Nguyễn Hữu Hanh
Ấn bản lần 4
Năm 2008
Kính gởi Thân Phụ và Thân Mẫu
Câu chuyện về cuộc đời tôi xin đề tặng cho
cha tôi, ông Nguyễn Hữu Lư, và mẹ tôi, bà Thân Thị Quỳnh Trân, những người đã
cam gánh chịu những hy sinh to lớn để cho sáu đứa con của mình được học hành đến
nơi đến chốn hơn.
Cha mẹ chúng tôi đã nuôi dạy chúng tôi theo nền giáo huấn truyền thống của Khổng
giáo. Cha mẹ đã đào tạo tôi nên một con người chính trực. Tất cả những khuyết
nhược của tôi đều do hoàn cảnh xã hội, không dính líu gì đến gia đình tôi. Tôi mang ơn song thân tất cả mọi
chuyện trong đời: những kết quả tốt
trên con đường học vấn trong và ngoài nước, những thành công trên con đường sự
nghiệp ở trong nước và trên thế giới, những chức vụ mà tôi nắm giữ trong chính
quyền và trong giới kinh doanh quốc tế, sự kính trọng mà tôi dành được ở người
khác nhờ lòng trung thực của mình, cũng như sự thù ghét mà tôi đã gây ra bởi sự
cứng rắn tuân thủ những nguyên tắc chính trực mỗi khi dính líu tới quyền lợi của
công chúng.
N.H.H.
Gởi các con tôi
Để các con khỏi vướng vào cuộc chiến tranh khổ đau và huỷ diệt, ba bắt buộc phải gởi các con ra nước ngoài từ khi các con còn rất nhỏ, mới có từ một tới tám tuổi. Để theo đuổi sự nghiệp phục vụ đất nước mà ba coi như là mục tiêu tối thượng của đời mình, ba đã phải sống xa các con. Những năm tháng sống như vậy thì dù ba có thành công trong sự nghiệp đến đâu, cũng không phải là những năm tháng hạnh phúc nhất của đời ba. Ba chỉ muốn được sống với các con, bởi ba thương các con và nhớ các con hết sức; ba luôn luôn tìm cách đi thăm các con bất cứ khi nào có dịp.
Giờ đây chỉ khi về hưu ba mới
thật sự hạnh phúc vì có được điều ba mong ước hơn cả – được sống bên cạnh các
con.
N.H.H.
Lời cảm tạ
Tôi xin được gởi lời cám ơn
tới những bạn bè thân, anh Đoàn Thêm, chị Vũ Gia Kiều Dung, anh Phạm Kim Ngọc,
anh Nguyễn Kiên Định, đã từng khuyến khích tôi xuất bản cuốn sách này từ năm
1984, và cám ơn tất cả những ai quan tâm tới những gì tôi đã làm và kể lại trong
hồi ký này. N.H.H. Santa Barbara, Tháng Năm 2004
MỤC
LỤC
Tại sao tôi không muốn xuất bản sách trong
hai mươi ba năm qua
Quãng đời êm đẹp ở Việt Nam những năm 30 – 40
Buổi giao thời giữa nề nếp truyền thống đang
mất dần và cuộc sống mới
Nền giáo huấn ngàn xưa: Khổng giáo và Phật
đạo
Sợi dây vô hình nhưng hùng mạnh giữa con và cha mẹ
Lần đầu tiên gặp gỡ Tổng thống tương lai của Việt Nam
Buổi va chạm đầu tiên với ách thống trị thực
dân
Những năm tháng chiến tranh: Nhật chiếm đóng
và máy bay Đồng Minh oanh tạc đất nước
Con đường đại học bị gián đoạn vì chiến tranh
và tàn phá
Trận đói khủng khiếp vì chiến tranh
Trường quân sự. Chiến đấu chống quân Pháp tái
xâm lược
Giúp Việt Minh thành lập lực lượng bộ đội địa
phương
Tình bạn với hai người lính Nhật theo kháng
chiến Việt nam
Qua Paris tiếp
tục việc học
Phó giám đốc Sở
Tín dụng Ngân Hàng Trung Ương ba nước Đông Dương
Tổng giám đốc
Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam
Cố vấn kinh tế
tài chánh cho Tổng thống Ngô đình Diệm
Thành lập Ngân
Hàng Thương Tín, Ngân Hàng Khuếch Trương, Công ty Bảo hiểm, Công ty Sản xuất
Giấy
Xem dáng mặt:
nhận diện khách có thể không tốt trong vấn đề vay mượn
Thương thuyết
với Bộ trưởng Tài chánh Pháp Antoine Pinay
- Thỏa ước kinh tế tài chánh tiền tệ với nước Pháp – Tình bạn lâu dài với ông
Antoine Pinay
Phản kháng Ngô
Đình Nhu, người em quyền uy của Tổng thống Diệm
Thành lập ngân
hàng khuyếch trương kỹ nghệ SOFIDIV
Đời sống nông
trại: Những mẫu chuyện kỳ thú về săn thú rừng.
