|
RFA
5 & 6-1-10 Việt Nam cần làm gì cùng với hiện đại hoá quốc phòng? Việt Long, Biên tập viên đài RFA 2010-01-05 Dư luận quốc tế chú ý đến việc Việt Nam tăng cường khả năng quốc phòng, cho là để đương đầu với Trung Quốc ở biên giới phía bắc và biển Đông, sau những sự kiện diễn ra từ năm 2004 tới nay. Trung Quốc đã bắn giết, bắt giữ, đánh đập, nhục mạ ngư dân Việt Nam, tịch thu tàu thuyền, cướp giựt ngư cụ trước khi thả họ về. Nhưng trong khi biên giới phía bắc đã được thoả thụân và cột biên giới đang được xây dựng, sách lược quân sự ấy có hiệu quả để giữ được lãnh hải với ngư trường và mỏ dầu, nguồn sống của người dân Việt hay không? Cuộc chiến xưa và nayThực ra những hành động đối với ngư dân Việt Nam chỉ là việc làm tái khẳng định mạnh mẽ tham vọng đại dương của Trung Quốc, trong đó biển Đông bị họ coi như sân trước của lục địa Trung Hoa vĩ đại, bao quanh là vùng Đông Nam Á đông dân, trù phú. Tuy nói chuyện mật ngọt với các nước phương nam, nhưng Bắc Kinh tự vạch ranh giới luỡi bò chiếm gần hết diện tích biển Đông, hành động như trong sân nhà của mình, hiển nhiên coi Việt Nam cùng ASEAN chẳng khác nào những chú cọp con chưa mở mắt, phải khiếp sợ móng vuốt của con rồng Trung Hoa sắp vươn ra khắp các đại dương với những hạm đội hàng không mẫu hạm. Chẳng phải chờ đến những biến động ở biển Đông mà Việt Nam mới tăng cường quân sự. Ở vị trí đóng chốt phía nam, có chủ quyền sinh tử trên thuỷ lộ huyết mạch tiến vào sân trước của Trung Hoa, Việt Nam đã phải nghiên cứu sách luợc này từ lâu, ngay cả từ trước khi xảy ra trận chiến 1979. Những trận đánh của những sư đoàn Việt Nam thiện chiến nhất ở vùng biên giới Trung Quốc từ 1979 đến 1986 càng khiến Việt Nam thấy rõ thế yếu về vũ khí, trang bị, quân số, ngay trên những địa thế và chiến thuật sở trường của một đạo quân vẫn luôn luôn ngạo mạn là một quân đội từng đánh thắng cả Pháp lẫn Mỹ. Thế và lực ở các cuộc chiến xưa và nay hoàn toàn khác nhau. Trong chiến tranh chống Pháp và tiến đánh miền Nam, quân đội và cả toàn dân miên Bắc Việt Nam trước đây được Liên Xô cùng Trung Quốc cung cấp vũ khí, lương thực, từ viên đạn, hạt gạo đến cây kim sợi chỉ, dựa lưng vào hậu phương lớn Trung Quốc với sức người vô tận, với cùng quyền lợi phát triển thế lực xuống phía nam, trong cùng chiến lược đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới để mở rộng vùng ảnh hưởng của phe Cộng Sản. Quân đội miền Bắc thiện chiến, lại chủ động trong chiến lược tấn công, có cả một hành lang Lào Miên lợi hại để chuyển quân và vũ khí, để trú ẩn và chuẩn bị cho những trận chiến quyết định. Đến lúc người Mỹ không còn đủ kiên nhẫn để yểm trợ cho một cuộc chiến tranh trường kỳ ở cách xứ sở của họ cả nửa vòng trái đất, thì thời cơ chiến thắng của Hà Nội đã đến. Ngày nay chính hậu phương lớn kia đang trở thành cường địch. Những lợi điểm về địa lý trước đây nay rơi vào tay kẻ địch bắc phương. Việt Nam dựa vào đâu? Vũ khí đã cũ mèm từ khi Liên Xô trở thành nước Nga, khối Xã Hội Chủ Nghĩa tan thành mây khói. Mọi vũ khí quân trang quân dụng chiếm được ở miền Nam