Lạm phát tiếp tục tăng
cao, vượt xa mức dự báo. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3-2008 so
với tháng 12-2007 tăng 9,19%, so với tháng 3-2007 tăng 19,39%.
Đó là mức lạm phát cao nhất trong nhiều năm gần đây và cao hơn
các nước trong khu vực. Lạm phát cao đã tác động lớn đến sản
xuất và đời sống nhân dân, nhất là ở các vùng chịu ảnh hưởng của
thiên tai, dịch bệnh, người làm công ăn lương, người lao động ở
các khu công nghiệp và bộ phận dân cư có thu nhập thấp.“ (1)
Trên đây là nhận định trong "Bộ Chính trị kết luận về tình hình
lạm phát“ (dưới đây gọi là "Kết luận của BCT“) vừa được công bố
ngày 4.4. Như vậy Bộ chính trị (BCT), cơ quan quyền lực cao nhất
của chế độ toàn trị, đã thừa nhận:
1. Mức độ lạm phát hiện nay là cao nhất trong các năm vừa qua và
đây là một cuộc khủng hoảng tài chánh, tiền tệ lớn nhất từ khi
có đổi mới trước đây trên 20 năm.
2. Lạm phát cao với tốc độ phi mã như thế đang tạo ra nhiều khó
khăn cho các giới nghèo khó, lao động và những người sống bằng
lương bổng. Sự bất mãn của hàng triệu người cùng khổ có thể đưa
tới những bất ổn an ninh xã hội và đe dọa sự tồn tại của chế độ
toàn trị.
3. Mức lạm phát ở VN "cao hơn các nước trong khu vực"
có nghĩa là, nó có các nguyên nhân đặc thù khác với nhiều nước
trong khu vực.
Trước đó vài ngày (30.3) tờ điện tử Chính phủ đưa hàng tít lớn:
“Thủ tướng gửi thông điệp về giải quyết khó khăn, bảo đảm kinh
tế xã hội phát triển bền vững”(2), trong đó còn ghi rõ
chức vụ trong đảng trước chính phủ “Ủy viên Bộ Chính trị,
Thủ tướng Chính phủ”. Nguyễn Tấn Dũng đã dùng từ "thông điệp" để
cố tình long trọng hóa vai trò của mình, nhưng thực ra ông ta
chỉ thi hành quyết định của BCT. Cho nên kế hoạch 7 điểm trong
"Thông điệp" của Nguyễn Tấn Dũng chỉ là một phó sản của quyết
định BCT mà thôi. BCT đã có cuộc họp vào giữa tháng ba để bàn
chuyên đề về lạm phát sau chuyến đi Tây Âu của Nguyễn Tấn Dũng
và sau đó để ông Dũng họp chính phủ vào cuối tháng 3 thảo luận
việc khai triển Nghị quyết của BCT.
Tuy nhiên đứng về mặt tuyên truyền để tránh dư luận cứ nói chính
phủ chỉ là cái loa của BCT, nên nhằm giữ thể diện cho chính phủ,
BCT đã để cho Nguyễn Tấn Dũng ra "Thông điệp" vài ngày trước.
Nhưng nói chung các biện pháp nêu ra trong bài của ông Dũng chỉ
lập lại các quyết định của BCT.
Mặc dầu vậy, có điểm khác nhau đáng lưu ý trong hai văn kiện này
là, trong "Thông điệp" Nguyễn Tấn Dũng đã mở đầu bằng cách đổ
tình hình lạm phát cao ở VN là do kinh tế Mĩ suy đồi, giá dầu
thô trên thế giới tăng cao và các thiên tai, dịch nạn mà VN phải
trải qua trong thời gian gần đây. Đây vẫn là bài bản sở trường
của Nguyễn Tấn Dũng, một người thích "nổ" nhưng rất sợ trách
nhiệm cho nên thích ca câu: "Mất mùa là tại thiên tai. Được mùa
là tại thiên tài Dũng ta!" Còn phần về các sai lầm chủ quan của
chính mình đã đưa đến tình trạng lạm phát phi mã đẩy hàng bao
nhiêu triệu nhân dân phải rơi vào cảnh cùng khổ, đói nghèo thì
ông Dũng hầu như không nhắc tới!