Đám tang phụ
thân theo lễ nghi truyền thống
Chánh sự vụ Ngân
Hàng Thế Giới: sự nghiệp quốc tế đầy hứa hẹn
Về nước theo lời
mời của chính phủ: Thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia
Làm việc với
Tổng thống Lyndon Johnson và các Đại sứ Mỹ
Làm việc với các
Thủ tướng, Bộ trưởng và Thống đốc
Ngân hàng các nước châu Á và châu Âu
Tổng uỷ viên
Kinh tế Tài chánh, phụ trách bốn Bộ: Tài chánh, Kinh tế, Thương mại và Kỹ nghệ
Gánh vác trách
nhiệm hạ giá đồng tiền quốc gia: thành công vang dội
Ván bài xì phé
với đám thương gia buôn gạo Trung Hoa
Ngăn chận đám
thương gia tham lam Đại Hàn mưu toan xâm nhập
Đòi hỏi chính
phủ Đại Hàn đáp ứng tương xứng
Chống tham nhũng
và buôn lậu
VII. Sự nghiệp quốc tế lần hai
Quản trị viên
phụ khuyết Hội đồng Quản trị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
Bất đồng ý kiến
với cách làm việc của các tổ chức quốc tế
Vụ kiện Ernest
Lederer về tội vu khống và nhục mạ
VIII. Sự nghiệp quốc tế lần ba
Cố vấn ngành
chương trình hổ trợ kỹ thuật của IMF
Về hưu sớm
IX. Chính sách ngoại giao của Mỹ
Những đường lối
tiếp cận ngoại giao sai lầm
Chính sách ngoại
giao của Mỹ trên thế giới: “đâu phải chính sách tốt đẹp nhất"
Đôi dòng tâm sự
LỜI NÓI ĐẦU
Có
nhiều người bạn biết tôi đã sống một cuộc sống đặc biệt và một sự nghiệp cũng
đặc biệt thú vị, đã gợi ý tôi kể lại chuyện đời mình. Tôi
luôn luôn từ chối vì tôi không muốn có thêm một cuốn sách nữa vào trong đống
sách của đám người thuộc chính quyền Saigòn cũ. Tôi đâu cần đến một cuốn sách để
tự biện bạch như họ, và tôi cũng không muốn viết ra những sự thật nửa vời hay
những sự thật bóp méo để biện minh cho hành vi quá khứ hay cho thái độ hiện tại.
Nhưng năm đứa con tôi, vốn sống xa cách tôi đã lâu, lại tha thiết muốn biết sự
nghiệp cũng như mối quan hệ của tôi với những nhân vật danh tiếng trên thế giới
như thế nào. Vì vậy mà bản thảo đầu tiên, tôi chỉ viết riêng cho gia đình tôi và
đặc biệt là cho năm đứa con tôi: tôi muốn mình hoàn toàn chân thật, không một
lời nói dối. Tôi muốn được hoàn toàn tự do khi kể lại các sự kiện đúng như tôi
đã chứng kiến, tôi muốn đánh giá các nhân vật đúng như tôi đã nhận định, và mô
tả các hoàn cảnh xã hội và chính trị đúng như tôi đã quan sát.
Trong hơn hai mươi ba năm qua, tôi không có ý định xuất bản cuốn sách của mình,
tôi vẫn cứ bị giằng co giữa những tư tưởng đối nghịch và những suy nghĩ trái
ngược nhau: tôi muốn kể lại một mảng lịch sử Việt Nam bởi vì tôi biết rất nhiều
điều bí mật, nhưng mảng lịch sử này lại mang đến cho tôi quá nhiều chuyện buồn
và quá ít chuyện vui. Tôi đã chứng kiến quá nhiều những con người thiếu tư cách,
và quá ít những con người thật sự đáng kính trọng. Ngay cả khi tôi viết sắp xong
bản thảo thứ hai này, tôi cũng chưa rõ mình có còn muốn xuất bản nó hay không.
Cần phải nói rằng nếu như tôi đã được sống một cuộc đời thú vị, thì đó hoàn toàn
là do may mắn và những cơ hội ngẫu nhiên. Tôi sinh ra vào đúng thời điểm khoảng
đâu hai mươi năm trước khi đất nước được độc lập; tôi lớn lên trong những ngày
tháng cuối cùng của một nếp sống đang mất dần và những giá trị truyền thống đang
tàn lụi. Tôi
vào Đại học khi những trường học ưu tú nhất ở nước Pháp lần đầu tiên được phép
mở cửa đón sinh viên thuộc địa. Và khi bước chân vào đời lần đầu tiên, tôi đã
may mắn được làm việc dưới quyền một viên Thanh tra tài chánh người Pháp sáng
chói, trẻ trung và tài năng, có khuynh hướng xã hội, đầu óc phóng khoáng và rất
có cảm tình với đất nước Việt Nam. Khi
miền Nam Việt Nam bắt đầu có phần nào độc lập và lãnh tụ phe Quốc gia Ngô Đình
Diệm về nước, tôi đã được một số người vô tư không phe nhóm – cả Pháp lẫn Việt –
giới thiệu với ông Diệm như là một chuyên viên giỏi nhất và trẻ tuổi nhất, và
ông đã yêu cầu tôi làm cố vấn kinh tế tài chánh cho ông, khi ông trở thành Tổng
thống của Việt Nam Cộng Hòa. Sau
khi giành được độc lập, Nam Việt Nam là một quốc gia mới được hình thành, cần
phải thiết lập những cơ chế mới, những tổ chức mới. Tôi được giao phó những chức
vụ chuyên môn quan trọng để hỗ trợ cho các chính trị gia mới được bổ nhiệm vào
các tổ chức được cải tạo lại từ thời thuộc địa cũ và thành lập các cơ chế tài
chánh ngân hàng mới. Ngoài những công việc thường lệ, tôi phải xử lý những vấn
đề kinh tế tài chánh quan trọng nhất, và do đó cũng là những vấn đề hấp dẫn
nhất. Vì những Bộ liên quan (như Tài chánh, Kinh tế, Ngoại giao…) hầu hết đều do
những chính trị gia không có kiến thức chuyên môn cầm đầu, nên tôi cũng được
giao trách nhiệm điều khiển những cuộc thương thuyết đầu tiên về các vấn đề tài
chánh tiền tệ với các nước đồng minh mới và cũ của Việt nam như Mỹ, Nhật,
Pháp...
