| “Moi
cứ tưởng
toi sẽ trở lại nhà bà dì nên moi
nằm chờ. Sáng,
trưa, chiều rồi
tối vẫn không
thấy toi
về. Moi
đi tìm giấy bút
viết thư cho
toi. Bút
thì có, giấy thì
không. Mấy ngày
nằm dài ở đây,
moi
đã sử dụng hết
giấy mang theo.
Trong nhà bà dì
lúc này chỉ còn
giấy gói trà
được xếp vuốt
phẳng phiu và
những bao hương
ở góc sau bàn
thờ. Biết đâu
đây cũng là dịp
cuối cùng chúng
mình nói chuyện
với nhau, những
câu chuyện của
hàng chục năm
trước và không
bao giờ kết
thúc. Lại nữa
moi còn nợ
toi một lời
giải đáp cho một
câu hỏi mà thời
gian gần đây mỗi
lần gặp nhau là
toi cứ hỏi:
“— Tại sao anh
không lên núi?
“ Sáng nay bà dì mở radio
nghe đài BBC như thường lệ. Lúc ấy moi
đang ở trong tình trạng nửa thức nửa ngủ. Khi
nghe đến đoạn Hiệp định Paris đã được công bố,
bà chạy qua đánh thức moi dậy báo tin
mừng. Gần trưa đi chợ về bà kể chuyện chợ búa
rộn rã tiếng nói cười, ai cũng bảo cứ có hoà
bình cái đã, mọi chuyện rồi sẽ tính sau. Đói no,
nóng lạnh, cực khổ thế nào cũng được, miễn là
không còn bom đạn chiến tranh, không còn chém
giết đầu rơi máu đổ, ruột thịt tương tàn. Hồi
sáng sau khi báo tin mừng cho moi bà dì
liền đi tới bàn thờ thắp hương, đánh chuông khấn
vái cám ơn Trời Phật phò trợ để Hoà bình được
vững bền, người chồng đi tập kết trở về. Bà cũng
đã cầu nguyện cho toi, cho moi
và mọi người được tai qua nạn khỏi, cưới vợ có
con nối dõi tông đường. Bữa trưa, rồi tối trước
khi ăn cơm bà dì cũng đã cầu nguyện như vậy
trước bàn thờ. Còn moi suốt cả ngày
nay, rất tệ là moi không có được sự
mừng vui hồ hởi như nhiều người trên cả hai miền
đất nước vào cái thời điểm đặc biệt ấy.
“Những giây, phút, ngày,
tháng liền sau khi hai bên ngồi lại với nhau ở
Paris, moi cũng đã náo nức, reo ca, vẽ
vời bao nhiêu cảnh huống với bao nhiêu niềm vui,
hạnh phúc về một cuộc trùng phùng, hội ngộ mà cả
dân tộc đang mong chờ, ước mơ hàng mấy chục năm.
Moi cũng đã vẽ với bao nhiêu cảnh huống
về một đất nước hồi sinh, người người nắm tay
nhau vượt qua muôn trùng đau thương, thù hận,
chia lìa, đổ nát, đói nghèo – xây dựng lại quê
làng, thiết kế và kiến tạo lại đất nước. Cũng
như bà dì toi, cũng như mạ moi,
cũng như hàng triệu bà mẹ, ông cha, cũng như
hàng triệu anh em đồng bào cả nước trong ngày
hôm nay, suốt gần năm năm qua, moi đã
có được những giờ phút hạnh phúc — hạnh phúc hồn
nhiên như trẻ thơ. Bởi moi đã nghĩ: cho
dù đàm phán cũng là một dạng thái của chiến
tranh, cho dù đàm phán có kéo dài đi nữa thì
cũng có ngày kết thúc chiến tranh. Và Hoà bình
nhất định phải đến. Moi đã hy vọng, đã
phấn chấn và bằng tất cả tinh huyết có thể vận
dụng được moi đã cùng với anh em lao
vào cuộc chiến tranh hiểm nguy và gian khổ với
một thôi thúc mãnh liệt và duy nhất là góp phần
trong muôn một làm cho hoà bình đến nhanh hơn dù
cho một giây một phút.
“ Điều bất hạnh cho
moi là niềm vui sướng hồn nhiên ngây ngất
về một nền hoà bình sắp đến ấy cứ một ngày nhỏ
dần, yếu dần, mờ dần. Mãi đến lúc này đây, khi
hoà bình đã gõ cửa thì tất cả mọi thứ đối với
moi đã nguội lạnh. Và ở một xó xỉnh nào
đó sâu thẳm của tâm thức moi đã nhú
lên, rồi lớn thật nhanh, một hiện thực mới nặng
nề và tiêu cực làm cho moi rối bời.
“Chúng ta sinh ra và lớn
lên trên một vùng đất, một thời đoạn lịch sử đặc
biệt. Cái vùng đất và thời đoạn lịch sử mà hầu
như tất cả mọi khúc mắc lớn nhất của đất nước tụ
hội nơi đây. Và những giải đáp để tháo gỡ, để
giải quyết những khúc mắc ấy đa phần cũng nảy
sinh từ những con người của khúc đoạn trường
này.
“Những khúc mắc đó là gì?
Đó là nô lệ, nghèo đói và dốt nát. Vấn đề vô
cùng cấp bách, xưa cũ và đồng thời cũng mới mẻ
từng ngày. Giải pháp nào đã được đưa ra, được
vận dụng để đối phó với tình trạng nước sôi lửa
bỏng, thiên nan vạn nan ấy?
