Sau khi viet-studies đăng Hồi ký Nguyễn Hữu Hanh, gộp lại "ấn bản lần 2" đăng trên talawas vào cuối tháng 10 năm 2006, tác giả Nguyễn Hữu Hanh liên lạc với viet-studies và xin thay thế bản ấy bằng bản này ("ấn bản lần 4"). Mọi hình ảnh và chú thích đều do tác giả cung cấp.  Cũng xin chuyển đến bạn đọc lời nhắn của tác giả là ông sẳn sàng trả lời email của bạn đọc, về địa chỉ hanh1924@yahoo.com

 

Nguyễn Hữu Hanh

 

 Câu chuyện đời tôi

 

 LÀM VIỆC VỚI CÁC NHÂN VẬT
DANH TIẾNG THẾ GIỚI

 

Ấn bản lần 4

 

Năm 2008

 

Bản gốc cuốn sách này viết bằng tiếng Anh và xuất bản ở Hoa Kỳ đầu năm 2004. Sau đó được điều chỉnh đôi chút và được anh Nguyễn Kiên Định giúp dịch ra tiếng Việt, xuất bản tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 2004

 


 

Kính gởi Thân Phụ và Thân Mẫu

 

         Câu chuyện về cuộc đời tôi xin đề tặng cho cha tôi, ông Nguyễn Hữu Lư, và mẹ tôi, bà Thân Thị Quỳnh Trân, những người đã cam gánh chịu những hy sinh to lớn để cho sáu đứa con của mình được học hành đến nơi đến chốn hơn. 

        Cha mẹ chúng tôi đã nuôi dạy chúng tôi theo nền giáo huấn truyền thống của Khổng giáo. Cha mẹ đã đào tạo tôi nên một con người chính trực. Tất cả những khuyết nhược của tôi đều do hoàn cảnh xã hội, không dính líu gì đến gia đình tôi. 

Tôi mang ơn song thân tất cả mọi chuyện trong đời: những kết quả  tốt trên con đường học vấn trong và ngoài nước, những thành công trên con đường sự nghiệp ở trong nước và trên thế giới, những chức vụ mà tôi nắm giữ trong chính quyền và trong giới kinh doanh quốc tế, sự kính trọng mà tôi dành được ở người khác nhờ lòng trung thực của mình, cũng như sự thù ghét mà tôi đã gây ra bởi sự cứng rắn tuân thủ những nguyên tắc chính trực mỗi khi dính líu tới quyền lợi của công chúng. 

 

N.H.H. 
Santa Barbara, Tháng Năm 2004

 


 

Gởi các con tôi

 

       Để các con khỏi vướng vào cuộc chiến tranh khổ đau và huỷ diệt, ba bắt buộc phải gởi các con ra nước ngoài từ khi các con còn rất nhỏ, mới có từ một tới tám tuổi. 

       Để theo đuổi sự nghiệp phục vụ đất nước mà ba coi như là mục tiêu tối thượng của đời mình, ba đã phải sống xa các con.

      Những năm tháng sống như vậy thì dù ba có thành công trong sự nghiệp đến đâu, cũng không phải là những năm tháng hạnh phúc nhất của đời ba. Ba chỉ muốn được sống với các con, bởi ba thương các con và nhớ các con hết sức; ba luôn luôn tìm cách đi thăm các con bất cứ khi nào có dịp.

      Giờ đây chỉ khi về hưu ba mới thật sự hạnh phúc vì có được điều ba mong ước hơn cả – được sống bên cạnh các con.

 

N.H.H.   
Santa Barbara, Tháng Năm 2004

  


 

Lời cảm tạ

 

Tôi xin được gởi lời cám ơn tới những bạn bè thân, anh Đoàn Thêm, chị Vũ Gia Kiều Dung, anh Phạm Kim Ngọc, anh Nguyễn Kiên Định, đã từng khuyến khích tôi xuất bản cuốn sách này từ năm 1984, và cám ơn tất cả những ai quan tâm tới những gì tôi đã làm và kể lại trong hồi ký này.

                  

N.H.H. 

Santa Barbara, Tháng Năm 2004

 


 

MỤC LỤC

 

           

Lời nói đầu

Tại sao tôi không muốn xuất bản sách trong hai mươi ba năm qua

 

I . Thời thơ ấu

Quãng đời êm đẹp ở Việt Nam những năm 30 – 40

Buổi giao thời giữa nề nếp truyền thống đang mất dần và cuộc sống mới

Nền giáo huấn ngàn xưa: Khổng giáo và Phật đạo

Sợi dây vô hình nhưng hùng mạnh giữa con và cha mẹ

Lần đầu tiên gặp gỡ Tổng thống tương lai của Việt Nam

Buổi va chạm đầu tiên với ách thống trị thực dân

 

         II .  Thời Trung và Đại học      

Những năm tháng chiến tranh: Nhật chiếm đóng và máy bay Đồng Minh oanh tạc đất nước

Con đường đại học bị gián đoạn vì chiến tranh và tàn phá

Trận đói khủng khiếp vì chiến tranh

Trường quân sự. Chiến đấu chống quân Pháp tái xâm lược

Giúp Việt Minh thành lập lực lượng bộ đội địa phương

Tình bạn với hai người lính Nhật theo kháng chiến Việt nam

Qua Paris tiếp tục việc học

 