Và như vậy, tôi có được biết bao nhiêu là cơ hội tham dự vào
những công việc quan trọng nhất của một quốc gia mới hình thành, học hỏi và thu
thập được những kinh nghiệm quí giá trong các lãnh vực tiền tệ, kinh tế và tài
chánh. Tôi sẵn sàng gánh vác thêm trọng trách, nhận thêm nhiệm vụ và tìm kiếm
mọi cơ hội nhằm phục vụ đất nước để học hỏi thêm. Ở
nước ngoài, tôi có may mắn gặp và quen biết nhiều nhà lãnh đạo lớn trên thế
giới, những người có cảm tình với đất nước Việt Nam hoặc có dính líu tới tương
lai và sự sống còn của Việt Nam. Một vài người, như Thủ tướng Pháp Antoine
Pinay, đã trở thành bạn bè cố cựu của tôi và vẫn còn tiếp tục giúp tôi sau khi
tôi từ giã chính trường. Khi
Việt Nam gia nhập các định chế quốc tế thì tôi đang có một tư thế thuận lợi. Vì
đã từng ở trong các cơ quan tài chánh quan trọng nhất của quốc gia và do đó có
được những kinh nghiệm chuyên môn và kỹ thuật cần thiết, năm 1965 tôi được mời
giữ một chức vụ cao trong Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) – người Việt Nam đầu
tiên và duy nhất giữ chức Chánh sự vụ trong World Bank ngay bước đầu tiên. Nói
tóm lại, tôi đã gặp rất nhiều may mắn trong suốt cuộc đời sự nghiệp. Thế
nhưng tôi cũng trải qua biết bao thăng trầm do việc tuân thủ một cách cứng rắn
những nguyên tắc đạo đức, chẳng hạn như sự trung thực và liêm chính, mỗi khi
dính líu tới quyền lợi của đất nước. Tôi đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong
niềm tin rằng xã hội loài người chỉ tốt đẹp lên khi một số người trong chúng ta
coi lợi ích của cộng đồng hay của đất nước chẳng khác gì quyền lợi của chính
mình.
Nhưng bất hạnh thay trong suốt cả sự nghiệp lâu dài ấy, tôi nhận thấy rất ít
người thật sự lưu tâm tới quyền lợi chung. Hầu hết thời gian người ta không dành
cho quốc gia hay dân tộc, mà dành cho gia đình họ, quyền lợi riêng của họ, cái
ta của họ, và trên hết là túi tiền của họ. Tình trạng này không chỉ xảy ra trên
đất nước tôi mà, lạ lùng thay, nó cũng có ở những cơ quan quốc tế có uy tín
nhất, những nơi được coi là quy tụ những con người ưu tú nhất; thế nhưng bất
hạnh thay cũng là nơi mà tánh tham lam ích kỷ chi phối mạnh nhất, và các phẩm
chất chính trực và năng lực chuyên môn thường bị gạt ra rìa bởi những toan tính
chính trị và âm mưu tranh giành quyền lực; và cũng là nơi mà quyền lợi của các
cường quốc thường xuyên lấn áp quyền lợi của các nước thuộc thế giới thứ ba,
ngược lại những lời họ rêu rao là cổ súy và bảo vệ cho quyền lợi của các nước
nhược tiểu. Sau
khi đã rời khỏi mọi chức vụ, giờ đây nhìn lại tôi bắt đầu nghi ngờ rằng sự tận
tụy với lý tưởng phục vụ nhân dân, cũng như tư cách đạo đức và lòng trung thực,
vốn là động cơ thúc đẩy tôi dám đứng thẳng, miệt mài làm việc trong bao năm
ròng, phải chăng là sai lầm, không đúng chỗ và không đúng lúc. Trở
về Việt Nam làm việc dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm vào những năm 50, tôi đã
đem hết sức ra phục vụ nhân dân, đôi khi quên cả bản thân mình. Thế nhưng sự tận
tâm ấy không được lòng ai, ngoài T.T. Diệm và vài ba người nữa. Ngay cả gia đình
T.T. Diệm và đám người thân cận của ông cũng khó chịu với thái độ cứng rắn của
tôi khi xử lý những vấn đề công ích. Trong khi có biết bao nhiêu người sẵn sàng
đổ xô tới phục vụ để lấy lòng họ, thì tôi lại từ chối giúp họ trong những vụ làm
ăn riêng tư. Và tôi đã bắt đầu tạo cho mình những kẻ thù dấu mặt. Và
khi tôi hy sinh sự nghiệp tốt đẹp ở Ngân Hàng Thế Giới, từ bỏ một chỗ làm ngon
lành với lương bổng hậu, để theo lời mời của chính phủ Sài Gòn, trở về Việt Nam
nhận lấy một lô công việc và trách nhiệm nặng nề, đeo đuổi lý tưởng về một cuộc
trường chinh gian khổ góp phần cứu lấy đất nước, bằng cách đảm nhiệm phần lớn
việc lãnh đạo kinh tế và tài chánh nhằm quét sạch nạn tham nhũng và hối lộ trong
chính quyền Sài gòn, thì đó có lẽ cũng là một sai lầm lớn. Sau một loạt các cuộc
đảo chính và phản đảo chính, chính quyền càng ngày càng thối nát, xã hội Sài gòn
và các thành phố lớn càng ngày càng sa đọa; những viên tướng đầy quyền uy, những
vị Tư lệnh vùng, những viên Tỉnh trưởng, và đặc biệt là những bà vợ của họ, bỏ
mặc quyền lợi quốc gia mà chỉ cố tìm cách vơ vét cho đầy túi. Điều này làm cho