Trong khi đó, "Bản kết luận của BCT" chỉ nói rất ngắn về các
nguyên nhân khách quan từ bên ngoài, nhưng đã dành phần khá dài
nhấn mạnh về những nguyên nhân chủ quan.(3) Vì ngay phần
mở đầu bản "Kết luận của BCT" đã xác định rất rõ về nạn lạm phát
hiện nay ở VN: "Đó là mức lạm phát cao nhất trong nhiều năm
gần đây và cao hơn các nước trong khu vực." (4) Với
cách diễn tả này BCT rõ ràng đã muốn ám chỉ chính phủ của Nguyễn
Tấn Dũng đã gây ra nạn lạm phát phi mã hiện nay, mặc dù không
nhắc đến tên Thủ tướng (TT). Nếu phân tích kĩ nữa thì sẽ thấy
BCT còn phê bình ông Dũng ở nhiều điểm quan trọng khác. Trong đó
đặc biệt rõ ràng nhất là ở phần "Những nguyên nhân cụ thể ảnh
hưởng trực tiếp“ của "Kết luận của BCT" liên quan tới tình
hình lạm phát phi mã hiện nay, tức là giai đoạn từ khi Nguyễn
Tấn Dũng lên làm TT. Bản nhận định của BCT đã chỉ trích các
chính sách của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: "Chúng ta đã thực
hiện chính sách kích cầu bằng việc nới lỏng tín dụng, tăng chi
tiêu ngân sách cho đầu tư...“ và "Chính sách tiền tệ nới lỏng
liên tục trong nhiều năm, nhất là trong năm 2007, làm tổng
phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế
tăng mạnh." (5) Tuy không một lần nêu đích danh Nguyễn
Tấn Dũng ra phê bình, nhưng các điểm mà BCT nêu ra ở trên và phê
bình đã nói thẳng tới các biện pháp Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh
cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ nội trong 6 tháng đầu 2007 đã
bỏ ra trên 140.000 tỉ đồng để mua vào 9 tỉ USD làm ngoại tệ dự
trữ. Chính số tiền mặt gia tăng quá lớn và quá nhanh trong thị
trường trong một thời gian rất ngắn đã là nguyên nhân trực tiếp
đẩy lạm phát lên tốc độ phi mã cao hơn nhiều các nước trong khu
vực!
Không những thế, BCT còn chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng đã chủ quan
và lạc quan tếu, cũng như không đủ khả năng nhận định tình hình,
mặc dầu từ cuối năm 2007 các tín hiệu lạm phát cao đã rõ, nhưng
chính phủ vẫn không có những biện pháp kịp thời và thích ứng: “Thị
trường tiền tệ có nhiều diễn biến bất thường nhưng việc phát
hiện và cảnh báo còn chưa kịp thời. Hệ thống thông tin, số liệu
phục vụ việc hoạch định chính sách còn yếu và chưa đủ độ chuẩn
xác." (6) Thế rồi, BCT còn chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng
đã hốt hoảng và lúng túng khi cho NHNN vào đầu năm 2008 đưa ra
những biện pháp tiền tệ và lãi suất cực đoan:
" Khi có tình hình xảy ra, việc ngân hàng nhà nước thực hiện
đồng thời các giải pháp mạnh vào cùng một thời điểm… nhưng cũng
gây khó khăn cho ngân hàng thương mại, tạo ra việc chạy đua nâng
lãi suất huy động vốn, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh và
xuất khẩu, ảnh hưởng đến tâm lý xã hội.“(7)
Nói tóm lại, tuy không nêu đích danh Nguyễn Tấn Dũng ra chỉ
trích, nhưng ai am hiểu tình hình VN và cách làm việc của BCT thì
sẽ thấy rất rõ, nhân vật chính nào đã bị phê bình gay gắt trong
cuộc họp vừa qua của BCT bàn về nguyên nhân và các biện pháp
chống lạm phát phi mã. Ngay trong phần đầu bản Kết luận của BCT,
cơ quan quyền lực cao nhất của chế độ toàn trị, đã chỉ đích danh
địa chỉ bị chỉ trích và ra lệnh: "Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban
cán sự đảng Chính phủ… có nhiều giải pháp tích cực để kiểm soát
tăng giá, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất phát triển, hỗ trợ đời sống nhân dân.“ (8)
Ai cũng biết, hiện nay Nguyễn Tấn Dũng là Bí thư Ban cán sự đảng
Chính phủ.