đều đã hỏng hóc từ nhiều năm trước, không đạn dược, không cơ phận thay thế và bảo trì. Còn chăng chỉ có dăm chiếc tàu đổ bộ đang dần dần bơi vào lịch sử. Vũ khí đạn dược gần cạn kiệt sau chiến cuộc Kampuchea, nguồn cung hạn chế. Phía Trung Quốc, lực lượng quốc phòng có thể chinh phục cả châu Á, nếu người Mỹ không có mặt nơi đây, có lẽ chỉ có Nhật Bản là ngoại lệ. Liệu những vũ khí đang được sắm sửa có giúp Việt Nam phòng thủ chống được Trung Quốc cả trên bộ, trên không lẫn mặt biển chăng? So sánh lực lượngNăm nay Việt Nam sẽ được giao 2 tàu ngầm Kilo cải tiến, 4 chiếc kia dường như sẽ giao vào năm sau, có tin nói giao mỗi năm sau một chiếc, giá tổng cộng 1 tỉ rưỡi đến 1 tỉ 800 triệu đô la. Tàu ngầm Kilo của Nga được công nhận là vũ khí phòng thủ mặt biển lợi hại, nổi tiếng là “vô âm vô hình” với mệnh danh “chiếc lỗ đen” nhờ sự vận hành rất êm nhẹ bằng máy điện-diesel, cách thiết kế toàn thân không gây tiếng ồn và chống sonar phát hiện, có radar, trang bị vũ khí tối tân và hùng hậu. Tàu dài trên 70 mét, thuỷ thủ đoàn 57 người, vận tốc 17 hải lý dứơi mặt nước, 11 hải lý trên mặt biển. Tầm hoạt động 7 ngàn 500 dặm khi tuần du chậm gần mặt nước và 400 dặm nếu lặn xuống dứơi, có khả năng hoạt động liên tục 45 ngày ngoài biển khơi. Tàu Kilô có 6 ống phóng và giá phóng, bắn được tổng cộng 18 ngư lôi, với hệ thống điểu khiển đánh được hai mục tiêu cùng lúc. Hai ống phóng bắn được ngư lôi nặng gần hai tấn tự điều khiển bằng sonar, theo dõi bằng truyền hình để xạ thủ chuyển được hướng mục tiêu. Một ngư lôi khác nặng hơn hai tấn, tầm xa 40 km, tầm đánh sâu tối đa 500 mét. Tàu còn phóng được 8 phi đạn Strela tầm nhiệt chống các phi cơ diệt tàu ngầm, tầm xa 6 km, hoặc loại Igla nặng hơn, xa 5 km, vận tốc hơn gấp rưỡi tốc độ âm thanh. Việt Nam cũng đã đặt tiền cọc để mua 12 chiếc Sukhoi-30MK2 của Nga, giao hàng trong 2 năm, giá khoảng 600 triệu đô la. Đó là loại phi cơ chiến đấu đa năng, với hệ thống radar và điện tử cải tiến tới mức tối tân nhất, có thêm khả năng phóng phi đạn chống tàu chiến. Phía Trung Quốc, lực lượng hải quân được xây dựng để thách đố quyền lực quân sự của Hoa Kỳ ở châu Á, chứ không nhắm vào Việt Nam. Các tàu chiến tuần dương, khu trục, thiết giáp của Trung Quốc mang tên các triều đại Trung hoa như Lương, Tần, Tấn... càng ngày càng được tăng cuờng về số lượng và phẩm chất, với những hệ thống vi tính do Trung Quốc tự tạo để đỉều khiển hải hành và vũ khí, chưa kể những hàng không mẫu hạm được khoe là đang kiến tạo. Thực ra giới quan sát cho rằng chưa hẳn Trung Quốc đã muốn có hàng không mẫu hạm, vì họ không thấy Bắc Kinh có kế hoạch nào để mua sắm hay chế tạo máy bay cho các con tàu chúa tể đại dương đó. Tướng Trung Quốc Tiền Lợi-hoa nói với báo chí quốc tế rằng điểm quan trọng không phải là Trung Quốc có hàng không mẫu hạm hay không, mà là Trung Quốc làm điều gì với chiếc hàng không mẫu hạm đó. Về tàu ngầm, ngoài hằng trăm tàu ngầm loại cũ để phòng thủ lãnh hải và các tàu ngầm lớn để phóng hoả tiễn liên lục địa, Trung Quốc có 12 tàu Kilô loại cũ và mới, bố trí ở biển