| Thư
ngỏ gửi Nxb Đà Nẵng của Vũ Ngọc Tiến
Hà Nội
17/11/2008
Kính gửi Nxb Đà Nẵng và anh Đà Linh
Thưa các anh chị,
Trước hết, tôi xin thành thật gửi lời
chia buồn tới Nxb Đà Nẵng và cá nhân anh TBT Đà Linh về sự
cố vừa xảy ra với cuốn Rồng Đá (Hay là mũi uốn ván)
của tôi và Lê Mai in chung (6/2008) đã có quyết định thu
hồi. Sau nữa, với tư cách 1 tác giả, tôi xin có mấy lời nói
thêm cho rõ về tập sách và 3 truyện ngắn của tôi bị xem là
có vấn đề.
Thứ nhất, mục đích ra tập sách này các
tác giả chỉ nhằm thử nghiệm sự đổi mới tư duy, cách tiếp cận
nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống quanh ta. Lúc đầu gồm 3
cây bút gốc gác Hà Nội, những thằng bạn thân với 3 văn phong
và bút pháp khác biệt hẳn nhau là Tôi (VNT), Hòa Vang và Lê
Mai, song đều có chung tâm nguyện tha thiết tự đổi mới nên
rủ nhau thử nghiệm ra chung tập sách, mỗi đứa 4 truyện. Sau
vì anh HV đột ngột ra đi, tôi và LM bàn nhau mỗi đứa bù thêm
vào 2 truyện cho đủ con số 12 và tạm gác 4 truyện của người
bạn văn quá cố, đợi sẽ in riêng vào tuyển tập sau này. Tóm
lại, chúng tôi ra sách thuần túy vì mục đích học thuật thử
nghiệm trong nghề viết mà thôi. Nó có thể có vài tình tiết
gây xốc, nhưng nhìn nhận kỹ thì đó mới là chính cuộc sống mà
như nhà mỹ học Nga thế kỷ XIX, Xec-nư-xep-xki từng viết:
“Cái đẹp là cuộc sống. Một thực thể đẹp là thực thể cho ta
nhìn thấy hoặc nghĩ về cuộc sống như nó vốn có.”
Thứ
hai, về 3 truyện ngắn của tôi bị xem là có vấn đề, có thể
chia làm hai nhóm đề tài tuy cùng nói về chiến tranh và đều
có căn cứ từ cuộc sống muôn màu của nó:
- 2 truyện Âm bản
chiến tranh, Vị phồn thực
tôi viết vào giữa năm 2005, sau chuyến đi tìm mộ chú em liệt
sĩ ở E572, một trung đoàn tăng- pháo kết hợp của QK5, họat
động chủ yếu ở chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi. Tôi không
phủ nhận sự vĩ đại của cuộc chiến chống Mỹ, càng khâm phục
sự dũng cảm, sức chịu đựng phi thường của người lính, trong
đó có cả em trai tôi. Song để tìm được mộ chú em hy sinh vào
8/1972, tôi đã gặp hàng trăm đồng đội cũ ở E572, cùng họ lăn
lộn khắp vùng đất Quảng và may mắn gặp mặt khá nhiều nhân
chứng còn sống là những người dân ở Đức Hiệp, Quế Sơn (Quảng
Nam), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Từ thực tế ấy tôi nhìn ra góc
khuất của chiến tranh và đời lính khi sau mỗi trận đánh oai
hùng họ quay về hậu cứ rèn cán, chỉnh quân hoặc do bị thương
mà chuyển về công tác ở ATK. Nó thật khắc nghiệt và đầy rẫy
những mâu thuẫn vốn là muôn thủa của cõi người. Giờ là lúc
ta đủ độ lùi thời gian để nhìn nhận và phán xét bởi đôi khi
vì cái góc khuất vô hình ấy mà có thể vào thời hậu chiến;
người dũng cảm, lập nhiều chiến công chịu thiệt thòi; còn kẻ
gian manh, cơ hội lại thăng tiến, làm băng hoại kỷ cương xã
hội, kìm hãm sự phát triển đất nước. Mạch truyện và tư tưởng
tác giả là thế, còn tình tiết có đôi chỗ khốc liệt thì
chuyến đi tìm mộ chú em, tôi được nghe nhiều tình tiết khốc
liệt gấp bội phần hơn thế.
- Truyện ngắn
Chù Mìn Phủ và tôi đề cập đến cuộc chiến biên giới
phía Bắc (1979) thì cũng lùi vào dĩ vãng ¼ thế kỷ rồi. Nó là
cuộc chiến phi lý nhất trong thế kỷ XX đối với cả 2 dân tộc
mà cả ta và phía bên kia đều phải nghiêm túc nhìn ra nó cần
phải tránh và hoàn toàn có thể tránh được. Những thảm cảnh
do cuộc chiến ấy gây ra thì nhiều lắm, khốc liệt hơn những
gì tôi mô tả bởi trong chuyến đi làm phim tài liệu cho Bộ Y
tế về loại trừ bệnh uốn ván vùng cao 11/2005 tôi nghe được
từ các nhân chứng ở Hà Giang. Giờ ta không thể bình thản coi
đó như một vụ va quyệt xe trên đường mà phải tỉnh táo và
sòng phẳng với lịch sử. Tôi đã từng nghiên cứu khá kỹ văn
học TQ giai đọan 1979- 1991, từng viết một tiểu luận khá dài
về hai dòng văn học Vết thương và dòng văn học Bộc
lộ của họ thời kỳ này. Nhiều nhà văn TQ trong hai dòng
văn học ấy (Lương Phụng Nghi, Trương Hiền Lượng, Dư Hoa, Lưu
Chấn Vân, Khâu Hoa Đông…) khi viết tiểu thuyết đã từng có
đọan nhắc tới cuộc chiến biên giới Việt- Trung với tâm trạng
dày vò sâu sắc. Họ viết được, sao ta lại cứ tự hù dọa mình
để rồi tảng lờ, không dám viết? Tôi tin những người có lương
tâm, trách nhiệm bên kia hay bên này biên giới đọc truyện
ngắn của tôi sẽ không oán hận nhau mà chỉ càng ghê sợ chiến
tranh, thiết tha muốn hai nước sống trong hòa bình hợp tác
lâu dài.
Cuối thư, một lần nữa xin chia xẻ cùng
anh Đà Linh và các anh chị Nxb Đà Nẵng về sự cố đáng tiếc lẽ
ra không đáng có, nhưng nó đã xảy ra và như thế nó mới lại
là cuộc sống!...
Chúc các anh chị mạnh khỏe, hạnh phúc!
Vũ Ngọc Tiến

LỜI BÂNG QUƠ
Văn chương từ cổ đã lệch về cái đẹp:
“Hồng lô nhất
điểm tuyết
Thượng uyển nhất
chi mai
Quảng hàn nhất
phiến nguyệt”
(Mạc Đĩnh Chi)
Quả có thế nên các văn nhân, thi sĩ thường
để hồn vất vưởng cành cây, thả mình trong gió - trăng - mây
- tuyết… Nếu có bi thương lắm, họ cũng thường chỉ mượn chim
sa, cá nhảy, nguyệt khuyết, hoa tàn mà tỏ bầy.
Hẹn nhau từ đã lâu rằng sẽ cùng ra chung tập
sách, hai đứa tôi có hiểu điều ấy không mà lại đặt tên cho
sách in chung là “Mũi
uốn ván” chứ không
phải là “Hoa tóc tiên” (Lê Mai) hay “Vị phồn thực” (Vũ Ngọc
Tiến)?
Ơ hay,
Mũi uốn ván!
Văn chương gì mà thoáng đọc đã thấy sần sật như âm thanh cảm
nhận được, khi nàng y tá xinh đẹp trong cơn bực bội không
chích ngừa vào bắp tay, lại mắm môi phóng mũi tiêm vào mông
gã trai tội nghiệp.
Mũi uốn ván!
Văn chương gì không viết về y học mà đọc lên lại thấy sực
nức mùi kinh nhân của ê-te, cồn thuốc…
Theo thiển ý riêng của những người viết,
mũi uốn ván chỉ là đưa một liều vacxin phòng chống
uốn ván vào cơ thể người, cũng như tiêm phòng dịch hạch, thổ
tả và bệnh dại cho nhân loại. Còn tập sách
Mũi uốn ván
có làm được công
việc của mình không, xin cậy nhờ
bạn đọc minh xét.
Lê Mai – Vũ Ngọc Tiến
MỤC LỤC
Lời
bâng quơ
Truyện ngắn Vũ Ngọc Tiến:
1-
Rồng đá
2-
Gà ô tử mỵ
3-
Âm bản chiến tranh
4-
Vị phồn thực
5-
Đêm của thiên thần nhạc Jazz
6-
Chù Mìn Phủ và tôi
7-
Ngoại tình tuổi 50
Truyện ngắn Lê Mai:
8-
Cún khóc
9-
Cho nó có đạo đức
10-
Người đóng thế
11-
Tìm cha trong gương
12-
Ngày vô vi
13-
Hoa tóc tiên
| |
Âm bản chiến
tranh
Vũ Ngọc Tiến
Rừng chiều lạt nắng, hầm hập oi nồng. Cơn mưa rào
chợt đến, làm dịu bớt cái nóng khủng khiếp của miền tây đất Quảng.
Cái thứ nắng nóng như rang khô đám lính của tiểu đòan suốt nhiều
ngày đêm lầm lũi đưa pháo lên tận ngọn núi Chảo Lớn triển khai trận
địa, chờ lệnh phát hỏa, tiêu diệt cứ điểm Cà Tang, mở đường cho đại
quân tiến vào giải phóng huyện lỵ Quế Sơn. Đói, khát và sức nặng của
những khẩu pháo 105 ly tháo rời đã vắt kiệt sức lực từng người.
Trong mưa, từ quan đến lính, tất thảy trần truồng như nhộng, thỏa
thê tắm mát và uống thứ nước ngọt trời cho để quên đi những cái bụng
lép kẹp đang thèm cơm, thèm sắn. Người ta khi đã cởi truồng ra rồi
thì ai cũng hiền khô, hồn nhiên đến kỳ lạ. Vậy nên khi D trưởng An
chạy đến bên Luận, dáng người lòng khòng, của nợ kia thì lõng thõng
bên đùi, khác hẳn với D trưởng An oai nghiêm, thét ra lửa thường
ngày, anh không sao nhịn được, cười đến gập người, thắt ruột. Ông
vẫn thản nhiên ra lệnh, còn Luận thì cứ ngỡ ông đùa:
- Tiểu đội trinh sát của cậu mau tập hợp, có nhiệm
vụ gấp.
- Lệnh gì lúc này hở thủ trưởng?
- Đài quan sát vừa báo có một tốp dân địa phương
đi làm rẫy, đang trú mưa ở gốc cây, gần trận địa pháo của ta.
- Thế thì sao ạ!- Luận ngúng nguẩy đùa dai, còn
thủ trưởng thì quắc mắt.
- Lại còn sao với giăng gì nữa. Lộ mẹ nó hết cả
bây giờ chứ bỡn à. Họ có 10 người: 5 ông già, 2 thiếu nữ và 3 thanh
niên. Các cậu khẩn trương bao vây, tiếp cận, một kèm một, khống chế
và trói họ lại, canh giữ cho hết đêm nay, đợi ta nổ súng đánh xong
cứ điểm Cà Tang thì thả cho họ về. Nhớ ôn tồn giải thích thật khéo,
mình là quân giải phóng, không được làm gì vi phạm chính sách dân
vận…
- Rõ!...
Luận chợt hiểu ra tính chất nghiêm trọng của sự
việc. Anh nhao đi tập hợp đám lính trinh sát đang tỏa ra đùa nghịch
như quỷ sứ, tán dóc với lính pháo thủ ở từng khẩu đội. Có 2 chiến sĩ
bị cảm nhẹ, còn lại vừa khéo 10 người đi làm nhiệm vụ. Ai nấy chỉ
mặc độc chiến quần xà lỏn, mang theo dây thừng, dao găm và súng
ngắn, nom hung dữ chẳng khác gì thám báo ngụy. Tất cả khép thành
vòng cung, tiến dần về phía mục tiêu. Cách chừng vài trăm mét, Luận
đưa ống nhòm quan sát, quả có đúng 10 người như lời D trưởng. Họ đều
ăn mặc theo lối dân tộc Cơ rông, một tộc người rất thiểu số ở miền
tây Quảng Nam. Chẳng hiểu vì sao, đôi tay anh cứ run run rê ống kính
nhìn ngắm kỹ 2 cô gái. Một cô cao to, vai bè, tướng đàn ông. Cô kia,
anh nuốt nước bọt đánh ực, mắt đờ ra ngây ngất vì vẻ đẹp hoang dại.
Dáng người thon, đôi vai để trần, ngực tròn căng, mắt nai ngơ ngác…
Chợt cô gái phát hiện ra anh đang cầm ống nhòm, vội thét to:
- Thám báo Mẽo đấy, chạy mau!
Cả tốp người nháo nhác tản ra tứ phía, chạy thục
mạng. Luận ra lệnh:
- Đuổi theo. Mỗi người nhằm một đối tượng, đừng
chồng chéo nhau, làm thật gọn như kế hoạch đã bàn ở nhà.
Dứt lời, Luận chồm lên lao theo hướng cô gái. Số
phận xui khiến 2 cô gái tách riêng, chạy về phia bờ suối. Anh cũng
kịp nhận ra người chạy cùng hướng với mình là A phó Phát. Bất giác
Luận mỉm cười hiểu ra lý do, chỉ A trưởng và A phó mới có ống nhòm,
thảo nào... Anh cố hết sức chạy vượt lên để giành phần chộp lấy cô
gái mắt nai. Cuộc dượt đuổi trong cơn mưa rừng quyết liệt và hung
bạo như con sói đói hồng hộc chồm theo chú thỏ non ướt nhóet. Nhưng
khi vồ được nàng rồi thì Luận xuống sức thở gấp. Có lẽ cả tháng trời
anh đói triền miên, mỗi bữa chỉ có muôi cháo loãng và hai mẩu sắn bé
như ngón chân cái làm sao vật nổi cô gái sơn cước săn chắc, lại được
ăn no, ngủ kỹ. Sự thèm muốn đụng chạm với da thịt đàn bà làm anh lú
lẫn, quên bẵng mình còn có dao găm, súng ngắn khống chế con mồi. Lăn
lộn, cào xé nhau hồi lâu thì cô gái đọat được dao găm, ngồi chồm hỗm
lên bụng anh, quắc mắt, dí lưỡi thép vào cổ họng. Thế là tong đời
một cách nhục nhã! Anh nghĩ vậy và thở dài chờ chết, nước mắt ứa ra,
gọi khẽ hai tiếng mẹ ơi!... Hình như cô gái nhận ra giọng Bắc,
thóang ngạc nhiên, nhưng vẫn gằn giọng hỏi:
- “Giải phóng” à?
- Ừ, giải phóng quân, quê miền Bắc.
- Sao “giải phóng” lại đi cướp hiếp đàn bà?
- Không phải đâu. Giải phóng quân đưa pháo lên
núi, sắp bắn vào cứ điểm Cà Tang để giải phóng Quế Sơn.
- Thế thì sao nữa?
- Cán bộ thấy em và mấy người kia đi làm rẫy về,
đứng trú mưa sát gần trận địa, sợ bị lộ bí mật quân sự nên lệnh cho
bọn anh bao vây, tạm giữ đồng bào hết đêm nay, chờ đánh trận xong sẽ
thả về nhà thôi.
- Thật vậy không?
- Thật mà, thám báo Mẽo hay quốc gia làm sao biết
nói giọng Bắc, tin anh đi…
- Hèn gì đàn ông mà ốm nhom, vật đàn bà cũng không
nổi, sức đâu mà cướp hiếp. Rõ tội nghiệp!
- Tại tụi anh đói quá, với lại đã quen ôm đàn bà
vật lộn thế này bao giờ đâu.
- Hí hí… hí…, quân mình đánh lẫn quân ta, em cũng
là du kích chứ bộ…
Cô gái quăng con dao găm, cười khúc khích. Tiếng
cười làm nàng rung lên, mông của nàng vì thế cứ nhay đi nhay lại
trên bụng chàng trai chưa từng biết đến mồ hôi đàn bà chua mặn thế
nào trong đời. Thóat cơn hiểm nghèo, giờ Luận lại được đê mê vì sung
sướng. Anh nhắm nghiền con mắt, tận hưởng một thứ khóai cảm kỳ diệu.
Đôi bờ mông của nàng hình như cứ trôi dần, trôi dần xuống dưới. Luận
mở to mắt, bàng hòang không tin được đó là sự thật. Lúc vật lộn, anh
đâu ngờ miếng vải gai quấn trên ngực nàng đã bị bung ra, rơi mất, để
lộ đôi bầu vú trắng nõn, cao vồng, núm vú đỏ hồng như một chấm son,
phập phồng lên xuống theo nhịp thở. Chiếc váy người dân tộc thực ra
cũng chỉ là tấm vải quấn quanh người che phần dưới, khép chờm hai
mép vải ở đằng trước. Giờ nàng đang ngồi dạng chân trên bụng anh nên
nó như được mở toang và người dân tộc đâu có biết dùng đồ lót. Luận
nhìn thấy rõ cả một vùng cấm tam giác đang mời gọi. Bản năng giống
đực làm cái của nợ trong quần xà lỏn tự do nổi lọan, bất chấp kỷ
luật dân vận của D trưởng dặn dò lúc giao nhiệm vụ. Cái đầu Luận bảo
đừng mà bên dưới thì … cương lên. Cô gái cũng cảm nhận được sự cương
nở ấy, thóang đỏ mặt, nhưng… thích… Nàng cười rất hồn nhiên, chống
hai tay lên cỏ, từ từ cúi xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối, buông
thả cho mọi sự cuồng nhiệt, đê mê diễn ra sau đó. Suốt một đêm, giữa
rừng xanh kỳ bí, họ thành Êva và Adam, quấn vào nhau lăn lộn nhiều
lần, quên đói, quên mệt, quên cả tiếng pháo 105 ly rầm trời bắn vào
cứ điểm Cà Tang, chỉ thấy tràn trề lạc thú nơi hoang dã…
*
* *
Cái đêm vụng về, bị động tập làm đàn ông trước giờ
tiểu đòan nổ súng là những khoảnh khắc thần tiên nhất trong đời,
nhưng vì hai chữ lập trường ám ảnh, buộc Luận phải cố quên nó. 33
năm thoắt qua đi, mỗi lần nhớ đến D trưởng An, nhớ đến Phát, anh
phải cảm ơn số phận cho mình cái cơ hội nếu có chết như Phát cũng đã
biết mùi đời. Dù đói, mệt, nhưng sức trai tuổi 20 vẫn đủ cho anh
hưng phấn quá tam ba bận. Sáng dậy, biết tên cô gái là Hơ Miêng, tên
một lòai hoa dại của núi rừng, anh sung sướng cắn vào đùi non của
nàng, đòi thêm một lần cuối, trước lúc chia tay. Chỉ cách một bờ
ruộng, anh chứng kiến thằng Phát A phó không được như vậy. Nó còn
mất lập trường hơn anh, úp mặt vào chỗ ấy gào lên vì sung sướng, gọi
tên các thủ trưởng xem ai sướng hơn nó. Nhưng nó vừa qua trận sốt
rét còn đâu sức lực, chỉ sau một lần đã nhọc phờ, trên bảo dưới
không nghe, đành bất lực làm tình bằng tay, bằng lưỡi. Khổ nỗi cô
gái của nó tên Hơ Ngoan mà chẳng hiền, mỗi lần bị Phát kích động
nàng lại cong người rú lên những âm thanh điên dại, rồi chồm dậy đè
lên người nó, dùng cái của mình nhay đi nhay lại mãi cái của Phát
đang héo rũ, không sao ngóc lên được. Chuyện mất lập trường này chỉ
hai thằng biết, sống để bụng, chết mang theo, hở ra là tong đời.