Các biện pháp mới chống lạm phát
Trái với Chỉ thị 319 của TT chống lạm phát ban bố ngày 3.3 bao
gồm 19 điểm (9), trong "Thông điệp" lần này Nguyễn Tấn
Dũng đã nêu ra 7 giải pháp nhằm giảm lạm phát phi mã bao gồm:
Thắt chặt về tiền tệ xuyên qua các chính sách tín dụng với các
lãi suất thích hợp, hủy bỏ hoặc tạm đình chỉ các công trình đầu
tư không hiệu quả, giảm 10% chi phí của các cơ quan, gia tăng
sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, tăng xuất khẩu và giảm nhập
siêu, tăng cường kiểm soát giá cả trên thị trường, giảm các phí
và tăng cường an sinh xã hội, không tăng giá một số mặt hàng
thiết yếu như điện, xăng, xi măng, phân bón, nước dùng, thuốc,
vé xe.(10) Vài hôm sau được báo chí đưa tin là có cả biện
pháp thứ tám, tuy không nêu đích danh trong "Thông điệp" của
Nguyễn Tấn Dũng, đó là động viên tinh thần toàn đảng, toàn dân
cùng chống lạm phát. Làm như là đang có sự đồng thuận giữa dân
với đảng để cố che giấu là chính Nguyễn Tấn Dũng đang bị BCT chỉ
trích nặng nề, nội bộ trong chính phủ đang bất đồng và chống đối
lẫn nhau, cho nên uy tín của Nguyễn Tấn Dũng càng bị suy giảm
mạnh.
Trong các buổi họp tiếp theo với đại diện các tập toàn kinh kế
và các tổng công ti nhà nước cũng như với các Chủ tịch Ủy ban
Nhân dân (UBND) các tỉnh và thành phố phía Bắc và phía Nam và
Chủ tịch đoàn MTTQ vào đầu tháng 4 thì Nguyễn Tấn Dũng đã cho
biết, chống lạm phát là ưu tiên hàng đầu, cho nên phải hạ mức
tăng trưởng kinh tế xuống. Hạ xuống mức nào thì cả trong "Kết
luận của BCT" lẫn "Thông điệp" của TT đều không nói rõ, chỉ nói
là chính phủ sẽ yêu cầu Quốc hội hủy bỏ Nghị quyết vào tháng
11.07 đưa mức tăng trưởng trong 2008 là 8,5-9%(11) Đây
chỉ là cách giữ thể diện cho QH đối với bên ngoài, thực ra BCT
đã có quyết định giảm tăng trưởng kinh tế trong năm 2008 rồi.
Tuy nhiên trong cuộc họp với các đại diện các tỉnh và thành phố
phía Bắc vào ngày 2.4 Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên đã xác nhận
là, sẽ giảm mức tăng trưởng xuống mức 6,5%-7%, thay vì 8,5-9% và
hạ mức "lạm phát không cao hơn hoặc phải xấp xỉ 2007" (tức
12,7%)(12)
Các quan sát viên thấy là, theo mệnh lệnh của BCT chỉ nội trong
vài tuần Nguyễn Tấn Dũng đã phải thay đổi hoàn toàn mục tiêu về
mức tăng trưởng kinh tế. Bởi vì trong chuyến Tây du vào đầu
tháng 3 chính Nguyễn Tấn Dũng đã từng trả lời trên tờ Financial
Times là, ông quyết giữ mức tăng trưởng kinh tế 2008 ở mức
8,5-9% và không để lạm phát năm 2008 cao hơn năm 2007(13).
Nhưng chỉ một tháng sau đã xác nhận mức tăng trưởng phải rút
xuống còn 6,5%-7% và mức lạm pháp (dự báo) sẽ cao gần gấp đôi
mức tăng trưởng! Không những thế BCT còn ra lệnh cho Nguyễn Tấn
Dũng phải ngưng biện pháp tăng giá xăng, tức là ông Dũng phải
hủy bỏ quyết định vào cuối tháng 2 cho phép Tập đoàn xăng dầu
được tăng giá với lí do từ nay chính phủ ngưng chính sách bù giá
cho xăng dầu.(14) Các chính sách trái ngược nhau như vậy
chỉ chứng tỏ sự hốt hoảng và lúng túng và thiếu khả năng dự đoán
tình hình của Nguyễn Tấn Dũng và sự chống đối lẫn nhau đang diễn
ra ở trong BCT về các giải pháp chống lạm phát.