        III.  Sự nghiệp đầu tiên

Phó giám đốc Sở Tín dụng Ngân Hàng Trung Ương ba nước Đông Dương

Tổng giám đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam

Cố vấn kinh tế tài chánh cho Tổng thống Ngô đình Diệm

Thành lập Ngân Hàng Thương Tín, Ngân Hàng Khuếch Trương, Công ty Bảo hiểm, Công ty Sản xuất Giấy

Xem dáng mặt: nhận diện khách có thể không tốt trong vấn đề vay mượn

Thương thuyết với Bộ trưởng Tài chánh Pháp Antoine Pinay  - Thỏa ước kinh tế tài chánh tiền tệ với nước Pháp – Tình bạn lâu dài với ông Antoine Pinay

Phản kháng Ngô Đình Nhu, người em quyền uy của Tổng thống Diệm

       

      IV.  Bước vào Khu vực tư

Thành lập ngân hàng khuyếch trương kỹ nghệ SOFIDIV

Đời sống nông trại: Những mẫu chuyện kỳ thú về săn thú rừng.

Đám tang phụ thân theo lễ nghi truyền thống

 

V.  Sự nghiệp quốc tế đầu tiên

Chánh sự vụ Ngân Hàng Thế Giới: sự nghiệp quốc tế đầy hứa hẹn

Về nước theo lời mời của chính phủ: Thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia

Làm việc với Tổng thống Lyndon Johnson và các Đại sứ Mỹ

Làm việc với các Thủ tướng, Bộ trưởng  và Thống đốc Ngân hàng các nước châu Á và châu Âu

 

VI.   Tận tụy trong công việc

Tổng uỷ viên Kinh tế Tài chánh, phụ trách bốn Bộ: Tài chánh, Kinh tế, Thương mại và Kỹ nghệ

Gánh vác trách nhiệm hạ giá đồng tiền quốc gia: thành công vang dội

Ván bài xì phé với đám thương gia buôn gạo Trung Hoa

Ngăn chận đám thương gia tham lam Đại Hàn mưu toan xâm nhập

Đòi hỏi chính phủ Đại Hàn đáp ứng tương xứng

Chống tham nhũng và buôn lậu

 

        VII.  Sự nghiệp quốc tế lần hai

Quản trị viên phụ khuyết Hội đồng Quản trị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

Bất đồng ý kiến với cách làm việc của các tổ chức quốc tế

Vụ kiện Ernest Lederer về tội vu khống và nhục mạ

 

        VIII.  Sự nghiệp quốc tế lần ba

Cố vấn ngành chương trình hổ trợ kỹ thuật của IMF

Về hưu sớm

 

        IX.  Chính sách ngoại giao của Mỹ

 Những đường lối tiếp cận ngoại giao sai lầm

Chính sách ngoại giao của Mỹ trên thế giới: “đâu phải chính sách tốt đẹp nhất"

 

        Kết

Đôi dòng tâm sự

 

 


  

LỜI NÓI ĐẦU

 

Có nhiều người bạn biết tôi đã sống một cuộc sống đặc biệt và một sự nghiệp cũng đặc biệt thú vị, đã gợi ý tôi kể lại chuyện đời mình. 

Tôi luôn luôn từ chối vì tôi không muốn có thêm một cuốn sách nữa vào trong đống sách của đám người thuộc chính quyền Saigòn cũ. Tôi đâu cần đến một cuốn sách để tự biện bạch như họ, và tôi cũng không muốn viết ra những sự thật nửa vời hay những sự thật bóp méo để biện minh cho hành vi quá khứ hay cho thái độ hiện tại.  

Nhưng năm đứa con tôi, vốn sống xa cách tôi đã lâu, lại tha thiết muốn biết sự nghiệp cũng như mối quan hệ của tôi với những nhân vật danh tiếng trên thế giới như thế nào. Vì vậy mà bản thảo đầu tiên, tôi chỉ viết riêng cho gia đình tôi và đặc biệt là cho năm đứa con tôi: tôi muốn mình hoàn toàn chân thật, không một lời nói dối. Tôi muốn được hoàn toàn tự do khi kể lại các sự kiện đúng như tôi đã chứng kiến, tôi muốn đánh giá các nhân vật đúng như tôi đã nhận định, và mô tả các hoàn cảnh xã hội và chính trị đúng như tôi đã quan sát. 

Trong hơn hai mươi ba năm qua, tôi không có ý định xuất bản cuốn sách của mình, tôi vẫn cứ bị giằng co giữa những tư tưởng đối nghịch và những suy nghĩ trái ngược nhau: tôi muốn kể lại một mảng lịch sử Việt Nam bởi vì tôi biết rất nhiều điều bí mật, nhưng mảng lịch sử này lại mang đến cho tôi quá nhiều chuyện buồn và quá ít chuyện vui. Tôi đã chứng kiến quá nhiều những con người thiếu tư cách, và quá ít những con người thật sự đáng kính trọng. Ngay cả khi tôi viết sắp xong bản thảo thứ hai này, tôi cũng chưa rõ mình có còn muốn xuất bản nó hay không.

            Cần phải nói rằng nếu như tôi đã được sống một cuộc đời thú vị, thì đó hoàn toàn là do may mắn và những cơ hội ngẫu nhiên. Tôi sinh ra vào đúng thời điểm khoảng đâu hai mươi năm trước khi đất nước được độc lập; tôi lớn lên trong những ngày tháng cuối cùng của một nếp sống đang mất dần và những giá trị truyền thống đang tàn lụi.