Phát chết vì một mảnh bom B52, khi đơn vị rút khỏi huyện lỵ Quế Sơn,
chuyển quân về Sơn Bình, gần ngã ba sông Thu Bồn và sông Trường. Tội
nghiệp cho nó chết vào lúc 3 giờ sáng, chắc là đói lắm. Hồi chiều,
đơn vị hết gạo, mỗi thằng chỉ được ăn nửa bát ngô bung vàng khè, hạt
to và cứng như răng ngựa. May mà nó còn kịp được biết tý chút mùi
đời. Phát chết rủi cho nó, nhưng cũng có phần may cho Luận vì cái
tội mất lập trường kia chỉ còn là bí mật của riêng anh. Nói vậy thì
đểu và bất nhẫn lắm lắm ! Song “một miệng thì kín…”, cổ nhân đã dạy
rồi. Phát là thằng bạn tốt nhất trần đời của Luận. Nó cùng học khoa
lý, trường đại học Tổng Hợp Hà Nội với anh, cùng nhập ngũ một ngày.
Trong tiểu đội trinh sát, nó luôn giành phần việc nặng, việc nguy
hiểm thay cho Luận. Đi dã ngọai, kiếm được miếng ăn tươi nó luôn
mang về dúi vào màn của anh. Ăn vụng lúc ngủ cũng nhục lắm, song ở
đời khi người ta đói cũng có lúc đành chấp nhận. “Đồ ăn thì ít, chia
ra tất cả cùng đói, chi bằng để một thằng no.”- Phát thường động
viên bạn như vậy. Chỉ có điều tính Phát hay lô bô ba la, hứng lên
nếu nó lỡ mồm khoe với thằng nào chuyện Luận với Hơ Miêng thì còn
đâu cái thành tích lập trường vững vàng bấy lâu anh khôn khéo ẩn
mình, được các thủ trưởng biểu dương nhiều lần. Nói như Bảo, cái
thằng lính trinh sát nổi tiếng gan dạ, đa tài nhất tiểu đòan: “Hai
tiếng lập trường nghe mơ hồ, trìu tượng và thối khắm nhất mày ạ! Nó
là cái con C gì cơ chứ ? Ấy thế mà suốt cả một thời gian khổ, oanh
liệt, nó bỗng thành thứ vũ khí hiểm độc để người ta vùi dập hay tâng
bốc một con người cụ thể.” Nạn nhân của hai chữ lập trường đau nhất
cũng là Bảo. Chuyện xảy ra chẳng đáng gì phải kết tội, phê bình, kỷ
luật, nhưng Luận ngày ấy đã không dám can đảm đứng ra bênh vực cho
chiến sĩ trinh sát ưu tú của tiểu đội mình. Tháng 3 năm 1975, các
khẩu đội pháo 105 ly của tiểu đòan được lệnh bao vây, khống chế sân
bay Đà Nẵng và bến cảng Tiên Sa, không cho địch rút chạy an toàn.
Bảo đã gan dạ chỉ huy một nhóm bám sát mục tiêu, tính tóan chính xác
tọa độ, giúp các khẩu đội trưởng kết toán góc độ và hướng bắn. Lẽ ra
Bảo được tuyên dương anh hùng, thưởng Huân chương chiến công, không
may giữa lúc ta ăn mừng chiến thắng, anh vớ được bộ quân phục thủy
quân lục chiến ngụy còn mới cứng, sẵn có máy ảnh chiến lợi phẩm, anh
mặc đồ của ngụy, chụp vài pô ảnh làm kỷ niệm nên bị quy tội mất lập
trường, chịu án kỷ luật khá nặng. Vì thế, sau ngày thống nhất, Luận
được giải ngũ tiếp tục vào đại học rồi đi làm nghiên cứu sinh ở Nga;
còn Bảo vẫn ở lại đơn vị, tiếp tục đánh trận ở biên giới Tây- Nam.
Điều làm cho Luận khổ tâm, thương bạn nhất là khi gặp lại Bảo ở
chiến trường về, thấy anh bị thương đúng vào chỗ hiểm, mất khả năng
làm thằng đàn ông. “Lính ta ra khỏi cuộc chống Mỹ, vấp phải lũ lính
nhãi ranh 14- 15 tuổi của Khơ Me đỏ mà phải gọi chúng là bậc “Cụ” về
chiến tranh du kích, mày ạ !”- Bảo ôm chầm lấy bạn chua chát nói.
Anh đi trinh sát bị vướng mìn, các chuyên gia y học lão luyện ở Viện
103 cũng chỉ có thể tạo hình bằng cách nối thêm vào cái ấy của anh
một mẩu nhựa, không đủ thỏa mãn đàn bà nên 3 lần cưới vợ rồi, 3 lần
phải ly dị. Từ lính pháo tầm xa đầy uy lực thời chiến, nay anh thành
“lính pháo phòng không” thời bình.
*
* *
Đêm nay sao dài gấp nghìn lần cái đêm Luận cùng Hơ
Miêng ân ái bên bờ suối. Có biết bao sự việc, gương mặt của thời máu
lửa cứ ẩn hiện trong đầu anh. Cuộc gặp mặt các cựu chiến binh của
trung đòan tăng - pháo kết hợp ở quân khu V thời chống Mỹ có thể sẽ
đảo lộn cuộc sống của Luận những năm tháng sau này. Bảo gặp anh
không còn vồ vập, suồng sã như mọi lần. Cái nhìn của Bảo hướng vào
anh như thôi miên, nhiều ẩn ý khó đóan ra được. Thường thì trong các
cuộc gặp mặt, lúc họp chung, Bảo ngồi im re, chỉ hào hứng tán bậy,
chửi tục văng mạng khi vào tiệc rượu. Lần này Bảo đến trễ, nồng nặc
hơi men, mắt đỏ vằn, dắt theo một bé gái chừng 13- 14 tuổi. Hội
trường khi ấy đang nghiêm trang phát kỷ niệm chương và cuốn lịch sử
pháo binh khu V. Trên hàng ghế danh dự, Luận được ngồi chung với mấy
vị tướng và các thủ trưởng cũ nay đã về hưu, vinh danh lão thành
cách mạng. Bảo bước vào, nhìn xóay vào Luận vài giây rồi quay sang
cháu bé giới thiệu:
- Xin các thủ trưởng cũ, mới và anh em chiến hữu
nhìn cho rõ, đây vừa là cháu nội vừa là cháu ngọai của trung đòan
ta, chính xác hơn là của tiểu đòan pháo 105 ly anh hùng.
- Nói rõ và cụ thể xen nào, Bảo ơi!- Cả hội trường
nhao lên.
- Thế là đủ, cần gì phải nói rõ. Thằng nào có con
có cháu thì tự biết. Đau xót là ở chỗ tôi vừa cứu cháu Hơ Linh thóat
khỏi ổ mại dâm tại thị trấn Hà Lam, thủ phủ huyện Thăng Bình. Cả bố
lẫn mẹ cháu đều là giọt máu thuần chủng cách mạng của lính ta gửi
lại trong trận đánh Quế Sơn năm 1972. Từ Hà Lam vào khu căn cứ của
trung đòan ta chỉ có hơn 40 cây số theo quốc lộ 16E mà vợ chồng
chúng nó sau 30 năm thống nhất, sống khổ như chó lợn nên cháu Hơ
Linh mới ra nông nỗi này.
- Cậu lại phát biểu mất lập trường rồi, Bảo ơi !
Về chỗ ngồi đi cho hội nghị tiếp tục- Một thủ trưởng cũ ôn tồn nói.
- Ơ hay!...Thế nào là lập trường hở thủ trưởng? Nó
là cái Đ gì mà làm khổ tôi đến mức bây giờ cái C cũng chẳng còn để
lưu truyền nòi giống tổ tiên dòng họ? Sống thật với bản năng tính
người, nói ra những sự khốn nạn là mất lập trường ư ? Này Luận! Cậu
đang ngồi hàng ghế danh dự vì cậu đã lên quan, làm thứ trưởng một bộ
quan trọng, hãy trả lời đi.
Luận cố tránh ánh mắt nhìn như moi tim, móc óc của
Bảo. Anh xúc động rưng rưng, đứng dậy, bước khỏi hàng ghế danh dự,
lại gần bạn, dìu Bảo về chỗ ngồi ở cuối hội trường. Thật lòng anh
không muốn về lại chỗ cũ, nhưng ngồi gần Bảo và Hơ Linh lúc này thì
anh không dám. Khỏi cần Bảo giới thiệu, chỉ mới thóang nhìn cô bé
bước vào hội trường, anh đã nhận ra nét quen quen. Chẳng lẽ anh đã
có con gái với Hơ Miêng. Chẳng lẽ Phát và Hơ Ngoan đêm ấy chỉ đủ sức
một lần hoan lạc mà lại kịp có con trai với nhau. Chẳng lẽ mới 33
năm mà số phận đã ghép con anh, con Phát thành vợ chồng, sinh ra bé
Hơ Linh. Trời ơi! Thật kỳ diệu và cũng thật khủng khiếp. Liệu Bảo có
nhầm lẫn không và nếu đúng thì sẽ phải xử sự ra sao đây? Luận biết,
từ ngày xuất ngũ, Bảo về quê Bát Tràng theo nghề ông cha, mở lò gốm
mỹ nghệ. Mười năm lại đây, doanh nghiệp của anh phát đạt, nổi tiếng
về nhiều sản phẩm xuất khẩu. Năm nào, đến dịp 30 tháng 4, anh đều về
thăm lại chiến trường xưa, tặng địa phương vài chục triệu đồng. Sao
Bảo không hề kể gì với Luận về Hơ Miêng và Hơ Ngoan…
Luận tìm về Bát Tràng không làm Bảo ngạc nhiên.
Anh nắm tay bạn, giọng lanh tanh:
- Về rồi hả? Tao biết sớm muộn gì mày cũng về tìm
tao hỏi chuyện. Về sớm thế này là tốt. Nhưng sao lại đi xe máy,
không dùng ô tô Thứ trưởng đưa vợ con mày đi cùng ? Sợ hả ?
- Không, sợ thì không, hoang mang tí chút thì có.
- Sợ vợ nổi tam bành còn có lý, chứ hoang mang vì
danh dự Thứ trưởng làm cái Đ gì cho tổn thọ.
- Không… Tao chỉ hoang mang vì liệu mày có nhầm
không và cái chuyện tao với Phát làm đêm ấy mày biết từ bao giờ?
Bảo đấm nhẹ vào lưng Luận cười xả láng:
- Có thể mày không tin, nhưng tao biết tỏng mọi
chuyện ngay từ đầu.
- Và mày im lặng giữ kín suốt những năm ở chiến
trường ?
- Tố giác chúng mày ư, tao sẽ không bằng con chó
ghẻ, bởi tao cũng thèm được như thế. Tao thấy hai thằng có ống nhòm
chạy về một phía là đóan ra lý do, lính trinh sát rất nhậy cảm. Song
phải làm nhiệm vụ trước đã. Tao đuổi theo một thằng thanh niên lóang
cái là chộp được. Ngỡ tao là lính công hòa, tay dao, tay súng như
sắp làm thịt mình, nó lạy như tế sao, thú nhận mình là du kích, khai
ông ổng từng trận địa pháo để được tha mạng. Điên tiết, tao tống vào
mõm nó mấy quả đấm thôi sơn, trói ghì vào gốc cây, chẳng thèm giải
thích nữa. Xong xuôi, tao lộn trở lại hướng bờ suối. Giời ơi là giời
! Nhìn chúng mày làm tình với hai em giữa nơi hoang dã tao thèm rỏ
nước dãi. Người tao như phát cuồng lên. Trong đêm tối, tao tưởng
tượng ra từng động tác của chúng mày và khao khát. Nhưng nếu tao
xông vào sẽ làm chúng mày mất hứng, đòi mần chung thì tao hóa thành
đồ xúc vật…
- Vậy mà bấy lâu tao cứ ngỡ Phát chết rồi thì
chuyện này của tao cũng chôn theo nó. Mày là ân nhân của tao, không
biết lấy gì báo đáp.
- Không hẳn thế. Nếu tao tố giác, mày bị kỷ luật,
có thể sẽ biên chế sang địa phương quân thì Hơ Miêng sẽ được có
chồng, đâu đến nỗi khổ nhục về sau.
- Tại mày không cho tao biết sớm- Luận thở dài,
mắt rớm lệ.
- Đừng quá buồn, tao cũng mới biết chuyện đời của
Hơ Miêng, Hơ Ngoan thôi.
- Mày về thăm khu căn cứ thường xuyên đã 10 năm cơ
mà?
- Nhưng chưa từng gặp hai nàng.
- Sao thế?
- Họ sống biệt lập trong rừng, bị tách biệt khỏi
cộng đồng. Cái thằng du kích chết dấp, lạy tao như tế sao ấy từ lâu
đã mê Hơ Miêng. Sau năm 1972, Quế Sơn giải phóng, nó được làm Chủ
tịch xã. Biết Hơ Miêng có thai nó vẫn lẵng nhẵng chạy theo đòi cưới,
bị nàng từ chối. Ăn không được thì đạp đổ, nó kết tội Hơ Miêng và Hơ
Ngoan mất lập trường, ngủ với lính cộng hòa nên khai trừ khỏi Đảng
và du kích, đầy họ vào sống trong rừng. Hai đứa trẻ lớn lên trong
chiếc lán nhỏ bé giữa rừng, bên hai bà mẹ cô độc nên chúng thành vợ
chồng rất sớm cũng là lẽ tự nhiên. Hơ Linh, cháu ngọai của mày ra
đời trong hòan cảnh trớ trêu đó. Một gia đình ba đời tủi khổ vì ma
ám lập trường, thì mình tao mất cái con C vì nó có là gì giữa cuộc
đời này..
- Thằng Chủ tịch xã chó đểu, tao muốn băm vằm nó -
Luận nghiến răng rít lên phẫn nộ.
- Thằng ấy đi tù vì tham ô đồ cứu tế đồng bào bị
lũ lụt từ lâu rồi, không đợi mày phải ra tay. Giá như trước lúc ra
Bắc, mày không sợ thứ ma ám lập trường, đi tìm Hơ Miêng!
- Mày bảo tao bây giờ phải làm gì?
- Cuối năm ngoái, tao vào khánh thành trường tiểu
học do mình bỏ tiền tòan bộ ra giúp xã xây dựng, nghe nói có một
cháu học sinh lớp 5 bỏ học, đi hoang, gia đình và nhà trường tìm
kiếm gần một năm chưa thấy. Nghe chuyện về hòan cảnh Hơ Linh tao xúc
động, đánh xe vào rừng tìm gặp bố mẹ nó, hóa ra số trời run rủi lại
gặp cả Hơ Miêng và Hơ Ngoan. Giờ thì họ ổn rồi. Tao đã nhờ bạn bè
tìm được Hơ Linh, xây một ngôi nhà 2 tầng ở thị trấn huyện làm cửa
hàng cho họ kiếm sống. Mày chỉ cần đưa vợ con vào gặp họ nhận mặt
con gái, con rể với cháu Hơ Linh là đủ.
- Nhưng tao muốn làm hơn thế.
- Cái đó tùy mày, nhưng đừng miễn cưỡng mà đắc tội
mất “lập trường”với vợ con không biết chừng… Mày biết không, khi
thằng Chủ tịch xã tuyên bố kỷ luật, hai nàng Hơ Miêng, Hơ Ngoan cùng
nói: “Chúng tao theo cách mạng là thật cái bụng, đâu có lươn lẹo như
mày. Chỉ có cái L của chúng tao là không biết lập trường của tổ chức
tròn méo thế nào thôi. Ra tổ chức thì ra, vào rừng thì vào, chúng
tao Đ sợ, chúng tao đi làm một kiếp người”. Tao nghe họ kể như nghe
lời một triết gia vĩ đại. Cái sự thần thánh của cuộc chiến tranh
giành độc lập, sách báo viết đã nhiều, đọc lên cũng sướng cái lỗ
tai. Nhưng đó là dương bản của chiến tranh, lũ nhà văn, nhà báo mặc
sức tô vẽ muôn hồng nghìn tía, tao Đ cần cái dương bản ấy. Cái phầm
âm bản của chiến tranh chỉ có hai màu tối sáng, những thằng lính như
tao với mày gậm nhấm đến hết đời. Chuyện của mày với Hơ miêng chỉ là
mảnh vụn rất nhỏ của âm bản khổng lồ mà mấy mươi năm gậm đã hết đâu…
.
*
* *
Chia tay Bảo ra về, lòng Luận rối bời, the thắt.
Anh phóng xe máy như điên, mặc cho số phận may rủi có thể sẽ ném
thân xác anh vào gầm ô tô, càng hay, cho quên đi tất cả. Bảo nói, đã
thắp nhang khấn vái, xin với Phát rồi, còn Luận. Liệu anh có thể
nghe theo lời bạn, chấp nhận với số phận an bài, đừng phá vỡ tổ ấm
gia đình đang hạnh phúc. Bảo muốn anh chỉ đưa vợ con vào Quế Sơn gặp
mặt, nhận người rồi nhường hai bà Hơ Miêng và Hơ Ngoan làm vợ nghĩa
tình để Bảo có con, có cháu như bao người bình thường khác. Đến con
C của Bảo cũng bị chiến tranh tiện đứt mất thì lời đề nghị ấy là
chân thành, hợp lý chứ đâu phải vì thương hại cho hoàn cảnh éo le
của Luận. Nhưng anh vẫn thấy không thể… Anh muốn làm một thằng người
cho đáng mặt người, sao đời lại xui khiến anh phải hành xử không hơn
gì một con vật?... Luận không về nhà. Anh lang thang khắp Hà Nội,
rồi tìm một khách sạn yên tĩnh ở ngoại ô trăn trở với điều thỉnh cầu
của bạn…
Hà Nội 5/2005
|
|
Vị phồn thực
Vũ Ngọc Tiến
1- Tôi tỉnh dậy sau một đêm dài mộng mị. Hắn và cả
cái phòng tranh quái đản, trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật cứ ám ảnh
tôi suốt đêm, không sao chợp mắt được, đầu óc rối tinh, bộn bề những
kỷ niệm về tình bạn giữa tôi với hắn một thời lửa máu. Ngần ấy năm
bầu bạn thân thiết, tôi chỉ biết hắn đã từng làm thơ, viết văn, rồi
vì thứ của nợ ấy hắn dính đòn, bị đẩy ra mặt trận, thành lính trinh
sát pháo binh, cùng tiểu đội với tôi ở chiến trường khu Năm ác liệt.
Đành rằng hắn có chút hoa tay, vẽ sơ đồ các cứ điểm của địch chuẩn
xác và sinh động đến kỳ lạ, nhưng để làm họa sĩ lại là chuyện khác.