Những ai theo dõi chính sách chống lạm phát của chính phủ Nguyễn
Tấn Dũng từ tháng 2.08 về lãi suất, tỉ giá đồng Dollar, thị
trường chứng khoán… thì càng thấy những quyết định mâu thuẫn và
chống đối lẫn nhau trong hai cuộc họp nội các vào cuối tháng 2
và cuối tháng 3 vừa qua. Nhiều quyết định của phiên họp nội các
vào cuối tháng 3 đã hủy bỏ và vứt vào sọt rác các quyết định
trong cuộc họp nội các trước đó 4 tuần. Đấy là chưa kể tới ngay
trong mỗi biện pháp tuy đã được chính phủ quyết định nhưng đã bị
Phó TT Thứ nhất Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng tài chánh Vũ Văn
Ninh và Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu giải thích trái ngược lẫn
nhau, chỉ trích công khai lẫn nhau.(15) Ngay tới cuối
tháng 3 trong cuộc điều trần trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ
trưởng Tài chánh Vũ Văn Ninh vẫn cao ngạo là không thấy những
sai lầm nào của chính phủ trong việc chống lạm phát! (16)
Những khó khăn trước mắt trong thực hiện 7 điểm
Căn cứ vào các biện pháp chống lạm phát của Nguyễn Tấn Dũng vừa
đưa ra có hai câu hỏi lớn là:
1. Liệu chính phủ Nguyễn Tấn Dũng có thể kiềm chế lạm phát ở mức
thấp được không?
2. Quan trọng hơn nữa là, cơ cấu tổ chức kinh tế và chính trị
hiện nay có thể giải quyết đến nơi đến chốn nạn lạm phát về lâu
về dài không?
Câu hỏi thứ nhất có tính cách thời sự, liên quan nhiều tới khả
năng lãnh đạo và uy tín của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Cho tới
gần đây ông Dũng vẫn từ chối các lời khuyên của các chuyên viên
VN và quốc tế và tiếp tục huyênh hoang quyết giữ mức tăng trưởng
kinh tế cao, đồng thời sẽ đẩy lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng.
Nhưng các quyết định vừa qua của BCT và sự xác nhận lần đầu tiên
của Nguyễn Tấn Dũng là phải giảm mức tăng trưởng và thừa nhận
mức lạm phát rất cao trong năm 2008 gấp đôi mức tăng trưởng (dự
tính) đã cho thấy thực tế phũ phàng đang đẩy lùi những cách trí
trá và ngông cuồng của người đứng đầu chính phủ. Nhiều chuyên
viên còn nghi ngờ khả năng hiện thực ngay cả những con số dự báo
mới đây của ông Dũng. Vì chỉ mới có ba tháng đầu của năm 2008
mức lạm phát đã vượt trên 9%, cho nên làm sao có thể giữ mức lạm
phát cho 9 tháng còn lại chỉ gia tăng thêm 3%? Trong bản tường
trình mới đây của Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) đã đưa ra dự
đoán mức lạm phát của VN trong năm nay có thể lên tới 18,3%(17),
một số chuyên viên còn đưa ra những tiên liệu cao hơn!
Có nhiều lí do cho thấy mục tiêu của Nguyễn Tấn Dũng sẽ khó đạt
được. Tình hình kinh tế thế giới đang gặp khó khăn rất lớn trong
một số lãnh vực, quan trọng nhất là giá dầu thô tiếp tục gia
tăng ở mức rất cao, kinh tế Mĩ –từng là đầu tầu của kinh tế toàn
cầu- đang rơi vào tình trạng ngưng trệ, đồng Dollar Mĩ (nguồn
ngoại tệ căn bản của VN) mất giá nghiêm trọng, thị trường tài
chánh và chứng khoán trên thế giới đang gặp khủng hoảng lớn sau
các biến động trầm trọng trong thị trường bất động sản ở Mĩ. Gần
20% kim ngạch xuất khẩu của VN là do buôn bán với Mĩ. Vì thế các
sản phẩm của VN sẽ gặp khó khăn hơn trong thị trường của Hoa kì.