quân đội thất vọng và chán nản, làm cho quần chúng căm ghét và khinh bỉ; nó tiêu
huỷ mọi ý chí chiến đấu còn sót lại trong binh lính và nhân dân. Miền Nam tựa
như một trái cây chín rữa chỉ chờ ngày rụng dưới giông bão. Điều
mỉa mai cay đắng là để đền đáp lại những nỗ lực chống tham nhũng của mình, chính
tôi lại bị những kẻ dính líu, và bị tôi trừng phạt, buộc tội hối lộ và tham
nhũng! Khi tôi ngăn chận vụ nhập lậu “xe hơi Fatima”, tôi đã tạo ra cho mình một
lô kẻ thù, và đám này đã buộc tội tôi là bảo vệ quyền lợi cho con buôn xe hơi.
Khi tôi từ chối không cấp tiền hưu bổng và quyền mua nhà cho một người vốn là
cựu nhân viên Ngân Hàng Quốc Gia và là một tân Nghị sĩ Quốc hội, vì những thứ
này chỉ dành cho nhân viên Ngân Hàng Quốc Gia, mà ông ta thì đã từ chức rồi,
nhân vật này đã lập tức lợi dụng vị thế mới của mình, lên diễn đàn Quốc hội gay
gắt chỉ trích tôi bằng đủ mọi lời dối trá. Khi tôi đóng cửa một Văn phòng Ngân
Hàng Quốc Gia ở Paris vì bất hợp lệ, không đúng với nghiệp vụ của Ngân Hàng
Trung Ương một xứ nghèo nàn và tốn kém vô ích, chưa kể có thể có những mục đích
bất chính ở sau lưng, thì con người đã mở Văn phòng ấy, vốn không hề có một kinh
nghiệm hay hiểu biết về ngành ngân hàng, đã lên án tôi đủ thứ tội trên đời.
Những loại vu khống như vậy không phải là chuyện hiếm trong những năm tôi làm
việc dưới chế độ Sài Gòn. Tôi
làm gì được đây? Chúng ta đang sống trong một xứ sở “tự do” (!) và ai muốn làm
gì nói gì cũng được, dù trái với lương tâm. Điều hay nhất tôi có thể làm là bỏ
ra ngoài tai mấy chuyện đó, hy vọng rằng ở ngoài cuộc đời lớn rộng, có những
người tôn trọng lẽ phải, sáng suốt, sẽ nhận ra ai phải ai trái, ai đáng khen và
ai đáng trách. Năm
1968, lòng đầy ngao ngán, tôi xin rút lui khỏi mọi chức vụ trong chính phủ và
Ngân Hàng Quốc Gia. Điều thúc đẩy tôi quyết định rời bỏ đất nước và quay trở về
Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) nhiều hơn cả là sự thiếu năng lực và tình trạng
tham nhũng tràn lan của chính phủ và quân đội Sài Gòn, sự suy đồi của xã hội tại
các thành phố lớn. Đối với tôi, số phận đất nước này đã được an bài: ngoại trừ
một phép lạ, Nam Việt Nam không còn cơ cứu vãn.
Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng.
Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công
đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã
gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: bên cạnh những người
đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây
những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có
những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên
(bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản v.v…). Một
ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy tám mươi vị bác sĩ
và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho
cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước
chúng ta bên kia nữa! Có
đôi khi tôi cảm thấy tuyệt vọng với cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, những
người tự xưng là đại diện cho đất nước tôi và cho dân tộc tôi bên quê nhà. Đâu
rồi bốn ngàn năm văn hiến mà họ rêu rao là cội nguồn của họ? Đâu rồi đức hạnh và
phẩm chất cao quí của cha ông và của những lớp người đi trước mà họ cho rằng
mình thừa hưởng? Phải chăng xã hội chúng ta đã suy đồi đến nỗi tư cách đạo đức
và lòng trung thực ngày nay quá hiếm hoi, và những con người đáng kính quá ít? Năm
1991, khi tôi về thăm lại Việt Nam lần đầu tiên sau chiến tranh, tôi đau lòng
trông thấy nhân dân sống trong những điều kiện nghèo nàn và khốn khổ. Tôi muốn
giúp đỡ đồng bào tôi, dù có những trở ngại chính trị và những hy sinh tài chánh
về phía tôi. Tôi đã về thăm quê hương bốn lần, theo lời mời của Thủ tướng chính
phủ Việt Nam lúc ấy, bằng tiền túi của mình, nhằm cố gắng góp phần cải cách và
xây dựng lại đất nước. Nhưng những điều kiện của đất nước lúc đó chưa thích hợp
cho những nỗ lực như vậy, và năm 1994 tôi đành phải chấm dứt mọi kế hoạch. Sau
khi thấy không giúp được xứ sở trong bốn chuyến về nước, tôi hy vọng dùng cuốn
sách của tôi, để trao kinh nghiệm nghề nghiệp, chuyên môn, cho dân, cho
nước nhưng tiếc thay, bức thành kiểm duyệt qúa cao nên chuyện
này cũng không thành.