“Đầu tiên là giải pháp
nửa dơi nửa chuột, đánh đàm — đàm đánh bát nháo
thiếu hiểu biết địch – ta, thiếu tự tín, thiếu
bản lĩnh của một triều đình cũ nát, lạc lõng và
thoái trào trong một đất nước nghèo đói, dốt nát
và phẫn nộ.
“Tiếp đến là tiếng thét
nộ khí xung thiên của những người thà chết nhất
định không chịu làm nô lệ: Trương Định, Nguyễn
Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng,
Hoàng Hoa Thám, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Trần
Quí Cáp, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thành, Nguyễn
Thái Học …
“Thứ ba là tiếng còi đổi
mới, canh tân, tự lực và hội nhập, đề huề và hoà
hoãn. Giải pháp này bắt đầu từ Nguyễn Trường Tộ,
Nguyễn Lộ Trạch đến Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng và phong trào Duy Tân.
“Thứ tư là tìm đường học
tập cầu viện nương cậy một nước giàu mạnh nhờ
canh tân và ý thức đại dân tộc ở Á châu là Nhật
Bản. Chủ xướng và lãnh đạo phong trào này là nhà
yêu nước Phan Bội Châu dưới ngọn cờ Cường Để và
thể chế Quân chủ lập hiến.
“Tất cả mọi tìm tòi nỗ
lực chiến đấu, dấn thân của các khuynh hướng
trên đều thất bại trong bất khuất hoặc trong ê
chề tuyệt vọng.
Cuối cùng là con đường
của Hồ Chí Minh và những nhà yêu nước tân học
sau này hình thành nên đảng cộng sản. Đây là một
cuộc trường chinh vừa học tập, tìm hiểu đối
phương, vừa tiếp thu văn minh nhân loại đặc biệt
là ý thức hệ Marx –Lénin, phong trào Công nhân,
phong trào Xã hội, phong trào cộng sản và phe Xã
Hội Chủ Nghĩa. Sự lựa chọn, tiếp thu và vận
dụng, kết hợp các sức mạnh truyền thống và hiện
đại, sự khôn khéo, thông minh trong mưu lược,
sách lược, chiến lược, chiến thuật, ý chí và bản
lãnh chiến đấu kiên cường, bất khuất, niềm tin
tất thắng và sự hy sinh chịu đựng vô bờ bến của
dân tộc, của cụ Hồ, của đảng cộng sản… tất cả đã
dẫn đến những thắng lợi to lớn như nhiều người
trong chúng ta đã biết.
“Về phía moi, moi
chỉ biết đại khái là như thế. Mà không phải dễ
dàng gì, không phải ngày một ngày hai để moi
có được những hiểu biết đại khái như thế về Cách
mạng Việt Nam. Nếu không phải ngày một ngày hai,
vậy toi có biết moi phải mất
bao nhiêu thời gian để đi từ chỗ chưa biết gì
đến chỗ biết đại khái như thế? Trên dưới mười
năm đó.
“Và cho dù thời gian nào
đi nữa nếu không có một yếu tố mà rất nhiều năm
sau moi mới phăng dần cái nội dung đích
thực ẩn tàng đằng sau lời trối trăn của ông nội
moi trước khi nhắm mắt. Ông nội moi
là một nhà Nho, một quan lại cao cấp của triều
đình nhà Nguyễn, có tham gia tí chút trong phong
trào chống thuế năm 1908, bị cách chức về làng
dạy học. Năm moi sinh, ông nội moi
đã ngoài 80, và cha moi cũng gần 50,
cũng làm quan và đang trấn nhiệm một huyện nào
đó ở Hà Tĩnh. Ông nội moi mất khi
moi lên 4, bây giờ cha moi đã về
hưu. Lời trăn trối của ông nội moi thực
ra chỉ là lời ông nói đã nhiều lần lúc còn sống,
nay nhắc lại trước khi nhắm mắt: “Ráng mà nuôi
thắng Tú (anh trai moi), thắng Kha học
hành tử tế và bảo với chúng đừng làm nghề gì
khác ngoài nghề dạy học. Thời thế sẽ còn phải
nhiễu nhương nhiều hơn nữa. Nghề dạy học tốt cho
chúng nó hơn… Theo nhận thức của ông nội moi
và đồng thời của cha moi, thời bấy giờ
người con trai đến tuổi trưởng thành, đỗ đạt chỉ
có hai con đường để lập thân là làm quan hoặc
làm thầy đồ, hay một nghề tự do nào khác như
thầy thuốc, thầy địa, làm nông…
“Cha moi sau hồi
về hưu là một người trầm mặc, ít lời. Theo như
mạ moi, thì thời trai trẻ ông không có
vậy, mà trái lại, hoạt bát và xông xáo. Ông lần
hồi thay đổi tính nết theo năm tháng bất đắc dĩ
ở chốn quan trường. Trong nhà có hai người đàn
ông lớn tuổi là ông nội và cha moi. Ông
nội bị cách chức, làm thầy đồ thầy đạt đã quá
đủ. Cha moi không chịu đi con đường ông
nội moi chỉ. Mon men đi về hướng Đông
Du một thời gian rồi nản chí, tuyệt vọng quay
lại phía quan trường với một mục đích duy nhất
là cứu vãn tình trạng suy sụp của gia đình. Ông
hoàn toàn như một chiếc bóng suốt mấy chục năm
làm quan. Thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông làm tri
huyện ở Hà Tĩnh. Liền sau đó xin về triều nhận
một chức Thư Lại ở Bộ Hình và về hưu trước hồi
Nhật đảo chánh. Ông nghiêm khắc với chính mình
mà lại rộng lượng với con cái, gia đình. Việc
học hành của tụi moi ông chỉ nhắc nhở
qua loa và tuyệt đối không can thiệp vào việc
chọn hướng đi của con cái. Anh moi đi
kháng chiến từ những ngày đầu vỡ mặt trận. Dường
như ông không đồng tình nhưng cũng không ngăn
cản. Năm 1954 anh moi truớc khi đi tập
kết có về thăm nhà, ông nói xa nói gần gì đó về
Xô Viêt Nghệ Tĩnh, nhưng rồi cũng tham gia chuẩn
bị mọi thứ để con trai lên đường.