Thơ hắn tứ lạ, lời đẹp mà hắn lại gác bút mấy chục năm, rồi chuyển
sang nghề vẽ, làm tôi ngỡ ngàng…
2- Chẳng biết hắn học quy luật về ánh sáng, hình
sắc, đường nét ở đâu, từ bao giờ mà phòng tranh vừa mở đã gây ồn ào
dư luận, khen chê các kiểu. Mới tập tọng vào nghề, hắn đã nhảy ngay
vào lĩnh vực tranh tiêu đề khổ lớn, mỗi bức to bằng lá chiếu đại. Đã
là tranh tiêu đề thì đằng sau bố cục và những gam màu còn ẩn chứa
nội hàm tư tưởng triết mỹ của tác giả, chứ đâu có bỡn. Vậy mà trong
hết thảy các bức vẽ, hắn đều đặt tâm điểm triết mỹ vào hình tượng
người đàn bà khỏa thân, ngồn ngộn những V và L!
Choán hết mặt tường chính diện ở gian đại sảnh,
hắn trưng bày bức tranh “Thăm lại chiến trường xưa”, khiến ai bước
vào, thoạt nhìn đã vãi linh hồn. Cái chiến trường khu Năm tôi với
hắn ở lâu nhất là Quảng Nam, Quảng Ngãi. Nó ác liệt tới mức lính ta
chết vì bom đạn đã nhiều nhưng chết đói cũng không ít. Trên hồ sơ
báo tử từ mặt trận gửi về Bộ Quốc phòng chỉ ghi lạnh lùng hai chữ
“sốt rét”, nhưng xin các ông bố bà mẹ, những người vợ hiền ở hậu
phương thời ấy biết cho, lũ lính chúng tôi sốt rét ít thôi, đa phần
là chết đói. Đói vì mấy ông chỉ huy hám thành tích, vững lập trường
“tự lực cánh sinh”, chỉ nhận người và vũ khí, còn lương thực xin cấp
trên cho được tự túc. Xứ Quảng đói nghèo, miền Tây Quảng Ngãi càng
đói nghèo, nhưng lại rất thơ mộng với núi Ấn, sông Trà. Làm lính khu
Năm, ai mà quên được những đêm trăng bên dòng Trà Khúc ngồi ngắm núi
Ấn với hòn Nghiên, hòn Bút. Hắn trở lại chiến trường xưa vẽ những
bóng ma đồng đội xiêu vẹo, lả đi vì đói, dìu nhau đi giữa cánh rừng
đại ngàn ở đôi bờ sông Trà Khúc. Tất cả chỉ lờ mờ, không rõ nhân
dạng. Người xem tranh chỉ thấy hắn vẽ và đặc tả người đàn bà khỏa
thân nằm xiên chéo toàn bộ bức tranh. Ở phần dưới là dòng Trà Khúc
bị bãi nổi giữa sông tách đôi thành hai vế đùi đàn bà lấp loáng dưới
trăng khuya. Càng nhìn ngắm kỹ, ta càng thấy một mảng lồi tam giác
kẹp giữa hai nhánh sông - khóm cỏ lau ngập nước đang trổ bông -
chính là cái ấy của đàn bà, rõ từng múi thịt, lún phún lông tơ mịn
màng. Thiếu phụ mang tên dòng sông Trà Khúc ấy có bộ ngực đồ sộ, nhô
lên chất ngất hai đỉnh hòn Nghiên, hòn Bút của núi Ấn, và hút sâu
trong khoảng không giữa hai bầu vú ta thấy ẩn hiện gương mặt thiếu
phụ ngủ vùi trong gối mây. Một gương mặt bơ thờ, khắc khoải đợi chờ
tạo hình bởi viền sáng của mảnh trăng hạ tuần về sáng, bị che lấp
bởi những vạt mây vần vũ xung quanh. Những hồn ma lính đói vật vờ
hành quân tạo thành dải băng đen vắt ngang qua bụng thiếu phụ… Tôi
sững sờ trước ý tưởng kỳ lạ, nét vẽ tài hoa của hắn, con tim như có
chùm gai nhọn của cây rừng Quảng Ngãi đâm lút vào, chắn ngang từng
mao quản.
Xem tranh của hắn chỉ thấy ngồn ngộn V và L rất
phồn thực. Nhưng có điều lạ, người đàn bà nào của hắn cũng khỏa thân
ở nơi hoang dã, bên bờ sông hay trên con đò, dưới chân núi hay lẫn
vào trời mây mờ ảo. Có lẽ gây nhiều tranh cãi, ồn ào dư luận khen
chê nhất là gian cuối cùng, trưng bày bộ “Tứ bình Cao Bá Quát” của
hắn. Bốn bức tranh trong bộ tứ bình phỏng theo nội dung một bài cảm
tác ngẫu hứng của thi sĩ họ Cao, khi ông ngồi hát ca trù với cô đào
Ánh Nguyệt nổi tiếng đất kinh kỳ. Lời ca ông viết là ba khổ thơ vô
đề, không theo niêm luật, lẫn lộn vừa Nôm vừa Hán. Nó rất ngông đời,
nổi loạn và cũng rất đa tình như tính cách của ông vậy:
Sơn cao nhất phiến nguyệt
Đã chơi trăng phải biết tình trăng
Sơn chi thọ đối Nguyệt chi hằng
Sơn có Nguyệt càng thêm cảnh sắc.
Nguyệt quải hàm Sơn thi bán bức
Sơn hàm minh Nguyệt tửu thiên tôn
Núi chưa già, trăng hãy còn non
Trăng dù khuyết, tình vẫn tròn với núi.
Rượu một bầu, thơ ngâm một túi
Góp gió giăng làm bạn với non sông
Núi kia tạc để chữ đồng
Trăng kia nhớ mặt anh hùng này chăng?
Bài thơ được hắn xé ra thành bốn bức tranh, đặc tả
thi sĩ họ Cao và cô đào Ánh Nguyệt. Có lúc ông cởi trần ngồi ngắm
trăng, cô độc như một trái núi, có lúc ông đang hành lạc với nàng
trăng. Cô đào Ánh Nguyệt chính là nàng trăng ấy, khỏa thân ở bốn tư
thế khác nhau, khi xa thì như đùa rỡn giữa trăng với người, khi gần
thì hoặc chàng phủ lên nàng, hoặc nàng phủ lên chàng, cô tịch và
hoang dã, chẳng bợn lên chút cảm giác nhục dục nào, buộc người xem
tranh phải suy nghĩ mông lung, khắc khoải…
3- Tôi đang lẩm nhẩm đọc thơ được chép theo lối
thư pháp hiện đại ở góc dưới bên phải bức tranh, hắn lại gần cấu nhẹ
vào vai tôi hỏi:
- Được không? Bộ tứ bình này thế nào?
- Chịu thôi, tranh của mày toàn V với L, nom khiếp quá!
- Mày nói xạo. Nhìn vào mắt người xem, tao biết ai là người đọc được
tranh của mình.
- Cứ cho là thế đi, nhưng tại sao mày bỏ hẳn thơ văn suốt mấy chục
năm để lúc về già lại đổ đốn làm thằng thợ vẽ toàn V và L?
- Văn chương ư? Quên đi!... Dù có dùng nghệ thuật ẩn dụ đến đâu
chăng nữa thì phương tiện biểu đạt của văn chương vẫn là chữ và lời,
ở xứ mình dễ mang vạ vào thân. Tao đã ngấm đòn từ lâu quá rồi, hãi
lắm!
- Thế còn hội họa?
- Hội họa có phương tiện biểu đạt riêng là ánh sáng, hình sắc, đường
nét. Tao vẽ V và L để nói cái điều tao muốn nói. Ai muốn hiểu thế
nào tùy họ. Tao nghĩ và tao vẽ là quyền của tao. V và L có gì phải
kiêng kỵ đâu. Nó là cái đẹp vĩnh cửu, cái đẹp tự nó, chẳng cần phải
che đậy. Khắm như đậu phụ chấm mắm tôm mà khi ăn rồi ai cũng nghiện,
bởi hiện sinh của mắm tôm không chỉ có mùi, còn có vị nữa. Vị mới là
cái tinh cốt của đời.
- Nhưng tao vẫn ngờ rằng, mày vẽ V và L còn vì câu chuyện xưa cũ
ngày ấy, phải vậy không?
- Đúng. Tao không thể nào quên đôi bầu vú căng mọng sữa của nàng đã
cho tao sự sống. Giờ đã qua gần trọn một kiếp người, tao mới ngộ ra
bầu vú của nàng đã dạy tao phải sống đúng như tao muốn sống. Tao
phải là chính mình. Bầu vú của nàng là tuyệt đỉnh siêu việt để tao
siêu thăng giữa thiện - ác, chính - tà, chiến tranh - hòa bình, hiện
tại - quá khứ…
Hắn nói một thôi một hồi về sự siêu thăng suốt hai
năm qua trốn biệt mọi người lên tận rừng quốc gia Ba Vì để lập xưởng
vẽ. Hắn nói rồi đi, mái tóc bồng bềnh, chòm râu phơ phất, áo quần
xộc xệch, chân nọ đá chân kia như thằng say rượu… Giữa bức “Thăm lại
chiến trường xưa” và bộ “Tứ bình Cao Bá Quát” ngỡ là hai chủ đề khác
biệt mà sao tôi đều thấy mình và hắn hiện diện trong đó cùng sự hiện
sinh muôn thủa những kiếp người. Đêm, tôi bị ám ảnh khôn nguôi về
hình tượng người đàn bà khỏa thân nơi hoang dã rất phồn thực trong
tranh, thao thức nhớ lại chuyện xưa ở chiến trường khu Năm.
4- Ngày ấy, những thằng lính đi B có bằng cử nhân
hay tú tài như chúng tôi còn là của hiếm, dùng để tuyên truyền cho
dân miền Nam về thiên đường xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Vì vậy, nếu
có bị thương, nhưng chưa đến mức nằm liệt, các cậu cử, cậu tú chúng
tôi cũng không được chuyển ra Bắc. Xuất viện là họ điều chúng tôi về
An toàn khu làm lính cơ quan hay phân về làm bảo vệ ở các bệnh viện,
trại giam tù binh… Tôi bị thương vào cánh tay, còn hắn bị thương ở
vùng ngực, gãy hai chiếc xương sườn. An toàn khu có khoảng gần trăm
người như chúng tôi, già nửa là lính Hà Nội, đã tốt nghiệp cấp III
phổ thông, còn từ cấp chỉ huy đến lính đa phần là người địa phương
khu Năm. Họ nhìn chúng tôi hát hò, đọc sách, làm thơ… với con mắt kỳ
thị, xem đám lính Hà Nội là lãng mạn tiểu tư sản, lập trường bấp
bênh, thiếu tinh thần cách mạng triệt để. Khổ nỗi, các cô gái địa
phương hay các nữ giao liên từ vùng địch ra lại cứ xoắn lấy các
chàng trai Hà Nội, xem chúng tôi giải toán lớp 12 cứ mắt tròn mắt
dẹt. Điều này càng gây chướng mắt các ông chỉ huy. Càng bị cô lập,
phân biệt đối xử, chúng tôi càng thương quý nhau hơn, nhất là tôi
với hắn vốn cùng một tiểu đội trinh sát, cùng bị thương trong trận
đánh cứ điểm Sơn Tịnh. Ngày ấy, lính ta đói dài, ngô sắn còn không
đủ ăn, gạo càng hiếm, nói chi đến thịt cá. Chúng tôi thường tụ tập
nhau lén đi cải thiện. Nói “cải thiện” cho vui thôi, thực ra là đi
ăn trộm của tập thể cơ quan hay của dân bất cứ thứ gì nhét được vào
bụng để tồn tại qua ngày. Vì vậy, lính Hà Nội thường hay bị điều đi
công tác để tách xa nhau ra. Công tác nguy hiểm nhất là xuống cơ sở
ở đồng bằng lấy gạo, muối, thực phẩm. Địch biết quân ta đói nên tung
một lữ đoàn thiện chiến bao vây, chốt chặt các ngả đường từ căn cứ
xuống đồng bằng. Chỉ huy lữ đoàn là viên trung tá còn rất trẻ, chống
cộng đến cùng, nhưng cũng không ưa sự có mặt của người Mỹ. Thời sinh
viên, anh ta đã từng biểu tình chống Mỹ xúc phạm các nữ sinh Việt
Nam. Là con một trong gia đình trí thức lớn, danh giá bậc nhất ở Sài
Gòn, lại làm rể ông nghị sĩ quốc hội, nhưng vì coi thường các tướng
lĩnh kém mưu, nhát gan nên anh ta bị điều ra miền Trung. Nuôi mộng
vinh thăng cấp tướng để thâu tóm quyền lực, thay đổi thế cờ chiến
cuộc nên anh ta xông xáo xuống từng đơn vị, kiểm tra thường xuyên
các chốt mai phục không để sơ hở. Là người túc trí đa mưu, anh ta
muốn tiêu diệt căn cứ không cần đạn pháo cỡ lớn mà bằng cái đói. Chỉ
huy cấp dưới thường được trung tá nhắc nhở: “Đã là chiến tranh tất
có một bên phải chết. Muốn sống ta phải tàn bạo với kẻ địch, lương
tâm, đạo lý gửi lại cho thân nhân, bạn bè cất giữ ở hậu phương. Gặp
thằng lính Việt cộng nào đi lấy gạo các anh cứ việc bắn bỏ rồi chặt
đầu bêu ở ven đường cho chúng khiếp vía, chịu đói mà chết dần.”…
5- Tôi nhớ, vào tháng hai âm lịch năm nhâm Tý
(1972), giữa kỳ giáp hạt, toàn khu căn cứ đói dài. Một tốp 5 người
đi lấy gạo bị địch chặt đầu bêu ở cọc tre ven đường, có đến 3 người
là lính Hà Nội. Hắn như phát rồ vì thằng bạn rất thân cũng nằm trong
số đó. Đành rằng chiến tranh là cối nghiền thịt khổng lồ, con người
ở cả hai phía đều buộc phải tàn ác như nhau cả thôi. Thế nhưng nếu
hôm qua thằng bạn còn nằm chung một ổ, ăn cùng một mâm bỗng hôm nay
bị đối phương chặt đầu thì ta lại chỉ thấy địch là tàn ác, còn ta có
nghĩa vụ đòi lại nợ máu. Cả khu căn cứ sôi sục muốn trả thù cho đồng
đội và cũng rất căng thẳng vì đói. Tư lệnh An toàn khu quyết định mở
trận đánh phá vây, tiêu diệt lữ đoàn của địch. Mũi đánh vu hồi vào
sở chỉ huy lữ đoàn ở tuyến sau của chúng là quan trọng và nguy hiểm
nhất, được tất cả lính Hà Nội chúng tôi tình nguyện tham gia. Hắn và
tôi được cử đi trinh sát tình hình sở chỉ huy lữ đoàn. Sau 10 ngày
luồn sâu, mật phục và quan sát, hai đứa đã nắm được quy luật hoạt
động và hệ thống bố phòng của địch. Phải thừa nhận viên trung tá chỉ
huy là đối thủ tài ba, không hổ danh là lính trí thức con nhà nòi
của phía bên kia, hệ thống bố phòng không tìm thấy một chút sơ hở.
Nhưng ở chiến trường, đôi khi mọi sự cẩn trọng, chu đáo có thể bị
phá vỡ bởi một yếu tố ngẫu nhiên. Ngày thứ 10, đang chuẩn bị rút về
cứ, qua ống nhòm, tôi và hắn phát hiện thấy một chiếc trực thăng hạ
cánh ở sân sở chỉ huy lữ đoàn. Bước ra khỏi máy bay là một thiếu phụ
đẹp đến mê hồn. Gương mặt nàng đôn hậu như Phật bà Quan Âm giáng
thế. Vóc dáng và y phục nàng toát lên vẻ kiều diễm, cao sang mà vẫn
dễ gần bởi nụ cười hiền dịu. Đi theo nàng còn có vài cô gái, thảy
đều sang trọng, trẻ đẹp. Họ mang theo rất nhiều quà và cả vài chục
két bia. Đêm nay chắc hẳn sở chỉ huy lữ đoàn có đại tiệc, lính cũng
như quan sẽ tắm bằng bia và rượu. Tôi và hắn sướng run lên, cắm đầu
chạy băng rừng về nơi tập kết của đồng đội đang nóng chờ tin tức.
Trận đánh diễn ra trong đêm tối trăng thật êm gọn đến bất ngờ, nhưng
cái giá xương máu thật là khủng khiếp. Kẻ địch say mèm và hoảng
loạn, còn chúng tôi thì như một lũ điên luôn miệng hô giết, giết và
giết. Biết làm sao khác được, khi cơn cuồng nộ trả thù đã khiến tất
cả như không còn tính người. Kẻ địch chạy - bắn, giơ tay hàng - bắn,
bị thương lòi ruột cũng bắn. Máu người vung vãi khắp nơi, dây đầy áo
lính, nòng súng bỏng rát, tiếng kêu rên thê thảm… Mặc kệ! Ngón tay
trỏ của tôi và hắn chỉ còn một phản xạ nhấn cò súng. Thê thảm nhất
là xác viên trung tá găm đầy đạn tiểu liên, đạn AK, máu me đầm đìa,
thân hình nát bấy. Chúng tôi nhìn vào xác chết, hả hê vì trả được
thù. Tất cả lặng đi vài phút, nhớ đến những cọc tre bêu đầu đồng đội
những ngày qua, rồi cùng oà lên, nức nở gọi tên từng người… Bỗng
cánh cửa sắt của tủ hồ sơ tài liệu bật mở và thiếu phụ lao ra ôm lấy
xác chồng gào khóc. Tay nàng run run sờ mặt, vuốt tóc chồng. Mặt
nàng úp lên lồng ngực đầy máu…
- Giết nốt con đĩ này thôi, anh em ơi!
- Cho nó đi chầu Diêm vương với thằng chồng ác ôn!
- Lột quần áo nó ra ngắm cho sướng mắt rồi hãy làm thịt!
- Phải đấy, xem thử cái L người Sài Gòn nó đen-trắng, dày-mỏng thế
nào rồi hãy giết!
Hơn chục thằng lính Hà Nội đang cơn say máu, nhao nhao quát thét,
ánh mắt man dại. Riêng hắn lặng đi, trán vã mồ hôi, mặt tái mét,
trân trối nhìn thiếu phụ. Hắn lại gần, vực nàng đứng dậy và nghẹn
ngào nói:
- Chúng mày nhìn đi! Ngực cô ấy căng đầy sữa, rỉ ra từng giọt, chắc
vừa sinh con nhỏ. Đ mẹ, bắn giết thế đủ rồi! Trẻ thơ có tội tình gì
đâu. Cuộc chiến này đã quá nhiều trẻ mồ côi, còn chưa đủ sao? Hãy
tha cho cô ấy về với con. Đứa nào nói nữa tao bắn.
Thiếu phụ quỳ xuống, chắp tay vái lạy từng người,
không nói được ra lời. Chúng tôi như bừng tỉnh quay đi, bàng hoàng
đau xót, giấu những giọt nước mắt đang ứa ra. Từng người lặng lẽ lao
vào bầu trời đen thẫm. Đêm ấy không ngờ tôi và hắn bị lạc nhau. Trên
đường rút về cứ, hắn không may dẫm phải bẫy thú rừng của người dân
tộc. Những mũi chông nhọn hoắt đâm vào đùi, vào bụng làm hắn ra rất
nhiều máu. Vùng vẫy thoát ra khỏi hố bẫy thì hắn kiệt sức, nằm thiếp
đi bên một bụi cây. Mờ sáng tỉnh dậy, hắn giật mình vì thấy mình
đang gối đầu lên đùi người thiếu phụ hồi đêm. Vết thương ở đùi và
bụng của hắn được nàng xé áo băng lại. Nàng là người thành phố,
không quen đi rừng nên cũng bị lạc. Đây đã thuộc vùng giải phóng,
nàng có thể sẽ bị bắt lại. Hắn định ngồi dậy chỉ vẽ đường đi cho
nàng, nhưng vết thương nhói buốt, miệng khô rang vì ra nhiều máu,
hắn nằm vật xuống, trong cơn mê sảng luôn miệng đòi uống nước. Nàng
nhìn hắn bối rối, thương xót. Trời còn chưa sáng rõ, chạy đi tìm
nước nàng có thể bị lạc một lần nữa, không khéo gặp thú rừng thì
nguy. Hơn nữa, nàng có thể gặp Việt cộng hoặc du kích, sẽ bị bắt,
không còn đường về với con. Nhìn ra bốn bề chỉ thấy núi và cây rừng,
chẳng nghe thấy tiếng nước chảy, đang mùa khô, đào đâu ra nước bây
giờ? Tiếng hắn thều thào “nước… nước…” khiến lòng nàng quặn thắt.
