|
Straits Times
Năm hữu nghị Việt – Trung trở nên gay go
China-Vietnam's Year of Friendship turns
fractious Ian Storey, bài viết riêng cho The Straits Times. (Bản dịch của một nhóm sinh viên Việt Nam) Để kỷ niệm 60 năm thành lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, hai nước đã chọn năm 2010 là “Năm Hữu Nghị Việt -Trung”. Mặc cho những tiến triển đã đạt được gần đây trong quan hệ hai nước, nhưng tình hữu nghị giữa hai quốc gia có vẻ vẫn chưa đủ. Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1991 sau gần hai thập niên thù địch, và quan hệ song phương đã được cải thiện từ đó. Quan hệ thương mại hai chiều đã phát triển mạnh mẽ. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Trong hai năm 1999 và 2000, hai nước đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ. Mặc cho sự tiến triển trên, sự nghi kị lẫn nhau vẫn tiếp tục tồn tại. Nhất là Việt Nam đặc biệt lo lắng về các ẩn ý của sức mạnh quân sự đang gia tăng của người hàng xóm khổng lồ. Hai chuỗi sự kiện năm nay đã làm mối quan hệ khó khăn này rõ ràng thêm. Đầu tiên là vai trò kinh tế của Trung Quốc ở Việt Nam và sự tràn ngập hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc vào Việt Nam. Trong tháng 3, báo chí Việt Nam đã đưa tin thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đã lên tới mức báo động - 11 tỷ đô la Mỹ, cao hơn 57 lần so với năm 2001. Để bù lại mức thâm hụt này, Hà Nội đã khuyến khích các công ty Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam, nhưng điều này không phải lúc nào cũng hợp lòng dân. Việc Hà Nội trao hợp đồng thầu chính để khai thác bô-xít ở Tây Nguyên cho một công ty Trung Quốc đã gây nên một làn sóng chỉ trích nặng nề rằng dự án sẽ phá hủy môi trường địa phương, di dời chổ ở của người dân tộc thiểu số và làm tràn ngập công nhân Trung Quốc. Các nhà chỉ trích bao gồm cả Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, vị kiến trúc sư 97 tuổi của những chiến thắng quân sự của Việt Nam trước Pháp và Mỹ. Tướng Giáp đã viết một loạt các bức thư công khai tới chính phủ để nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lựơc của Tây Nguyên và cảnh báo ảnh hưởng của Trung Quốc đến Việt Nam. Chuỗi sự kiện thứ hai liên quan đến tranh chấp biên giới biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông- người dịch). Hà Nội vẫn phản đối việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi đảo Hải Nam của Bắc Kinh vào năm 1974, trong khi cả hai chính phủ vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa (Brunei, Malaysia, Philipines và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền một phần hay toàn bộ đối với quần đảo này). Ngoài ra, Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển giàu dầu khí ở ngoài khơi bờ biển Đông Nam Việt Nam. Việt Nam càng trở nên lo âu trước các động thái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông. Bắc Kinh đã gây áp lực cho các công ty nước ngoài không được tham gia các dự án ngoài khơi với Hà Nội trong các vùng biển mà Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền. Bắc Kinh cũng đã tăng cường tàu tuần tra ở Hoàng Sa và Trường Sa. Cuối năm 2007, việc thông qua luật về việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo trên đã gây nên làn sóng phản đối Trung Quốc của sinh viên Việt Nam. Vào ngày 7 tháng 5, Việt Nam đã gửi cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc để khẳng định các tuyên bố chủ quyền ở vùng biển giàu tiềm năng tài nguyên ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Trung Quốc ngay lập tức gửi công hàm tuyên bố hồ sơ của Việt Nam vi phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc và kêu gọi Ủy ban Liên Hiệp Quốc bác bỏ bộ hồ sơ này. Trong một công hàm khác, Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán không thể chối cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa và các vùng biển lân cận. Một bản đồ cũng được gửi kèm với công hàm trên cho thấy tuyên bố từ lâu của Trung Quốc đối với gần như toàn bộ biển Đông. Đáp trả lại, Hà Nội đã chí trích rằng bản đồ này là “không căn cứ, bất hợp pháp và trái với lịch sữ” Bởi vì sự chênh lệch về thế lực trong quan hệ Việt-Trung, Hà Nội thường đáp trả các tranh chấp với Bắc Kinh chủ yếu bằng con đường ngoại giao. Hai bên đã thành lập nhóm làm việc chung để thảo luận các tuyên bố mâu thuẫn nhau, tuy nhiên việc này lại không mang lại nhiều kết quả. Việt Nam cũng ủng hộ nỗ lực của ASEAN trong việc làm dịu bớt các tranh chấp, trong đó bao gồm quy tắc ứng xử ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc 2002. Quy tắc này nhằm giữ nguyên hiện trạng hiện tại và khuyến khích các bên tham gia các dự án hợp tác. Một trong các dự án đó là Thỏa thuận thăm dò địa chấn tại vùng biển Đông mà trong đó các công ty năng lượng của Trung Quốc, Philippine và Việt Nam đồng ý khai thác dầu trên vùng biển tranh chấp. Tuy nhiên, Thỏa thuận này đã gây nên tranh cãi ở Philippine và đã hết hiệu lực từ tháng 6 năm ngoái. Không hài lòng vì sự kém tiến bộ trên đấu trường ngoại giao, và cực kì quan tâm về các động thái khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh với biển Đông, Hà Nội đã tăng tốc chương trình hiện đại hóa quân đội của mình. Để tăng khả năng bảo vệ cho các tuyên bố lãnh thổ và lợi ích của mình ở biển Đông, Hà Nội đang ưu tiên tăng cường sức mạnh không quân và các phương tiện hải quân. Từ giữa thập niên 90, Việt Nam đã nhận 12 máy bay tiêm kích đa năng Sukhoi của Nga, và đầu năm nay đã tìm cách tăng cường gấp đôi năng lực không quân của mình bằng cách đặt mua thêm 12 chiếc nữa trị giá 500 triệu USD. Trong những năm vừa qua, Nga đã giúp Việt Nam tăng cường sức mạnh hải quân bằng cách bán cho Việt Nam 6 tàu hộ tống nhỏ và hai tàu khu trục được trang bị tên lửa có điều khiển. Tháng trước, giới truyền thông Nga cũng đã loan tin công ty xuất khẩu vũ khí quốc doanh Rosoboronexport đã đồng ý về nguyên tắc cung cấp cho Việt Nam 6 tàu ngầm hạng Kilo trị giá 1,8 tỷ USD. Khi mà Việt Nam đang chỉ có 2 tàu ngầm mini, thì những chiếc tàu ngầm của Nga này sẽ giúp Hà Nội tăng năng lực chống tàu chiến và tàu ngầm, và động thái này được xem như là sự ngăn cản đối với sự tăng cường sức mạnh hải quân Trung Quốc. Nó cũng sẽ trang bị cho Việt Nam năng lực chiến đấu dưới mặt biển hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á. Năm “Hữu Nghị Việt Trung” có thể cải thiện dư luận hoài nghi về quan hệ không êm ấm Việt-Trung nhưng không thể cải thiện bản chất của mối quan hệ này. Việt Nam sẽ tiếp tục phòng thủ trước sự tăng cường sức mạnh quân sự từ người láng giềng khổng lồ. Tác giả là một nghiên cứu sinh tại Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) Bản dịch: 22-6-09 |