Tôi vào Đại học khi những trường học ưu tú nhất ở nước Pháp lần đầu tiên được phép mở cửa đón sinh viên thuộc địa. Và khi bước chân vào đời lần đầu tiên, tôi đã may mắn được làm việc dưới quyền một viên Thanh tra tài chánh người Pháp sáng chói, trẻ trung và tài năng, có khuynh hướng xã hội, đầu óc phóng khoáng và rất có cảm tình với đất nước Việt Nam.

Khi miền Nam Việt Nam bắt đầu có phần nào độc lập và lãnh tụ phe Quốc gia Ngô Đình Diệm về nước, tôi đã được một số người vô tư không phe nhóm – cả Pháp lẫn Việt – giới thiệu với ông Diệm như là một chuyên viên giỏi nhất và trẻ tuổi nhất, và ông đã yêu cầu tôi làm cố vấn kinh tế tài chánh cho ông, khi ông trở thành Tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi giành được độc lập, Nam Việt Nam là một quốc gia mới được hình thành, cần phải thiết lập những cơ chế mới, những tổ chức mới. Tôi được giao phó những chức vụ chuyên môn quan trọng để hỗ trợ cho các chính trị gia mới được bổ nhiệm vào các tổ chức được cải tạo lại từ thời thuộc địa cũ và thành lập các cơ chế tài chánh ngân hàng mới. Ngoài những công việc thường lệ, tôi phải xử lý những vấn đề kinh tế tài chánh quan trọng nhất, và do đó cũng là những vấn đề hấp dẫn nhất. Vì những Bộ liên quan (như Tài chánh, Kinh tế, Ngoại giao…) hầu hết đều do những chính trị gia không có kiến thức chuyên môn cầm đầu, nên tôi cũng được giao trách nhiệm điều khiển những cuộc thương thuyết đầu tiên về các vấn đề tài chánh tiền tệ với các nước đồng minh mới và cũ của Việt nam như Mỹ, Nhật, Pháp...

            Và như vậy, tôi có được biết bao nhiêu là cơ hội tham dự vào những công việc quan trọng nhất của một quốc gia mới hình thành, học hỏi và thu thập được những kinh nghiệm quí giá trong các lãnh vực tiền tệ, kinh tế và tài chánh. Tôi sẵn sàng gánh vác thêm trọng trách, nhận thêm nhiệm vụ và tìm kiếm mọi cơ hội nhằm phục vụ đất nước để học hỏi thêm.

Ở nước ngoài, tôi có may mắn gặp và quen biết nhiều nhà lãnh đạo lớn trên thế giới, những người có cảm tình với đất nước Việt Nam hoặc có dính líu tới tương lai và sự sống còn của Việt Nam. Một vài người, như Thủ tướng Pháp Antoine Pinay, đã trở thành bạn bè cố cựu của tôi và vẫn còn tiếp tục giúp tôi sau khi tôi từ giã chính trường.

Khi Việt Nam gia nhập các định chế quốc tế thì tôi đang có một tư thế thuận lợi. Vì đã từng ở trong các cơ quan tài chánh quan trọng nhất của quốc gia và do đó có được những kinh nghiệm chuyên môn và kỹ thuật cần thiết, năm 1965 tôi được mời giữ một chức vụ cao trong Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) – người Việt Nam đầu tiên và duy nhất giữ chức Chánh sự vụ trong World Bank ngay bước đầu tiên.

Nói tóm lại, tôi đã gặp rất nhiều may mắn trong suốt cuộc đời sự nghiệp.

Thế nhưng tôi cũng trải qua biết bao thăng trầm do việc tuân thủ một cách cứng rắn những nguyên tắc đạo đức, chẳng hạn như sự trung thực và liêm chính, mỗi khi dính líu tới quyền lợi của đất nước. Tôi đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong niềm tin rằng xã hội loài người chỉ tốt đẹp lên khi một số người trong chúng ta coi lợi ích của cộng đồng hay của đất nước chẳng khác gì quyền lợi của chính mình.

Nhưng bất hạnh thay trong suốt cả sự nghiệp lâu dài ấy, tôi nhận thấy rất ít người thật sự lưu tâm tới quyền lợi chung. Hầu hết thời gian người ta không dành cho quốc gia hay dân tộc, mà dành cho gia đình họ, quyền lợi riêng của họ, cái ta của họ, và trên hết là túi tiền của họ. Tình trạng này không chỉ xảy ra trên đất nước tôi mà, lạ lùng thay, nó cũng có ở những cơ quan quốc tế có uy tín nhất, những nơi được coi là quy tụ những con người ưu tú nhất; thế nhưng bất hạnh thay cũng là nơi mà tánh tham lam ích kỷ chi phối mạnh nhất, và các phẩm chất chính trực và năng lực chuyên môn thường bị gạt ra rìa bởi những toan tính chính trị và âm mưu tranh giành quyền lực; và cũng là nơi mà quyền lợi của các cường quốc thường xuyên lấn áp quyền lợi của các nước thuộc thế giới thứ ba, ngược lại những lời họ rêu rao là cổ súy và bảo vệ cho quyền lợi của các nước nhược tiểu.

Sau khi đã rời khỏi mọi chức vụ, giờ đây nhìn lại tôi bắt đầu nghi ngờ rằng sự tận tụy với lý tưởng phục vụ nhân dân, cũng như tư cách đạo đức và lòng trung thực, vốn là động cơ thúc đẩy tôi dám đứng thẳng, miệt mài làm việc trong bao năm ròng, phải chăng là sai lầm, không đúng chỗ và không đúng lúc.

