Việt Hà có bài phỏng vấn giáo sư Carlyle
Thayer, giáo sư môn chính trị học thuộc học
viện quốc phòng Úc, người có nhiều nghiên
cứu về tình hình chính trị quân sự ở châu Á,
về khả năng hiện đại hóa quân đội Việt Nam
và những thách thức trong giai đoạn mới.
Đánh giá về quân đội Việt Nam, trước hết ông
Carlyle Thayer cho biết:
Thực lực quân đội VN
Quân đội Việt Nam đã
có những bước thụt lùi kể từ sau khi Liên
bang Xô Viết sụp đổ hồi năm 1991 vì họ có
toàn những thiết bị và vũ khí trị giá hàng
tỷ đô la của Liên xô cũ mà họ không thể tự
duy trì, bảo hành, bị hư hỏng dần theo thời
gian. Cho nên bây giờ họ đang cố gắng bắt
kịp lại với thay đổi. Điều khác nhau là vào
năm 1991 thì họ phụ thuộc vào Liên xô trong
hiệp ước Vacsava, còn bây giờ họ phụ thuộc
vào Nga về vũ khí và tiếp tục mở rộng quan
hệ với nhiều nước khác nữa ngoài những nước
trong khối Vacsava cũ bao gồm cả việc mua
máy bay từ Pháp chẳng hạn.
Việt Hà: Vậy
ông đánh giá nội lực của quân đội Việt Nam
thế nào so với các nước khác trong khu vực?
Carl Thayer:
Chúng ta có thể so sánh trên nhiều mặt như
khả năng tự bảo vệ của quân đội Việt Nam, và
thực sự là đội dân quân tự vệ của Việt Nam
là một đội ngũ đáng kể có khả năng bảo vệ
tốt. Hệ thống bảo vệ trên không của họ đã
từng rất tốt trong thời gian chiến tranh
Việt Nam nhưng rồi bị xuống cấp, hỏng và chỉ
có thể bảo vệ một vài thành phố lớn. Việt
Nam chưa bao giờ có một hải quân mạnh, kể cả
so sánh trong khu vực. Việt Nam có khả năng
hạn chế trong việc phô trương sức mạnh trên
biển.
Việt Nam chỉ có thể
đối đầu được với Lào, Campuchia và có thể tự
bảo vệ mình khỏi những cuộc tấn công từ
Trung Quốc. Nhưng Việt Nam chỉ có rất ít máy
bay hoạt động tầm xa. Nếu so sánh về lực
lượng biển, tấn công chiến lược để thu lấy
lãnh thổ thì Việt Nam chỉ đứng hạng 4 trong
tất cả, trừ khả năng tự bảo vệ mình. Hạng
đầu là Singapore. Quân đội Việt Nam có thể
tương đương với quân đội Miến Điện, Brunei,
Campuchia, Lào, Philippines nhưng khổng thể
so với Singapore, Malaysia, và Thái Lan.
Trên tất cả là Trung Quốc. Việt Nam xếp ở
danh sách 6 nước cuối trong tổng số 10 nước
Đông nam Á.
Việt Hà: Với
thực lực của Việt Nam như vậy, theo ông đánh
giá Việt Nam có gặp trở ngại nào trong nỗ
lực tự bảo vệ mình? Đâu là kẻ thù tiềm năng
mà Việt Nam phải đối mặt?
Carlyle Thayer:
Chúng ta nhận thấy các nước yếu cũng dễ bị
các nước khác xâm lược và gây hấn. Việt Nam
có thể tự bảo vệ mình. Khả năng một nước nào
đó xâm lược Việt Nam trên bộ sẽ là hết sức
khó khăn. Nhưng Việt Nam lại có đến gần 3000
km bờ biển và có những khu kinh tế biển quan
trọng mà Việt Nam đang cố gắng xây dựng khả
năng hải quân trong suốt khoảng 15 năm qua
để bảo vệ.
Nước duy nhất có khả
năng đe dọa Việt Nam là Trung Quốc. Có nhiều
thế lực bên ngoài khác cũng có thể đe dọa
Việt Nam nhưng họ không có ý định đó. Việt
Nam và Trung Quốc thì lại đang có tranh chấp
trên biển Đông, việc Trung Quốc xây dựng đảo
Hải Nam cũng đặt Việt Nam vào thế bất lợi về
mặt chiến lược.