“ Việc thực hiện lời trăn
trối của ông moi chỉ có mạ moi
là chú tâm một cách nghiêm túc và khó nhọc.
Trong nhà mạ moi là một nội tướng đích
thực. Chồng con, mồ mả, kỵ chạp một tay bà quán
xuyến hết mọi việc. Là con gái trong một gia
đình quan lại cao cấp, khoa bảng nhiều đời,
chẳng biết có phải vì vậy hay vì lý do anh
moi đi tập kết mà mạ moi luôn gắn
lòng mình với cuộc kháng chiến và tin tưởng nước
nhà sẽ thống nhất, anh moi sẽ trở về
sau hai năm ký hiệp định Genève.
“ Bản thân moi
thì chẳng khó khăn gì lắm để làm thầy giáo theo
ý nguyện của ông nội . Moi học thong
thả, sính văn chương lại ưa nói năng giao tiếp
nên gõ đầu trẻ xem ra là một việc thích hợp.
“ Có điều khi đứng trước
bảng đen đối diện với học trò mọi chuyện đối với
moi không đơn giản. Dạy cái gì, dạy như
thế nào, dạy để làm gì, đó là những vấn nạn.
Trước đó moi không biết ông nội moi
muốn gì khi trăn trối như vậy. Nhưng chắc chắn
không chỉ đơn giản là chuyện kiếm cơm. Ở Huế vào
thời điểm ấy thang giá trị vẫn còn là “dân hữu
tứ sĩ vi chi tiên”. Nhưng thế nào là sĩ? Phải
chăng đó là kẻ câu cơm bằng cái vốn liếng chữ
nghĩa cóp nhặt được nhiều năm trên ghế nhà
trường? Nếu chỉ để câu cơm thì tại sao ông nội
moi không khuyên con cháu đi làm quan
để nhũng lạm hoặc đi buôn để làm giàu? Moi
sinh ra, lớn lên trong một gia đình quan lại và
Nho giáo. Quan lại, Nho giáo trong cái thời buổi
suy tàn. Triều đình là một bộ máy rệu rã, đầu
hàng, thối nát, là công cụ bất đắc dĩ của thực
dân. Nho giáo thì lỗi thời, hết sinh lực lại bị
vận dụng tuỳ tiện theo các nhu cầu tầm thường,
cơ hội, cá nhân, bè phái, phe nhóm. Vua như Đồng
Khánh, Khải Định, Bảo Đại mà cũng kêu gọi trung
quân với ái quốc. Thiên Chúa giáo và cát cứ như
tập đoàn Ngô Đình Diệm mà cũng nhân danh mệnh
trời, quốc gia để đè đầu vít cổ thiên hạ. Trong
gia đình, người đàn ông, đặc biệt là những ông
cả, ông trưởng, ông chồng cũng là những ông vua,
những Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại tại gia.
Tóm lại, tam cương ngũ thường là giềng mối là
tinh tuý của Nho giáo thì tam cương được vận
dụng, cổ xuý một chiều, cô lệch. Và ngũ thường
thì gần như không còn dấu vết trong ký ức của
rất nhiều kẻ mạo nhận, giả danh; nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín.
“ Đại khái là như thế,
Nhưng hiểu thế nào vẫn còn là vấn đề bảo lưu đậm
nhạt khác nhau, những khía cạnh tích cực của một
thể thống Nho giáo đã được Việt hoá nơi một ít
cá nhân, gia đình, dòng họ và địa phương. Đối
với họ cá nhân, gia đình và tổ quốc đã kết tụ
thành một mối, và trong những tình thế đặc biệt
phải chọn lựa, họ sẵn sàng hy sinh cá nhân, gia
đình cho sự an vui, sự tồn vinh của dân của
nước. Lo trước thiên hạ, khổ trước thiên hạ và
chết trước thiên hạ là cốt cách của những kẻ sĩ
tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình
Phùng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần
Quí Cáp, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Khôi và
thành tựu sau cùng là người thanh niên Nguyễn
Tất Thành.
“Không phải là chuyên
tình cờ mà sĩ phu Nghệ Tĩnh, Nam Ngãi đã chọn
nhà tù, pháp trường làm nơi đến của mình hơn là
bất cứ nơi nào trên đất nước bị giặc chiếm đóng.
“ Cũng không phải là
chuyên tình cờ mà Huế — nơi một thời là đất dụng
võ của những hào kiệt từ Nguyễn Hoàng đến Quang
Trung: một người thì mở mang bờ cõi, một người
thì Nam chinh Bắc chiến quét đuổi xâm lược, giữ
vững cơ đồ, thống nhất giang sơn — một trăm năm
mươi năm sau nhà Nguyễn thiết lập Vương triều,
gần một trăm năm thực dân Pháp đặt ách đô hộ,
người Huế cứ nhỏ dần từ dáng vóc đến giọng nói.