Trở về Việt Nam làm việc dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm vào những năm 50, tôi đã đem hết sức ra phục vụ nhân dân, đôi khi quên cả bản thân mình. Thế nhưng sự tận tâm ấy không được lòng ai, ngoài T.T. Diệm và vài ba người nữa. Ngay cả gia đình T.T. Diệm và đám người thân cận của ông cũng khó chịu với thái độ cứng rắn của tôi khi xử lý những vấn đề công ích. Trong khi có biết bao nhiêu người sẵn sàng đổ xô tới phục vụ để lấy lòng họ, thì tôi lại từ chối giúp họ trong những vụ làm ăn riêng tư. Và tôi đã bắt đầu tạo cho mình những kẻ thù dấu mặt. 

Và khi tôi hy sinh sự nghiệp tốt đẹp ở Ngân Hàng Thế Giới, từ bỏ một chỗ làm ngon lành với lương bổng hậu, để theo lời mời của chính phủ Sài Gòn, trở về Việt Nam nhận lấy một lô công việc và trách nhiệm nặng nề, đeo đuổi lý tưởng về một cuộc trường chinh gian khổ góp phần cứu lấy đất nước, bằng cách đảm nhiệm phần lớn việc lãnh đạo kinh tế và tài chánh nhằm quét sạch nạn tham nhũng và hối lộ trong chính quyền Sài gòn, thì đó có lẽ cũng là một sai lầm lớn. Sau một loạt các cuộc đảo chính và phản đảo chính, chính quyền càng ngày càng thối nát, xã hội Sài gòn và các thành phố lớn càng ngày càng sa đọa; những viên tướng đầy quyền uy, những vị Tư lệnh vùng, những viên Tỉnh trưởng, và đặc biệt là những bà vợ của họ, bỏ mặc quyền lợi quốc gia mà chỉ cố tìm cách vơ vét cho đầy túi. Điều này làm cho quân đội thất vọng và chán nản, làm cho quần chúng căm ghét và khinh bỉ; nó tiêu huỷ mọi ý chí chiến đấu còn sót lại trong binh lính và nhân dân. Miền Nam tựa như một trái cây chín rữa chỉ chờ ngày rụng dưới giông bão.  

Điều mỉa mai cay đắng là để đền đáp lại những nỗ lực chống tham nhũng của mình, chính tôi lại bị những kẻ dính líu, và bị tôi trừng phạt, buộc tội hối lộ và tham nhũng! Khi tôi ngăn chận vụ nhập lậu “xe hơi Fatima”, tôi đã tạo ra cho mình một lô kẻ thù, và đám này đã buộc tội tôi là bảo vệ quyền lợi cho con buôn xe hơi. Khi tôi từ chối không cấp tiền hưu bổng và quyền mua nhà cho một người vốn là cựu nhân viên Ngân Hàng Quốc Gia và là một tân Nghị sĩ Quốc hội, vì những thứ này chỉ dành cho nhân viên Ngân Hàng Quốc Gia, mà ông ta thì đã từ chức rồi, nhân vật này đã lập tức lợi dụng vị thế mới của mình, lên diễn đàn Quốc hội gay gắt chỉ trích tôi bằng đủ mọi lời dối trá. Khi tôi đóng cửa một Văn phòng Ngân Hàng Quốc Gia ở Paris vì bất hợp lệ, không đúng với nghiệp vụ của Ngân Hàng Trung Ương một xứ nghèo nàn và tốn kém vô ích, chưa kể có thể có những mục đích bất chính ở sau lưng, thì con người đã mở Văn phòng ấy, vốn không hề có một kinh nghiệm hay hiểu biết về ngành ngân hàng, đã lên án tôi đủ thứ tội trên đời. Những loại vu khống như vậy không phải là chuyện hiếm trong những năm tôi làm việc dưới chế độ Sài Gòn. 

Tôi làm gì được đây? Chúng ta đang sống trong một xứ sở “tự do” (!) và ai muốn làm gì nói gì cũng được, dù trái với lương tâm. Điều hay nhất tôi có thể làm là bỏ ra ngoài tai mấy chuyện đó, hy vọng rằng ở ngoài cuộc đời lớn rộng, có những người tôn trọng lẽ phải, sáng suốt, sẽ nhận ra ai phải ai trái, ai đáng khen và ai đáng trách. 

Năm 1968, lòng đầy ngao ngán, tôi xin rút lui khỏi mọi chức vụ trong chính phủ và Ngân Hàng Quốc Gia. Điều thúc đẩy tôi quyết định rời bỏ đất nước và quay trở về Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) nhiều hơn cả là sự thiếu năng lực và tình trạng tham nhũng tràn lan của chính phủ và quân đội Sài Gòn, sự suy đồi của xã hội tại các thành phố lớn. Đối với tôi, số phận đất nước này đã được an bài: ngoại trừ một phép lạ, Nam Việt Nam không còn cơ cứu vãn. 

Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản v.v…). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy tám mươi vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước chúng ta bên kia nữa! 

Có đôi khi tôi cảm thấy tuyệt vọng với cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, những người tự xưng là đại diện cho đất nước tôi và cho dân tộc tôi bên quê nhà. Đâu rồi bốn ngàn năm văn hiến mà họ rêu rao là cội nguồn của họ? Đâu rồi đức hạnh và phẩm chất cao quí của cha ông và của những lớp người đi trước mà họ cho rằng mình thừa hưởng? Phải chăng xã hội chúng ta đã suy đồi đến nỗi tư cách đạo đức và lòng trung thực ngày nay quá hiếm hoi, và những con người đáng kính quá ít? 

