Tỷ lệ nội địa hóa quá thấp
Thời Báo Kinh Tế Việt
Nam ngày 14/12 trích lời ông Lê Tiến Trường,
Phó Tổng Giám Đốc Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
cho biết: kim ngạch xuất khẩu dệt may năm
2009 có thể chỉ đạt 9,1 tỷ USD, nghĩa là
bằng năm ngoái không có tăng trưởng. Lúc đầu
ngành dệt may đặt chỉ tiêu xuất khẩu 2009 là
10 tỷ USD, rồi hạ xuống 9,5 tỷ USD.
Một trong những thông
tin được phổ biến công khai, năm 2008 tỷ lệ
nội địa hóa của ngành dệt may chỉ đạt 37%.
Năm 2009 các số liệu cho thấy tỷ lệ nội địa
hóa đã được nâng lên 5% đạt khoảng 42%. Nói
dễ hiểu nếu cả năm 2009 xuất khẩu dệt may
đạt 9,1 tỷ USD thì trong đó phần nhập khẩu
nguyên phụ liệu lên tới 5 tỷ USD.
Dệt may là ngành thu
hút nhiều nhân công, trước suy thoái kinh tế
tài chánh thế giới, các nhà máy trên cả nước
thu dụng khoảng 2 triệu người lao động, thời
kỳ khó khăn cuối 2008 kéo dài cả năm 2009 đã
khiến hàng trăm ngàn công nhân mất việc.
Sang năm 2010, ngành
dệt may sẽ phát triển như thế nào, khi lợi
thế công nhân giá rẻ đang mất dần. Chuẩn bị
cho giai đoạn hậu suy thoái, ngành dệt may
sẽ tái cơ cấu như thế nào, đặc biệt ở các đô
thị lớn như TPHCM, Đồng Nai nơi chiếm hơn
phân nửa sản lượng dệt may toàn quốc.
Ngày 18/12/2009
chúng tôi nêu câu hỏi này trong cuộc phỏng
vấn ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ Tịch Hội
Dệt May Thêu Đan TPHCM, đồng thời là Phó Chủ
Tịch Hiệp Hội Da Giày VN và được ông giải
đáp:
Ông Diệp Thành
Kiệt: Thứ nhất những thành phố lớn sẽ
phải cơ cấu lại ngành hàng. Nếu duy trì ở
thành phố thì phải là những sản phẩm cao
cấp. Nếu tiếp tục duy trì sản xuất như hiện
tại nghĩa là sản phẩm cấp trung thôi, thì
phải có định hướng chuyển nhà máy ra bên
ngoài. Thí dụ như Việt Tiến, Nhà Bè đã
chuyển một số nhà máy đi Tiền Giang, Long
An.
Thứ hai là phải
chuyển hướng cơ cấu về kinh doanh, trong đó
giảm bớt tỷ lệ gia công, nâng dần tỷ lệ mình
tự mua bán, có thể tìm nguyên phụ liệu ở
trong nước mà cũng có thể ở nước ngoài,
nhưng phải chủ động vấn đề này.
Thứ ba là chuyển
động đi về hướng đầu và hướng cuối của chuỗi
giá trị, chủ động trong khâu thiết kế và
khâu phân phối. Kênh nội địa là dạng để cho
các doanh nghiệp trong nước đặc biệt ở các
thành phố lớn chú ý tới và có những giải
pháp của mình. Hiện nay thì một số doanh
nghiệp lớn người ta đã làm thành công.
Nhưng mà trên tất cả chúng tôi vẫn nghĩ
rằng, đây là nghĩ kiến cá nhân cũng là đề
xuất, trong thời gian tới thì cả ngành và
chính phủ đẩy mạnh hơn nữa việc nội địa hóa
nguyên phụ liệu sản phẩm dệt may, nói cách
khác là phải nâng cao hơn nữa ngành công
nghiệp phụ trợ của ngành dệt may, đặc biệt
đáp ứng tính cách thời trang.
Để thị trường quyết
định?
Nam Nguyên:
Thưa ông, vấn đề tỷ giá hối đoái hiện diện
trên hai thị trường chính thức và tự do, có
ảnh hưởng gì đối với ngành dệt may và da
giày. Đặc biệt hai ngành này vừa có nhập
khẩu vừa có xuất khẩu?
Ông Diệp Thành
Kiệt: Tỷ giá hối đoái đồng tiền VN do
với USD về nguyên tắc khi tăng hay
giảm đều có mặt tốt và không tốt. Đối với
các doanh nghiệp gia công không có nhập chỉ
có xuất, rõ ràng khi đồng bạc VN mất giá
hơn, tỷ giá đổi ra đồng VN cao hơn thì xuất
khẩu có lợi.
Người đã đem về
cùng lượng ngoại tệ đó nhưng đổi ra tiền
đồng được nhiều hơn, trong khi đó tiền lương
và chi phí chưa hẳn sẽ tăng tương ứng theo
tỷ giá đó, nó có lợi cho các nhà gia công.
Nhưng điều này theo quan điểm của chúng tôi,
không cần có sự phá giá mạnh cũng không mong
muốn một sự giữ giá mạnh. Điều quan trọng là
phải có sự ổn định.