Nhưng các yếu tố chủ quan liên quan trực tiếp tới cá tính con
người và khả năng lãnh đạo của Nguyễn Tấn Dũng, cũng như tình
hình nội bộ trong chính phủ và trong BCT mới chính là nan giải
trong việc chống lạm phát. Theo dõi các quyết định bất nhất của
Nguyễn Tấn Dũng và tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược
giữa phó TT Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Tài chánh Vũ Văn Ninh và
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu… từ đầu năm trở lại
đây trong chính sách chống lạm phát đã cho thấy rõ khả năng lãnh
đạo rất yếu và uy tín đang mất của Nguyễn Tấn Dũng trong việc
giải quyết vấn nạn lạm phát lớn nhất hiện nay.
Chiều hướng này vẫn tiếp diễn rõ ràng trong các cuộc họp gần đây
của Nguyễn Tấn Dũng với các đại diện doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) hàng đầu, các Chủ tịch UBND tỉnh và thành phố để thuyết
phục mọi người nghe “Thông điệp” của mình. Trong cuộc họp với
các tập đoàn kinh tế và các tổng công ti nhà nước ngày 1.4 trong
khi Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước phải tạm
ngưng tăng giá các sản phẩm của họ, thì nhiều đại điện của các
tập đoàn dầu khí, điện, than …. đã than thở là giá bán các sản
phẩm của họ thấp hơn giá thành và nhao nhao lên đòi phải để tăng
giá, nếu không thì chính phủ phải bù lỗ.(18) Ông Dũng đã đưa ra
đòi hỏi ấm ớ là, các Tập đoàn “không được tăng giá, nhưng cũng
không được lỗ”! Khi họp với các Chủ tịch UBND các tỉnh và thành
phố phia Bắc (2.4) và phía Nam (7.4) để yêu cầu các cơ quan phải
giảm ngân sách chi tiêu và hoãn các công trình đầu tư kém hiệu
quả thì nhiều đại diện đã nói thẳng với Nguyễn Tấn Dũng là, giá
các vật liệu và các chi phí đang gia tăng mạnh làm sao hạ chi
tiêu được? Các đại diện địa phương còn chỉ trích chính phủ là,
cho tới nay vẫn chưa có các tiêu chuẩn rõ ràng về việc cắt giảm
như thế nào!
Cuối cùng Nguyễn Tấn Dũng và các Phó TT cùng đi đã đồng ý để các
địa phương được quyền quyết định cắt giảm các công trình đầu
tư.(19) Như vậy ông Dũng không chỉ bị BCT phê bình mà
hiện nay còn đang chịu áp lực lớn của các doanh nghiệp nhà nước
và chính quyền các địa phương đưa ra các yêu sách và lí do để
tìm cách duy trì các đặc quyền, đặc lợi cho ngành của mình hay
địa phương mình.
Các khó khăn lâu dài trong việc chống lạm phát
Để trả lời câu hỏi thứ hai đã nêu trên đây là, với cơ cấu tổ
chức kinh tế và chính trị hiện nay thì có thể giải quyết đến nơi
đến chốn nạn lạm phát về lâu về dài không? Nếu theo dõi tình
trạng lạm phát phi mã hiện nay ở VN thì sẽ thấy các chính sách
sai lầm về tiền tệ và tài chánh trong năm 2007 của Nguyễn Tấn
Dũng là nguyên nhân trực tiếp đẩy lạm phát trở thành bộc phát
tốc hành. Nhưng nguyên nhân căn bản mang tính cách cơ cấu của
nạn lạm phát ở VN lại nằm chính trong cơ cấu chính trị của chế
độ toàn trị.