Những thách thức
Việt Hà:
Việt Nam đang cố gắng hiện đại hóa quân đội
của mình bằng cách mua vũ khí từ các nước
khác như tàu ngầm từ Nga, máy bay từ Pháp.
Xin ông cho biết những rủi ro và thách thức
đi kèm khi Việt Nam tiến hành hiện đại hóa
quân đội?
Carlyle Thayer:
Rủi ro đầu tiên là vấn đề về chi phí. Sách
trắng của Việt Nam vừa công bố với các số
liệu quốc phòng cho thấy không cách nào mà
có thể dùng toàn bộ ngân sách năm ngoái chỉ
để mua 6 tàu ngầm. Mà 6 tàu ngầm này chưa
bao gồm cả việc huấn luyện, trang bị hạ
tầng. Vì vậy tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam cần phải rất cao để có tiền chi tiêu
quốc phòng. Đây là một trò mèo vờn chuột.
Một khi một nước đang
cố gắng thu lấy lợi thế so với nước khác,
thì các nước khác cũng sẽ vào cuộc và có
phản ứng. Vì thế Việt Nam có thể rơi vào
tình huống là một sự gia tăng về quân sự hay
trên một khía cạnh nào đó có thể gọi là chạy
đua vũ trang. Mà cuối cùng thì lúc nào Trung
Quốc cũng mạnh hơn. Việt Nam cần những khả
năng tối thiểu nhất để tránh sự bành trướng
của Trung Quốc, khả năng để bảo vệ các giếng
dầu ngoài khơi của mình. Việt Nam muốn đến
năm 2030 sẽ có khoảng 50% GDP đến từ biển.
Rủi ro thứ hai nữa là
vấn đề các vũ khí không tương thích với
nhau. Họ mua tàu ngầm ở đây, nhưng họ không
biết làm thế nào để phối hợp nó với các vũ
khí khác và như thế thì tốn kém. Rồi còn vấn
đề về chỉ huy điều khiển. Trong tình huống
có xung đột, liệu Việt Nam có thể đảm bảo
tất cả các lực lượng quân đội được sử dụng
một cách hợp lý, và tránh việc người điều
khiển sử dụng vũ khí vào kẻ thù hoặc ví dụ
là Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác khi
họ cảm thấy bị nguy hiểm thay vì tuân theo
một lệnh nghiêm ngặt. Vì thế chi phí, rồi
việc phối hợp các vũ khí với nhau và có được
sự chỉ huy điều khiển đúng đều là những vấn
đề mà Việt Nam phải đối mặt khi hiện đại hóa
quân đội.
Việt Hà: Thưa
ông, Việt Nam cần cân nhắc điều gì khi tiến
hành mua vũ khí và hiện đại hóa quân đội?
Carl Thayer:
thứ nhất là chi phí, tiếp đến là sự cân
bằng. Bằng cách mua máy bay trực thăng của
Pháp mà vẫn còn các máy bay từ thời Xô Viết,
hay cố gắng mua các đồ thay thế cho các máy
bay Mỹ mà Việt Nam có được từ thời chiến
tranh, có thể tạo nên một rắc rối khủng
khiếp về hậu cần cho quân đội Việt Nam. Việt
Nam không thể trộn lẫn mọi thứ với nhau bằng
cách mua mỗi nơi một tí vì nó sẽ tạo nên khó
khăn lâu dài.
Cuối cùng thì sách
trắng của Việt Nam cũng không đưa ra được
học thuyết cụ thể để chúng ta hiểu được là
điều gì Việt Nam đang muốn trong khi tính
đến chuyện nâng cao khả năng tự vệ của mình.
Việc bảo vệ chủ quyền biển tất nhiên là ưu
tiên hàng đầu, rồi bảo vệ biên giới. Thế
nhưng trong tất cả những rủi ro thì Việt Nam
phải tính đến trong khi lên kế hoạch đưa vào
một thế hệ thiết bị mới cho một thập kỷ tới
hoặc lâu hơn nữa thì đâu là những rủi ro
chính trong một khoảng thời gian nhất định.
Đó là một điều khó khăn cho người lên kế
hoạch. Việt Nam phải cân nhắc việc các vũ
khí có phù hợp với nhau không, rồi kể cả khi
có vũ khí rồi thì làm thế nào để phối hợp nó
trong cả một tổng thể để khiến quân đội hoạt
động hiệu quả.
Việt Hà: Xin
cảm ơn ông đã dành cho đài chúng tôi buổi
phỏng vấn này
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-modernization-and-challenges-12222009105950.html