Năm 1991, khi tôi về thăm lại Việt Nam lần đầu tiên sau chiến tranh, tôi đau lòng trông thấy nhân dân sống trong những điều kiện nghèo nàn và khốn khổ. Tôi muốn giúp đỡ đồng bào tôi, dù có những trở ngại chính trị và những hy sinh tài chánh về phía tôi. Tôi đã về thăm quê hương bốn lần, theo lời mời của Thủ tướng chính phủ Việt Nam lúc ấy, bằng tiền túi của mình, nhằm cố gắng góp phần cải cách và xây dựng lại đất nước. Nhưng những điều kiện của đất nước lúc đó chưa thích hợp cho những nỗ lực như vậy, và năm 1994 tôi đành phải chấm dứt mọi kế hoạch. Sau khi thấy không giúp được xứ sở trong bốn chuyến về nước, tôi hy vọng dùng cuốn sách của tôi, để trao kinh nghiệm  nghề nghiệp, chuyên môn, cho dân, cho nước nhưng tiếc thay, bức thành kiểm duyệt qúa cao nên chuyện  này cũng không thành.  

Khi người ta không hiểu đâu là điều lợi, đâu là điều hại cho đất nước, thì bất cứ điều gì mới lạ cũng là quốc cấm cả!

Tôi phải thành thực thú nhận rằng nếu hôm nay tôi phải làm lại những gì tôi đã làm trong các năm 50 và 60 của thế kỷ qua, tôi không dám chắc mình còn đủ can đảm để duy trì sự thẳng thắn, lòng trung thực và tận tụy như xưa, khi đối diện với ngần ấy sự vô tâm, thói ích kỷ và tệ tham nhũng. Quả là buồn khi phải đi đến một kết luận như vậy. 

Tôi cố tự thuyết phục mình rằng ở sâu trong lòng người dân Việt vẫn còn những đức tính và giá trị truyền thống, được lưu truyền qua hàng ngàn năm văn hoá, thử thách và chiến đấu – một điều mà tôi đã được thấy, nhất là ở thôn quê xa đô thị.    

Đó là điều duy nhất còn cho tôi niềm tin vào đồng bào và quê hương đất nước.

 

 N.H.H     

Santa Barbara, Tháng Năm 2004

Trở về Mục Lục


 

 

I. THỜI THƠ ẤU

 

         Tôi sinh ngày 10 tháng 11 năm 1923 tại cố đô Huế trong ngôi nhà của bên ngoại tôi, vì mẹ tôi muốn sinh đứa con đầu lòng tại quê bà hơn là tại ngôi nhà đầu tiên của chúng tôi ở Quảng Trị, cách Huế quê hương bà chừng 60 cây số. 

Cha tôi vốn rất gắn bó với làng quê của ông, nơi ông nội tôi đang sống; trong bất cứ chuyện gì cha tôi cũng nghiêng về phía gia đình và làng xã ông. Ông cư trú và dạy học ở Quảng Trị, cách làng Đại Hoà chúng tôi khoảng 12 cây số. Quan điểm của ông là việc làng lo trước, việc nước lo sau. Mỗi tháng ông đi bộ ít nhất một lần về thăm cha mẹ. Sau này ông đi bằng xe đạp, khi ông dành dụm đủ tiền sắm một chiêc xe đạp mua từ bên Pháp, một chiếc hiệu Saint Étienne mà ông cưng quí suốt đời. Thời đó, xe đạp và xe kéo là hai loại phương tiện di chuyển cá nhân duy nhất ở Việt Nam. Xe hơi riêng hiếm đến nỗi có thể đếm trên đầu ngón tay.           

Thay vì làm khai sinh cho tôi đúng ngày sinh ở Huế, cha tôi đã chờ cho tới dịp về thăm làng mới đăng ký trước bạ cho tôi ở làng ông. Vì vậy mà ngày và nơi sinh chính thức của tôi là 15 tháng Ba năm 1924 tại làng Đại Hoà, tổng An Dạ, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thay vì mồng Mười tháng Mười Một năm 1923 tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên.           

Sau này mẹ tôi kể lại rằng khi tôi chào đời, cha tôi đã vào Huế thăm bà và khi cô y tá bế đứa bé là tôi cho ông xem, ông đã lóng ngóng ôm đứa nhỏ vào trong hai cánh tay dài ngoằng của ông và hôn con, nuớc mắt chảy dài xuống hai gò má. Đoạn ông quay lại nói với mẹ tôi “Tôi muốn cho con được học hành tử tế hơn tôi, nhưng tôi chỉ là một tên thầy giáo nghèo xác, làm sao lo nổi cho con vào học đại học Hà nội hay đại học Pháp!” Ông đã từng được nhận vào trường đại học Hà nội, nhưng không được học, vì ông nội tôi không chịu chu cấp cho ông học thêm nữa. Thế nhưng ông nội tôi, vốn là một vị quan trong triều về hưu, lại rất giàu; chỉ có điều ông tập trung mọi sự hào phóng vào ba người con trai con đời vợ trước, còn cha tôi là con của bà vợ kế. Và về sau, ông nội tôi cũng để lại toàn bộ gia sản cho ba người con vợ lớn của ông thôi. 