Khi người
ta không hiểu đâu là điều lợi, đâu là điều hại cho đất nước, thì bất cứ điều gì
mới lạ cũng là quốc cấm cả! Tôi
phải thành thực thú nhận rằng nếu hôm nay tôi phải làm lại những gì tôi đã làm
trong các năm 50 và 60 của thế kỷ qua, tôi không dám chắc mình còn đủ can đảm để
duy trì sự thẳng thắn, lòng trung thực và tận tụy như xưa, khi đối diện với ngần
ấy sự vô tâm, thói ích kỷ và tệ tham nhũng. Quả là buồn khi phải đi đến một kết
luận như vậy. Tôi
cố tự thuyết phục mình rằng ở sâu trong lòng người dân Việt vẫn còn những đức
tính và giá trị truyền thống, được lưu truyền qua hàng ngàn năm văn hoá, thử
thách và chiến đấu – một điều mà tôi đã được thấy, nhất là ở thôn quê xa đô thị.
Đó
là điều duy nhất còn cho tôi niềm tin vào đồng bào và quê hương đất nước.
N.H.H
Santa Barbara, Tháng Năm
2004
I. THỜI THƠ ẤU
Tôi
sinh ngày 10 tháng 11 năm 1923 tại cố đô Huế trong ngôi nhà của bên ngoại tôi,
vì mẹ tôi muốn sinh đứa con đầu lòng tại quê bà hơn là tại ngôi nhà đầu tiên của
chúng tôi ở Quảng Trị, cách Huế quê hương bà chừng 60 cây số. Cha
tôi vốn rất gắn bó với làng quê của ông, nơi ông nội tôi đang sống; trong bất cứ
chuyện gì cha tôi cũng nghiêng về phía gia đình và làng xã ông. Ông cư trú và
dạy học ở Quảng Trị, cách làng Đại Hoà chúng tôi khoảng 12 cây số. Quan điểm của
ông là việc làng lo trước, việc nước lo sau. Mỗi tháng ông đi bộ ít nhất một lần
về thăm cha mẹ. Sau này ông đi bằng xe đạp, khi ông dành dụm đủ tiền sắm một
chiêc xe đạp mua từ bên Pháp, một chiếc hiệu Saint Étienne mà ông cưng quí suốt
đời. Thời đó, xe đạp và xe kéo là hai loại phương tiện di chuyển cá nhân duy
nhất ở Việt Nam. Xe hơi riêng hiếm đến nỗi có thể đếm trên đầu ngón tay. Thay
vì làm khai sinh cho tôi đúng ngày sinh ở Huế, cha tôi đã chờ cho tới dịp về
thăm làng mới đăng ký trước bạ cho tôi ở làng ông. Vì vậy mà ngày và nơi sinh
chính thức của tôi là 15 tháng Ba năm 1924 tại làng Đại Hoà, tổng An Dạ, phủ
Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thay vì mồng Mười tháng Mười Một năm 1923 tại thành
phố Huế, tỉnh Thừa Thiên. Sau
này mẹ tôi kể lại rằng khi tôi chào đời, cha tôi đã vào Huế thăm bà và khi cô y
tá bế đứa bé là tôi cho ông xem, ông đã lóng ngóng ôm đứa nhỏ vào trong hai cánh
tay dài ngoằng của ông và hôn con, nuớc mắt chảy dài xuống hai gò má. Đoạn ông
quay lại nói với mẹ tôi “Tôi muốn cho con được học hành tử tế hơn tôi, nhưng tôi
chỉ là một tên thầy giáo nghèo xác, làm sao lo nổi cho con vào học đại học Hà
nội hay đại học Pháp!” Ông đã từng được nhận vào trường đại học Hà nội, nhưng
không được học, vì ông nội tôi không chịu chu cấp cho ông học thêm nữa. Thế
nhưng ông nội tôi, vốn là một vị quan trong triều về hưu, lại rất giàu; chỉ có
điều ông tập trung mọi sự hào phóng vào ba người con trai con đời vợ trước, còn
cha tôi là con của bà vợ kế. Và về sau, ông nội tôi cũng để lại toàn bộ gia sản
cho ba người con vợ lớn của ông thôi. Tuổi
thơ tôi dính mắc với đủ thứ bịnh: quai bị, sởi, hen suyễn, vàng da v.v... Cha
tôi hết sức thương tôi vì tôi là đứa con đầu lòng và là con trai trưởng. Truyền
thống gia đình Việt Nam đặc biệt coi trọng con trai trưởng, bởi người trưởng nam
sẽ là người gánh vác công chuyện gia đình và lo toan việc thờ cúng tổ tiên; anh
ta được giáo huấn đầy đủ các tiêu chuẩn về đạo đức và cách xử thế ở đời để tới
phiên anh, anh sẽ dạy lại cho mấy đứa em, cha mẹ anh sẽ không cần phải lo nữa,
họ trông cậy anh đảm trách việc đó. Cha tôi đã dạy dỗ tôi rất nghiêm khắc trên
nền đạo đức và triết lý của Khổng giáo và Phật giáo. Ông không dạy mấy em tôi
như vậy; ông giao việc đó cho mẹ tôi. Mẹ tôi vốn tánh rộng rãi khoan hoà, không
theo sát đạo lý cặn kẽ như cha tôi. Thuở trước, truyền thống giáo huấn theo
Khổng giáo rất hữu hiệu. Nhưng kể từ thế hệ tôi, phương pháp này bắt đầu kém
hiệu quả, vì trong xã hội hiện đại, em út không còn kính trọng anh chị như thuở
xưa, đặc biệt là khi chúng tôi qua sống bên châu Âu hay Mỹ, nơi cha mẹ đối xử