Rùn vai, hạ giọng, gọi dạ bảo vâng là mẫu mực
của đám thần dân đâu phải của chỉ vương triều
nhà Nguyễn mà của tất cả các triều đại chuyên
chính. Một trăm năm qua, ở Huế chỉ còn lại những
hào kiệt hạng hai, rất nhiều thi sĩ, và thư lại
thì hằng hà sa số. Huế dễ thưong, Huế sâu lắng,
Huế tinh tế, Huế thâm trầm là những đánh giá của
anh em bạn bè. Năm phần chính xác và năm phần
rộng lượng.
“ Moi xuất thân
trong một gia đình Nho giáo và quan lại. Nho
giáo chỉ đọng lại trong bản thân moi là
những tập quán đạo đức, luân lý và tình cảm được
thấm dần từ bà mẹ. Cha moi là một người
khó hiểu và câm lặng, chỉ về nhà trước khi đã
nghỉ hưu. Nơi ông, moi thấy rất mơ hồ
dấu vết của học thuật (Nho giáo) và nghề nghiệp
(quan lại). Moi chỉ nhận được từ ông
những tình cảm dịu dàng và trìu mến. Ông không
dạy moi chữ Hán, ông cũng không áp đặt
những nguyên lí, những chuẩn mực triết lí, đạo
đức Nho gia. Dường như ông muốn phủ nhận hoặc
muốn quên đi những gì mà ông đã bỏ công kết tập.
Có cái gì đó vừa trống rỗng vừa tuyệt vọng nơi
ông. Ngoài sự câm lặng, ông không hề hở môi, ca
thán về bất cứ gì như những người đồng thời cùng
cảnh ngộ trước những đổi thay đến chóng mặt của
cuộc sống nhãn tiền. Ông nội moi thì
qua đời khi moi chưa đến tuổi lên năm.
Ông chỉ để lại trong ký ức moi một ông
già nhân hậu và lời trăn trối mà moi
phải mất nhiều thời gian và công sức để lãnh hội
và thực hành.
“Moi bắt đầu đi
dạy vào cuối năm 23 tuổi, năm ấy là năm 1958.
Chính quyền Ngô Đình Diệm đang say sưa chiến
thắng và những thành tựu đạt được sau năm năm
đầu cầm quyền với cơ man nào là âm mưu thủ đoạn.
Họ tiếp tục lao vào con đường âm mưu thủ đoạn
ấy. Chắc họ nghĩ rằng chỉ với âm mưu thủ đoạn
thôi họ có thể làm chủ thiên hạ. Cha moi
ngày một ít nói hơn. Hình như ông cố che giấu,
cố kiềm chế những rối rắm, những bức xúc trong
lòng. Mạ moi thì ngày một sốt ruột.
Tháng 7 năm 1956 đã qua, một tháng, một năm, rồi
hai năm mà không thấy dấu hiệu gì để thống nhất
hai miền. Anh Tú moi thì biệt vô âm
tín. Nỗi nhớ thương mong đợi con khiến bà ngày
một thêm héo hon buồn khổ. Nhiều lúc moi
bắt gặp bà ngồi khóc âm thầm trong một góc tối
của căn nhà rường. Bà thắp hương khấn vái nhiều
hơn trên bàn thờ tổ tiên. Mọi tội lỗi bà trút
hết lên tập đoàn Ngô Đình Diệm. Bà nói nhỏ, nói
một mình nhưng moi cũng nghe được: “Tụi
chúng ác, chúng muốn kéo dài vĩnh viễn sự chia
cắt. Chúng muốn dẹp hết bàn thờ Tổ tiên Trời
Phật, bắt ép mọi người chỉ thờ một ông chúa bà
chúa gì đó của bọn Tây, của bọn cướp nước ấy…”
“Ngô Đình Diệm khi mới về
nước, không ít người Huế chào đón và hy vọng.
Nhưng rồi ngày lại ngày khi cái ghế Tổng Thống
của ông tạm vững, anh em của ông ấy đã quay lưng
lại với đại bộ phận người Huế. Diệt cộng, bài
Phong, đả Thực, tất cả chỉ là chiêu bài. Nép sau
cái chiêu bài này, tập đoàn Ngô Đình Diệm đã
trắng trợn gây ra bao nhiêu tội ác: giết người,
cướp của, chà đạp, đàn áp, cưỡng bức là hành
động hàng ngày của tập đoàn này. Không có cái gì
ăn nhập với nhau giữa lời nói và hành động. Tự
do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc là những lời nói
hàng ngày của tập đoàn Ngô Đình Diệm. Chúa Trời
và Quốc gia. Có cái gì đó quá mờ ám, quá đen
tối, ở cái mô hình này.
“—- Sao lại Chúa Trời mà
không phải là Ông Bà Tổ Tiên Trời Phật được thờ
cúng ở cái nơi trang trọng nhất của căn nhà
trong tâm thức dân tộc.
“—- Sao lại Quốc gia độc
lập trong khi miền Nam chỉ là một phần, một bộ
phận của đất nước Việt Nam duy nhất chạy dài từ
Bắc chí Nam, là kết quả của biết bao nhiêu máu
xương, mồ hôi, nước mắt người Việt Nam đã đổ ra
suốt cả ngàn năm.
“—- Sao lại là tiền đồn,
là nơi đầu tên mũi đạn cho một thế giới Tự Do
nào đó xa lắc xa lơ? Té ra tập đoàn Ngô Đình
Diệm đã đem một phần lãnh thổ thiêng liêng của
tổ quốc thế chấp cho Hoa Kỳ và để đổi lại tên đế
quốc này đổ tiền bạc, bom đạn bảo vệ sự an toàn
cho ông ta trong quá trình chống lại đất nước,
chống lại nhân dân.
“ Moi đã mường
tượng ra cái công việc, cái mục đích của Người
Thầy Giáo mà ông nội moi đã gợi mở, đã
dặn dò.