Tuổi thơ tôi dính mắc với đủ thứ bịnh: quai bị, sởi, hen suyễn, vàng da v.v... Cha tôi hết sức thương tôi vì tôi là đứa con đầu lòng và là con trai trưởng. Truyền thống gia đình Việt Nam đặc biệt coi trọng con trai trưởng, bởi người trưởng nam sẽ là người gánh vác công chuyện gia đình và lo toan việc thờ cúng tổ tiên; anh ta được giáo huấn đầy đủ các tiêu chuẩn về đạo đức và cách xử thế ở đời để tới phiên anh, anh sẽ dạy lại cho mấy đứa em, cha mẹ anh sẽ không cần phải lo nữa, họ trông cậy anh đảm trách việc đó. Cha tôi đã dạy dỗ tôi rất nghiêm khắc trên nền đạo đức và triết lý của Khổng giáo và Phật giáo. Ông không dạy mấy em tôi như vậy; ông giao việc đó cho mẹ tôi. Mẹ tôi vốn tánh rộng rãi khoan hoà, không theo sát đạo lý cặn kẽ như cha tôi. Thuở trước, truyền thống giáo huấn theo Khổng giáo rất hữu hiệu. Nhưng kể từ thế hệ tôi, phương pháp này bắt đầu kém hiệu quả, vì trong xã hội hiện đại, em út không còn kính trọng anh chị như thuở xưa, đặc biệt là khi chúng tôi qua sống bên châu Âu hay Mỹ, nơi cha mẹ đối xử với tất cả con cái y hệt như nhau. Thế nhưng cha tôi không bao giờ thay đổi cung cách của ông. Sau này, khi tôi trở về Việt Nam làm việc, ông thường vào Sài Gòn thăm tôi bốn năm lần mỗi năm, ở với tôi một thời gian để bàn chuyện gia đình, nhưng không hề làm vậy với các em tôi.

Khi tôi còn nhỏ, cha tôi thường dắt tôi theo trong những chuyến đi săn hay đi câu của ông. Những chuyến đi này thường dài từ 40 tới 50 cây số lội bộ, leo núi, băng rừng, ngủ giữa đồng rộng, trên sườn đồi hay cạnh bờ sông – không lều trại, không túi ngủ, chỉ có ít tấm chiếu lát và mền thô. 

Đi câu thú vị vô cùng vì phong cảnh thiên nhiên thường xinh đẹp và sông suối thường đầy cá. Dòng nước chảy xuyên qua các khe suối hay đổ xuống những con thác nhỏ, hay nước trong các con sông uốn trôi lững lờ giữa đồng cỏ xanh, đều rất sạch, trong vắt, không một chút bợn nhơ hay ô nhiễm. Chúng tôi câu bằng những cái cần thô sơ làm từ các cành tre nhỏ chặt ngay trong rừng, nhưng bao giờ cũng thành công vì lũ cá trong rừng chẳng biết gì hơn ngoài những thức ăn và những miếng mồi mà mẹ thiên nhiên dành cho chúng.   

Tại những địa điểm mà cha tôi biết rất rõ, chúng tôi chặt một ít tre rồi dầm xuống nước; sáng hôm sau chúng tôi có thể nhìn thấy từng đàn cá đang xúm xít rỉa lá tre dưới làn nước trong veo, làm cho bụi tre chỉ còn trơ cành và gốc. Thế rồi chúng tôi liệng xuống một thỏi nhỏ thuốc nổ, chờ nó nổ và lũ cá ngất ngư rồi, chúng tôi lao xuống nước tóm những con cá bị thương nhưng vẫn còn quẫy rất dữ, đôi khi làm chúng tôi bị thương không ít. 

Mỗi khi cảm thấy khúc sông nào đó có nhiều cá hanh trắng quí hiếm, cha tôi hái một số lá non từ một loại cây leo đặc biệt về nhồi thành bánh. Sau đó chúng tôi giăng lưới bắt tôm dưới bờ sông lên, thận trọng nhét một viên nhỏ thứ bánh đó vào trong bụng con tôm còn sống rồi thả chúng lại xuống sông. Rồi thì, lạnh run trong cái lạnh buổi sáng sớm, chúng tôi trùm mền hay chiếu lát, kiên nhẫn ngồi trên bờ, chờ cho tới khi những con cá hanh trắng nổi dật dờ trên mặt nước. Sau khi ăn phải những con tôm kia khoảng nửa giờ, lũ cá hanh bị say thuốc, bắt đầu trồi lên mặt nước, phơi bụng bơi lòng vòng, và chúng tôi bơi ra tóm lấy chúng trước khi chất thuốc hết hiệu lực. 

Chúng tôi kho cá nấu cơm ăn ngay tại chỗ cắm trại, đó là những bữa ăn ngon nhất trong đời tôi. Chúng tôi san sẻ thức ăn với những người đi cùng đường; phần nào không đem về được cho mẹ tôi, chúng tôi cho những người dân tộc thiểu số ở các làng bên, hay cho dân xóm vạn ven sông. Có đôi khi chúng tôi nhóm một cụm lửa lớn bên bờ sông để hun khói mớ cá bắt được trước khi đem về nhà. 

Đi săn thì không thú vị bằng vì cha tôi chỉ sắm nổi một khẩu súng săn nhỏ, ca-líp 16; các loại thú săn thường là gà gô, trĩ, gà rừng, thỏ rừng, thỉnh thoảng vài con hươu nhỏ. Với một khẩu súng nhỏ như vậy, chúng tôi không dám vào sâu trong rừng, nơi lợn lòi và cọp không phải là trò chơi của chúng tôi. 