Tình hình chính trị và kinh tế VN trong thời gian qua có một số
đặc điểm đáng lưu ý. Chế độ toàn trị của CSVN từ cuối thập kỉ 80
của thế kỉ trước đã bắt buộc phải hội nhập vào thế giới dưới các
điều kiện rất bất lợi, trong đó các nước tư bản và dân chủ
phương Tây nắm chủ động. Cho nên để có thể tiếp tục duy trì được
chế độ toàn trị lâu chừng nào hay chừng nấy, nhóm cầm đầu ĐCSVN
đã và đang thực hiện mô hình vừa độc quyền vừa tản quyền, trong
đó độc quyền là chính. Trong thời đại phải mở cửa và giao thương
với phương Tây, nếu muốn tiếp tục nắm độc quyền chính trị thì
phải biết tản quyền trong lãnh vực kinh tế và cho các địa phương
được hưởng một số quyền lợi nhất định. Trên cơ sở sách lược này
nên từ 1986 trên 10.000 DNNN đã từng bước được biến cải thành
các tập đoàn, các tổng công ti và công ti vẫn dưới quyền chỉ huy
của đảng xuyên qua chính phủ, hoặc chuyển sang các công ti cổ
phần, nhưng để cho các “đại gia” đang có quyền lực hay để cho
các vây cánh nắm một phần quan trọng số cổ phần và chia nhau giữ
các chức vụ then chốt trong ban giám đốc và ban điều hành các
công ti này.
Gần đây nhiều tổng công ti nhà nước đã được sắp xếp lại để
chuyển thành các tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong đó quan trọng
nhất phải nói tới 8 Tập đoàn đang bao thầu các huyết mạch kinh
tế VN: Dầu khí (Petro Vietnam), Điện lực (EVN), Bưu chính-viễn
thông (VNPT), Than-khoáng sản (Vinacomin), Công nghiệp tàu thủy
(Vinashin), Cao su (VRG), Dệt may (Vinatex) và Tài chánh-bảo
hiểm (Bảo Việt).(20) Hiện các tập đoàn này và các tổng
công ti nhà nước đang nắm giữ một khối tài sản rất lớn của đất
nước: “70% tổng tài sản cố định, 20% vốn đầu tư toàn xã hội, 50%
vốn đầu tư của Nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng và 70% nguồn vốn
ODA [viện trợ và cho vay của các nước ngoài và các tổ chức tài
chánh quốc tế]..., trong đó hơn 80% do các tổng công ty lớn đã
hoặc sắp thành tập đoàn nắm giữ.“(21)
Cách kinh doanh của các DNNN này là mặc dầu làm ăn rất thua lỗ,
nhưng lại có rất nhiều quyền hành và lại được chế độ ưu đãi đặc
biệt: Từ chiếm giữ nhiều loại bất động sản, được ưu tiên vay
tiền của NHNN với lãi suất thấp, tới được bù lỗ qua ngân sách
nhà nước, thậm chí các kiểm soát chi thu phần lớn chỉ làm theo
lối hình thức. Vì các bộ hoặc các chính quyền địa phương đang
làm chủ quản các DNNN này. Các vụ tham nhũng động trời PMU 18
thuộc bộ Giao thông vận tải hai năm trước và vụ tham nhũng của
Tổng Công ti miền Trung Cosesco hiện nay thuộc bộ Xây dựng đã
cho thấy, giám đốc các công ti của nhà nước có thể tự ý mở rộng
công trình đầu tư và nâng ngân sách đầu tư hàng tỉ hay chục tỉ
đồng rất dễ dàng do mối liên hệ của họ với các quan lớn có thế
lực trong Trung ương đảng (TUĐ) và BCT.(22)
Vì thế xét cho cùng, nếu việc Nguyễn Tấn Dũng để cho NHNN bỏ ra
trên 140.000 tỉ đồng nội trong 6 tháng mua vào 9 tỉ Mĩ kim đã là
nguyên nhân trực tiếp đưa tới lạm phát phi mã thì những chi tiêu
rất phí phạm theo cách “của chùa” và tự do tham nhũng của các
người có chức quyền trong các tập đoàn, tổng công ti và công ti
nhà nước mới là nguyên nhân chính đưa tới tình trạng lạm phát
rất nan giải ở VN. Mới đây, Jonathan Pincus, một chuyên viên cao
cấp của Cơ quan Phát triển LHQ (UNDP) đã nhận định về việc này:
“Nguyên nhân sâu xa của lạm phát tại Việt Nam là tỉ lệ đầu tư
công chiếm quá phân nửa (năm 1999 chiếm hơn 40 nghìn tỉ đồng,
năm 2003 chiếm gần 60 nghìn tỉ, năm 2006 xấp xỉ 75 nghìn tỉ) so
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và FDI, trong khi suất sinh
lời của khu vực này rất thấp (ước khoảng 3%) và vì thế chu kỳ
đốt nóng nền kinh tế trở nên tồi tệ hơn”.(23)
Các DNNN không chỉ chi tiêu phí phạm hàng chục ngàn tỉ đồng mỗi
năm, mà còn là ổ để các người có chức có quyền từ trung ương tới
địa phương tham nhũng và hôi của làm giầu bất chính, như ngay
báo chí của chế độ đã vạch rõ. Chính vì thế các DNNN còn là một
gánh nặng rất lớn cho ngân sách nhà nước. Vì nắm độc quyền và
lại được chính phủ sẵn sàng bù lỗ, cho nên các DNNN làm ăn không
tính toán theo lợi ích kinh tế, hầu hết đều bị lỗ lớn. Mới đây
chính phủ cho biết, nếu giữ vững mức xăng dầu thì nhà nước phài
bù lỗ cho Tập đoàn dầu khí VN mỗi năm lên đến 12.000 tỉ đồng(24).
