Đây chỉ là một trong rất nhiều vụ dự định
cấm rồi thôi, thậm chí đã ra lệnh cấm
rồi bỏ, vì những dự định hoặc lệnh cấm ấy vi
hiến, trái luật hoặc bất cận nhân tình.
Tại sao tình trạng
này trở thành phổ biến, mời qúy vị nghe Trân
Văn tổng hợp và tường trình...
Lại chuyện không
phải tại... tôi
Hôm 23 tháng 2, Bộ
Giáo dục Đào tạo của Việt Nam công bố dự
thảo “Quy định về điều kiện, hồ sơ mở ngành
đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ
và tiến sĩ” để lấy ý kiến công chúng.
Trong dự thảo này có
dự định cấm các trường tư tổ chức đào tạo
các ngành: sư phạm, báo chí, luật và dự định
ấy đã bị lên án dữ dội.
Trước hết là từ đại
diện các trường tư. Ông Trần Hồng Quân, một
người từng là Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo,
nay đang đảm nhiệm vai trò
Chủ tịch của
Hiệp hội các trường
Đại học, Cao đẳng
ngoài công lập, gọi dự định vừa kể là
sự phân biệt đối xử giữa công với tư, sai cả
về lý lẫn tình. Kế đến là dư luận từ phía
công chúng, nhiều người nhận định, dự định
cấm trường tư đào tạo các ngành: luật, báo
chí là bằng chứng về sự yếu kém trong cả
nhận thức lẫn năng lực quản lý của Bộ Giáo
dục Đào tạo.
Thậm chí, Chủ nhiệm Ủy
ban Văn hoá - Giáo dục, Thanh Thiếu niên và
nhi đồng của Quốc hội Việt Nam cũng lên
tiếng, bày tỏ thái độ không đồng tình với dự
định của Bộ Giáo dục Đào tạo.
Có thể vì vậy mà ba
ngày sau, cả ông Phạm Vũ Luận, Thứ trưởng
thường trực và bà Trần Thị Hà, Vụ trưởng Vụ
Giáo dục của Bộ Giáo dục – Đào tạo cùng phân
bua rằng, Bộ Giáo dục – Đào tạo không có
chủ trương cấm hệ thống trường tư tổ chức
dạy về luật và báo chí. Dự định cấm hệ thống
trường tư đào tạo về luật và báo chí mà công
chúng thấy trong dự thảo đã được công bố chỉ
là... lỗi kỹ thuật khi soạn thảo văn bản!
Trả lời báo điện tử
VietNamNet, bà Trần Thị Hà gọi dự thảo đã
được giới thiệu với công chúng là “sơ suất”
của bộ phận soạn thảo. Theo bà, bộ phận này
đã đưa lầm “bản nháp” và vì vậy, đã để sót
ý, không cho hệ thống trường tư tổ chức dạy
về luật và báo chí.
Bên cạnh chuyện cử
người phân bua, Bộ Giáo dục Đào tạo rút lại
dự thảo đã công bố để giới thiệu một dự thảo
mới. Trong dự thảo mới, nếu trường tư hội đủ
điều kiện đã được quy định thì vẫn có quyền
đào tạo các ngành: sư phạm, luật và báo chí
như các trường trong hệ thống công lập.
Chỉ là... lỗi
đánh máy
Tại Việt Nam, chuyện
hệ thống công quyền có sai sót không phải là
hiếm. Điểm đáng chú ý là không giống như các
quốc gia khác, nếu phải tự biện, rất ít viên
chức có trách nhiệm liên đới với sai sót,
nhận lỗi về mình.
Gần đây, khi phải tự
biện, phần lớn các viên chức có liên đới về
trách nhiệm thường cho rằng, sai sót, thậm
chí hành vi vi phạm pháp luật là do lỗi đánh
máy hoặc “sơ xuất” của nhân viên hành chính.
Ngoài sai sót mới
nhất, liên quan đến một dự thảo của Bộ Giáo
dục Đào tạo, mà ông Phạm Vũ Luận, Thứ trưởng
thường trực và bà Trần Thị Hà, Vụ trưởng Vụ
Giáo dục của bộ này, vừa đồng thanh cho
rằng, chỉ vì dùng lầm... “bản nháp”, trong
nửa năm qua, còn có hàng loạt sai sót
cùng... nguyên nhân.