Cha tôi rất thích đi du lịch đây đó. Trong những ngày tháng ấy, những lần đi tắm biển là cả những chuyến viễn hành, vì chúng tôi thường phải đi bộ từ nhà ra bãi biển. Đâu có đủ xe đạp cho tất cả mọi người. Có đôi khi chúng tôi kiếm tiền thuê một chiếc thuyền, một chiếc tam bản – cái tên gọi từ tiếng Trung quốc có nghĩa là ba tấm ván – dài khoảng 6 mét, có mái khoang che bằng tre nứa. 

Thời gian ấy chúng tôi còn sống ở Quảng Trị. Bãi biển gần nhất là Cửa Việt nằm cách khoảng 16 cây số nên chúng tôi thường phải ra đi từ 4 giờ sáng. Chúng tôi đem theo thức ăn, và dùng bữa dưới bóng râm của những cây fi-lao, một loại cây thông, cao, lá nhỏ và dài như kim, reo vi vu trong làn gió biển nghe rất êm tai. Lá fi-lao không có mũi nhọn như lá thông nên có thể nằm ngủ trên đám lá dưới gốc fi-lao êm hơn nằm dưới gốc thông. Bao giờ chúng tôi cũng dừng chân ở một làng chài để mua hải sản, món tuyệt nhất là sò huyết, một loại sò nhỏ, vỏ sậm đầy lông, khi nướng trên lửa than sẽ mở miệng và cho ra một chất nước màu đỏ như huyết, ăn rất ngon. 

            Cửa biển thứ hai, xa hơn, là cửa Tùng, nằm ở vĩ tuyến 17, sau này chia đôi Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc. Cửa Tùng cách nhà chúng tôi khoảng 60 cây số nên chúng tôi thường thuê thuyền tam bản để đi. Bốn, năm người chúng tôi chiếm khoang chính rộng khoảng 3 mét và dài 5 mét, khoang kia nhỏ hơn dành cho gia đình chủ thuyền, với 4 người – cặp vợ chồng và hai con nhỏ. Khoang thuyền chỉ đủ chỗ để ngồi hoặc nằm chứ không đứng được, vì nó chỉ cao khoảng mét hai tính từ sàn lên mái khoang. Thế nhưng tất cả mọi người ăn, ngủ, giặt giũ và mọi thứ linh tinh ở trên đó. Chúng tôi xuống sông tắm rửa mỗi khi dừng thuyền lại để nghỉ ngơi hay ngắm cảnh. Thuyền lướt đi theo nhịp đẩy mái chèo mà người chủ thuyền hoặc vợ anh ta chèo với những động tác hết sức uyển chuyển, theo tiếng hò khoan nhặt của họ. 

Trong tất cả những bãi biển đẹp trên thế giới mà tôi từng đặt chân tới trong nhiều năm du lịch khắp nơi, thì không nơi nào có thể sánh được cửa Tùng và Đại Lãnh ở miền Nam Việt Nam, với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ của nó. Tôi chỉ sợ việc phát triển đất nước có thể làm mất đi vẻ đẹp của hai chốn này, vì người ta thường có khuynh hướng huỷ hoại tất cả mọi thứ bởi chính lòng ham muốn phát triển thêm và làm đẹp thêm những cảnh quan vốn xinh đẹp ấy. 

Cũng tại cửa Tùng tôi được thưởng thức ba món ăn mà tôi không hề gặp ở nơi nào khác:

Ốc gạo, một loại ốc nhỏ rất sạch, màu vàng, sống trong cát ở cửa sông, có vỏ tròn, lớn cỡ một hột đậu phụng bự. Luộc ốc bằng nước sôi xong, chúng tôi dùng gai cây chanh lể ốc ra nhấm nháp, sau khi đã khươi miếng vảy che miệng ốc đi – thịt chúng mềm, đậm đà, hết sức thú vị. 

Cá mó, một loại cá thân lép có đủ thứ màu sáng, ngó rất buồn cười, nhưng thịt ngon tuyệt vời. 

hải sâm tươi mà chúng tôi đi lượm buổi sáng sớm giữa các khe đá khi triều xuống. Loài này mỗi khi nhặt lên lại tiết ra một chất nước đặc ngộ nghĩnh màu đỏ, nhưng khi nấu với nấm rơm thì ăn ngon hơn bất cứ loại hải sâm khô nào, dù đắt tiền, ở các tiệm ăn. 