Đông hải đối diện Nhật Bản, Đài Loan và biển Đông của Việt Nam, nhằm bành trướng hải phận phía Nam, đương đầu với hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Cuộc biểu diễn lực lượng nhân dịp kỷ nịêm 60 năm thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cho thấy trong số 52 tàu chiến diễn tập có một số tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân chưa từng xuất hịên trước đây. Giữa tương quan lực lượng như vậy, Việt Nam có thể làm gì để bảo vệ chủ quyền lãnh hải? Mời quý vị xem tiếp trong bài sau. ♦ Những ý kiến của người Việt trong và ngoài nước gửi đến đài chúng tôi đều tỏ ra náo nức hăng hái trước vịệc Việt Nam hiên đại hoá quân sự, hầu hết đòi ra trận sống còn với quân Trung Quốc một khi người dân Việt phải cầm súng chống quân xâm lựơc.
Bối cảnh được nêu ra
trong bài trước là
tương quan lực lượng
quân sự giữa Việt
Nam với Trung Quốc
quá chênh lệch khi
Việt Nam không thể
chạy đua vũ trang
với Trung Quốc;
những ưu thế về
chiến lược của Bắc
Việt trong thế kỷ
trước đối với miền
Nam nay lại trở
thành lợi thế của kẻ
cường địch phương
Bắc; Việt Nam không
còn hậu phương lớn
nào để dựa vào mà
tiến hành chiến
tranh giữ nước.
Câu hỏi được đặt ra nơi đây là quân đội Việt Nam, với thành tích chiến tranh trong thế kỷ qua, cùng với lòng yêu nước của toàn dân Việt liệu có thể bảo vệ tổ quốc hay không, khi giả định một cụôc chiến xảy ra? Việt Nam còn phải làm gì thêm nữa? Cuộc chiến không cân bằngMới tháng trước, tướng Từ Quang-vũ của Trung Quốc nói với báo South China Morning Post rằng việc hiện đại hoá quân sự của Việt Nam không ngoài dự kiến của Trung Quốc. Việt Nam có bờ biển dài, nên phải tăng cường hải quân, Việt Nam gấp rút làm điều đó là điều dễ hiểu, sự cạnh tranh về quân sự là không thể tránh, và vịêc này chẳng đáng thổi phồng lên; hải quân Trung Quốc cũng đang nhanh chóng hiện đại hoá, Trung Quốc không hề cảm thấy bị các nước láng giềng đe doạ. Trong giả định xảy ra chiến tranh, một khi Bắc Kinh nhất quyết tung ra cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam, những quân đoàn Trung Quốc sẽ tràn qua biên giới như nước vỡ bờ, nhắm tới Thăng Long như trong thời nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lê bên nước Việt. Cùng lúc, Tây nguyên liền trở thành căn cứ tiếp nhận từng sư đoàn không vận của Trung Quốc, như họ mới thao dượt trong cuộc tập trận đại quy mô hồi năm ngoái trong nội địa Trung Hoa, được mô tả là thực tập chuyển quân xa để phòng thủ lãnh thổ. Toa Đô đổ quân vào Chiêm Thành để đánh ngược về Thăng Long, thì lần này những điểm chiến lược trên duyên hải từ bắc Trung bộ cho tới nam Trung Bộ có thể bị tràn ngập thuỷ quân đổ bộ đến từ phương bắc, dưới sự yểm trợ hỏa lực của không quân Trung Quốc và hằng trăm chiến hạm mà lực lượng hải quân Việt Nam, với những tàu ngầm và máy bay hiện đại nhất, cũng khó lòng ngăn chống. Việt Nam lập tức rơi vào tình thế tuyệt vọng gấp bội so với Việt Nam Cộng Hoà trong năm 1975. Không thể có thời cơ cho những trận Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Chi lăng. Trong tình