Ngực nàng thì đang cương sữa, vắt đầy ra cỏ đã mấy lần... Lưỡng lự
hồi lâu rồi nàng mạnh bạo vạch vú nhét vào miệng hắn. Phản xạ tự
nhiên làm hắn chợt tỉnh, đẩy bầu vú của nàng ra, lắc đầu quầy quậy.
Nàng càng cố ấn đầu vú vào, hắn càng dùng hết sức đẩy ra. Tức quá,
nàng tát thật lực vào mặt hắn, quát to:
- Nước không có, muốn chết khát hay muốn sống?
Cái tát của nàng làm hắn trở nên ngoan ngoãn, thôi vùng vẫy, nhắm
nghiền đôi mắt, từ từ há miệng ngậm vào đầu vú mút và mút. Nàng gần
như nằm đè lên người hắn, dứt tung nịt vú, vắt kiệt cả hai bầu sữa.
Hắn bú no nê dòng sữa của nàng cho đã cơn khát. Sữa cho hắn sức lực
để hồi tỉnh. Khi đó hắn mới nhận ra cái cảm giác đê mê trước mùi da
thịt của nàng. Sữa đã hết, nhưng miệng hắn còn ngậm chặt đầu vú. Bàn
tay hắn mơn man lên da thịt trắng ngần và mịn màng, ấm nóng của bộ
ngực đồ sộ như hai trái núi. Hắn không ngờ người thiếu phụ mảnh mai
như nàng lại có bộ ngực phồn thực đến vậy. Hắn ngây ra nhìn gương
mặt thánh thiện của nàng. Cái ấy của hắn đụng vào người nàng bỗng
cương cứng lên, muốn xé rách lần vải quần quân giải phóng. Nàng nhìn
hắn mỉm cười. Cái nhìn đầy cảm thông và bao dung của tình mẫu tử,
chứ không phải của bạn tình, làm hắn chợt hổ thẹn vì sự nổi loạn
trong cái của nợ, dù thằng đàn ông nào chẳng vậy…
Đúng lúc đó, ba người lính địa phương khu Năm xuất
hiện. Họ túm tóc hắn lôi dậy, xỉ vả một hồi vì tội hủ hóa, rồi trói
cả hai, giải về khu căn cứ. Chuyện của hắn có viết cả trăm lần vào
bản kiểm điểm cũng không ai tin, ngoài tôi và mấy thằng bạn thân
người Hà Nội. Hắn bị khép tội cố ý tha tù nhân có nợ máu, lại thông
đồng với nàng bỏ trốn ra vùng địch. Từ thằng lính lập nhiều chiến
công, bị thương về làm lính coi tù, nay hắn thành tù nhân đặc biệt
của trại giam. Nàng bị giam ở trại phụ nữ, hắn bị giam ở trại nam
giới, hai trại cách nhau một con suối, đằng đẵng gần nửa năm cách
trở. Hàng ngày đi lao động trồng sắn, hắn và nàng cách bờ nhìn nhau
đau đáu, nhớ thương, ấm ức. Tôi và mấy thằng bạn thân thường tìm
cách gặp hắn an ủi, động viên hoặc làm liên lạc giữa hắn và nàng.
Lâu dần tôi mới biết hôm đó nàng dùng trực thăng riêng của gia đình
đi đón chồng về Sài Gòn chuẩn bị tu nghiệp lớp sĩ quan cao cấp ở Mỹ.
Vì quá say sưa thù tạc, chia tay với chiến hữu nên sở chỉ huy lữ
đoàn của chồng nàng mới bị quân ta tập kích, trở tay không kịp. Nàng
bảo, anh ấy ngoài mặt trận phải buộc lòng làm con thú hung dữ, chứ
về nhà lại hết mực yêu vợ, thương con, hiếu đễ với hai bên cha mẹ.
Âu đây cũng là số phận!... Khi biết tin thằng cha chột mắt người khu
Năm phụ trách trại giam nhiều lần ve vãn, có lần toan hãm hiếp nàng,
hắn lồng lên, thề sẽ giết thằng chó đểu. Văng tục, chửi bới một hồi,
hắn bưng mặt khóc hu hu như con nít, nài xin tôi và mấy thằng bạn
tìm cách bố trí cho nàng trốn khỏi trại giam. Chúng tôi bàn bạc, lập
kế hoạch rất chu đáo cho hắn và nàng cùng trốn về đồng bằng. Mất bao
nhiêu công sức băng rừng, lội suối, chúng tôi mới đưa được hai người
ra đến bờ sông Trà Khúc. Chỉ một bước là lên thuyền xuôi về vùng
địch, hắn chợt đổi ý, quyết tâm ở lại, sẵn sàng chịu trách nhiệm một
mình về việc nàng bỏ trốn để không liên lụy đến bạn bè. Việc đã gấp,
tôi và mấy thằng bạn đành cắn răng, nuốt lệ chiều theo ý hắn. Chúng
tôi tản ra canh chừng cho hắn và nàng ngồi chia tay bên mép nước,
dưới ánh trăng lai láng. Tôi ngồi sau một bụi cây, xoay lưng về phía
bờ sông. Đêm khuya thanh vắng, khoảng cách không xa, lại xuôi theo
chiều gió nên tôi vô tình nghe rõ câu chuyện giữa hắn và nàng.
- Em thương anh quá! – Nàng bảo.
- Đừng lo, anh chịu đựng được, em cứ yên tâm tìm về với con và gia
đình – Hắn động viên.
- May ra số phận còn cho mình gặp lại nhau.
- Hết chiến tranh, nếu còn sống anh sẽ tìm em.
- Em hỏi thật, anh đừng giấu.
- Hỏi đi, anh nghe đây.
- Cái hôm anh đẩy bầu vú em ra khỏi miệng, em đoán anh chưa từng một
lần với đàn bà?
- Đúng vậy. Bạn bè anh nhiều đứa chết rồi vẫn chưa được làm đàn ông.
- Em muốn có thêm đứa con với anh. Chồng em đằng nào cũng chết rồi,
oan hồn anh ấy sẽ không phiền trách.
- Nhưng bạn bè anh…
- Không sao, họ đều là con người, sẽ thông cảm cho chúng mình.
- Anh rất muốn, nhưng…
- Thôi, không nhưng gì hết.
Giời ơi!... Còn ai trên đời hạnh phúc như hắn. Tôi
nhắm nghiền mắt mà như nhìn thấy rõ hắn và nàng cùng trút bỏ áo
quần, lội ra dòng sông loáng bạc. Họ ôm nhau, kỳ cọ thân thể cho
nhau rồi… hắn bế thốc nàng lên bờ làm cái chuyện ấy giữa trời mây
sông nước bao la…
6- Mấy chục năm qua đi, giờ tôi mới gặp lại nàng.
Nàng vẫn nguyên vẹn dáng vẻ kiều diễm, cao sang như buổi nào bước ra
khỏi máy bay trực thăng. Hình như chỉ tôi với hắn là già và xấu đi,
còn nàng cứ trẻ và đẹp mãi. Nàng như Phật bà quan âm tái thế, tài
trợ cho phòng trưng bày tranh của hắn. Nàng đang từ cõi niết bàn
bước ra đọc lời khai mạc phòng tranh trong ánh mắt ngạc nhiên của
bạn bè và công chúng yêu hội họa. Chỉ mình tôi biết được chàng trai
lịch sự, tuấn tú đứng bên cạnh nàng là con của hắn. Chỉ mình tôi
biết được vì sao hắn vẽ tranh toàn V và L, ngoài cái triết mỹ hắn
gửi gắm vào tranh còn vì một lẽ khác. Cuối buổi khai mạc phòng
tranh, hắn và nàng dắt con trai lại chào tôi, hẹn sẽ đến ăn bữa cơm
thuần túy Việt Nam. Hắn bảo, đừng bày vẽ gì, cứ trải chiếu ngoài
sân, dưới gốc cây hoàng lan, đãi nhau món đậu phụ chấm mắm tôm ăn
với bún là tuyệt nhất. Tôi chưa quen với mùi mắm tôm, nhưng sẽ thử
cùng hắn và nàng nếm cái vị của nó. Có lẽ hắn đúng, giữa mùi và vị
thì vị mới chính là tinh cốt của đời.
Hà Nội 7/2005
V.N.T.
|
|
| |
Chù Mìn Phủ và tôi
Vũ Ngọc Tiến
1- Tôi quyết định đi Hà Giang thêm một chuyến nữa…
Gã đạo diễn của đài truyền hình ghé tai tôi, thở
đầy mùi rượu, giả lả nói: “Bác nhà văn cứ đi với tụi em, lên miền
biên viễn đổi không khí, hưởng mùi gái sơn cước mà tìm cảm hứng.
Trên đó gái ta, gái Tàu có đủ, nhưng đã vào nghiệp chơi chỉ nên say
tỉnh chớ đừng say mê. Bên kia hay bên này biên giới cũng đều là gái
người Mông, Dao, La Chí, Tày, Nùng …cả thôi. Mùi vị sơn cước như
nhau, chỉ khác quốc tịch là giá cả các em gấp nhau vài lần như bỡn.”
Biết gã đang say tán bậy, tôi lặng thinh, song cũng phải thừa nhận
cái sự sành chơi của gã là có lý.
Hồi xảy ra chiến tranh biên giới, tôi là lính
trinh sát quân đoàn 3 nên rất thuộc bản đồ địa hình và cư dân hai
bên biên giới vùng Hà Giang. Ngoài khu vực thị xã, đi về các huyện
xa của tỉnh, người Kinh rất ít, đông nhất là người Mông rồi đến
người Dao, La Chí, Tày, Nùng. Qua khỏi cột mốc biên giới, từ cửa
khẩu Thanh Thủy, thượng nguồn sông Lô đến cửa khẩu Nghĩa Thuận,
thuộc huyện Quản Bạ là đất Trung Quốc, thuộc huyện Mai Pho, châu Văn
Xương, tỉnh Vân Nam. Họ là nước lớn nên một châu Văn Xương dân số đã
tới 3 triệu người, riêng huyện hẻo lánh Mai Pho đã có gần 60 vạn
người, xấp xỉ với dân số cả tỉnh Hà Giang. Cư dân bên huyện Mai Pho
một nửa là người Mông, còn lại cũng là người Dao, La Chí, Tày, Nùng.
Gã đạo diễn, tay chơi có hạng của đài truyền hình
nói đúng, ở miền biên viễn ấy gái điếm đủ loại và dễ kiếm, nhưng làm
sao phân biệt được quốc tịch của một ả điếm sơn cước. Song gã đâu
biết tôi bám càng đoàn làm phim của gã đi Hà Giang lần này vì một
nguyên cớ thầm kín. Chẳng riêng gì gã, lâu nay nhiều người cũng hồ
nghi về lai lịch đứa con nuôi mang họ Chúc của tôi, không ít lời ong
tiếng ve, đàm tiếu sau lưng. Thây kệ! Tôi không muốn thanh minh,
giải thích dài dòng, song cũng thấy mệt và nản chí, sau mỗi lần đi
tìm cha đẻ cho nó, đứa con nuôi tội nghiệp mà tôi ngờ rằng là con
của Chù Mìn Phủ.
2- Đêm đông cuối tháng. Ngoài trời gió lạnh lồng
lộn thổi như bầy ngựa hoang, càng làm tôi nhớ núi rừng Quản Bạ. Ở xứ
cao nguyên đá ấy nhà nào cũng nuôi trong chuồng một vài chú ngựa.
Đêm khai hỏa cuộc chiến tranh biên giới, đạn pháo của đối phương bắn
sang như vãi thóc, âm thanh chát chúa, khiến ngựa phá chuồng lồng
lên tán lọan, hý vang trời đất trong sương mù dày đặc. Ta bị bất
ngờ, còn đối phương chủ động lại đông quân, nhiều vũ khí nên chỉ sau
vài trận, tiểu đoàn của tôi chết và thương vong già nửa. Cấp trên
điều động bổ sung cho tiểu đoàn khá nhiều dân quân người dân tộc ở
địa phương.
Đơn vị trinh sát của tôi có hai lính mới, một nam
là Chù Mìn Phủ và một nữ là Thào A Máy. Người Mông xưa biết dùng cả
chữ Hán nên khi hỏi chuyện chúng tôi biết tên của hai người dịch từ
chữ Hán nghĩa là Chúc Dân Phủ và Đào A Mai. Chúng tôi thường gọi tên
tắt theo họ là anh Chúc, cô Đào. Chúc hơn tôi một tuổi, còn Đào kém
tôi hai tuổi. Hai người với tôi hợp thành tổ trinh sát ngoại tuyến,
thường xuyên thâm nhập sang bên kia biên giới, dò xét tình hình quân
địch. Chiến tranh là hiện thực tàn nhẫn. Nhiều khi lâm vào tình
huống khắc nghiệt, đi trinh sát bị lộ, người Mông bên kia biên giới
gõ mõ truy đuổi buộc chúng tôi thành kẻ sát nhân, nổ súng điên khùng
vào đám dân lành đông như đàn kiến, chỉ có dao, gậy hoặc tay không
mà thôi. Những xác người đổ xuống như cây chuối. Những tiếng gào
thét, chửi bới cũng vẫn là tiếng Mông quen thuộc.
Có lần, để đánh lạc hướng sự truy đuổi, chúng tôi
buộc phải làm cái việc dã man, phóng lửa đốt nhà hết xóm này qua xóm
khác. Chạy xa rồi, chúng tôi vẫn ngửi thấy mùi thịt người khét lẹt
và tiếng trẻ con kêu khóc thảm thiết. Mỗi lần như vậy, thoát được về
Việt Nam là Chù Mìn Phủ như người điên dại. Mắt anh đỏ vằn, tóc tai
rũ rượi, loạng choạng bò lên mỏm đá cao gào to: “Giời ơi! Tôi là cái
giống gì thế này? Người Mông sao lại đi giết người Mông, hở
giời?...Ác giả ác báo mất thôi…” Nhìn cành cây khô anh rú lên bảo là
xương người. Nhìn dòng suối anh òa lên nức nở bảo máu ở đâu sao mà
chảy ra nhiều thế. Thào A Máy thì khác, cô khóc thút thít suốt dọc
đường, thỉnh thoảng lại chắp tay cầu Trời khấn Phật đừng có ai trong
số bạn bè, người thân bên ấy vừa bị chúng tôi giết hại. Tôi lảo đảo
đi giữa hai con người ngây ngây, điên điên ấy mà lòng như có muối
xát. Con tim tôi vỡ vụn, lồng ngức trống hoác như hang đá thời tiền
sử cho gió cao nguyên thổi vào lộng óc, đóng băng từng mạch máu.
Bên tai tôi âm âm u u câu hát “Việt Nam- Trung Hoa
núi liền núi, sông liền sông…” Không chỉ có thế đâu, ở chiến trường
này tôi còn thấy rõ người dân hai bên biên giới liền một khúc ruột,
chung một tiếng nói mà sao lại phải tàn sát lẫn nhau khủng khiếp như
vậy, hở giời? Tôi biết nói gì để an ủi hai đồng đội người Mông, khi
cương thổ nước nhà bị xâm lấn. Tôi cũng không thể đem những vụ thảm
sát ghê rợn mà bọn “bành trướng” gây ra để biện minh cho tội lỗi vô
thức của nhóm trinh sát chúng tôi. Ai đó ở tận nơi xa thăm thẳm xua
lính và dân binh sang bên này cướp hiếp, đốt sạch, phá sạch, chứ
người Mông, người Dao bên ấy cũng chỉ như đàn cừu, bầy ngựa bị lùa
đi, họ nào có muốn. Chiến tranh muôn thủa vẫn là thế cả. Sự thắng
bại của cuộc chiến nằm ở dăm ba cái đầu lạnh, còn dân chúng hai bên
mãi là kẻ chiến bại, mãi chỉ là công cụ chém giết vô thức mà thôi.
Cứ thế, suốt cả năm ròng nhóm trinh sát chúng tôi luôn hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao trong sự hành xác, cật vấn lương tâm âm
ỉ khôn nguôi, cho đến một ngày ngẫu nhiên nhóm tan tác, tôi phải
chia tay hai người đồng đội. Đêm ấy trời tối đen. Chiến tranh và tội
ác vốn là bạn đồng hành của bóng đêm. Tin báo về tiểu đoàn cho hay,
một tốp thám báo của đối phương bị dân địa phương bắt giữ. Ba người
chúng tôi được lệnh băng rừng đến ngay quả đồi nằm trên trục đường
từ Thanh Vân đi cửa Nghĩa Thuận, dẫn giải tù binh về để khai thác
tình hình quân địch. Vừa đến nơi, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra
trước mắt nhóm trinh sát. Có dăm người dân quân địa phương ngồi
quanh đống lửa uống rượu ngô và ba xác chết trần truồng, thi thể bầm
dập nằm lăn lóc trên bãi cỏ, hai trai, một gái. Xác người con gái
nằm ngửa, không bị đánh đập, nhưng hai đùi bị banh ra, cột chặt vào
hai cái cọc được đóng sâu xuống đất, cửa mình vẫn còn củ sắn to bự
cắm vào, máu lênh láng chảy ướt đầm mặt cỏ. Hai xác người đàn ông to
vật vã, đầy những vết đánh thâm tím, bộ phận sinh dục bị cắt rời
nguyên cả cụm, ném vào đống lửa, bốc lên mùi thịt nướng…
Mùi thịt người và cái dương vật xém vàng, nứt vỡ,
xèo xèo trong lửa làm tôi nôn ọe, ghê tởm đến cùng cực. Người tôi
run lên, mắt cay xè, hàm răng lập bập, chĩa súng vào đám dân quân
hỏi: “Sao chúng mày ác thế, có còn là giống người nữa không?” Họ
thản nhiên đáp: “Mày thì biết gì. Chúng nó còn ác hơn nữa kia. Chúng
tao vây bắt, chúng nó chạy ngược vào bản đốt nhà để lừa cho mọi
người mải dập lửa, chúng nó thừa cơ chạy trốn vào rừng. Nhiều lần
như thế lắm rồi. Người, ngựa chết và ngô, thóc cháy rụi, ai thương
cho dân bản? Mày ư? Thương cái xương chúng tao có lúc chẳng còn.”