“ Lúc còn ngồi trên ghế
nhà trường, giữa Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát,
giữa hai con người tài hoa có hai số phận ngược
chiều của thế kỷ 19, moi thích và cảm
phục Cao Bá Quát hơn. Cái khí phách ngang tàng,
cái hào khí ngất trời của kẻ muốn “xoay bạch ốc
lại lâu đài” ấy hấp dẫn, chinh phục, và cuốn hút
moi. Và thế là moi đã bỏ rơi
cái ông già ham chơi lận đận lao đao đi xe cỏ
chờ vận hội nơi cái triều đình ruỗng mục và
chuyên chính nhà Nguyễn. Thế mà đến khi trở
thành thầy giáo, moi lại phát hiện ra ở
Nguyễn Công Trứ một khía cạnh mới.
Có giang sơn thì sĩ
đã có tên
“Té ra sông núi, đất
nước, dân tộc, tổ quốc đã sản sinh ra đứa con
đầu lòng là kẻ sĩ. Giềng mối quốc gia, ý thức
dân tộc, cái Nam quốc sơn hà, cái tinh tuý, cái
hạo nhiên của mọi thời đại và cụ thể là con
đường cứu nước mà cụ Hồ và những người cộng sản
đã đi tìm đều được tinh lọc qua khối óc, trái
tim, hoài bảo, bản lãnh và khát vọng của những
đứa con đầu lòng ấy của Mẹ Cha Giang Sơn Tổ
Quốc.
“Trước khi giảng bài Kẻ
Sĩ ở lớp đệ tứ, moi phải rủ về nhà vài
đứa học trò đã qua chọn lựa để moi thực
tập. Bọn moi ngồi ở căn chái mà sau này
toi đã nhiều lần về ngủ. Sau khi đám
học trò ra về, cha moi đã nhẹ nhàng,
điềm đạm bảo Moi:
—“Nhìn ở một góc độ khác,
chính cái chất sĩ nơi loài người là nguồn cội
sản sinh ra mọi khái niệm từ Dân tộc, Quốc gia,
Độc lập, Tự chủ, Nhân loại v…v…
“Con người vượt qua dạng
thái tồn tại của thú, yếu tố đầu tiên nảy sinh
trong đầu nó là trí khôn. Không có trí khôn con
người chỉ là bầy thú. Để phân biệt giữa sĩ và ba
hạng dân còn lại, yếu tố trí khôn và các phẩm
chất ưu tú khác nơi kẻ sĩ nổi trội hơn.
—- “Mà sao con lại muốn
làm một thầy giáo cá biệt? Gian nan và nguy hiểm
lắm…”
“Moi sững sờ
trước những lời nói và thái độ của cha moi.
Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng
moi thấy ông bày tỏ một thái độ nghiêm túc
về một vấn đề nghiêm túc. Có thể ông là một
người tuyệt vọng, chứ không phải là người trống
rỗng như moi đã từng nhận xét. Moi
đã ôm chầm lấy ông, và moi đã khóc như
một đứa con trẻ.
Moi đã sáng tỏ
vai trò của mình, chức năng của mình — Thầy Giáo
— trước tình thế đặc biệt của đất nước như
moi đã nói ở trên. Nhưng thế nào là tình
thế đặc biệt moi còn rất mơ hồ. Nhưng
hiểu được đến lúc này (1959) một cách đúng đắn
về cuộc kháng chiến chống Pháp, về Điện Biên
Phủ, về hiệp định Genève là nhờ những thông tin
đơn giản và những tình cảm sâu sắc từ mạ moi.
Ngoài ra không còn có gì nữa. Trong khi đó trong
gần năm năm, ngày đêm ra rả bên tai, nhan nhản
trước mắt mọi người dân miền Nam là những tuyên
truyền của một bộ máy đồ sộ đông đảo nhiều tầng,
nhiều lớp, nhiều vòng, nhiều phương tiện của tập
đoàn Ngô Đình Diệm và Mỹ. Phong trào cách mạng
quốc gia, Liên đoàn công chức cách mạng, đảng
Cần Lao, Thanh niên cộng hoà, Phụ nữ liên đới,
Cảnh sát công an, Công dân vụ, Xây dựng nông
thôn Phượng hoàng, cán bộ phường xã, thôn ấp,
liên gia. Đặc biệt là cơ quan thông tin Mỹ Việt
các cấp từ Sàigòn, Huế, các đội chiếu phim, các
đoàn thông tin tâm lý chiến. Và cả hệ thống báo
chí, sách vở, áp phích truyền đơn, loa phóng
thanh…
“Cũng không thể không
nhắc đến những cái loa chống cộng trong đạo
Thiên Chúa, trong gần một triệu người di cư từ
miền Bắc và nhất là một số cán bộ kháng chiến bỏ
hàng ngũ trở về đầu thú.
“Moi đã đọc Le
Zeros et L’infini của Koesler, moi đã
đọc Trăm Hoa Đua Nở trên đất Bắc. moi
đã đọc Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Đua Tiếng trên
đất Trung Hoa của Mao Trạch Đông, moi
đã đọc tạp chí Sáng Tạo, nhật báo Tự Do, tạp chí
Đại Học và rất nhiều sách báo chống cộng, chống
miền Bắc chống cộng sản và ca ngợi Ngô Đình
Diệm, ca ngợi Mỹ và thế giới Tự Do.