thế như vậy, tuy rằng ai cũng hiểu là quân đội Việt Nam thiện chiến, nhưng, một cách khách quan, có lẽ nhiều người vẫn phải đồng ý là Trung Quốc hoàn toàn có khả năng chiếm cứ ít nhiều lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam trong giai đoạn đầu của chiến tranh. Những vũ khí ít ỏi của Việt Nam chẳng còn được bao nhiêu sau trận đánh quyết định đầu tiên với những hoả tiễn, máy bay, xe tăng, đại pháo vô tận của Trung Quốc. Đến lúc ấy, Việt Nam cũng khó lòng tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân khi thiếu hẳn một hậu phương, một nước lớn yểm trợ, hoàn toàn bị cô lập trong phạm vi lãnh thổ của mình, không thể trông cậy vào lãnh thổ và tài nguyên của Lào, Kampuchea mà Trung Quốc dễ dàng kiểm soát. Sự can thiệp của thế giớiNghe qua những điều phân tích đó tưởng chừng như chủ bại và tuyệt vọng. Tuy nhiên, giả thuyết chỉ là giả thuyết mà thôi. Trung Quốc không dễ dàng tung ra một cuộc chiến tranh ở châu Á, ít nhất cũng trong nhiều thập niên nữa. Trước hết, Bắc Kinh phải chú trọng vào việc tranh ngôi bá chủ kinh tế với Hoa Kỳ, có thành công thì mới thực hiện tham vọng bá quyền. Việc này hẳn nhiên không ít thời gian, trong khi Mỹ chẳng ngồi ăn chơi không để chờ suy thoái. Mặt khác, Việt Nam phải có khả năng quân sự hùng mạnh nhiều hơn nữa, không để bị tấn công mà không gây tổn thất nặng nề cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, cho dù thắng hay bại. Quốc tế cũng không bó tay ngồi nhìn Trung Quốc tiến đánh Việt Nam bằng cả một cuộc chiến tranh toàn dịên. Dù vậy, chính sách quân sự tằm ăn dâu vẫn có thể được Trung Quốc thi hành, và Việt Nam phải đối phó, với sự bênh vực của cộng đồng quốc tế. Trong thành phần đó, hiển nhiên những nước tích cực can thiệp và đứng về phía Việt Nam là những quốc gia có quyền lợi thiết thực ở biển Đông và Đông Nam Á, những quốc gia mà sự bành trướng của Trung Quốc đem lại mối hại trực tiếp cho họ. Đầu tiên, đó là khối ASEAN, Nhật Bản, Hàn quốc, rồi đến Hoa Kỳ, rồi châu Âu và phần cỏn lại của thế giới. Việt Nam phải có hành vi chủ động, và đang làm nhiều việc trong phạm vi này. Việt Nam phải vận động được khối ASEAN đứng chung trong một lập trường mạnh mẽ cứng rắn chống đà bành trướng của Trung Quốc ngay từ bây giờ, bằng mọi giá đừng để Bắc Kinh bẻ đũa từng chiếc. Thế lực của ASEAN tuy yếu nhưng một lập trường chung cứng rắn cũng làm Trung Quốc chùn tay. Cũng như việc tăng cường quốc phòng của Việt Nam, hạm đội tàu ngầm tuy không giúp Việt Nam đánh được Trung Quốc, nhưng cũng khiến Bắc Kinh phải cân nhắc kỹ lưỡng khi muốn có hành động thô bạo như ở Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Ảnh hưởng của MỹVề phía Mỹ, liệu Việt Nam có tin cậy được vào Mỹ như một người bạn trong cơn sóng gió hay chăng? Ta hãy nhìn xem Hoa Kỳ có quyền lợi gì ở châu Á, ở Đông Nam Á, biển Đông và Việt Nam hay không, thì mới đoán chừng được Mỹ sẽ đứng vào vị trí nào trong mối tranh chấp Việt Nam-Trung Quốc. Điều hiển nhiên là Hoa Kỳ chỉ hành động vì quyền lợi của họ mà thôi. Hồi tháng 7 năm