Lúc này Chù Mìn Phủ đứng gần tôi, từ từ khụy xuống, nằm úp mặt vào
đất, gào rống lên: “Giời ơi! Quả báo sắp đến rồi... Chúng mình sang
bên kia cũng có khác gì họ đâu.” Anh lăn lộn giữa ba cái xác người
nức nở khóc than, khiến Thào A Máy cũng ôm lấy anh khóc theo. Trong
đám dân quân lao xao bàn cãi. Có lẽ tiếng khóc của hai người làm họ
tỉnh rượu, có phần ân hận và lo sợ sẽ bị tôi trừng phạt. Tôi chỉ
nghe lõm bõm tiếng Mông lẫn tiếng Dao, nhưng cũng lơ mơ hiểu. Họ
được lệnh giải tù binh ra quả đồi chờ giao cho bộ đội, vừa ngồi chờ
họ vừa nướng sắn uống với rượu ngô.
Hơi men ngà ngà, họ quay sang tranh cãi với tù
binh. Một bên chửi Việt Nam vô ơn, giở mặt theo đuôi bọn xét lại Nga
Xô. Một bên chửi quân “bành trướng” Trung Quốc, vô cớ đánh bạn láng
giềng “môi hở răng lạnh”. Toàn là những lời lẽ của mấy ông cán bộ
tuyên huấn hai bên, chứ họ nào hiếu gì đâu cơ chứ. Thế là hơi men,
sự cuồng tín và nỗi căm tức vì mất nhà, mất người thân đã xui khiến
đám dân quân hò nhau xông vào lột hết quần áo, đánh đập hai người
đàn ông cho đến chết. Lúc đầu họ không nỡ đánh đàn bà, định sẽ giao
nộp cho bộ đội, nhưng rồi cũng tại hơi men và cả tại máu của hai xác
người đàn ông đã đánh thức bản năng thú vật của những con đực. Họ
thay nhau hãm hiếp cô chưa đủ, sẵn có củ sắn mang theo, một gã thuận
tay tống mạnh vào cửa mình còn đang ướt nhóet của cô cho hả giận rồi
cả đám cười lên man rợ…Tôi đang bàng hoàng đau xót, không biết nên
giận hay nên thương những gã trai miền sơn cước rách rưới, gầy nhom,
đen nhẻm kia đã bị cuộc chiến biến thành bầy thú dữ, chợt tiếng kêu
thất thanh của Thào A Máy làm tôi càng thêm kinh hãi. Cô nhận ra xác
người con gái chính là đứa bạn cùng xóm, lấy chồng bên kia biên
giới. Hai người thân nhau từ nhỏ, mới xa cách nhau vài năm, giờ đã
ra nông nỗi này. Chù Mìn Phủ vừa mới nguôi ngoai đôi chút, thấy vậy
lại hộc lên những tiếng kêu rên: “Giời ơi! Ác giả ác báo, quả báo
sắp đến rồi. Giời ơi là giời ơi!...” Đến nước này thì cả tôi cũng
thành điên dại. Nhóm trinh sát ba đứa chỉ còn biết ôm nhau mà khóc
đến khàn hơi, kiệt sức. Khi tôi và Chù Mìn Phủ cố hết sức dìu được
Thào A Máy về đơn vị thì cả ba đứa cùng mê man thiếp đi suốt mấy
ngày đêm, người hầm hập sốt. Tỉnh dậy, Thào A Máy hóa điên thực sự.
Những ngày đầu, cô chỉ gào thét, đập phá, bới đất, nhai cỏ. Cặp mắt
cô vô hồn, mái tóc đen dày rối bù như tổ quạ.. Một hôm, cô như tỉnh
lại, ra suối tắm. Giữa trưa, cả đơn vị đang ăn cơm, cô trần truồng
từ suối về chỉ mặt từng người, miêng hát: “Xi tùa, nể tùa, mi dầu
tùa…” Cô hát theo điệu dân ca trữ tình của người Mông. Bài hát ấy
vốn ngợi ca tình yêu trai gái khi mùa xuân về. Họ lạy mẹ, xin cha
cùng nhau lên rừng hái hoa, tắm chung dòng suối, nên vợ nên chồng,
sinh con đẻ cái…Giờ vẫn điệu hát quen thuộc cô đặt lời khác đi,
khiến tôi nghe cứ lạnh buốt sống lưng, sởn gai ốc tay chân. Lời ca:
“Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” tiếng Mông nghĩa là cha mày chết, mẹ
mày chết, các con mày chết…
Rồi cô hát tiếp: “Sao chúng mày ác thế? Rừng có
khí thiêng, núi có thổ thần, suối có hồn ma, ông trời có mắt…, cha
mày chết, mẹ mày chết, các con mày chết…” Chao ôi! Cái điệp khúc “Xi
tùa, nể tùa, mi dầu tùa” kia là lời hát của người điên hay là thông
điệp của ma rừng, trời đất, quỷ thần gửi tới cõi người? Sự việc xảy
ra quá bất ngờ. Tôi không thể trách những chàng lính trẻ miền xuôi
không hiểu tiếng Mông, chưa từng bén hơi đàn bà, đang đổ xô ra nhìn
ngắm tấm thân lõa lồ nõn nà của Thào A Máy đầy vẻ tò mò. Thậm chí họ
còn vô ý thức, quờ tay sang bạn mình, nắm lấy con chim đang thượng
tướng lên mà tán bậy. Chỉ có tôi và Chù Mìn Phủ ngồi lặng đi, úp mặt
vào lòng bàn tay, giàn giụa nước mắt khóc không thành tiếng. Chỉ huy
tiểu đoàn ra lệnh cho hai đứa chúng tôi đến ôm lấy cô khiêng vào
lều, mặc quần áo và trói lại. Cô vùng vẫy, chống cự bằng một sức
mạnh ghê gớm, khiến bàn tay hai đứa đều vô tình động chạm đến những
vùng nhạy cảm nhất của đàn bà. Sẩm tối, hai đứa được lệnh khiêng
cáng đưa cô đi trạm xá để chuyển về tuyến sau, cho cô vào nhà thương
điên.
Thuốc mê không có nên cuộc “hành quân” trong đêm
của chúng tôi vô cùng vất vả. Tôi đi trước, Chù Mìn Phủ đi sau, vừa
đi anh vừa khóc và dỗ dành Thào A Máy, nhưng cô vẫn không chịu nằm
im, hết gào thét, quẫy đạp lại van vỉ đòi về bản. Đi được nửa đường,
phần vì mệt, phần vì quá thương cảm, Chù Mìn Phủ bảo tôi đặt cáng
xuống đất, ôm chầm lấy Thào A Máy. Cô ngoan ngoãn nép vào ngực anh,
khẽ rên ư ử như con mèo con, mắt ngơ ngác nhìn ra bốn phía trời đêm.
Hồi lâu anh nghẹn ngào nói với tôi: “Tao nhìn thấy hết cả người nó
rồi, tay cũng đã sờ vào tận cái lỗ đẻ con của nó thì phải lấy nó làm
vợ thôi. Luật của người Mông mà, không lấy nó giời sẽ bắt tội. Mày
thả cho tao đem nó cùng về với rừng, với bản, được không?” Tôi hỏi
lại anh: “Mày định đảo ngũ à?” Anh đáp: “Đành phải thế thôi. Lâm vào
cảnh ngộ này, mày bảo tao có thể làm gì khác được đây.” Tôi đưa mắt
nhìn sang Thào A Máy, thấy cô đờ đẫn gật đầu. Chúng tôi ngồi rất
lâu, nhìn nhau im lặng, chẳng biết nói thêm điều gì. Con đường dẫn
đến trạm xá nằm chênh vênh bên mép vực. Tôi nhìn xuống đáy vực thăm
thẳm, hút sâu vào bóng tối mênh mông, không định ra nổi đâu là
khoảng không, đâu là mặt đất, lòng nôn nao nghĩ đến tương lai của
hai người đồng đội đã cùng mình vào sinh ra tử. Họ đi rất lâu, tôi
vẫn còn ngồi chết lặng bên mép vực buồn the thắt.
3- Chúc tất bật chuẩn bị mọi thứ cho chuyến đi của
tôi. Nó thu mình trong góc nhà, cặp mắt đen thao láo nhìn đống hành
lý. Đôi mắt như cánh rừng hoang sao mà buồn vậy. Lần nào tôi đi vắng
nó cũng buồn như thế. Khuya rồi! Tôi nhắc và giục nó đi ngủ, song
Chúc vẫn ngồi bất động, thỉnh thoảng khẽ thở dài. Nó buồn là phải
bởi nếu tôi đi vắng là nó sẽ bị nhốt trong căn hộ tầng năm của khu
nhà lắp ghép sập sệ, lún nứt và hôi hám nhất trong các chung cư của
thành phố, xây cất từ những năm 60 thế kỷ trước. Căn hộ có hai
buồng, nó ở buồng trong, tôi ở buồng ngoài, vừa là nơi tiếp khách
vừa là nơi ngủ và làm việc. Tôi đưa nó về từ một động bán dâm, cách
thị xã Hà Giang 7 km về phía cửa khẩu Thanh Thủy.
Qua thời tao lọan, nghĩa tình huynh đệ “môi hở
răng lạnh” bỗng thành kẻ thù bắn giết lẫn nhau, nay hai nước lại hòa
hợp, “hợp tác toàn diện, hướng tới tương lai”. Ở đâu không biết chứ
tại nơi cửa khẩu hẻo lánh này buôn bán chính ngạch thì ít, buôn lậu
thì nhiều. Những ông chủ còn gọi là lão bản bên kia biên giới tuồn
hàng trốn thuế sang Việt Nam thông qua một mạng lưới chủ nhỏ người
Việt, hình thành một tổ hợp kinh doanh kiểu luật rừng. Nhìn bề
ngoài, các lão bản tỏ ra hào hiệp đúng như khẩu hiệu “láng giềng
thân thiện”, giao hàng trước, trả tiền sau bằng tín chấp. Thật ra họ
thuê cả một mạng lưới giám sát chặt chẽ các đầu mối. Giữa họ đầy rẫy
sự nghi ngờ, lừa đảo, khi cần sẵn sàng chém giết lẫn nhau như ngóe.
Mỗi lần trúng mánh, chủ tớ thu về bộn tiền thì sự “hợp tác toàn
diện” phải thể hiện bằng việc thỏa mãn cái khoái nhất của lão bản là
phá trinh các cô gái người Mông, người Dao. Lão bản Trung Quốc phá
trinh, còn chủ nhỏ Việt Nam ăn sái nhất, sái nhì. Lần ấy tôi theo
chân tổ phá án của công an thị xã mật phục bên ngoài ổ điếm từ sáu
giờ chiều đến chín giờ tối. Đây là vụ án quan trọng vì lão bản Trung
Quốc và chủ nhỏ Việt Nam đều là những quan chức trong hệ thống chính
quyền hai bên cửa khẩu.
Máy ghi âm, thu hình được bí mật gài sẵn. Khách ra
vào ổ điếm đều bị giám sát chặt. Theo ám hiệu của nội ứng, chúng tôi
bất ngờ ập vào, chứng kiến tận mắt ba thằng đàn ông bụng phệ và một
cô bé người Mông, thảy đều trần như nhộng. Cô bé chừng độ 13 tuổi.
Có lẽ vì quá đau và sợ hãi nên nó cứ nằm tênh hênh trên giường, mặt
tái dại, mặc cho máu từ cửa mình rỉ ra từng giọt, loang trên ga trải
giường trắng muốt. Một cô nhân viên nhà hàng phải vào vực dậy, vỗ
về, mặc quần áo cho nó. Vì vụ án có yếu tố người nước ngoài nên quá
trình lập biên bản diễn ra tỉ mỉ, cẩn trọng. Băng ghi hình được cài
vào máy phát lại, trước sự có mặt của đương sự, nhân chứng và đại
diện cơ quan báo chí là tôi. Thật ghê tởm đến buồn nôn. Cô bé bị
trói tay vào thành giường. Hai thằng chủ nhỏ Việt Nam bẻ gập đùi cô
bé và banh ra cho lão bản Trung Quốc bò lên người liếm láp khắp chỗ,
rồi từ từ nhét dương vật to và dài như dái ngựa vào mình cô bé trong
tiếng thét kinh hoàng vì đau đớn của nó. Giời ơi! Hai thằng ôn vật
kia làm tôi nhớ lại thảm cảnh trên quả đồi năm xưa, trong cuộc chiến
tranh biên giới.
Chúng nó không còn là người mà chỉ là hai cái cọc
gỗ banh đùi nữ tù binh thám báo Trung Quốc trong cái đêm kinh hoàng,
khiến Chù Mìn Phủ gào lên thảm thiết. Nếu vụ án này không phá được,
biết đâu mai kia hai thằng viên chức mạt hạng này có tiền mua chức
sẽ vênh vang cái mặt thớt đi răn dạy quần chúng hay sang bên kia cửa
khẩu ký kết văn bản “hợp tác toàn diện”. Hình ảnh cuộc chia tay với
hai đồng đội Chù Mìn Phủ và Thào A Máy bên mép vực, giữa trời đêm
tối đen như mực lại hiện về ám ảnh, dày vò tâm trí tôi. Càng ngạc
nhiên và đau xót khi tôi nghe được lời khai của cô bé bị hại. Nó mù
chữ và không biết nói tiếng Kinh, nhưng tôi vẫn hiểu. Con bé không
còn nhớ tên cha mẹ đẻ, quê quán, chỉ biết mình lớn lên trong nhà thờ
đạo Tin lành ở huyện Mèo Vạc. Nó bị người ta lừa bắt đi cách đó ít
ngày. Tên nó là Chù Thào Mỷ làm tôi giật mình, cuống cuồng tra hỏi
thêm, song cũng không khai thác được gì hơn. Tiếng Mông: Pá là hoa
rừng, Máy là hoa mai, Mỷ là người đẹp…Đó là những cái tên người ta
thường đặt cho con gái. Chù Mìn Phủ ơi! Có phải anh đặt tên con gái
mình là Chù Thào Mỷ để nói với người đời rằng, dù cho số phận đắng
cay, cảnh đời nghiệt ngã thì đứa bé này sinh ra mãi là hạnh phúc
ngọt ngào của hai dòng họ Chù và Thào? Có phải anh nuôi mơ ước rồi
đây nó sẽ là mỹ nhân tuyệt sắc của núi rừng Quản Bạ, sẽ thành ngôi
sao điện ảnh, người mẫu thời trang hay hoa hậu Việt Nam?…Ý nghĩ ấy
cứ quay cuồng trong đầu và tôi đã năn nỉ xin các anh trong tổ trọng
án làm thủ tục để tôi nhận Chù Thào Mỷ về làm con nuôi. Người Mông
thường quen gọi họ. Xưa tôi gọi anh là Chúc, dịch ra tiếng Kinh từ
họ Chù, nay tôi cũng gọi nó là bé Chúc.
4- Đêm về khuya, sương xuống, trời lạnh giá. Căn
hộ tầng năm chỉ có tôi và Chúc, đồ đạc sơ sài, trống huơ trống hoác,
đã lạnh càng thêm lạnh. Tôi đón Chúc về những mong căn phòng ấm cúng
thêm nhờ tiếng người, sao nó cứ suốt ngày câm lặng. Trong năm năm
qua thì hơn ba năm đầu nó ngây ngây dại dại, sợ tiếng động, sợ gặp
người lạ nhất là đàn ông. Nó ăn như mèo, người ốm nhách, cặp mắt vô
hồn. May mà hôm đầu đem nó đi xét nghiệm máu và khám phụ khoa không
thấy dấu hiệu nào của căn bệnh Sida hay giang mai, lậu. Bác sĩ bảo,
bệnh của nó chỉ do quá hoảng lọan, tâm thần phân lập mà ra thôi, mọi
chức năng của các bộ phận trong cơ thể đều rất tốt, cứ kiên trì tĩnh
dưỡng, động viên vỗ về, tránh tác động mạnh về tinh thần lâu dần sẽ
khỏi. Điều tôi lo nhất là khả năng nó sẽ mang thai cũng không xảy
ra. Có lẽ thằng cha lão bản kia ăn chơi trác táng, tinh trùng loãng
xọet nên có cũng bằng không. Nhưng cái thứ nước sền sệt, trắng đục
như nước cháo ấy cũng có một tác dụng sinh lý khác. Nó làm biến đổi
toàn bộ cơ thể cô gái đồng trinh đến từng tế bào bé nhỏ cũng thấm
nhuần chất đàn bà, nó lay động các dây thần kinh ở vùng nhạy cảm rất
riêng của giống cái. Chúc ăn rất ít, nhưng đủ chất bổ dưỡng so với
cuộc sống ở nơi ngô, sắn còn không đủ ăn phải lèn thêm rau rừng, nõn
chuối cho chặt cái dạ dày. Sự tác động sinh lý bên trong, sau lần bị
cưỡng hiếp bắt gặp sự tác động từ bên ngoài vào cơ thể, qua miếng ăn
thường nhật, khiến con bé như lúa chiêm gặp mưa rào, lớn phổng phao
từng ngày. Chỉ sau một năm, ở tuổi 14, thân hình nó đã phát triển
đến chín nẫu mọi vẻ đẹp, khêu gợi của đàn bà từng bén hơi đàn ông.
Hơn ba năm mắc chứng thần kinh phân lập, nỗi khát thèm của bản năng
giống cái trong nó bị ngủ quên nên khi khỏi bệnh thì có lúc trào lên
mạnh mẽ. Hai năm gần đây, Chúc đi đứng mạnh bạo hơn, học cách làm
duyên, dạn dĩ với mọi người, thích đụng chạm da thịt với khách đàn
ông đến chơi nhà. Tuy vậy, nó vẫn ít nói, còn ngây ngô, trí não có
phần trì độn, tiếng Kinh vẫn chưa nói thạo. Tôi dạy nó nấu ăn dễ hơn
dạy tiếng, càng khó dạy học đọc và viết chữ cho nó. Giữa thời buổi
phố phường nhộn nhạo, khó phân biệt thật với giả, người lương thiện
với đủ loại lừa lọc, trôm cắp, đĩ điếm trên đường, tôi không thể an
tâm để Chúc ra khỏi căn hộ tồi tàn tít tận tầng năm. Thức ăn, quần
áo, vật dụng cần thiết, cả đến băng vệ sinh của nó tôi cũng phải tự
tay mua về. Rời nhà là tôi khóa chặt cửa, dặn nó chỉ tiếp xúc với
người ngoài qua một lỗ vuông bằng bàn tay. Thi thoảng tôi cũng đưa
nó đi chơi ngoài phố, nhưng cứ phải nơm nớp kèm riết bên mình, chỉ
sợ nó lạc bởi với nó cái gì cũng mới, cũng lạ và tôi cũng đâu có thì
giờ để làm cái việc tưởng chừng vô bổ đó.
Những lần tôi phải đi công tác xa mới thật phiền
phức. Gửi tiền và chìa khóa bên bà lão hàng xóm về hưu ở căn hộ liền
kề, nhờ bà mua thức ăn và đổ rác cho Chúc, song tôi luôn thảng thốt
dọc đường, lo con bé ở nhà trì độn, tiếng Kinh chưa thạo, bà lão
hàng xóm lại nặng tai, lỡ có hỏa họan hay ốm đau cần cấp cứu không
được thì ngang bằng tôi giết nó. Lại nữa, nếu tình trạng này kéo dài
mãi thì tương lai Chúc sẽ ra sao? Nó cần phải được tự do, rồi còn
phải được lấy chồng, phải được làm mẹ như bao người đàn bà bình
thường khác. Sự thật là từ buổi giải thoát Chúc ra khỏi động bán
dâm, tôi đã cầm tù nó suốt năm năm, vô tình tước đoạt của nó sự tự
do tối thiểu trong kiếp nhân sinh dẫu đầy bất an vẫn cứ là cuộc
sống. Ngần ấy năm tôi đi tìm kiếm đồng đội người Mông có tên Chù Mìn
Phủ. Anh là nỗi đau, là kỷ niệm buồn của đời tôi một thời can qua
khói lửa giữa miền biên viễn. Giờ đây lai lịch của Chúc, cô gái bất
hạnh người Mông với cái tên Chù Thào Mỷ đáng ngờ đã vô tình cột chặt
số phận tôi với anh không cách gì gỡ ra được nữa. Chỉ có anh mới có
thể giúp tôi giải thoát bế tắc, trả lại tự do cho Chúc. Cho dù nó
không phải là con đẻ thì cũng mang họ của anh để tôi yên tâm giao nó
cho người cùng dòng tộc người Mông. Hễ có dịp là tôi lên đường đi
khắp tỉnh Hà Giang tìm kiếm mà vẫn vô vọng.