với tất cả con cái y hệt như nhau. Thế nhưng cha tôi không bao giờ thay đổi cung
cách của ông. Sau này, khi tôi trở về Việt Nam làm việc, ông thường vào Sài Gòn
thăm tôi bốn năm lần mỗi năm, ở với tôi một thời gian để bàn chuyện gia đình,
nhưng không hề làm vậy với các em tôi. Khi
tôi còn nhỏ, cha tôi thường dắt tôi theo trong những chuyến đi săn hay đi câu
của ông. Những chuyến đi này thường dài từ 40 tới 50 cây số lội bộ, leo núi,
băng rừng, ngủ giữa đồng rộng, trên sườn đồi hay cạnh bờ sông – không lều trại,
không túi ngủ, chỉ có ít tấm chiếu lát và mền thô. Đi
câu thú vị vô cùng vì phong cảnh thiên nhiên thường xinh đẹp và sông suối thường
đầy cá. Dòng nước chảy xuyên qua các khe suối hay đổ xuống những con thác nhỏ,
hay nước trong các con sông uốn trôi lững lờ giữa đồng cỏ xanh, đều rất sạch,
trong vắt, không một chút bợn nhơ hay ô nhiễm. Chúng tôi câu bằng những cái cần
thô sơ làm từ các cành tre nhỏ chặt ngay trong rừng, nhưng bao giờ cũng thành
công vì lũ cá trong rừng chẳng biết gì hơn ngoài những thức ăn và những miếng
mồi mà mẹ thiên nhiên dành cho chúng.
Tại
những địa điểm mà cha tôi biết rất rõ, chúng tôi chặt một ít tre rồi dầm xuống
nước; sáng hôm sau chúng tôi có thể nhìn thấy từng đàn cá đang xúm xít rỉa lá
tre dưới làn nước trong veo, làm cho bụi tre chỉ còn trơ cành và gốc. Thế rồi
chúng tôi liệng xuống một thỏi nhỏ thuốc nổ, chờ nó nổ và lũ cá ngất ngư rồi,
chúng tôi lao xuống nước tóm những con cá bị thương nhưng vẫn còn quẫy rất dữ,
đôi khi làm chúng tôi bị thương không ít. Mỗi
khi cảm thấy khúc sông nào đó có nhiều cá hanh trắng quí hiếm, cha tôi
hái một số lá non từ một loại cây leo đặc biệt về nhồi thành bánh. Sau đó chúng
tôi giăng lưới bắt tôm dưới bờ sông lên, thận trọng nhét một viên nhỏ thứ bánh
đó vào trong bụng con tôm còn sống rồi thả chúng lại xuống sông. Rồi thì, lạnh
run trong cái lạnh buổi sáng sớm, chúng tôi trùm mền hay chiếu lát, kiên nhẫn
ngồi trên bờ, chờ cho tới khi những con cá hanh trắng nổi dật dờ trên mặt nước.
Sau khi ăn phải những con tôm kia khoảng nửa giờ, lũ cá hanh bị say thuốc, bắt
đầu trồi lên mặt nước, phơi bụng bơi lòng vòng, và chúng tôi bơi ra tóm lấy
chúng trước khi chất thuốc hết hiệu lực.
Chúng tôi kho cá nấu cơm ăn ngay tại chỗ cắm trại, đó là những bữa ăn ngon nhất
trong đời tôi. Chúng tôi san sẻ thức ăn với những người đi cùng đường; phần nào
không đem về được cho mẹ tôi, chúng tôi cho những người dân tộc thiểu số ở các
làng bên, hay cho dân xóm vạn ven sông. Có đôi khi chúng tôi nhóm một cụm lửa
lớn bên bờ sông để hun khói mớ cá bắt được trước khi đem về nhà. Đi
săn thì không thú vị bằng vì cha tôi chỉ sắm nổi một khẩu súng săn nhỏ, ca-líp 16; các loại thú săn thường là gà gô, trĩ, gà rừng, thỏ rừng,
thỉnh thoảng vài con hươu nhỏ. Với một khẩu súng nhỏ như vậy, chúng tôi không
dám vào sâu trong rừng, nơi lợn lòi và cọp không phải là trò chơi của chúng tôi. Cha
tôi rất thích đi du lịch đây đó. Trong những ngày tháng ấy, những lần đi tắm
biển là cả những chuyến viễn hành, vì chúng tôi thường phải đi bộ từ nhà ra bãi
biển. Đâu có đủ xe đạp cho tất cả mọi người. Có đôi khi chúng tôi kiếm tiền thuê
một chiếc thuyền, một chiếc tam bản
– cái tên gọi từ tiếng Trung quốc có nghĩa là ba tấm ván – dài khoảng 6 mét, có
mái khoang che bằng tre nứa. Thời
gian ấy chúng tôi còn sống ở Quảng Trị. Bãi biển gần nhất là Cửa Việt nằm cách
khoảng 16 cây số nên chúng tôi thường phải ra đi từ 4 giờ sáng. Chúng tôi đem
theo thức ăn, và dùng bữa dưới bóng râm của những cây fi-lao, một loại
cây thông, cao, lá nhỏ và dài như kim, reo vi vu trong làn gió biển nghe rất êm
tai. Lá fi-lao không có mũi nhọn như lá thông nên có thể nằm ngủ trên đám lá
dưới gốc fi-lao êm hơn nằm dưới gốc thông. Bao giờ chúng tôi cũng dừng chân ở
một làng chài để mua hải sản, món tuyệt nhất là sò huyết, một loại sò nhỏ, vỏ
sậm đầy lông, khi nướng trên lửa than sẽ mở miệng và cho ra một chất nước màu đỏ
như huyết, ăn rất ngon.