“ Đại học Huế, nơi
moi đã học một năm ở Trường sư phạm, ba năm
ở trường luật, phải chăng là nơi của một cái loa
to, đào tạo nhiều cái loa nhỏ cổ xuý, động viên
rao giảng, tô vẽ cho cái Quốc Gia Chúa Trời La
Mã, cho cái tiền đồn chống cộng của Ngô Đình
Diệm và đế quốc Mỹ. Các trường trung học, đại
học của chính quyền, của đạo Thiên Chúa cũng là
nơi đặt để, sản xuất những cái loa như thế.
“ Không thể phủ nhận
những năm đầu của chế độ Ngô Đình Diệm với tiền
bạc từ viện trợ Mỹ, với hệ thống tuyên truyền
khổng lồ, nham hiểm tinh vi của CIA và tập đoàn
Cần Lao Thiên Chúa giáo — miền Nam trong đó có
Huế đã đạt được những thành tựu nào đó. Một bộ
phận không nhỏ quần chúng đã hy vọng và tin
theo. Đồng thời, kinh tế ở đô thị tương đối ổn
định. Thanh niên học xong tú tài hay tốt nghiệp
từ các trường chuyên nghiệp sơ trung cấp có việc
làm. Thanh niên ít học bị gọi đi lính được chu
cấp đầy đủ các nhu yếu phẩm. Hạ sĩ quan, công
chức sơ cấp có cuộc sống tạm ổn định. Sinh viên
tốt nghiệp đại học, sĩ quan, công chức cao cấp,
thì đời sống đầy đủ, phủ phê hoặc giàu có, con
cái họ nếu có khả năng thì học đến nơi đến chốn.
“ Tất cả những thứ đại
loại như thế dưới mắt nhìn đơn giản hời hợt của
một bộ phận không nhỏ thị dân thì miền Nam có đủ
vóc dáng và sức mạnh của một quốc gia dân chủ
đồng thời là một pháo đài mẫu mực của thế giới
Tự Do “ngăn chặn hữu hiệu sự xâm lăng của
cộng sản miền Bắc”.
“ Mãi cho đến khi nổ ra
vụ Phật giáo và kết thúc chế độ Ngô Đình Diệm,
bản thân moi mới nhận ra sự thật của
vấn đề miền Nam.
“Trong khi đó mạ moi
và tất cả các bà mẹ có chồng con anh em đi tập
kết, đi kháng chiến và nhiều đồng bào ở nông
thôn, đồng bào theo đạo Phật — những nạn nhân
trực tiếp của sự cấu kết Mỹ – Diệm không cần
phải vòng vo sách vở như moi, mà bằng
sự trải nghiệm đau thương của mình đã không khó
khăn gì nhận biết các mưu đồ đen tối, tàn ác,
bạo ngược của guồng máy Phát xít và mỵ dân. Đối
với họ, miền Nam không thể là tiền đồn, không
thể là một nước, cũng không thể là một quốc gia
trong vòng tay quan phòng của Chúa Trời La Mã.
Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một.
Ai đó nói với moi rằng cụ Hồ đã khẳng
quyết chân lí ấy. Và moi đã nói lại với
mạ moi, bà ấy bảo: Chỉ có cụ Hồ.
Trước sau gì cũng chỉ có cụ Hồ.
“Moi bắt đầu đi
dạy từ mùa thu năm 1958, bốn năm sau khi Ngô
Đình Diệm về nước và năm năm trước anh em Ngô
Đình Diệm bi giết, quốc gia Chúa Trời La Mã của
đảng Cần Lao Thiên Chúa sụp đổ. Anh em Nhu Diệm
và đảng của họ biết hết các việc họ làm…
Duy có một điều đơn giản mà họ không biết là
chính họ đã tự đào hố chôn mình. Bài học đơn
giản mà rất nhiều người trong nhiều thời đại
không chịu học là bất cứ ai muốn sống yên bình
là sống giữa thiên hạ, sống phải chăng với thiên
hạ, chứ không thể sống một mình, sống trên đầu
trên cổ thiên hạ. Ngày trước anh em họ Ngô đã
không biết điều đó. Mới chân ướt chân ráo về
miền Nam, Ngô Đình Diệm đã ra tay tàn sát người
cộng sản. Tiếp theo ông ta loại khỏi mưu đồ
vương bá của mình các thế lực của một miền Nam
bát nháo đã từng liên kết hay ủng hộ ông là phe
Bảo Đại, các đảng phái, các giáo phái. Hành động
cuối cùng chẳng phải là giọt nước mà là thác
nước nên không chỉ làm tràn mà làm đổ bể, cuồn
trôi cái ly nước đang trên thế chông chênh của
tập đoàn Ngô Đình Diệm là thách đố một bộ phận
đông đảo của quần chúng miền Nam: những người
theo đạo Phật. Vậy Ngô Đình Diệm và bộ sậu của
ông sống với ai giữa miền Nam như thế đó?
“— Chừng bảy tám phần
trăm người theo đạo Thiên Chúa không muốn hoặc
chưa bám rễ vững chắc vào đất nước vào dân tộc
ư? Chừng ấy sức mạnh không đủ để đối chọi, để
tranh hùng với hơn chín mươi phần trăm người
miền Nam còn lại. Huống hồ gì ở phía bên kia vĩ
tuyến 17 còn có một miền Bắc ruột thịt, một đảng
cộng sản đã tôi luyện dày dạn trong chiến tranh
giải phóng và tiếp tục nắm vững ngọn cờ Dân tộc.