Cái lần tôi lên huyện Mèo Vạc gặp cha xứ đạo Tin
lành hỏi thăm, ngài nói không biết cha đẻ của Chúc, chỉ biết mẹ nó
là một người điên, bị lạc và chết ở trong rừng. Chi tiết ấy càng
khiến tôi tin chắc anh là cha đẻ của Chúc. Chù Mìn Phủ, anh ở đâu,
sao tôi tìm chẳng thấy? Đã có lúc vì quá mệt mỏi, tôi muốn trả Chúc
về cao nguyên đá để nó sống giữa rừng đại ngàn Quản Bạ - Hà Giang ,
mặc cho số phận nổi nênh, trôi dạt miễn là nó được tự do, nhưng tôi
không thể. Đêm sắp tàn. Lúc này Chúc đang ngủ say hay đang mơ ngày
tự do. Tôi nhận nuôi Chúc, nhưng chưa dám một lần xưng cha bởi theo
luật tục người Mông, tôi còn phải làm lễ tế trời, có sự ưng thuận và
chứng giám của họ tộc hay làng bản của nó. Dù còn ngây ngô, trì độn
thì ý thức về sự tự do, chí ít là tự do sinh lý đang có lúc nổi loạn
trong cơ thể đàn bà của nó. Nếu nó quả thật là con anh thì xin linh
hồn Thào A Máy hãy phù hộ cho chúng mình gặp nhau. Mai tôi sẽ đi Hà
Giang lần nữa. Chù Mìn Phủ, ơi Chù Mìn Phủ, anh ở đâu?...
5- Tôi mệt mỏi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn
và tôi mơ thấy Thào A Máy. Cô khoả thân từ suối tắm đi lên, da thịt
còn vương những hạt nước li ti. Bóng cô mờ ảo rồi hiện rõ dần từng
chi tiết trên cơ thể thanh tân. Hình như có một nốt ruồi đỏ trồi
lên, cỡ bằng hạt ngô, trong đám lông tơ còn ướt, ở ngay giữa mu,
cách lỗ nẻ của tạo hoá vài phân. Tôi có cảm tưởng như cái ấy rất
gần, cứ dí sát vào mặt tôi. Phải rồi năm xưa, khi tôi và Chù Mìn Phủ
cố hết sức đưa cô vào lán mặc quần áo, tôi bảo: “Anh Chúc khoẻ hơn,
ghì chặt cô ấy để tôi mặc quần trước đã.” Đôi tay cứng như sắt của
Chù Mìn Phủ chỉ có thể quàng ngang người cô, ghì chặt phần trên.
Chân cô quẫy đạp liên hồi, khiến tôi loay hoay mãi mới mặc xong cho
cô chiếc quần bộ đội rộng thùng thình. Lúc đó, cái bản mặt của tôi
có lúc gần như áp sát vào chỗ ấy, làm sao không nhìn rõ mồn một cái
nốt ruồi đỏ to bằng hạt ngô kia. Bao năm qua đi, tôi cố quên cái mốt
ruồi đỏ vì chỉ thoáng nhớ đã đỏ mặt, tự thấy mình có lỗi với Chù Mìn
Phủ. Tôi không hề muốn, nhưng hoàn cảnh trớ trêu đã buộc tôi phải
thấy chỗ tôi không được phép nhìn vào của vợ anh. Giờ cái bóng hình
khoả thân của Thào A Máy với nốt ruồi đỏ lại hiện ra lúc gần lúc xa,
khi mờ khi tỏ. Lạ chưa?... Cô không phải bóng ma… Cô là người thật
bằng xương bằng thịt, đang chui vào chăn, ôm chầm lấy tôi. Đôi bầu
vú như hai trái bóng bơm căng tì vào lưng nóng ấm là có thật và tôi
đê mê sung sướng. Tôi quen ngủ trần, dù mùa đông cũng như mùa hạ chỉ
mặc một chiếc quần sịp. Bàn tay đàn bà ve vuốt từ ngực xuống bụng
rồi kéo hẳn chiếc quần sịp ra mà nắn bóp, làm dương vật cương cứng
lên như vợ tôi vẫn từng làm việc khởi động này trước khi vào cuộc.
Nàng đã bỏ tôi, mang con đi Nga làm ăn đã nhiều năm rồi cơ mà. Bàn
tay này là của Thào A Máy từ cõi âm hiện về thì phải vô cảm chứ sao
lại có sức kích động kỳ lạ. Bản năng giống đực xui khiến tôi quờ tay
lần tìm chỗ ấy, nửa để kiểm tra cái nốt ruồi có thực hay hư và nửa
là sự tò mò, thèm muốn…
Có nốt ruồi nằm ở trên mu, to bằng hạt ngô, chỉ
không biết màu đen hay đỏ. Nơi lỗ nẻ của tạo hóa đang rỉ ra thứ nước
nhờn của đàn bà trong cơn phấn khích. Lúc đầu từng giọt ngấm vào đầu
ngón, sau ứa ra thành dòng chảy ướt nhòe các kẽ ngón tay, làm tôi
chợt bừng tỉnh. Giời ơi!... Sao tôi lại làm cái việc điếm nhục này
với bóng ma người vợ bất hạnh của Chù Mìn Phủ. Lý do vợ bỏ đi Nga
nhiều năm hay sự thèm khát của con đực khi bị kích động cũng không
thể biện minh cho hành vi khốn nạn. Tôi muốn vùng dậy sao bóng ma cứ
vít chặt tôi nằm xuống? Hoảng quá, tôi thét to và tung chăn, dùng
hết sức lực nhảy ra khỏi giường, bật công tắc điện. Thật không còn
dám tin ở mắt mình, tôi nhìn thấy Chúc đang trần truồng, run rẩy
ngồi thu mình ở góc giường. Bắt gặp ánh mắt giận dữ của tôi, nó lấy
tay che mặt, đầu gối run run vì rét và sợ nên có lúc như banh ra một
cách vô thức. Cái nốt ruồi đỏ trên mu đập vào mắt càng làm tôi
choáng váng, lảo đảo gục xuống sàn nhà… Thế rồi tôi điên tiết gầm
lên, túm tóc lôi nó dậy, đẩy vào buồng phía trong, khép chặt cửa, ra
lệnh cho nó mặc quần áo. Nó quấn mình trong chiếc chăn bông, khóc ti
tỉ như đứa trẻ con ăn vạ đòi qùa. Tiếng khóc nghe não lòng giữa đêm
đông lạnh, trong căn hộ tầng năm chỉ có hai bóng người cô đơn, không
cùng huyết thống, sống vật vờ kìm hãm sự khát thèm đực cái. Hồi lâu,
tôi bước vào, ngồi xuống mép giường lựa lời khuyên giải và hỏi nó vì
sao làm thế. Nó bảo: “Từ chập tối, thấy chú chuẩn bị đi công tác lần
này khác hẳn mọi lần, cháu sợ lắm. Cháu sợ chú sẽ đi mãi không về,
nhốt cháu suốt đời ở đây thì sống làm gì, thà chết còn hơn!” “Bậy
nào. Chú có thể sẽ đi lâu hơn mọi lần, nhưng nhất định sẽ về với
cháu. Đấy không phải lý do cháu lên gường đòi ngủ với chú.” – Tôi
động viên nó mà như căn vặn, nào ngờ nó nói một lèo thẳng tuột:
“Cháu chẳng cần gì hết, chỉ cần được ra ngoài cửa sắt. Chú ác lắm,
nhốt cháu lâu thế thà giết cháu đi còn sướng hơn. Cháu thèm được ngủ
với đàn ông một lần còn hơn thèm ăn, thèm uống, chú có biết đâu. Chú
nhốt cháu trong cửa sắt, khóa kỹ mấy ổ, hễ có đàn ông đến nhà động
chạm một tý là chú mắng, chú phạt cháu. Cháu hết chịu nổi rồi. Nhiều
đêm cháu muốn rồi lại sợ, giờ cháu thà liều ngủ với chú cho biết mùi
rồi chết còn hơn đợi chú đi không về, nhốt cháu suốt đời.” Chao ôi!
Cái nghĩa đời tự do hay là chết lại bật ra từ miệng cô gái người
Mông trì độn, chưa nói thạo tiếng Kinh đã khai thông tuệ giác, mở
mắt cho thằng tôi. Vì muốn sự an toàn cho Chúc, tôi đã vô tình cầm
tù một con người. Cửa sắt và những ổ khóa có thể ngăn cách cơ thể nó
với thế giới bên ngoài, nhưng không thể giam hãm mọi ý nghĩ và khát
vọng tự do được làm đàn bà của nó.
Chúc căm thù tôi là đúng quá. Nó nổi lọan vào cái
đêm trước chuyến đi Hà Giang tìm Chù Mìn Phủ làm tôi nhớ lại lời
than về sự quả báo năm nào của anh trên chiến trường biên giới và cả
cái điệp khúc “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa” mà Thào A Máy đã từng hát
giữa cơn điên. Thì ra lời đồn thổi về những cô thanh niên xung phong
thời chống Mỹ, sống giữa rừng Trường Sơn nhiều năm không gặp bóng
đàn ông đã hóa điên lên là có thực. Tôi cần nhanh chóng trả tự do
cho Chúc, nếu không sẽ gặp quả báo bởi chính tôi cũng không dám chắc
mình sẽ kiềm chế được mãi, khi Chúc tiếp tục nổi loạn. Chuyến đi Hà
Giang lần này sẽ là lần cuối. Tôi phải tìm cho ra tung tích của Chù
Mìn Phủ, trả lại tên Chù Thào Mỷ cho Chúc để nó tự do về sống giữa
rừng đại ngàn, dù phải ở lại bao lâu tôi cũng cố.
6- Chiếc xe của đài truyền hình đến đón tôi lúc mờ
sáng. Gã đạo diễn nhìn bộ dạng phờ phạc của tôi nói móc: “Ái chà,
ông bác đêm qua chắc làm việc nhiều, lử cò bợ còn gì. Ta khẩn trương
chạy đến Vĩnh Yên ăn sáng, rồi vòng theo đường tắt sau lưng Tam Đảo,
qua Sơn Dương đi cầu Nông Tiến đến thị xã Tuyên Quang ăn trưa. Cả
đoàn cố gắng có mặt ở thị xã Hà Giang đầu giờ chiều, bắt tay vào
việc luôn. Phỏng vấn chớp nhoáng các sếp trên tỉnh một buổi chiều
nay thôi, tối hoặc sớm mai ta về tuyến huyện.” Gã vừa nói vừa nháy
mắt cho cả đoàn, ngầm ý đe dọa cái thân già tội nghiệp sau một đêm
mất ngủ. Đôi mắt thâm quầng của tôi mách bảo gã thế. Những ánh mắt
tò mò, những nụ cười mỉm của đoàn làm phim cho thấy họ ngờ vực quan
hệ giữa tôi và Chúc. Đời bây giờ sống cho tử tế, nói lời thanh cao
đều là sự xa xỉ. Cả cuộc hành trình dài đường núi và kế hoạch làm
việc trên tỉnh bị gã đạo diễn gói trọn trong ngày. Nó không chỉ nhằm
đe dọa tôi, như gã võ đoán đã dốc cạn thứ nước tình suốt đêm, mệt lử
cò bợ mà còn là thực tế nghiệt ngã của cái nghề mang danh nghệ
thuật. Mỗi bộ phim tài liệu 30 phút ở đài đã được khoán trắng là 15
triệu, thanh toán sau khi duyệt và phát sóng. Hay dở, khó dễ đều như
nhau tất. Tội gì gã phải nắn nót từng khuôn hình, tâm đắc với chủ
đề. Gã phải “mì ăn liền”, đi nhanh, quay nhanh, phỏng vấn chớp
nhoáng, nhặt nhạnh thêm các cảnh quay cũ hay của đồng nghiệp càng
nhiều càng ít, miễn sao đủ thời lượng, phim tạm coi được để lĩnh
tiền. Hắn từng bảo: “Vợ em là con sư tử cái, mỗi phim phát lên sóng
là nó về nắn ví, moi đủ hai triệu tiền công đạo diễn. Không giảm tối
đa các chi phí, em lấy tiền đâu ném cho các ả điếm.
Mẹ kiếp! Chuyến đi nào không bắn được vài phát kể
như em mất hứng. Với kiểu thù lao cá mè một lứa này, đời nghệ sĩ của
em đã bị con sư tử cái ở nhà và các ả điếm dọc đường cầm tù từ lâu
rồi.” Nghe mà khiếp, nhưng tôi đâu có hơn gì gã. Kịch bản nào của
tôi dù đề tài có được ấp ủ, dù hình tượng có được mài truốt thì đến
khi vào tay gã thảy đều bị vặt trụi thui lủi, phần vì phim phải được
duyệt, phần vì tiết kiệm chi phí. Phản đối ư? Sẽ có anh khác chen
vào ngay tắp lự và tôi sẽ mất toi một triệu nhuận bút, gấp mấy cái
truyện ngắn trên báo văn chứ bỡn. Phim dựng xong, nhìn vào tôi không
nhận ra là của mình, vẫn phải bấm bụng, căng mắt ra đọc băng mà viết
nốt lời bình, nhận thêm nửa triệu nữa để mà tồn tại, nuôi thêm một
miệng ăn là Chúc. Lâu rồi thành quen, nhất là từ khi nhận nuôi Chúc,
tôi viết kịch bản theo gu của gã để nhanh có tiền. Từ chỗ bị gã cầm
tù, tôi phải chủ động tự cầm tù ngòi bút của tôi để có đủ tiền cầm
tù đời đàn bà của Chúc, cũng như gã đạo diễn chấp nhận sự cầm tù của
vợ và điếm để cầm tù cây bút của tôi. Cuộc đời này là xâu chuỗi
những cá thể tự cầm tù, bị cầm tù hay cầm tù kẻ khác mới là cuộc đời
ư? Sao phũ phàng thế? Tôi đi tìm Chù Mìn Phủ để giải thoát cho Chúc
hay đang tìm đường giải thoát cho chính mình?...
7- Xe lắc lư chạy trên con đường tắt quanh co sau
lưng núi Tam Đảo. Lúc dừng lại ở Vĩnh Yên ăn sáng, tôi không sao
nuốt nổi, miệng đắng ngắt, khí đầy, dạ chướng. Tôi nhắm mắt, ngả
người vào thành ghế, muốn ngủ một giấc sâu để quên đi sự việc hồi
đêm, quên đi mọi nỗi dày vò và cả những ánh mắt hoài nghi, những lời
nói móc của đám bạn trẻ trong đoàn làm phim. Làm sao che được miệng
thế gian hở Chù Mìn Phủ? Làm sao có thể tưởng tượng nổi đêm qua tôi
lại nhìn thấy nốt ruồi đỏ hở Thào A Máy? Hễ nhắm mắt vào là tôi lại
thấy hiện ra bao kỷ niệm chiến trường với hai người đồng đội. Cái
đêm đi trinh sát, tôi bị rắn cắn anh xé áo, thắt ga rô vào bụng chân
tôi rồi ghé miệng vào vểt thương hút hết máu và nọc rắn. Chị đi soi
đèn tìm lá thuốc nhai và đắp vào vết thương. Chân tôi sưng tấy, khắp
người tê dại, không sao lê bước, trán vã mồ hôi. Hai người thay nhau
cõng bạn dưới mưa phùn, leo dốc núi đường trơn, tìm nhà dân chạy
lọan để ngủ tạm qua đêm. Qua mấy ngôi nhà cháy, xác người và xác
trâu chết trương bốc mùi khăn khẳn, chúng tôi mới tìm được chỗ trú.
Bữa đó, chị trổ tài đảm đang của cô gái người Mông, đãi tôi món đặc
sản mèn mén quê mình. Chị đi lùng xục khắp xóm mới mang về một ít
bột ngô, bắc chõ đồ lên thật khéo, nom như xôi vò dưới xuôi. Tôi ăn
mèn mén, ăn cả tấm lòng thơm thảo của anh chị, bởi khi buông bát tôi
chợt nhận ra hai người chỉ ăn nắm lá bí già, luộc lên nhai như nhai
rơm. Đêm ấy anh kể tôi nghe chuyện cách mạng văn hóa bên kia biên
giới. Báo chữ to dán đầy các chợ đường biên, phái này vừa trương
lên, phái khác bóc ra thay bài khác, toàn những từ ngữ dữ dằn: đả
đảo, tiêu diệt, phanh thây, xé xác…
Và họ làm thật bằng đấu tố, đánh đập, tử hình, kéo
lê xác người trên đường trong tiếng gào thét tiêu diệt phần tử “hắc
bang”. Tôi hỏi: “Ai tiêu diệt ai?” Anh đáp: “Vẫn là người Mông hay
người Dao cả thôi. Hôm nay mày là bạn học, thầy giáo, đồng chí,
người thân thì bỗng sáng mai thành “hắc bang”, phải đấu tố, phải
giết hết để tao mới là cách mạng tới cùng”. Tôi nghe như chuyện dưới
âm ty địa ngục, nửa tin nửa ngờ, thấy vậy chị bảo: “Hồi ấy, nhiều
phần tử “hắc bang” trốn sang bên này được cưu mang, nhưng cũng không
thoát đâu. Hồng vệ binh tràn sang truy lùng, sâu tay họ vào dây thép
rồi dẫn về bên kia chôn chung một hố.” Chúng tôi lầm rầm bàn tán,
cùng thở dài ngao ngán. Chao ôi cái kiếp nhân sinh giữa thời tao
lọan! Bên kia cách mạng thời đó, bên này chiến tranh bây giờ, giống
nhau cả thôi, bao giờ mới dứt? Tôi thiếp đi giữa cơn đau rắn cắn
dưới chân, nỗi buồn nhức nhối trong tim chuyện đời.
8- Gã đạo diễn chọn con đường tắt vừa ngắn hơn vài
chục cây số, lại vừa đẹp tuyệt vời. Con đường quanh co uốn lượn giữa
khe núi, triền đồi. Màu lam của cánh rừng già trên vách núi phía xa
xen lẫn màu xanh non của những búp chè trải ra mênh mông trước mặt,
trên các quả đồi thoai thoải. Những mái nhà yên bình nép trong các
vườn xoài trĩu quả và bóng cô sơn nữ hiện ra như trong cổ tích của
miền gái đẹp “trà Thái gái Tuyên”. Mấy năm gần đây, vùng này phát
triển giống xoài xanh vỏ chín lòng, ngọt sắc hơn giống xoài Nam Bộ.
Lần nào đi qua con đường này gã đạo diễn cũng bắt lái xe dừng lại
nhiều chặng để ghi hình những cảnh quay ngẫu hứng bắt gặp ở những
thời điểm khác nhau.