Cửa biển thứ hai, xa hơn, là cửa Tùng, nằm ở vĩ tuyến 17, sau này chia đôi Việt
Nam thành hai miền Nam, Bắc. Cửa Tùng cách nhà chúng tôi khoảng 60 cây số nên
chúng tôi thường thuê thuyền tam bản để đi. Bốn, năm người chúng tôi chiếm
khoang chính rộng khoảng 3 mét và dài 5 mét, khoang kia nhỏ hơn dành cho gia
đình chủ thuyền, với 4 người – cặp vợ chồng và hai con nhỏ. Khoang thuyền chỉ đủ
chỗ để ngồi hoặc nằm chứ không đứng được, vì nó chỉ cao khoảng mét hai tính từ
sàn lên mái khoang. Thế nhưng tất cả mọi người ăn, ngủ, giặt giũ và mọi thứ linh
tinh ở trên đó. Chúng tôi xuống sông tắm rửa mỗi khi dừng thuyền lại để nghỉ
ngơi hay ngắm cảnh. Thuyền lướt đi theo nhịp đẩy mái chèo mà người chủ thuyền
hoặc vợ anh ta chèo với những động tác hết sức uyển chuyển, theo tiếng hò khoan
nhặt của họ.
Trong tất cả những bãi biển đẹp trên thế giới mà tôi từng đặt chân tới trong
nhiều năm du lịch khắp nơi, thì không nơi nào có thể sánh được cửa Tùng và Đại
Lãnh ở miền Nam Việt Nam, với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ của nó. Tôi chỉ sợ
việc phát triển đất nước có thể làm mất đi vẻ đẹp của hai chốn này, vì người ta
thường có khuynh hướng huỷ hoại tất cả mọi thứ bởi chính lòng ham muốn phát
triển thêm và làm đẹp thêm những cảnh quan vốn xinh đẹp ấy. Cũng tại cửa Tùng tôi được thưởng thức ba món ăn mà tôi không hề gặp ở nơi nào khác: Ốc gạo,
một loại ốc nhỏ rất sạch, màu vàng, sống trong cát ở cửa sông, có vỏ tròn, lớn
cỡ một hột đậu phụng bự. Luộc ốc bằng nước sôi xong, chúng tôi dùng gai cây
chanh lể ốc ra nhấm nháp, sau khi đã khươi miếng vảy che miệng ốc đi –
thịt chúng mềm, đậm đà, hết sức thú vị. Cá mó, một loại cá thân lép có đủ thứ màu sáng,
ngó rất buồn cười, nhưng thịt ngon tuyệt vời. Và
hải sâm tươi mà chúng tôi đi lượm buổi sáng sớm giữa các khe đá khi triều
xuống. Loài này mỗi khi nhặt lên lại tiết ra một chất nước đặc ngộ nghĩnh màu
đỏ, nhưng khi nấu với nấm rơm thì ăn ngon hơn bất cứ loại hải sâm khô nào, dù
đắt tiền, ở các tiệm ăn. Bao
giờ tôi cũng lò dò theo cha tôi trong những chuyến đi câu ấy, lúc thì vùng vẫy
bơi lặn trong nước sông, lúc thì lang thang chân trần trên bãi biển, đến nỗi
trượt chân té ngã giữa các tảng đá. Một hôm ở cửa Tùng chúng tôi chứng kiến một
sự cố vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Cùng đứng câu với chúng tôi ở một vùng nước
cạn trên bãi là hai người đàn ông và một người đàn bà. Đàn ông thường chỉ đóng
khố, và mấy cái khố thường rách tả tơi, ngoài ra họ không còn mặc thêm gì nữa.