ngoái, tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ ASEAN ở Singapore, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố rằng bà và Tổng thống Barack Obama đều tin rằng Đông Nam Á và ASEAN là cực kỳ quan trọng cho tương lai của Mỹ cũng như mọi đối tác trong khu vực. Giới phân tích quốc tế gần đây cho rằng hành pháp của Tổng thống Obama chủ trương liên can đến châu Á tích cực hơn, đặc biệt là với Đông Nam Á, sau nhiều thập niên Mỹ bị coi là thiếu quan tâm đến vùng đất quan trọng này, và trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc chủ trương bành trướng mạnh mẽ, cạnh tranh với ảnh hưởng của Hoa Kỳ không những tại châu Á mà còn châu Phi và châu Mỹ. Nhiều sự kiện trong năm qua cho thấy điều đó. Tổng thống Hoa Kỳ tham gia hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại Singapore và hứa hẹn sẽ dự thượng đỉnh này vào năm sau tại Hà Nội. Mỹ ký Hiệp ước Hợp tác và Thân thiện với hiệp hội các nước Đông Nam Á. Các bộ trưởng Ngoại giao ASEAN bình luận việc ký kết này là một tín hiệu mạnh mẽ về lời cam kết của Mỹ đối với hòa bình và an ninh khu vực. Giới quan sát cho rằng việc đó cho thấy Washington muốn có một vai trò lớn hơn về chiến lược và an ninh ở châu Á. Chính quyền của Tổng thống Obama đang thực hiện một cách tiếp cận hoàn toàn khác so với chính quyền tiền nhiệm ở khu vực này. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton phát biểu trước lễ ký kết trong tháng 7 năm ngoái, rằng Mỹ đã trở lại Đông Nam Á. Nghị sĩ James Webb, chủ tịch tiểu ban Đông Á Thái Bình Dương của Thượng Viện Hoa Kỳ sang Việt Nam sau khi trịêu bộ ngoại giao và bộ quốc phòng điều trần tại Thượng Viện, tiếp sau sự kiện tàu Trung Quốc sách nhiễu tàu Mỹ ở biển Đông. Gần đây, sau khi hội kiến với Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam trong 35 phút, nghị sĩ Webb tuyên bố rằng việc Mỹ can dự vào Đông Nam Á ở mọi cấp độ là điều quan trọng sinh tử. Tướng Phùng Quang Thanh có bàn với phía Mỹ vể địa điểm cho một căn cứ hải quân để bảo trì và tiếp vận cho hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương. Đây là điều đáng chú ý nhất về sự hiện diện quân sự của Mỹ ở ngay tại biển Đông, thêm vào với việc hợp tác vể huấn luyện, kỹ thuật và có thể mở ra kế hoạch bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Chuyên gia Ernest Bower của Trung tậm nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Washington phát biểu, “điều ngộ nghĩnh là quốc gia từng cố đẩy Hoa Kỳ ra khỏi Đông Nam Á nay lại là thành phần chủ yếu để kéo Mỹ trở lại nơi này.” Thế nhưng câu hỏi tiếp theo vẫn là Việt Nam có thể trông nhờ vào Mỹ đến đâu. Liệu đến lúc sinh tử trong quan hệ Việt Trung, Bắc Kinh trao tặng cho Washington một quyền lợi to lớn nào đó, Hoa Kỳ có buông tay cho Việt Nam té đùng như đã buông rơi đồng minh son sắt Việt Nam Cộng Hoà sau khi bắt tay được với Trung Quốc, Liên Xô năm 1972? Quý thính giả hãy gửi câu trả lời vào mục “ý kiến” trên website RFA, phần dành cho bài này, trong khi chúng tôi cũng cố tìm câu trả lời đó, để mời quý thính giả tiềp tục theo dõi trong một kỳ phát thanh sau.
|