Nếu gộp chung những sự bù lỗ cho các tập đoàn, tổng công ti và
công ti do đảng nắm giữ xuyên qua chính phủ thì ngân sách chính
phủ phải bù lỗ mỗi năm dự đoán từ 1/4 tới 1/3 ngân sách. Tức là
hàng trăm ngàn tỉ đồng do thuế của nhân dân đã được dùng để nuôi
các DNNN và để cho các quan lớn tham nhũng.
Tình trạng bù lỗ những khoản tiền rất lớn từ năm này sang năm
khác đã đưa tới nạn bội chi ngân sách ngày càng cao. Do đó chính
phủ phải cho in thêm tiền và vì thế đã tạo nên lạm phát cao! Mặc
dầu BCT biết rất rõ những nguy hại đó cho nhân dân dân và đất
nước, nhưng các DNNN vẫn được duy trì, vì đây là máu để nuôi chế
độ và các ổ để các tham quan tự do làm giầu nhanh theo lối bất
chính. Trong các xã hội dân chủ đa nguyên và theo kinh tế thị
trường thực sự, hầu hết các lãnh vực kinh tế đều đã được tư nhân
hóa theo các tiêu chuẩn cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát nghiêm
ngặt. Chính vì thế nhà nước không phải bù lỗ, kinh tế phát triển
liên tục và mức lạm phát được giữ ở mức thấp.
***
Nói tóm lại, tình hình lạm phát đang bùng nổ rất mạnh ở VN trong
năm qua và nhất là từ đầu năm 2008 đang đe dọa trực tiếp cuộc
sống của nhiều triệu người làm công trong các xí nghiệp, nhiều
triệu viên chức và quân nhân với đồng lương ít ỏi. Giá cả các
nhu yếu phẩm gia tăng quá nhanh còn đe dọa cuộc sống vốn đã từng
bị thua thiệt của mấy chục triệu nông dân VN, nay càng cơ cực
hơn, nhất là ở những vùng sâu và xa. Nhiều nơi đã phải chịu đói,
hàng trăm ngàn trẻ em đã phải bỏ học vì không trả nổi học phí và
phải giúp đỡ cha mẹ!
Những lúng túng, hốt hoảng trong lãnh đạo của Nguyễn Tấn Dũng và
chống đối lẫn nhau công khai giữa các phó TT, các bộ trưởng,
Thống đốc NHNN đã làm mất thêm uy tín của chế độ toàn trị. Chính
vì thế, hiện nay BCT đã phải trực tiếp ra lệnh cho Nguyễn Tấn
Dũng về mục tiêu, cách thức và các bước đi cụ thể trong việc
chống lạm phát. Hiện nay họ còn đang mở một cuộc vận động tâm lí
rộng lớn “toàn đảng, toàn dân ”cùng tham gia chống lạm phát và
còn gọi các cuộc họp của Nguyến Tấn Dũng với các Tập đoàn, các
Chủ tịch UBND và Chủ tịch đoàn MTTQ là “những tiểu Diên hồng”!