Thứ hai nếu có
chính sách nào kể cả nâng giá hay phá giá
đồng VN thì phải có những bước đi thích hợp,
để nền kinh tế nói chung còn có sức chịu
đựng, đặc biệt những ngành kinh tế như dệt
may hoặc một số ngành khác kể cả da giày hay
gỗ là những ngành vẫn còn lệ thuộc nguyên
liệu nước ngoài, thì việc đưa tỷ giá nhanh
quá hay chậm quá thì rất nguy hiểm.
Thí dụ năm nay phá
giá chúng ta có chuyển động làm mất giá,
nhưng năm 2008 tiền VN tự nhiên lên giá 1
USD chỉ ăn 15 ngàn thôi, cũng làm cho nhiều
doanh nghiệp chới với. Chúng tôi nghĩ biện
pháp tốt nhất là phải ổn định được vĩ mô đặc
biệt là cơ cấu tỷ giá.
Nam Nguyên:
Thưa ông, nếu để cho thị trường quyết định,
tức là đi theo qui luật thị trường thì ông
nghĩ thế nào?
Ông Diệp Thành
Kiệt: Đi theo qui luật thị trường,
thì rõ ràng phải thấy rằng nền kinh tế thị
trường của chúng ta còn mới và nó bị tác
động quá nhiều bởi yếu tố rủi ro. Thí dụ như
năm rồi giá gạo tự nhiên tăng lên, nếu để
theo thị trường thì rõ ràng người dân lãnh
đủ, mặc dù lúc đó trong nước còn gạo rất
nhiều.
Tôi lấy ví dụ đó
để quay về nền kinh tế nói chung và dệt may
nói riêng, tôi nghĩ rằng chính sách mà chính
phủ VN đang chọn là cơ chế thị trường có
điều tiết là hợp lý.
Tuy nhiên chữ
“điều tiết” ở đằng sau là cả một vấn đề rất
lớn, nếu được điều tiết hợp lý chọn giải
pháp vừa đúng thì sẽ đem lại lợi ích cho nền
kinh tế, còn nếu chọn giải pháp không phù
hợp lúc cần giảm lại tăng hoặc ngược lại thì
nó sẽ tác động lên nền kinh tế. Nhưng tôi
vẫn ủng hộ chính sách thị trường có điều
tiết, vì điều đó sẽ giúp cho nền kinh tế thị
trường quá mới mẻ và chịu quá nhiều rủi ro
của VN có hướng đi vững chắc hơn.
Nam Nguyên: Dù
có khó khăn, dù là gia công, nhân công giá
rẻ, thu lợi ít, nhưng về việc giúp công ăn
việc làm cho người lao động của ngành dệt
may và da giày, ông đánh giá thế nào?
Ông Diệp Thành
Kiệt: Về dệt may, theo Hiệp Hội Dệt
May VN con số lao động trên hai triệu, ngành
da giày khoảng bảy trăm ngàn, kể luôn các
ngành phụ trợ ăn theo như đóng bao bì hoặc
làm sản phẩm phụ cho hai ngành đó, thì con
số khoảng dưới ba triệu.
Vấn đề này chúng
tôi không nói một cách cường điệu quá đáng,
không chỉ những người trong ngành chúng tôi
mà kể cả những cơ quan chính phủ, cũng phải
nhìn nhận, mặc dù trước đây có nhiều ý kiến
cho là những ngành này thâm dụng quá nhiều
lao động, hoặc có những ý kiến khắt khe cho
là phải cắt giảm nhanh đối với cơ cấu những
ngành hàng sử dụng nhiều lao động.
Nhưng qua giai
đoạn vừa rồi, phải thấy rằng trong hoàn cảnh
đất nước VN rõ ràng những ngành như dệt may,
da giày, thủy sản hoặc gỗ, vẫn là những
ngành cần thiết, là những bước đệm cần thiết
để đất nước phát triển cũng như đặc biệt về
an sinh xã hội.
Có thể nói rằng
trong năm vừa qua ngoại trừ một số doanh
nghiệp nước ngoài quá khó khăn phải bỏ trốn,
còn lại hầu hết các doanh nghiệp VN và doanh
nghiệp nước ngoài còn lại, đều đã giữ vững
được lực lượng lao động của mình.
Chúng tôi không có
những sự cố lớn như các nước phải sa thải
công nhân hàng loạt. Chúng tôi đánh giá đó
là một thành tựu lớn của hai ngành dệt may
và da giày.
Trên đây là các nhận
định của ông DiệpThành Kiệt Phó Chủ
Tịch Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM, đồng thời
là Phó Chủ Tịch Hiệp Hội Da Giày Việt Nam.
Năm 2009 sắp khép lại,
nếu nền kinh tế thế giới chuẩn bị giai đoạn
hồi phục, nhiều ngành kinh tế xuất khẩu của
VN sẽ phải cơ cấu lại cho giai đoạn hậu suy
thoái. Ngành dệt may và da giày đang đứng
trước những thử thách mới cho tương lai.