Công bằng mà nói, gã là một đạo diễn có tài. Trong
lưu trữ cá nhân của gã có rất nhiều cảnh lạ ở góc quay và thời khắc
độc đáo mà bạn cùng nghề không dễ gì có được. Cũng một cảnh hoàng
hôn trên rừng, bình minh dưới biển, hắn có thể tạo ra hàng trăm cảnh
khác nhau, cái nào cũng mới, cũng lạ, làm tôi xao xuyến. Gã vặt trụi
kịch bản của tôi là bởi có làm cũng chẳng được gì chứ gã thừa sức
làm hơn thế. Thường thì chúng tôi dừng lại khá lâu ở quán vườn xoài
của bà Ten người xứ đạo Nghĩa Hưng- Nam Định. Chúng tôi ngồi uống
trà, ăn xoài, nghe bà kể chuyện cải cách ruộng đất ở quê. Cha chết,
anh bị đi tù, bà xách bị đi ăn mày rồi lấy chồng người Tày, lập
nghiệp ở đây, con đàn, cháu đống vẫn không thoát được cảnh nghèo.
Đứa vào Tây Nguyên khai hoang, đứa đi làm vú nuôi bên Đài Loan, mình
bà mở quán nuôi mấy đứa cháu nội ngoại lít nhít, lê la trong vườn.
Cái lần đi Mèo Vạc tìm gặp cha xứ đạo Tin lành, tôi đã ghé quán, nhờ
bà hỏi thăm tin tức Chù Mìn Phủ và Thào A Máy từ khách qua đường,
may ra có kết quả. Bà Ten thấy tôi mừng quýnh, khoe đã gặp được Thào
Mý Pảo, chị họ của Thào A Máy. Chị ta để lại địa chỉ ở thị xã Hà
Giang, xác nhận tin Thào A Máy đã chết, muốn nhận nuôi đứa cháu gái.
Trong tôi nhen lên một chút hy vọng. Có thể người đàn bà này sẽ giúp
tôi đi tìm Chù Mìn Phủ. Chí ít thì tôi cũng có chỗ tin cậy để gửi
Chúc về quê cho người thân của nó. Bà Ten nói xa: “Thời buổi thật
giả lẫn lộn, ác nhân giả nghĩa nhiều như trấu, chẳng vội tin ai
sất.” Tôi hỏi: “Sao thế?...” Bà lẳng lặng nhai trầu, ngập ngừng nói:
“Chị ta giàu lắm!... Người đẫy đà, ăn mặc diêm dúa, đi xe Nhật đời
mới sang hơn cả ông Chủ tịch tỉnh…” Tôi cười hỏi lại: “Giàu thì càng
tốt chứ sao? Con bé càng được nhờ vả.” Bà đáp: “Ấy là tôi thấy bác
mấy năm qua hết lòng vì con bé nên nói xa vậy. Bác tính, bây giờ
người Mông như chị ta hay người Tày như ông lão và lũ con tôi vẫn
khổ khác gì chó ngựa đâu. Kẻ giàu phất lên ở miền biên viễn này,
không là quan tham thì cũng phường buôn thịt bán người, mèo mả gà
đồng cả, tâm địa khó lường.” Bà Ten nói rồi thở dài, hướng cặp mắt
vào trong vườn xoài, la hét bầy cháu nội ngoại lẫn với đàn lợn con
mốc meo, bẩn thỉu đang vầy đất, chửi nhau chí chóe.
Con người nhân hậu đã qua kiếp trầm luân, bể khổ
hơn sáu chục năm rất hiểu và thương bé Chúc vào cái ngày tôi đưa nó
về Hà Nội, ghé quán xin nghỉ tạm và nhờ bà mua thuốc cho nó. Từ bữa
ấy, nhất là sau chuyến đi Mèo Vạc, lần nào qua đây bà cũng hỏi thăm,
gửi quà cho Chúc. 14 tuổi đầu, cha anh bị đấu tố, người bị tử hình ở
gốc muỗm trước chợ làng, người bị đi tù ở Hà Giang nổi tiếng ma
thiêng, nước độc. Cô Ten khi ấy có tên là Mơ, xách bị đi ăn mày, lần
mò lên miền ngược hy vọng có cơ hội thăm và tiếp tế cho người anh.
Qua đèo Khế, thuộc địa phận Sơn Dương thì cô bị bắt. Lão chủ nhiệm
và hai gã dân quân người Tày nghi cô là Việt gian, nhốt vào kho của
hợp tác xã. Đêm đêm, ba thằng giời đánh thánh vật mò vào thay nhau
cưỡng hiếp cô hết đợt này đến đợt khác. Ba cái của nợ to, dài, đen
như dái ngựa cứ chọc ngoáy liên hồi làm cô đau rát, buốt đến lộng
óc. Không có nước rửa, quần áo để thay nên sau mỗi lần như thế, máu
của cô và tinh dịch của chúng ộc ra nhây nhớt trên đùi, khô lại, bốc
mùi khăn khẳn. Cô muốn đập đầu vào tường chết theo cha, song phải
cắn răng chịu đựng để tìm anh trai. Sau đó, lão Chủ nhiệm muốn phi
tang, bắt cô phải lấy Sùng Ten, một con nghiện quanh năm sợ nước,
người cáu bẩn, hôi như chuột trù. Cô làm vợ Sùng Ten được đứa con
trai đầu khỏe mạnh thì chẳng biết của ai, còn ba đứa con gái với lão
chồng nghiện thuốc phiện thì ốm quay ốm quắt, xanh như tàu lá
chuối…Giờ anh con trai bà Ten đưa vợ vào Tây Nguyên khai hoang, ba
chị con gái chẳng đứa nào lấy chồng mà vẫn đẻ con.
Tất tật chúng nó không ai bảo ai đều ném con lại
cho bà chăm sóc, đi tìm miếng ăn ở nơi chân trời góc bể. Có lần bà
nói mà như cật vấn tôi: “Bác sống gần trung ương, đi nhiều, hiểu
rộng hơn mụ nhà quê, hãy chỉ vẽ cho chứ tôi thì chịu. Tôi sống gần
trọn một kiếp người vẫn không hiểu nổi vì sao ba đứa con gái mình
dứt ruột đẻ ra lại phải bán hết nhà cửa mới đủ tiền nộp cho công ty
môi giới trên thị xã, ném con cho bà ngoại chỉ để đi làm đầy tớ bưng
bô, hót cứt ở xứ người, hở giời? Ở cái xứ Đài Loan ấy làm kẻ tôi đòi
cũng sướng hơn làm người tự do bên ta hay sao?” Có lẽ bằng sự trải
đời của mình nên bà Ten đã giúp tôi hỏi thăm khách qua đường về lai
lịch của Thào Mý Pảo. Hồi chiến tranh biên giới, chị ta không vào
dân quân, cũng không đi sơ tán về Tuyên Quang hay Phú Thọ. Chị ta
chạy sang bên kia biên giới với kẻ mạnh để làm ăn, buôn bán. Giờ chị
ta giàu có, quay về bắt nhân tình với một ông cỡ bự bên này nên các
lão bản Trung Quốc hay chủ nhỏ Việt Nam đều phải nhờ vả. Cứ theo bà
Ten thì tôi chưa thể cả tin giao gửi số phận Chúc cho chị ta vội.
Tôi vẫn phải đi tìm Chù Mìn Phủ trước đã. Lý lẽ của bà chắc như đinh
đóng cột, chứ tôi đâu dám nhận mình đi nhiều hiểu rộng hơn bà. Lời
bà Ten như gáo nước lạnh, dẫu sao tôi đã có một cái tên Thào Mý Pảo
để mà bấu víu, để mà hy vọng. Cái tên rất đẹp, dịch từ chữ Hán nghĩa
là Đào Mỹ Bảo vì tiếng Mông hai âm Mỷ và Pảo đứng liền sẽ đọc Mỷ
thành Mý. Chúc của tôi đã có được đám bèo khô giữa dòng đời cuộn
xoáy từ một cái tên hoa mĩ ấy. Tôi cũng đâu dám thổ lộ với bà Ten về
cuộc nổi lọan của Chúc hồi đêm. Chia tay bà, tôi lên xe xốn xang,
khấp khởi. Năm năm chờ đợi tôi mới có được nguồn tin quý giá. Chúc
ơi! Cầu trời con sẽ gặp may!...
9- Tửu lầu đặc sản Hoa Việt nằm ở mé Tây- Bắc thị
xã, giữa một khuôn viên rộng, án ngữ hai mặt phố chính. Mấy năm
trước tôi qua, nơi đây còn là những dãy nhà lụp sụp, tường đất, ngói
ống. Nay những người dân ở đó bị giải tỏa đi đâu không rõ, chỉ nghe
đồn bà chủ dự án khu đô thị mới Thào Mý Pảo đầu tư một vốn trăm lời,
chia lô bán đất là chính, còn tửu lầu liên doanh với lão bản Trung
quốc tọa lạc trên mười lô đất đẹp nhất. Tầng một là nhà hàng đặc
sản, tầng hai là các phòng tắm hơi và chơi bài mạt chược, từ tầng ba
trở lên là các phòng ngủ, thảy đều nguy nga, tráng lệ, ngang tầm
khách sạn ba sao ở Hà Nội. Văn phòng của bà chủ Thào Mý Pảo đặt ở
ngôi biệt thự xinh đẹp, nằm giữa khuôn viên của tửu lầu Hoa Việt.
Chị ta lướt nhìn vẻ bần hàn của tôi, khẽ nhếch miệng cười, lạnh lùng
hỏi khách dùng cà fê Trung Nguyên hay trà Long Tỉnh. Tôi cám ơn,
muốn dùng tách trà xanh Quản Bạ rồi đi ngay vào việc, muốn chị ta kể
rõ về mối quan hệ huyết thống với Thào A Máy. Câu chuyện của chị ta
gieo trong tôi nỗi nhớ dòng sông một thời đỏ máu, mường tượng lại
cảnh chia tay của hai chị em con thúc bá người Mông, thôn Sủa Cán
Tỷ. Vào đêm thứ hai, sau ngày khai hỏa cuộc chiến tranh biên giới,
họ ngồi trên chiếc cầu treo, nhìn xuống dòng sông Miện lượn lờ quanh
xóm nhỏ.
Cô chị bảo: “Em đi với chị sang bên ấy mới thực an
toàn. Cuộc chiến này khủng khiếp quá! Xác người trôi tanh cả nước
sông Miện. Mới lọat đạn pháo đầu của bên ấy bắn sang, hai nhà ta
chết chẳng còn ai, may chị em mình đi hát lượn mà thoát.” Cô em vừa
khóc vừa nói: “Chị đi một mình thôi. Nhớ đi thật xa biên giới, vào
hẳn huyện lỵ Mai Pho nương nhờ người quen, chờ hết chiến tranh hãy
về. Em là dân quân phải ở lại thôi, kỷ luật mà. Lỡ mai em chết họ
Thào ở Sủa Cán Tỷ vẫn còn có chị.” Họ chia tay trong nước mắt và đạn
pháo hai bên biên giới bắn sang nhau đỏ lòe, chíu chíu xé rách trời
đêm…Thào Mý Pảo rót trà ân cần: “Anh uống thêm một chút trà cho ấm
dạ.” Tôi nâng tách trà, cay mũi, nghèn nghẹn trong cuống họng. “Làm
sao chị biết Thào A Máy đã chết?”- Tôi hỏi. Thào Mý Pảo kể tiếp,
giọng trầm hẳn xuống: “Nhiều năm tôi về tìm em không thấy. Sủa Cán
Tỷ vẫn nghèo xơ xác, người khổ như chó ngựa, chỉ so với người thị
trấn Tam Sơn, cách nhau một quả núi đã như một kiếp sống khác thì
tôi ở lại quê làm gì. Tôi trở lại Mai Pho buôn hàng lậu qua các
huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc. Một lần tôi ở Mèo Vạc nghe chuyện
về người đàn bà điên, linh tính mách bảo tôi thuê người đào mộ, tìm
thấy đôi hoa tai bằng bạc có khắc chữ Thào nên nhận ra nó. Tiếc
rằng, khi đến nhà thờ Tin lành, con nó lại vừa bị lừa bắt đi ít
ngày. Năm ngoái tôi gặp bà Ten, nhưng bà ấy cũng đánh mất tờ giấy
ghi địa chỉ của anh.” Lại một lần nữa tôi nhòa lệ, mường tượng ra
hình ảnh Thào A Máy.
Có lẽ cha xứ đã không muốn kể lại cái chết bị thảm
của cô, nhưng Thào Mý Pảo đã kể rành rõ. Cô đi tìm chồng bị tù, lạc
đường, kiệt sức nằm chết ở bờ ruộng ngô, phân cách đất của hai nhà
người La Chí. Nhà này bế con cô về nuôi, nhưng lén hắt xác cô sang
ruộng bên cạnh vì sợ chôn ở ruộng mình con ma sẽ về bắt mất đứa bé.
Nhà kia thấy vậy chửi bới một hồi, hắt xác cô sang ruộng của người
nhận nuôi con cô. Cứ thế cái xác hắt qua hắt lại, kiến bu đầy, áo
quần tơi tả. Chuyện đến tai cha xứ nhà thờ Tin lành, ngài ra phân
giải, bỏ tiền thuê người chôn xác cô ở nơi khác, xa ruộng của hai
nhà và đem Chúc của tôi về nuôi. Thế là ngần ấy năm tôi và những con
người bất hạnh kia đau đáu tìm nhau, ngơ ngác giữa đời. Không còn
nghi ngờ gì nữa, ngoài Chù Mìn Phủ ra, Thào Mý Pảo là người thân gần
nhất của Chúc. Tôi đưa ảnh của Chúc ra, chị ta trầm trồ khen nó đẹp,
giống Thào A Máy như tạc. Chị ta thật lòng biết ơn tôi đã che chở,
đùm bọc cháu mình suốt năm năm, hứa sẽ bù đắp cho tôi xứng đáng,
nhưng tôi đâu cần được trả ơn. Lời nói xa của bà Ten làm tôi áy náy
phân vân. Tôi biết, tài sản của Thào Mý Pảo ở Mai Pho bên kia biên
giới còn lớn gấp nhiều lần ở Việt Nam. Tôi còn nghe, tiền, vàng của
chị ta đủ mua nửa cái thị xã vùng biên này. Chúc về với chị ta sẽ
một bước lên ngôi quận chúa, bởi chính chị ta đã nói: “Thào A Máy và
cả họ Thào ở Sủa Cán Tỷ đã chết thảm vô ích để bây giờ một lũ ác
nhân có nhà to, xe đẹp, thịt cá nhờn môi, gái đĩ bu đầy. Bao năm làm
ăn tôi lạ gì chúng nó, điếm mồm, đen ruột tất. Tôi phải đòi lại công
bằng, phải làm bà chúa người Mông để tất cả lũ có quyền, có tiền ở
cả hai bên biên giới phải chui qua háng tôi mà đớp hít. Cháu tôi
cũng phải thành quận chúa vùng biên mới hả.” Tôi nghe cũng hả, song
cảm thấy rờn rợn, phấp phỏng lo cho số phận của Chúc sau này. Rời
tửu lầu Hoa Việt, tôi thầm nhủ lòng hãy cứ nghe lời bà Ten, thử đi
tìm Chù Mìn Phủ lần cuối xem sao.
10- Trời sẩm tối. Gã đạo diễn nổi hứng quyết định
cho xe đưa đoàn lên huyện Quản Bạ. Gã nói: “Đây lên Quản Bạ chỉ hơn
bốn chục cây số. Ta ngủ ở đó, mai kịp làm việc sớm”. Cả đoàn miễn
cưỡng ra xe vì ở mỗi đoàn làm phim lệnh của đạo diễn là bất khả
kháng, nhưng ai cũng ngán đi đêm lên dốc Sum. Quả thật từ thị xã đi
Quản Bạ chỉ có 45 km, nhưng riêng dốc Sum đã dài hơn 20 km, quanh co
gấp khúc. Lên khỏi dốc Sum đã là Cổng Trời cơ mà. Họ đưa mắt sang
tôi cầu cứu, chờ đợi tôi dẫu sao cũng là khách mời sẽ dám bàn ngang.
Thật lòng tôi nửa muốn đi nhanh lên Quản Bạ, nửa cũng ngán dốc Sum.
Tôi ghé tai gã đạo diễn bông phèng đón ý: “Đã bắn phát nào chưa?
Muộn rồi. Hay ta ở lại thị xã đêm nay, mình cũng muốn thử cho biết.”
Gã ôm bụng cười ngất: “Bác nhà văn cuối cùng cũng nhiễm độc tụi em
này rồi. Đời là mấy tý.
Vợ bỏ đi Nga tội gì bác phải ép xác tu hành. Nhưng
hãy gượm đã, đợi lúc quay về hẵng thử, bác ạ! Em mới tia được một
động cao cấp, trên cả tuyệt vời.” “Ở đâu thế?”- Tôi hỏi. Gã ghé tai
tôi thì thầm: “Tửu lầu Hoa Việt có vài chục ả, con nào cũng ngon
lành, phòng ốc sang trọng, có bảo kê nên an toàn tuyệt đối. Mụ chủ
là bà chúa ở đây, không ai dám đụng. Nghe nói, hàng lậu bên kia
sang, việc đầu tư đất đai bên này, kể cả buôn bột trắng hay cơm đen
mụ ta làm tuốt.” Tôi choáng váng trước tin giật gân, lảo đảo lên xe,
chỉ mong thoát nhanh ra khỏi thị xã. Tôi vừa tìm thấy người thân cho
Chúc lại bồn chồn lo cho chính Thào Mý Pảo. Cái tham vọng làm bà
chúa người Mông kia lớn quá, khiến chị ta bất chấp tất cả. Đi đêm
nhiều ắt gặp ma, luật đời là thế. Gã đạo diễn biết thì thiên hạ đều
biết. Người ta đang nuôi béo một con mồi để úp nơm cho đầy giỏ đó
thôi, sẽ có lúc chị ta trắng tay vào tù, lúc đó đời Chúc sẽ ra sao?
Ác nhân gặp ác nhân, biết đâu có ngày những thằng chui qua háng của
chị ta đớp hít kia lại ngồi phán xét tôi trạng bà chúa người Mông.