Chẳng hạn, hồi cuối
tháng giêng vừa qua, tại phiên xử phúc thẩm
vụ án “mua dâm người chưa thành niên” ở tỉnh
Hà Giang, có dấu hiệu dính líu đến ông
Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh, sau khi
luật sư bào chữa cho một bị cáo, đưa ra
nhiều bằng chứng, chứng minh rằng, các cơ
quan bảo vệ pháp luật của huyện Vị Xuyên đã
vi phạm luật tố tụng hình sự, thậm chí không
loại trừ khả năng, họ đã “cố ý làm sai lệch
hồ sơ vụ án”, biến nạn nhân thành tội phạm,
đại diện Viện Kiểm sát Hà Giang thực hiện
quyền công tố ở phiên xử đó cũng tuyên bố,
những sai sót nghiêm trọng ấy chỉ là... lỗi
đánh máy!
Trước nữa, hồi tháng
10 năm ngoái, sau khi bị chỉ trích về việc
đã trao ba giấy chứng nhận “Sản phẩm an toàn
vì sức khoẻ cộng đồng năm 2009”, của Bộ Khoa
học Công nghệ Môi trường, cho Vedan – một
doanh nghiệp từng xả nước thải hủy diệt sông
Thị Vải, Ban Tổ chức cũng giải thích rằng,
nguyên nhân là do nhân viên “sơ xuất” trong
qúa trình xử lý hồ sơ, nhầm lẫn giữa danh
sách đề cử với danh sách được duyệt.
Chưa kể, chuyện tháng
9 năm ngoái, ông Đào Duy Quát, Tổng Biên tập
báo điện tử Đảng CSVN, sử dụng “lỗi đánh
máy”, để phân trần về việc tại sao cơ quan
ngôn luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
CSVN, lại đưa một tin có tính chất minh định
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là
của... Trung Quốc !
Vì sao “lỗi đánh
máy”, hoặc “sơ xuất” về văn bản lại liên tục
trở thành nguyên nhân chính của nhiều vụ tai
tiếng, ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống
công quyền?
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh,
từng là thành viên trong Ban Tư vấn cho Thủ
tướng Việt Nam, nhận định: Tôi nghĩ rằng
những sai sót mà công luận đã phát hiện, rồi
sau đó lại cho rằng đấy là sai sót của bản
thảo hoặc lỗi của người đánh máy, hoặc là
những sai sót của những người có trách nhiệm
không nhận phần trách nhiệm của mình, bộc lộ
một thiếu sót không thể xem thường trong quy
trình hành chính.
Khi tôi còn làm
việc thì quy trình hành chính được thực hiện
khá là nghiêm túc và chặt chẽ. Cấp nào xét
duyệt, cấp nào phải ký nháy vào đấy rồi sau
đó mới được ban hành.
Khi mà còn Ban
Nghiên cứu của Thủ tướng thì các văn bản
được Ban Nghiên cứu xem xét lại, rồi có ý
kiến và Thủ tướng tiếp thu, cho chỉnh sửa.
Những việc như ông
nêu thì là việc ở cấp bộ, Tôi nghĩ rằng kỷ
luật hành chính và trách nhiệm cá nhân phải
được đề cao. Theo tôi, Thủ tướng phải có
thái độ và có ý kiến về các sai sót đó.
Nếu quy trình hành
chính ở Việt Nam còn thiếu sót “không thể
xem thường” như ý kiến của Tiến sĩ Lê Đăng
Doanh thì kết quả công cuộc cải cách hành
chính đã tiến hành trong hàng chục năm qua ở
Việt Nam thế nào? Cần làm gì để tình trạng
“lỗi đánh máy”, hoặc “sơ xuất” về văn bản
không còn liên tục trở thành nguyên nhân
chính của hàng loạt vụ tai tiếng, ảnh hưởng
đến uy tín của hệ thống công quyền? Mời qúy
vị đón đọc bài kế tiếp.
Điểm đáng chú ý là dù
những sai sót ấy hết sức nghiêm trọng, khiến
uy tín của hệ thống công quyền, cũng như
niềm tin của công chúng đối với hệ thống này
cùng sụt giảm, song người ta chưa thấy có
bất kỳ ai phải chịu trách nhiệm.
Tại sao càng ngày
càng nhiều vụ tai tiếng mà nguyên nhân được
giải thích chỉ là vì “lỗi đánh máy” hay do
những “sơ xuất” mang tính kỹ thuật?