Bao giờ tôi cũng lò dò theo cha tôi trong những chuyến đi câu ấy, lúc thì vùng vẫy bơi lặn trong nước sông, lúc thì lang thang chân trần trên bãi biển, đến nỗi trượt chân té ngã giữa các tảng đá. Một hôm ở cửa Tùng chúng tôi chứng kiến một sự cố vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Cùng đứng câu với chúng tôi ở một vùng nước cạn trên bãi là hai người đàn ông và một người đàn bà. Đàn ông thường chỉ đóng khố, và mấy cái khố thường rách tả tơi, ngoài ra họ không còn mặc thêm gì nữa. Họ không hề ngượng khi phơi bày thân thể sau mấy cái khố rách nát. Người dân nghèo hay tận dụng tất cả mọi thứ, kể cả giẻ rách. Thỉnh thoảng họ lại lặn xuống nước để bắt cua hay tôm hùm bằng tay không. Sáng hôm đó, một người đàn ông lặn xuống nước, và thình lình tôi trông thấy anh ta vọt lên khỏi mặt nước la hét, một con cua dính cứng ở dương vật. Anh ta lê từng bước đi chậm chạp, bộ dạng đau đớn và kỳ cục rất buồn cười, với con vật độc ác đung đưa giữa hai chân. Chúng tôi cười đến nỗi chảy cả nước mắt và thắt cả bụng. Cha tôi vội lao tới giúp anh ta, nhưng ông cũng đang cười rũ đến nỗi ông không gỡ con cua ra được. Cuối cùng ông lượm một cục đá đưa cho người đàn ông, anh ta cố lết tới ngồi dạng chân trên một tảng đá. Nhưng anh ta đau quá không cử động nổi nên anh ta nhờ cha tôi đập giùm, và cha tôi đã đập con cua, nhưng suýt chút nữa ông cũng bị nó kẹp. Con cua quờ quạng rớt xuống, nhưng cái càng của nó vẫn cứ kẹp ở chỗ cũ và cha tôi phải đặt người đàn ông nằm xuống trên mặt đá để đập dập nó ra. Sự cố này dường như kéo dài vô tận, và người đàn ông kia chắc phải đau khủng khiếp vì gương mặt anh ta tái xanh tái tím.  

Gia đình tôi rất nghèo nên đối với tôi, đồ chơi là thứ xa xỉ dành cho đám bà con giàu có của tôi ở kế bên nhà. Bắt chước bọn trẻ con hàng xóm, tôi tự tạo lấy đồ chơi cho mình: một chiếc xe tăng làm bằng một trục chỉ trống, với một que tre và mấy cọng thun làm bộ máy nổ, lực đẩy được cung cấp bởi cọng thun xoắn lại và dầu nhớt bôi trơn là sáp đèn cầy; một cái ná làm bằng một nạng cây hình chữ Y với hai sợi dây cao su và một miếng da giày cũ. 

Nhưng có những ngày tôi buồn bã không biết làm gì, sau mấy trò bắn bi hay ném xu. Một hôm tôi đứng sau cánh cửa chờ cha tôi đi đánh tennis trở về. Tôi vừa chơi với tấm lưới trên khung cửa vừa ngóng chừng bóng dáng chiếc xe đạp của ông xuất hiện cuối con đường. Khi ông bước vào nhà, ông bắt gặp tôi đang thọc cây vào tấm lưới cửa, và ông  dùng cây vợt tennis nện một cú lên đầu tôi. Đau hết sức. Đó là lần đầu tiên ông đánh tôi và cũng là lần đầu tiên tôi giận ông, dù chỉ vài ba phút, bởi tôi luôn luôn thương và kính trọng ông vô cùng. 

Ngày hôm sau, ông mua cho tôi một món quà, như để bày tỏ tình thương và lòng hối hận, món đồ chơi đầu tiên và duy nhất mà tôi được tặng trong thời thơ ấu – một con chuột máy. Món tiền này là cả một sự hy sinh của ông; tôi quí con chuột đến nỗi tôi đã gìn giữ nó nguyên vẹn trong hơn mười năm, không phải như một món đồ chơi, mà như một kỷ vật cha tôi để lại, và như một kỷ niệm về lần bị phạt đầu tiên. 

Mặc dù nghèo, cha mẹ tôi lại rất giàu lòng trắc ẩn. Nhiều học sinh nghèo được cha mẹ tôi nuôi ăn ở: họ là anh em tôi. Hầu hết họ là người tốt, về sau đều trở nên những con người xứng đáng. Một số trong họ tham gia cách mạng và không bao giờ quên ơn cha tôi. Hầu hết bọn họ đều coi mình là thành viên trong gia đình và cư xử như con cái trong nhà. Cũng giống như những người con nuôi, những người học trò cũ của cha tôi đều suốt đời quí trọng ông và thương yêu ông như cha của họ.

           Khi tôi mới lên 6, ông hay gởi tôi về làng, giúp bà con trong việc đồng áng, như đạp nước vào ruộng với các nông dân trồng lúa, tham dự những buổi giã gạo ban đêm của các cô gái làng. Ông thường nói, tôi phải sống gần người nghèo mới biết thương họ. Ngay lúc còn nhò, tôi đã thấy lòng tê tái  khi nhìn thấy cảnh khổ của những người nghèo, và thường kiếm tiền để cho người hành khất. 

          Ảnh hưởng của cha tôi đối với tôi rất lớn. Khi học trung học, tôi đã biết thưong những người bạn nghèo khó, tìm cách giúp họ. Sau này khi về Viêt Nam làm việc, tôi thường góp sức với một người Anh, dân miền Scotland, vốn nổi tiếng là dân hà tiện, nhưng lại hay giúp người, thường mổi tuần, lại đi với tài xế, về vùng dân nghèo Saigon-Chợ Lớn, để phát chẩn. Tôi đi theo ông, vui lòng đóng góp cùng ông giúp dân. Mới thấy giữa  đô thị giàu sang, có bao nhiêu cảnh đói khổ của người dân nghèo! 

          Rồi khi sống ở Hoa Kỳ, , tôi vẫn thường gọi tiền hổ trợ cho các tổ chức từ thiện Mỹ, các nạn nhân động đất, lụt bão… hàng năm 400 Mỹ kim, các hội từ thiện Viêt Nam 200 MK. Và mỗi năm, gởi 500 MK tiền hoc bổng cho các sinh viên của làng tôi ở Quảng Trị và si