Huống hồ gì ngoài cương thổ Việt Nam, ít nhiều
mạnh yếu từng nơi, còn có tình liên đới nhân
loại. Huống hồ gì còn có ông chủ của cái tiền
đồn chống cộng của thế giới Tự Do — người bạn
đồng minh giàu có Hoa Kỳ. Dưới con mắt của người
Mỹ, Ngô Đình Diệm chỉ là một thủ lãnh trông coi,
bảo vệ tiền đồn. Một khi thủ lãnh đó không còn
có khả năng canh gác tiền đồn, thậm chí còn là
nguyên nhân khiến cái tiền đồn ấy suy sụp, thì
lẽ đương nhiên ông chủ Mỹ sẽ tuyển chọn một thủ
lãnh khác trong đám ứng viên dự bị để thay vào
chỗ của ông ta.
“Moi phải mất
năm năm mới vỡ lẻ những vấn đề tưởng chừng như
quá đơn giản ấy. Sự sáng tỏ moi có được
là cả một chặng đường gian nan và cũng không
phải một mình moi mày mò mà có sự tác
động, hổ trợ ba bên bốn bề:
“ Trước hết là sự chuyển
biến của toàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị và
an ninh của miền Nam. Chỉ trong vòng bốn năm năm
mà:
“— một nhà yêu nước, một
lãnh tụ cách mạng quốc gia anh minh, một nhà cai
trị sáng giá của thế giới Tự do Ngô Đình Diệm,
“— một lí thuyết gia, một
đảng trưởng đảng Cần Lao Nhân Vị, một ngài cố
vấn tối cao Ngô Đình Nhu và vợ ông ta — đệ nhất
phu nhân Trần Lệ Xuân,
“— một Giám mục, rồi Tổng
giám mục Ngô Đình Thục, thành viên cao cấp của
vương triều Thiên Chúa giáo La Mã, đại diện cho
đức Chúa Trời, Đấng sáng tạo quyền năng và bác
ái,
“— một Ngô Đình Cẩn, lãnh
chúa miền Trung,
“— một đảng Cần Lao Thiên
Chúa giáo …
đã trở thành một băng
nhóm tội phạm chẳng từ một tội ác nào: cướp của,
giết người, buôn lậu, tham ô những lạm và độc
tôn tôn giáo.
“Và cũng trong chừng ấy
thời gian mà các đảng phái, giáo phái, phe nhóm
chính trị đã từng đứng chung với Ngô Đình Diệm
dưới cái lọng đoàn kết quốc gia chống cộng,
trước sự phản trắc và lật lọng của anh em nhà họ
Ngô và đảng Cần Lao Thiên Chúa giáo, đã bày tỏ
sự căm thù, tức giận, quyết không đội chung
trời, để rồi sau đó thể hiện qua các cuộc đảo
chánh, tập hợp tuyên ngôn không mưu lược, không
quyết tâm, rã rời, cạn kiệt sức sống, võ biền và
xôi thịt.
“Những rối rắm, xuống dốc
chính trị kéo theo sự suy sụp kinh tế, sự đổ vỡ
niềm tin, sự bất mãn căm giận của đông đảo quần
chúng không những ở nông thôn mà cả những thị
dân đã một thời tin tưởng và ủng hộ Diệm.
“ Đó là những điều mắt
thấy tai nghe. Ngoài ra sự sáng tỏ của moi
một phần thông qua các cuộc trao đổi bàn luận
với bạn bè, với đồng nghiệp ở trường Nguyễn Du,
ở căn nhà tranh phên tre nền đất của Hoàng Phủ
Ngọc Tường trong hẻm Mai Thúc Loan gần chợ Xép,
rồi căn nhà của Đinh Cường thuê trên dốc Bến Ngự
là nơi bọn moi tụ tập, đấu đá, tranh
cãi mọi thứ chuyện trên đời: triết học, sử học,
văn nghệ, chính trị xã hội…
Ngoài Hoàng Phủ Ngọc
Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Đinh Cường thường
trú, moi còn gặp nơi đây hết tuần này
qua tuần nọ, hết tháng này qua tháng kia của
những năm sau 1963 nào là Đỗ Long Vân, Nguyễn
Văn, Lê Tử Thành, Bửu Ý, Trịnh Công Sơn, Nguyễn
Tuấn Khanh (Rừng) và đám bạn bè đồng chí của
Phan: Phan Duy Nhân, Lê Hiếu Đằng… Thỉnh thoảng
moi còn gặp một vài người bạn phương xa
có dịp tạt qua Huế. Lúc đầu bọn moi mỗi
người mỗi vẻ, một xu hướng triết học, một lập
trường chính trị, một quan điểm lich sử, một
trường phái văn nghệ. Mọi người đều tha hồ giải
bày, tha hồ mà bài bác, tha hồ tuyên dương.
Marxism? Hiện sinh? Phật giáo? Hiện thực? Trừu
tượng? Siêu thực? … Quả đây là một salon, một
câu lạc bộ của một nhóm trí thức Huế. Có điều
cái salon trí thức này không ở trong một lâu
đài, một phòng khách sang trọng như ở châu Âu mà
ở trong một túp lều, và bọn Tường Phan đặt cho
nó một cái tên rất kiếm hiệp là Tuyệt Tình Cốc.
“ Moi đến Tuyệt
Tình Cốc hay đến căn nhà trên Bến Ngự lúc đầu
với mục đích cấp bách là xác lập hướng đi cụ thể
cho công việc dạy học của mình.
“Nhiều sinh viên khi đến
trường Đại học Sư phạm, là đã giải quyết xong
vấn đề này. Với moi thì chưa. Moi
không thể dạy cho đám học trò trở thành những
công bộc cho chế độ Mỹ Diệm. Ông nội moi
không muốn thế. Mạ moi không muốn thế.
Hàng triêu người Việt Nam bình thường không muốn
thế. Cao Bá Quát bảo moi nên cùng đám
học trò mưu tính lật đổ chế độ. Nguyễn Công Trứ
đề nghị moi khi thì “ Phù thế giáo một
vài câu thanh nghị ”, khi thì “ Ngoài biên thuỳ
rạch mũi can tương”.