Vả chăng cái ngôi vị quận chúa xây đắp bằng những đồng tiền nhơ
nhớp, nếu Chúc có được hưởng nào có sung sướng gì… Bao nhiêu ý nghĩ,
phỏng đoán dồn dập trong đầu, khiến lòng tôi như có kiến đốt. Xe đưa
tôi leo dốc Sum lúc nào không rõ. Chân dốc này còn in đậm trong tôi
kỷ niệm khó phai. Chia tay Chù Mìn Phủ và Thào A Máy, tôi như người
chơi vơi rơi giữa khoảng không. Cuộc chiến này thật vô nghĩa và tôi
cũng chán ngán sự bắn giết, dù để tự vệ vẫn cứ là tội ác. Đôi chân
vô định theo bản năng sinh tồn đưa tôi vượt qua Cổng Trời, xuống dốc
Sum về xuôi. Đến chân dốc, tôi bị quân cảnh giữ lại hỏi giấy tờ, bắt
giam tức khắc. Hồi đó, đám lính biên giới chúng tôi đảo ngũ rất
nhiều. Bọn tôi thường đặt lại lời một bài hát thời chống Mỹ: “Ta là
con của bố ta, mẹ ta. Nhớ nhà là ta cứ ta về. Ta không cần ba lô,
không cần hăng gô, quê nhà ta đó, em yêu đợi ta…” Vì vậy từ chân dốc
Sum đến thị xã có vài trạm gác của quân cảnh đón lõng những lính đảo
ngũ. Tôi cũng đảo ngũ như Chù Mìn Phủ, nhưng anh về với rừng đại
ngàn của anh, tư do tự tại, còn tôi chỉ có một con đường độc đạo qua
dốc Sum thì thoát sao nổi. Họ giam tôi nửa tháng ngồi viết kiểm điểm
rồi giáng cấp từ hạ sĩ xuống binh nhì, điều đi đơn vị khác. Tôi phải
xa mặt trận ở Quản Bạ, càng mờ mịt tin tức về Chù Mìn Phủ và Thào A
máy…
Xe khựng lại, chết máy ở ngay Cổng Trời. Gã đạo
diễn bảo vẫn còn may vì nếu ở lưng chừng dốc mới thật khốn nạn. Giữa
dốc không có nơi trú nhờ qua đêm, cũng khó tìm được xe đủ sức kéo
lên dốc trong đêm tối. Cổng Trời có trạm tiếp sóng của đài truyền
hình tỉnh và trạm viba của ngành bưu chính viễn thông, nằm trên hai
đỉnh núi ven đường. Mỗi trạm chỉ có ngót chục người, sống gần như
tách biệt với thế giới xung quanh nên rất hiếu khách. Thật hú vía,
xe chết máy ở ngay chân núi có trạm viba, ở đó có kỹ sư trạm trưởng
quen biết với gã đạo diễn. Chúng tôi hò nhau đẩn xe ra vệ cỏ, áp sát
chân núi. Đường lên trạm viba dựng đứng, có đến hơn ngàn bậc xi
măng, lại phải mang vác đồ nghề, hành lý làm chúng tôi thở dốc, đầu
gối run run muốn khụy xuống. Tôi leo được đến cái sân rộng, có đặt
cột thu sóng tưởng mệt đứt hơi. Trưởng trạm là chàng trai chừng
ngoài 30 tuổi. Anh hớn hở ra sân, chầm vập ôm chặt từng người, luôn
miệng: “Khách quý!... khách quý!...”. Đoàn chúng tôi như sứ giả của
niềm vui đến với những con người cô đơn. Trưởng trạm la hét mọi
người bật hết các ngọn đèn trong nhà, ngoài sân sáng trưng như đêm
hội hoa đăng. Trong lúc mọi người tỏa đi tất bật bắt vịt nấu cơm đãi
khách, tôi lững thững ra sân ngắm vườn phong lan của trưởng trạm.
Anh có cả một bộ sưu tập khá phong phú, nhiều giò
lan quý: tai trâu, vẩy rồng, đuôi chồn, quế hương, kiều đạm thanh,
nữ hoàng, hồ điệp… Anh bảo: “Chúng em ở đây như kiếp tù giam lỏng,
chỉ có công việc, hoa lá, chim muông và gió trời làm bạn.” Hay thật,
chuyến đi này tôi gặp toàn những số phận bị cầm tù hay cầm tù kẻ
khác. “ Tôi động viên anh: “Chính sách có rồi, tuổi trẻ các bạn gắng
chịu cực vài năm, tích lũy kinh nghiệm rồi Nhà nước sẽ điều chuyển.”
Anh nhếch miệng cười buồn đáp: “Chính sách do con người đặt ra thì
con người cũng có quyền tùy tiện áp dụng. Những thằng kỹ sư ra
trường bị cầm tù ở các trạm lẻ như em chỉ có hai loại, một là thiếu
tiền lo lót, hai là có tài thì mang vạ.” “Thế như cậu thì thuộc loại
nào?”- Tôi hỏi. Anh nói gằn giọng: “Đời bây giờ toàn thằng bất tài,
mỏng đức nắm quyền nên họ chỉ ưa dùng dưới trướng đứa nào dễ bảo
hoặc ngu hơn mình mới mong ngồi vững ghế. Một thằng oắt con như em,
dám to mồm phê các sếp lập nhiều dự án vô tích sự hay mua mấy phần
mềm vớ vẩn mà mình cũng làm được thì bị phắn đi xa, giam lỏng ở trạm
lẻ còn là may, có khi còn bị vu cáo hay lừa cho vào tròng rồi ngồi
bóc lịch trong nhà đá là đằng khác.” “Và vì thế cậu có dịp làm bộ
sưu tập phong lan tuyệt vời.” – Tôi vỗ vai anh thông cảm. Anh kể
rằng, mấy năm nay nếu không có ông lão khùng khùng điên điên người
Mông đến bán phong lan, có lẽ anh sẽ buồn nẫu ruột vì nhớ nhà. Ông
ta cũng đã từng ngồi tù vì tội đảo ngũ và chống người thừa hành công
vụ.
Bà vợ điên bế đứa nhỏ bỏ nhà đi mất tích. Ra tù,
nhà cửa, trang trại ở Bát Đại Sơn bị vào tay kẻ khác, đi khắp nơi
tìm vợ con không thấy, ông lang thang làm nghề kiếm lan rừng mang ra
chợ bán, lúc say lúc tỉnh, khùng khùng điên điên, chẳng ai dám dây
vào. Mỗi lần có giò lan quý, ông đều mang lên trạm viba vì được giá
hời, lại được uống rượu say bét nhè, thổi khèn và nằm khóc tu tu.
Anh trạm trưởng không biết tên ông là gì vì ông không chịu nói, cứ
bảo gọi là lão khùng được rồi. Tôi mừng như bắt được vàng, cuống
quýt hỏi thăm xem có cách nào tìm gặp ông già bán phong lan. Anh dắt
tay tôi đến bên gốc cây có treo giò phong lan lạ và bảo: “Đây là lan
liễu tím, còn một loại nữa là lan liễu trắng, thứ lan chỉ gặp ở rừng
Cao Bằng hay Hà Giang mà thôi. Lan liễu mọc thành chùm như cỏ dại,
trên các chạc cây cổ thụ. Lan liễu tím thân mảnh, xõa tóc dài hàng
mét, còn lan liễu trắng thân mập một chút và xõa tóc ngắn hơn. Cả
hai loại ra hoa khi nở nom như chiếc hài, tỏa hương thơm rất dịu.
Trưa nay ông lão gùi đến khá nhiều phong lan, chỉ có một giò lan
liễu tím, hứa sẽ tìm thêm lan liễu trắng cho đủ bộ. Mai bác nhà văn
cứ ra chợ huyện, chắc sẽ gặp vì còn nhiều giò lan khác em không lấy,
nhưng vẫn trả tiền để ông mang ra chợ bán lần nữa lấy tiền uống
rượu.” Đêm ở trạm viba tôi nằm thao thức, không sao chợp mắt nổi,
mong trời sáng ra chợ huyện tìm ông lão bán phong lan. Lại thêm một
kiếp tù tôi sẽ gặp, liệu có phải là Chù Mìn Phủ?...
11- Chợ huyện Quản Bạ nằm trên đường phố nhỏ, ở mé
Tây thị trấn Tam Sơn. Vì không phải ngày phiên nên chợ vắng hoe,
chỏng trơ mấy phản thịt, dãy hàng xén và mấy dãy hàng rau. Người
Mông, người Dao ở các xã chỉ lên chợ huyện vào buổi sáng phiên chợ
ngày chủ nhật. Tôi đi miết chưa tìm thấy ông lão theo mô tả diện mạo
của anh trưởng trạm viba. Ở dãy hàng rau cuối cùng có dăm người bán
phong lan, tôi hỏi thăm họ chị lắc đầu. Tìm quanh quẩn mãi, tôi mới
phát hiện ra ở ngoài chợ , áp mặt tường phía Bắc có dãy hàng ăn. Một
ông lão say rượu đang thổi khèn cho đám trẻ con thị trấn nghe. Từ xa
tôi đã nghe thấy điệu khèn thổi quen thuộc. Bên tai tôi vẳng lên
điệp khúc mà Thào A Máy đã hát năm nào: “Xi tùa, nể tùa, mi dầu
tùa…” Tôi len vào giữa đám đông nhìn kỹ. Chù Mìn Phủ đấy ư? Một ông
già tóc bạc trắng phau, buông xõa ngang vai, râu dài chấm ngực. Thân
hình ông teo tóp chỉ còn bộ xương, da đen nhẻm, nhăn nheo, mốc thếch
như da trâu. Áo quần ông rách mướp, bệt bợt bùn đất, bốc lên mùi
chua chua khăm khẳm. Đúng lão khùng đây rồi. Gương mặt ấy, điệu khèn
quen thộc ấy và cả thói quen gãi đít bằng ngón tay giữa, các ngón
khác vểnh ra kia cũng đích thị là Chù Mìn Phủ. Bao năm rồi, dù cuộc
đời tàn phá thân xác, tôi vẫn nhận ra anh, huống chi còn cả điệp
khúc “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” của Thào A Máy luôn ám ảnh đời
tôi và anh. Tôi đứng lặng đi cho đến lúc anh ngừng thổi khèn, lừ đừ
vào quán đòi mua thêm chai rượu ngô, ngửa cổ uống cạn rồi nằm lăn ra
đất mà khóc tu tu. Chẳng cần hỏi rõ họ tên, bởi có hỏi lúc này cũng
vô ích, tôi thuê người vực lão khùng dậy, cõng về khách sạn, thả vào
bồn tắm nước nóng của phòng tôi ở. Tôi tin lão khùng là Chù Mìn Phủ,
vất vả lắm tôi mới tắm rửa, mặc cho anh bộ quần áo mới của mình rồi
để yên cho anh nằm ngủ li bì trên giường đến tận chiều tối. Đêm, tôi
nhoà lệ nằm nghe anh kể chuyện…
12- Mày muốn nghe chuyện đời, chuyện tình của tao
với Thào A Máy ư? Chết hết cả từ lâu rồi, còn gì mà kể. À… mày bảo
sao? Con tao, con bé Chù Thào Mỷ vẫn còn sống, đang ở với mày giữa
thủ đô Hà Nội ư? Láo toét!...Mày muốn an ủi cái thân tàn ma dại này
thôi chứ gì?... Đời là địa ngục trần gian, toàn những kiếp tù, rặt
bầy ác qủy. Cả tao với mày và Thào A Máy năm ấy qua bên kia biên
giới cũng thành ác quỷ nên giời quả báo. Tao muốn chết mà ông giời
vẫn còn quả báo, hành hạ chưa tha. “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…”,
mày thấy không? Thào A Máy đã báo trước cho tao rồi, sao mày còn cứu
cho con tao sống giữa cõi người độc ác này, để ông giời hành hạ tiếp
cái đời của nó?... Chuyện đời của tao ư? Dài và khốn nạn lắm! Chia
tay mày, tao cõng Thào chạy một mạch như điên vì sung sướng. Tao mê
nó từ lâu mà không dám nói cái lời yêu. Nó như bông hoa rừng, còn
tao như bãi cứt chó, nói lời yêu ra sợ nó không ưng bụng thì buồn
thối cái ruột mình, chỉ còn nước chui xuống đất thôi. Lúc tao với
mày vật lộn với nó để đưa vào lán, hễ đụng vào chỗ nào trên người nó
là tao như bị điện giật.
Tao trách nó hở hang, ghen cả với mày. Giờ tao
được một mình cõng nó trên lưng, băng băng trong đêm giữa rừng đại
ngàn, nhẹ và thơm như đang gùi một giò lan rừng. Giời ơi! Chiến
tranh khủng khiếp, toàn sự giết chóc mà tao lại được có hạnh phúc
bất ngờ. Nó gục đầu vào vai tao, rên ư ử như mèo con, nghĩ thương và
tội lắm, mày ạ! Tao đi một mạch suốt đêm, vừa đi vừa nghĩ ngợi lung
tung. Người nhà tao, nhà nó đạn pháo Trung Quốc giết sạch cả rồi, đi
đâu về đâu cũng chỉ còn có hai đứa với nhau thôi. Nếu về bản làng cũ
tao sẽ mang tiếng là lính đảo ngũ, khó sống với dân quân và chính
quyền. Tốt nhất chúng tao vào ở thật sâu trong rừng, trên đỉnh núi
Bát Đại Sơn ấy, chẳng ma nào biết, lính ta hay lính Trung Quốc cũng
không mò đến, an toàn tuyệt đối. Trước lúc đi khiêng cáng với mày,
tao đã thủ sẵn dao găm Liên Xô, bật lửa cối Trung Quốc và một bịch
muối, thế là đủ sống. Người Mông chúng tao có rừng là có cái ăn,
không thể chết đói được. Chúng tao đi miết đến bờ một con suối nước
trong và sâu. Thào bấm vào vai tao ra hiệu ngồi nghỉ lấy sức đi
tiếp. Lần đầu tiên tao nói cái lời yêu với nó, giữa lúc nó điên mà
vẫn hiểu, gật đầu cười ngu ngơ, nhìn càng thêm thương. Tao vứt mẹ nó
cây súng cho suối cuốn đi thật xa, giã từ đời lính bắn giết con
người. Thào sợ hãi lao xuống nước giữ súng lại không được, bưng mặt
khóc làm cái gì kia chứ. Có lẽ nó sợ tao bị tử hình hay đi tù chăng.
Hồi cách mạng văn hóa, chúng tao đã từng rủ nhau sang bên kia xem
người ta tử hình một chị cán bộ người Mông chỉ vì tội vứt cuốn ngữ
lục của lãnh tụ vào sọt rác, không chịu đặt ở đầu giường như mọi
người khác, nữa là tao bây giờ dám vứt súng đi, tội tày đình chứ
bỡn. Thây kệ đời, việc đến đâu thì đến. Tao nhảy xuống suối, bế Thào
lên bờ, cả hai cùng ướt sũng, phải cởi hết quần áo vắt cho khô. Đêm
trong rừng vắng, hai thân xác đực- cái tồng ngồng đứng gần nhau thì
phải quấn vào nhau thôi. Nó ưỡn cong người khi cái của tao đi sâu
vào cái của nó. Mắt nó sáng ngời lên, không còn lờ đờ như lúc điên.
Miệng nó cười tươi như hoa lan rừng, không ngu ngơ như điệu cười lúc
tao nói lời yêu ban nãy. Người tao cứ bồng bềnh như trôi giữa trời
đêm, khi nó co hai chân đập gót vào mông tao, tay nó ghì chặt lưng
tao lắc lắc mà rên và thở gấp. Thần núi, thần sông, ma rừng chắc
cũng phải ghen tức trong cái đêm tao được làm chồng thật sự của nó.
Chúng tao biết ơn mày lắm vì sau đêm ấy bệnh điên của nó bớt dần.
Không có thần dược nào tốt bằng thứ nước tình của
tao đổ vào chỗ ấy của nó đâu, mày ạ! Những ngày đầu, chúng tao kiếm
măng rừng, củ mài, củ sắn, rau dại về ăn, đêm ngủ trong một hốc cây
cổ thụ, tự do đi sâu, thật sâu vào trong người của nhau mà hưởng cái
sung sướng tuyệt trần. Sau đó, tao lén về các thôn xã gần đó, tìm đồ
đạc, lương thực của các nhà đi chạy loạn bỏ lại. Chúng tao làm nhà,
cuốc đất, trồng cây, sống đời tự do trên thung lũng lòng chảo của
Bát Đại Sơn cho đến ngày chiến tranh kết thúc, không ai nhòm ngó hay
hạch sách gì, cũng chẳng phiền lụy ai hết. Tao chỉ buồn một nỗi mình
ở xa, mỗi lần Thào sinh nở chỉ sau vài ngày là con tao đều bị chết
vì bệnh uốn ván. Tao đỡ đẻ cho nó, dùng dao bẩn cắt rốn cho con nên
ma rừng xui bệnh uốn ván đến bắt con chúng tao đi, nhưng Thào lại
tin ông giời quả báo cái tội nhóm trinh sát chúng mình sang bên kia
biên giới giết hại người Mông nhiều quá. Thế là bệnh điên của nó tái
phát ngày thêm nặng, lại trần truồng ra suối tắm, trần truồng đứng
giữa nhà hát “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” Tao không dám cho nó mang
thai nữa, mua về một nắm bao cao su OK để dùng, đợi lúc có đủ tiền
đưa vợ về bệnh viện thị xã đẻ sẽ vứt quách thứ bao OK của nợ ấy đi.
Nghe nói, người điên ra bệnh viện thị xã đẻ tốn tiền gấp mười người
thường cơ, mày ạ! Biên giới mở cửa, người bên kia sang lùng mua hồi,
quế, sa nhân, thảo quả rất đắt. Vợ chồng tao âm thầm vỡ đất, biến
thung lũng lòng chảo trên đỉnh Bát Đại Sơn thành trang trại trồng
thảo quả và thử gây thêm vài trăm gốc quế, tính chuyện lâu dài.
Trâu, ngựa, gà, vịt của tao nuôi nhiều không đếm xuể. Bao nhiêu mồ
hôi nước mắt đổ vào thung lũng lòng chảo và cách mấy năm không sinh
đẻ, lại uống thuốc của thầy lang ở tận Mai Pho do tao lặn lội mua về
đã giúp Thào nguôi ngoai, bệnh điên thuyên giảm. Vụ thảo quả năm ấy
tao thu về hơn trăm triệu, rừng quế cũng sắp đến tuổi đốn cây bóc
vỏ. Thào mang thai con bé Chù Thào Mỷ làm tao như sống lại kiếp
người khác; đặt tên con từ lúc vợ mới tắt kinh; hí hửng mang vợ ra
bệnh viện thị xã nằm trước hai tháng, chờ sinh đẻ. Đúng hôm tao
chuẩn bị hành lý, gói cục tiền to đi đón mẹ con nó về thì một lũ
người đột nhiên ập đến nhà, hạch tội tao ở đâu đến chiếm đất, chiếm
rừng Bát Đại Sơn làm giàu bất chính. Chúng nó đòi dỡ nhà, tịch thu
trang trại. Tao uất quá, nổi điên vác dao đuổi và chém bị thương mấy
đứa vào đầu, vào vai, thế là bị bắt. Ra tòa chúng nó còn moi thêm
tội tao và Thào đảo ngũ từ thời tám hoánh, dễ bề xử tao án bảy năm
tù giam để cướp không trang trại. Khốn nạn thân tao có tội thì chịu
ngồi tù, nhưng Thào mới sinh con, bệnh điên vừa mới đỡ đã tái phát
trầm trọng hơn cả mấy lần sinh con trước đây. Nó lang thang bế con
đi tìm tao trong tù, làm sao tìm được, hở giời! Mày bảo gì cơ?
Cha xứ nói nó chểt khi Chù Thào Mỷ lên năm tuổi à?
Sao nó không chết ngay mà ông giời còn cho sống khổ, sống nhục năm
năm nữa để giời hành hạ? Qủa báo, giời ơi, quả báo! Ra tù, tao lại
đi khắp nơi tìm mẹ con nó. Gót chân tao đi mòn các ngả đường bên
này, bên kia biên giới vẫn chỉ như con thỏ, con nai ngơ ngác giữa
rừng đại ngàn tìm con bị loài người độc ác bắn giết. Giờ tao thành
lão khùng thân tàn ma dại, lang thang đi kiếm lan rừng lấy tiền mua
rượu để hủy hoại cho mau chết cái thằng tao. Có ai trên đời thèm
biết đến cái tên Chù Mìn Phủ sống giữa cõi người nên mày vất vả đi
tìm cũng phải thôi. Con của tao, con bé Chù Thào Mỷ vẫn còn sống
thật ư? Đời nó liệu có đỡ khốn nạn hơn tao với mày không, hở giời?…
Hà Nội 21/2/2006
|
|