Mặc dù đã phải hạ thấp mức tăng trưởng kinh tế, nhưng các biện
pháp chống lạm phát của BCT đưa ra trong “Bản kết luận của BCT”
và “Thông điệp” của TT đã cho thấy, họ đang quay trở về với chế
độ kinh tế chỉ huy, chế độ bao cấp, chế độ xin cho! Trước mắt
các biện pháp này không gây được sự tin tưởng của nhân dân,
không tạo được ý thức trách nhiệm của các DNNN, và như thế là
vẫn muốn duy trì và bảo vệ các ung nhọt kinh tế và xã hội. Đối
với quốc tế, các biện pháp chống lạm phát của BCT sẽ gây ra sự
mất tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài
chánh quốc tế và chính phủ các nước phương Tây đang viện trợ và
giao thương với VN.
Đã thế người “Tư lệnh” của chiến dịch chống lạm phát Nguyễn Tấn
Dũng do những sai lầm chủ quan cũng đang ở trong hoàn cảnh tứ bề
thụ địch, nhiều người nghi ngờ khả năng lãnh đạo của ông Dũng.
Từ những bốc đồng do thiếu kiến thức và tính thích nổi nên
Nguyễn Tấn Dũng đã bỏ ra trên 140.000 tỉ đồng để mua 9 tỉ Mĩ kim
trong nửa năm đầu 2007, đến việc hốt hoảng và lúng túng trong
các biện pháp chống lạm phát vào đầu năm nay, rồi lại để cho các
phó TT, bộ trưởng và Thống đốc NHNN chống đối công khai lẫn
nhau, trống đánh xuôi kèn thổi ngược! Những việc này đã làm
Nguyễn Tấn Dũng mất thêm tín nhiệm trong BCT và đã bị cơ quan
quyền lực cao nhất này của đảng phê bình gắt gao trong “Bản kết
luận của BCT” mới đây.
Trong khi ấy uy tín của Nguyễn Tấn Dũng trong nhân dân VN và
quốc tế lại càng sa sút lớn. Sau gần hai năm làm TT, dư luận chỉ
thấy Nguyễn Tấn Dũng thích nổ, nói lớn, nhưng không giải quyết
được việc gì đến nơi đến chốn. Khi mới nhận chức TT thì Nguyễn
Tấn Dũng tuyên bố hùng hổ đòi phải đưa vụ tham nhũng động trời
PMU 18 ra xét xử sớm và nghiêm minh, bất kể người đó ở trong
chức vụ gì. Nhưng mới vài ngày trước đây trong cuộc họp của Ban
chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng do chính Nguyễn Tấn
Dũng làm Trưởng ban thì ông Dũng lại đồng ý với việc Viện Kiểm
sát thả cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến, một người đã từng bị
chính Bộ Công an và Viện kiểm sát trước đây bắt giam vì bị coi
là thủ phạm chính trong vụ PMU 18.[25] Mới đầu tháng 3 trên đài
phát quốc tế nổi tiếng BBC, Nguyễn Tấn Dũng còn tuyên bố như
người bị bệnh tâm lí hoang tưởng không biết khác biệt giữa sự
thực và dối trá : “Việt Nam không có người nào bị bắt do
bất đồng chính kiến“(26) và
"Không thể, và cũng không nên so sánh rằng Phương Tây
có tự do hơn hay Phương Đông hay Việt Nam có tự do hơn.
Bởi vì tự do của mỗi công dân của mỗi quốc gia là tự
do trong khuôn khổ pháp luật nước đó, mà pháp luật của
nước đó là ý chí, nguyện vọng của dân tộc đó. Không
thể lấy luật pháp nước này so sánh với nước khác. Mỗi
sự so sánh đều là khập khiễng, đều là không biện
chứng." (27)
Bệnh hoang tưởng như người từ một hành tinh khác của Nguyễn Tấn
Dũng còn bộc lộ rất rõ khi tuyên bố: “Luật báo chí của VN là
luật báo chí rất cởi mở. Nhiều nhà lãnh đạo của các nước gặp tôi
cũng đều nói với tôi là VN có luật báo chí rất thông thoáng mà
ngay nước họ cũng không có!” (28)
Với những tuyên bố như thế Nguyễn Tấn Dũng đã tự phủ nhận trình
độ, lòng tự trọng của mình, tự làm mất uy tín đối với nhân dân
VN và làm mất thể diện của VN trước dư luận quốc tế. Một người
đang tự làm mất nhân cách, tự làm mất uy tín và lại không được
tín nhiệm trong BCT thì làm sao có đủ uy quyền để giải quyết tệ
nạn lạm phát đang bộc phá theo tốc độ phi mã như hiện nay ở VN?