Lỗi hệ thống
Cho đến nay, chưa có
thống kê nào về những văn bản pháp qui hoặc
các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, vừa
vi phạm luật pháp hiện hành, vừa vô lý, bất
khả thi, cuối cùng phải hủy bỏ hoặc thu hồi,
gây thiệt hại nghiêm trọng cho uy tín của hệ
thống công quyền, cũng như niềm tin của công
chúng đối với hệ thống này.
Những văn bản pháp
qui, hoặc các dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật kiểu như vừa kể tuy nhiều, song điều
khiến công chúng bận tâm hơn cả là vì sao
không có ai phải chịu trách nhiệm? Vì sao
toàn bộ hệ thống công quyền, mặc nhiên chấp
nhận nguyên nhân dẫn tới sai sót là do “lỗi
đánh máy”, dùng nhầm danh sách, lấy lộn “bản
nháp”?..
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
xác nhận: Có một điều đáng lưu ý là trong
hai năm gần đây, số văn bản dưới luật, tức
là những văn bản không nhất thiết phải in
trên công báo và những văn bản mà Bộ Tư pháp
không nhất thiết phải có ý kiến và có lẽ
cũng không kịp thời có ý kiến tăng lên rất
nhiều.
Và ở đó có khá
nhiều những vấn đề về nội dung, về cách xử
lý mà dư luận hết sức quan tâm và lấy làm
phiền lòng. Tôi nghĩ rằng đây là một trong
những nội dung mà công cuộc cải cách hành
chính ở Việt Nam cần phải lưu ý một cách
thích đáng và làm tốt hơn để nâng cao niềm
tin của người dân đối với bộ máy của nhà
nước.
Vậy công cuộc cải
cách hành chính tại Việt Nam đang diễn tiến
thế nào? Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết:
Cho đến nay, cải cách hành chính chủ yếu là
về những vấn đề kỹ thuật văn bản, về thủ
tục, về một cửa.
Theo tôi, vấn đề
hành chính ở Việt Nam liên quan nhiều đến
vấn đề phân công, phân trách nhiệm, quy
trách nhiệm và mô hình trách nhiệm như thế
nào (?), quốc hội giám sát như thế nào, thực
thi quyền lực của quốc hội ra làm sao (?),
những quyền ở trong hiến pháp được thực thi
như thế nào trong thực tế (?).
Những vấn đề đó
rất hy vọng là sắp tới đây, nhất là trong
Đại hội Đảng sẽ được lảm rõ hơn và sẽ có
những buớc cải cách có hiệu quả hơn.
Vì sao công cuộc cải
cách hành chính tại Việt Nam đã khởi động
cách nay hàng thập niên, đã ngốn hàng ngàn
tỷ đồng nhưng đến lúc này, Việt Nam vẫn phải
đối diện với những vấn nạn hành chính vốn
chẳng mới chút nào như thế? Một số người
khẳng định, đó là hậu quả tất nhiên do cả hệ
thống bị lỗi, có người gọi tắt là “lỗi hệ
thống”.
“Lỗi hệ thống” là gì?
Nhận diện ra sao? Khi được đề nghị mô tả,
phân tích và nêu giải pháp sửa “lỗi hệ
thống”, nhân sự kiện Bộ Giáo dục&Đào tạo rút
lại dự thảo đã công bố vì dùng nhầm “bản
nháp”, một chuyên viên cao cấp về quản trị
hành chính, yêu cầu không nêu tên, khuyên:
Đâu có phải là lỗi như người ta nói. Không
phải đâu! Làm gì có chuyện ấy! Những thủ
đoạn đó thì ở đây người ta rành lắm nhưng
phân tích để làm gì, mình sẽ được cái gì?
Nếu mình phân tích
như vậy để người ta chấp nhận là… à, cái
kiểu làm như vậy là không được thì cuối cùng
chúng ta sẽ được cái gì?
Chúng ta đâu có
được cái gì! Nếu mà chúng ta thắng họ keo
này thì về sau, có gì đó sai, đã đưa ra công
cộng, công chúng rồi thì họ không sửa được.
Mình hãy để đường cho họ sửa bởi vì mình
biết rằng thực chất, cái đó không hề là sai
sót. Cái đấy là đường thoát cho họ. Nếu công
luận phản ứng mạnh quá thì họ có đường đó để
thoát. Tại sao mình lại chặn đường đấy?