Họ không hề ngượng khi phơi bày thân thể sau mấy cái khố rách nát. Người dân
nghèo hay tận dụng tất cả mọi thứ, kể cả giẻ rách. Thỉnh thoảng họ lại lặn xuống
nước để bắt cua hay tôm hùm bằng tay không. Sáng hôm đó, một người đàn ông lặn
xuống nước, và thình lình tôi trông thấy anh ta vọt lên khỏi mặt nước la hét,
một con cua dính cứng ở dương vật. Anh ta lê từng bước đi chậm chạp, bộ dạng đau
đớn và kỳ cục rất buồn cười, với con vật độc ác đung đưa giữa hai chân. Chúng
tôi cười đến nỗi chảy cả nước mắt và thắt cả bụng. Cha tôi vội lao tới giúp anh
ta, nhưng ông cũng đang cười rũ đến nỗi ông không gỡ con cua ra được. Cuối cùng
ông lượm một cục đá đưa cho người đàn ông, anh ta cố lết tới ngồi dạng chân trên
một tảng đá. Nhưng anh ta đau quá không cử động nổi nên anh ta nhờ cha tôi đập
giùm, và cha tôi đã đập con cua, nhưng suýt chút nữa ông cũng bị nó kẹp. Con cua
quờ quạng rớt xuống, nhưng cái càng của nó vẫn cứ kẹp ở chỗ cũ và cha tôi phải
đặt người đàn ông nằm xuống trên mặt đá để đập dập nó ra. Sự cố này dường như
kéo dài vô tận, và người đàn ông kia chắc phải đau khủng khiếp vì gương mặt anh
ta tái xanh tái tím. Gia
đình tôi rất nghèo nên đối với tôi, đồ chơi là thứ xa xỉ dành cho đám bà con
giàu có của tôi ở kế bên nhà. Bắt chước bọn trẻ con hàng xóm, tôi tự tạo lấy đồ
chơi cho mình: một chiếc xe tăng làm bằng một trục chỉ trống, với một que tre và
mấy cọng thun làm bộ máy nổ, lực đẩy được cung cấp bởi cọng thun xoắn lại và dầu
nhớt bôi trơn là sáp đèn cầy; một cái ná làm bằng một nạng cây hình chữ Y với
hai sợi dây cao su và một miếng da giày cũ.
Nhưng có những ngày tôi buồn bã không biết làm gì, sau mấy trò bắn bi hay ném
xu. Một hôm tôi đứng sau cánh cửa chờ cha tôi đi đánh tennis trở về. Tôi vừa
chơi với tấm lưới trên khung cửa vừa ngóng chừng bóng dáng chiếc xe đạp của ông
xuất hiện cuối con đường. Khi ông bước vào nhà, ông bắt gặp tôi đang thọc cây
vào tấm lưới cửa, và ông
dùng cây vợt tennis nện một cú lên đầu tôi. Đau hết sức. Đó là lần đầu
tiên ông đánh tôi và cũng là lần đầu tiên tôi giận ông, dù chỉ vài ba phút, bởi
tôi luôn luôn thương và kính trọng ông vô cùng. Ngày
hôm sau, ông mua cho tôi một món quà, như để bày tỏ tình thương và lòng hối hận,
món đồ chơi đầu tiên và duy nhất mà tôi được tặng trong thời thơ ấu – một con
chuột máy. Món tiền này là cả một sự hy sinh của ông; tôi quí con chuột đến nỗi
tôi đã gìn giữ nó nguyên vẹn trong hơn mười năm, không phải như một món đồ chơi,
mà như một kỷ vật cha tôi để lại, và như một kỷ niệm về lần bị phạt đầu tiên. Mặc dù nghèo, cha mẹ tôi lại rất giàu lòng trắc ẩn. Nhiều học sinh nghèo được cha mẹ tôi nuôi ăn ở: họ là anh em tôi. Hầu hết họ là người tốt, về sau đều trở nên những con người xứng đáng. Một số trong họ tham gia cách mạng và không bao giờ quên ơn cha tôi. Hầu hết bọn họ đều coi mình là thành viên trong gia đình và cư xử như con cái trong nhà. Cũng giống như những người con nuôi, những người học trò cũ của cha tôi đều suốt đời quí trọng ông và thương yêu ông như cha của họ.
Khi tôi mới lên 6, ông hay gởi tôi về làng, giúp bà con trong
việc đồng áng, như đạp nước vào ruộng với các nông dân trồng lúa, tham dự những
buổi giã gạo ban đêm của các cô gái làng. Ông thường nói, tôi phải sống gần
người nghèo mới biết thương họ. Ngay lúc còn nhò, tôi đã thấy lòng tê tái
khi nhìn thấy cảnh khổ của những người
nghèo, và thường kiếm tiền để cho người hành khất
Ảnh hưởng của cha tôi đối với tôi rất lớn. Khi học trung học, tôi đã biết thưong
những người bạn nghèo khó, tìm cách giúp họ. Sau này khi về Viêt Nam làm việc,
tôi thường góp sức với một người Anh, dân miền Scotland, vốn nổi tiếng là dân hà
tiện, nhưng lại hay giúp người, thường mổi tuần, lại đi với tài xế, về vùng dân
nghèo Saigon-Chợ Lớn, để phát chẩn. Tôi đi theo ông, vui lòng đóng góp cùng ông
giúp dân. Mới thấy giữa đô thị giàu sang, có bao nhiêu cảnh đói khổ của
người dân nghèo! Rồi khi sống ở Hoa Kỳ, , tôi vẫn thường gọi tiền hổ trợ cho các tổ chức từ thiện Mỹ, các nạn nhân động đất, lụt bão… hàng năm 400 Mỹ kim, các hội từ thiện Viêt Nam 200 MK. Và mỗi năm, gởi 500 MK tiền hoc bổng cho các sinh viên của làng tôi ở Quảng Trị và si |