong từng tâm hồn cũng ảnh hưởng theo. “Làm thế nào cho âm dương cân bằng đây nhỉ?”, câu hỏi đó “mọc” lên khi tôi đi dọc thị xã Hà Giang. Tỉnh lỵ nhỏ, hẹp, nhìn thấy rất dễ hình thái đất. “Xương sống” để tất cả tựa vào là dòng Lô - chảy giữa những ngọn núi đá trùng trùng. Bên Đông dân cư chợ búa hoặc đẽo núi làm nhà, hoặc đóng cọc xuống lòng sông cho hộp bê tông mọc lên. Bên Tây công sở, chỉ trừ khoảng 500 mét trước quảng trường 26 tháng 3 là trông thấy dòng sông, còn đâu cũng bịt kín cả. Những nhà nghỉ, quán hát, quán trà, nhà trưng bày Honda... bít kín đất đẹp. ấn tượng về thị xã miền núi mà như vậy quả là đáng tiếc. Nhà chức trách, không rõ có quy hoạch, đã chỉ dành một khoảng nhỏ, nơi sử dụng làm các hoạt động công cộng, có ý nghĩa chính trị để cho người ta ngắm được dòng sông. Còn đâu nhốt kín nó lại. Mà những người được cấp đất làm nhà cửa, hàng hiệu bao vây con sông ấy cũng đâu có tận dụng nhiều tầm nhìn ra sông. Của trời cho đẹp đẽ, hiền hoà làm vậy mà cứ bị “chổng” những tường thẫm nước xi măng tua tủa ống nhựa ra, phí ơi là phí. Và dòng nước bền bỉ, cái “phần âm” của đô thị ấy, như cô gái xinh lấy phải anh chồng “dùi đục chấm mắm cáy”, đã chả thể nào mà cất lên lời kêu ca về phận hẩm mình. Cái cảm giác “thiếu một con sông quê hương” ấy càng rõ khi nghĩ về Hà Nội. Nói thế, vì Hà Nội toàn người gốc tứ xứ, đành lấy sông Hồng làm con sông quê hương. Vượt qua mái đê, ra chỗ xưa là bãi, thì nay toàn nhà là nhà, chỗ kiên cố cao vợi, chỗ lúp xúp tạm bợ. Mươi năm trước, đây là cái bãi thải vật liệu xây dựng vĩ đại thu bít dòng sông lại, bít đến đâu nhà mọc đến đấy, giờ không sao khắc phục được. Người Hà Nội, nhiều thế hệ đã quên cảm giác sông nước, có đi qua những Chương Dương, Thăng Long trên ô tô máy lạnh cũng chỉ vèo một cái. Nhưng cũng lại còn những người khác, ít thôi, dòng máu hoang dã vẫn chảy trong lòng. Để rồi chiều đến, dưới chân cầu Long Biên, họ ngồi lỳ giữa đám sậy, cá câu được không chả biết nhưng cảm giác thì được cái chắc. Và vượt ra ngoài bãi giữa là hai bãi tắm “tiên”, toàn “tiên ông”, tự do thư sướng ời ợi. Những con người tội nghiệp đi trốn “phần dương” của đô thị tụ họp như một câu lạc bộ, có lệ phớ, hoạt động đều đặn, âm thầm nhưng hạnh phúc bên dòng sông Mẹ. Nay mai, thành phố Sông Hồng - mà người ta đã lập quy hoạch – mọc lên, họ sẽ đi tìm dòng sông nào? Thật ra thì xứ sở cũng còn những đô thị bên sông mà hình bóng, ảnh hưởng của dòng sông in rất rõ trong đời sống cư dân. Cao Bằng có hẳn hai con sông để tựa vào, với những búi tre la xuống mặt nước. Sáng sớm mai ra, đi dọc sônng Bằng, thật vui mắt khi gặp cái chợ xép khá truyền thống bán chó, thỏ, gà, ngan con, khoai môn, hạt dẻ, măng củ, mật ong, nấm hương, ríu ran thổ âm Tày Nùng Dao. Thị xã Tuyên Quang, có thể đi dọc dòng Lô mỏi chân vẫn trông thấy mặt nước. Huế, thơ mộng vì dòng Hương, cho đến nay bờ Nam hầu như chỉ có khách sạn Hương Giang và bảo tàng Hồ Chí Minh chen chân được vào, tầm nhìn ra sông ít bị chặn. Có lẽ vì không bị nhốt mà những Lô Giang, Hương Giang mạn ấy còn đi được vào thơ ca, tạo nên âm hưởng lãng mạn cho một đô thị. Hãy bảo vệ hình ảnh con sông trong mắt người dân, đừng để nhu cầu mưu sinh, những quy hoạch thuần kinh tế thôn tính chúng. Nếu không, e rằng đến một lúc ta chỉ biết đến hình thái đô thị trên sông nước qua những Paris của sông Seine, Leningrad của sông Nêva... Sẽ tiếc lắm! Trần Chiến
28-12-11 |