Khó sửa
Ý kiến mà quý vị vừa nghe liệu có
thiếu lạc quan? Liên quan đến hoạt động của
hệ thống công quyền, tháng 11 năm ngoái, tại
diễn đàn Quốc hội, một đại biểu là ông Lê
Văn Cuông đã chất vấn ông Nguyễn Tấn Dũng về
kỷ cương: Vừa qua, Ủy ban Kiểm
tra Trung ương đã chỉ ra hàng loạt sai phạm
của các Ban cán sự Đảng tại các tỉnh và bộ,
ngành trung ương. Trong khi đó có nhiều chủ
tịch tỉnh không chấp hành nghiêm ý kiến chỉ
đạo của Thủ tướng. Đặc biệt có chủ tịch
tỉnh, năm lần Thủ tướng chỉ đạo nhưng vẫn
không chịu chấp hành.
Khi giải
trình, ông Nguyễn Tấn Dũng hỏi lại:
Việc chủ tịch nhiều lần không chấp hành ý
kiến của Thủ tướng Chính phủ như đồng chí
nói năm lần đó thì tôi cũng chưa biết trường
hợp nào... Tôi cũng chưa rõ.
Ông Lê Văn
Cuông phải cung cấp thêm thông tin:
Chủ tịch mà Thủ tướng chỉ đạo năm lần nhưng
không chấp hành là chủ tịch UBND tỉnh Hà
Giang và có liên quan đến sự việc của Công
ty Sông Lô
Cuối cùng,
thay vì trả lời, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên
bố: Tôi cũng có nhớ là hồi đồng
chí Phạm Văn Đồng còn sống, có lần cũng nói
là có lẽ đồng chí làm Thủ tướng lâu nhất của
đất nước này nhưng mà đồng chí cũng chưa xử
lý kỷ luật đồng chí nào, kể từ chủ tịch xã
phường trở lên. Tôi thì cũng... Tới nay thì
tôi nhớ tôi cũng chưa... hơn ba năm nay thì
tôi cũng chưa xử lý kỷ luật đồng chí nào.
Chắc là phải học theo đồng chí Phạm Văn
Đồng...
Trong chuyến
thăm Ấn Độ hồi cuối tháng 2 vừa qua, trả
lời
hãng thông tấn Express của Ấn Độ về
việc, đã đến
lúc Việt Nam có hệ thống đa
đảng hoặc có các đảng khác ngoài Đảng
CSVN chưa, ông Nguyễn Phú Trọng, cho biết:
Không phải là nhiều đảng thì nhiều
dân chủ hơn, hai đảng thì có ít dân chủ hơn
mà một đảng thì có ít dân chủ nữa. Vấn đề
thì đang có nhiều ý kiến tranh luận.
Thực tiễn các bạn thấy là
đất nước chúng tôi về chính trị xã hội ổn
định, nhân dân được làm chủ thực tế.
Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ. Các
đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm
vụ phản biện và giám sát xã hội, đất nước
vẫn đang phát triển, đang đi lên. Từ thực tế
thì thấy là
trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước
chúng tôi thì
thực hiện một đảng vẫn là
hiệu quả nhất. Chúng tôi nói là ở Việt Nam
chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải
có chế độ đa đảng.
Có một số người đồng
tình với tuyên bố đó của ông Nguyễn Phú
Trọng. Vừa qua, khi trả lời phỏng vấn của
Đài Á châu Tự do, ông Nguyễn Trường Tô, chủ
tịch tỉnh Hà Giang, một trong những nhân vật
nổi tiếng do năm lần không chấp hành chỉ đạo
của ông Nguyễn Tấn Dũng, song Thủ tướng Việt
Nam vẫn tuyên bố không muốn kỷ luật, đồng
thời còn đang liên quan đến một vụ tai tiếng
vì “mua dâm người chưa thành niên”, nhận
định về dư luận:
Có lẽ theo tôi
nghĩ là trước đại hội thôi nếu mà chuẩn bị
sắp xếp đại hội xong thì mọi việc có khi nó
lại, lại trở lại bình thường. Trả lại tên
cho…(cười). Nói thế chắc anh hiểu…
Không phải một mà có
rất nhiều người hiểu điều ông Nguyễn Trường
Tô không nói.