“Một vài câu thanh nghị
là cách nói tượng trưng và khiêm tốn. Khi một
chế độ tàn ác, độc tài như chế độ Mỹ Diệm thì
hơi thở của kẻ sĩ không chỉ là một vài câu thanh
nghị mà toàn sinh lực của kẻ sĩ phải trở thành
vũ khí góp phần đánh đuổi, lật đổ chúng.
“Nghĩ như thế đối với
moi không phải là hết bế tắc, bởi vì bây
giờ trên bình diện tư tưởng và cảm thức chính
trị moi cùng tồn tại ba luồng nội lực
khó bề hoá giải:
“Thứ nhất là con đường
cách mạng tiến hành cùng lúc hai cuộc cách mạng
Dân tộc Độc lập và Chủ Nghĩa Xã Hội hoặc ngược
lại do đảng cộng sản Việt Nam xướng xuất và lãnh
đạo.
“Thứ hai là con đường Dân
tộc và Đạo pháp hay Đạo pháp và Dân tộc do các
vị cao tăng Phật giáo Bắc tông ở Huế, ở miền
Trung âm thầm gợi mở và phát động.
“ Thứ ba là tư tưởng Tư
sản Dân quyền và học thuyết của Rousseau mà
moi đã tiếp thu từ trường Luật và mấy năm
nghiền ngẫm sách báo.
“ Moi bế tắc bởi
moi không thể gây cho học trò ý thức
đuổi Mỹ, lật Diệm một cách chung chung rồi bỏ
đó, mà tại sao moi không chỉ cho chúng
luôn ngọn cờ nào chúng có thể theo để thực hiện
nghĩa vụ công dân của mình?
“ Các cuộc trao đổi, thão
luận ở Tuyệt Tình Cốc, ở căn nhà trên dốc Bến
Ngự nhất là những đóng góp của các anh Trần Hữu
Trung, Hoàng Hữu Pha, và cả Lê Phước Tâm, Nguyễn
Hữu Châu Phan sau này ở trường Ngưyễn Du đã giúp
moi định hướng ngày một đúng đắn hơn
công việc dạy học của mình.
“ Đối với moi từ
trước cho đến thời điểm này, học thuyết Tư sản
Dân quyền là tư tưởng cách mạng triệt để và đúng
đắn nhất. Triệt để và đúng đắn như thế nào
moi sẽ giải thích sau. Tuy nhiên không có
tư tưởng, học thuyết nào có thể thực hiện được
trong một nước bị chiếm đóng bị lệ thuộc. Vấn đề
cấp bách và ưư tiên hàng đầu là đánh đuổi ngoại
xâm và đánh sụp các chính quyền, các thế lực lệ
thuộc, tay sai, giành lại độc lập, chủ quyền,
thực hiện Thống nhất.
“Gác lại một bên thể chế
Tư sản Dân quyền mà moi cho là cách
mạng triệt để. Vấn đề còn lại là giữa Phật giáo
miền Trung và đảng cộng sản Việt Nam, moi
sẽ đóng góp sức mình với ai, cộng tác với ai để
thực hiện khát vọng Độc lập, Thống nhất và kiến
tạo Hoà bình?
“ Với Phật giáo ư? trước
khi gặp đám Hoàng Phủ Ngọc Tường và bạn bè ở
Tuyệt Tình Cốc, trước khi trao đổi với các anh
Trần Hữu Trung, Hoàng Hữu Pha, Lê Phước Tâm,
Nguyễn hữu Châu Phan ở trường Nguyễn Du. Trước
khi nghe toi, Nguyễn Đính, Võ Đông và
nhiều anh em khác … Moi đã nghe quá
nhiều, thấy quá nhiều những lời, những cảnh,
những thiên đường, địa ngục từ guồng máy khổng
lồ Mỹ Diệm, ở giữa những náo động gai mắt chói
tai, ồn ào xa lạ và độc hại ấy, moi
nghe được một tiếng nói khác nhỏ nhẹ, bao dung,
từ ái … phát ra từ các vị lãnh đạo Phật giáo
miền Trung. Các vị ấy nói rằng: đất nước đang bị
qua phân, nhân dân ở hai miền Nam Bắc do sự thúc
bách, áp đặt của hai thế lực quốc tế là cộng sản
độc tài vô thần và Tư bản Thiên Chúa giáo toàn
trị đã và đang tiến hành cuộc chiến tranh huynh
đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, tan tác thương
đau. Phật giáo Việt Nam, không như một tôn giáo
nào khác, mà là một tôn giáo đặt nền tảng trên
tư tưởng Đại hùng, Đại lực, Đại Từ bi, trên ý
thức trách nhiệm và lòng yêu nước thương nòi của
người Việt Nam, đã gắn kết thân phận mình với
thân phận quốc gia dân tộc, đã có những đóng góp
to lớn trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng
nước, chống ngoại xâm, mở mang bờ cõi và kiến
tạo đất nước trong hoà bình thịnh vượng. Trong
quá khứ rất nhiều vị tăng sĩ Phật giáo qua những
đóng góp to lớn đã được phong làm quốc sư, đặc
biệt là hai triều Lý Trần.
“Với nền tảng sức mạnh
tâm linh hùng hậu thâm viễn như vậy, với khối
lượng tín đồ đông đảo gồm ba phần tư dân số, với
một đội ngũ tăng ni đạo cao đức trọng và Phật tử
có đủ tâm năng do được đào tạo chuẩn bị từ sau
cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu của
thập kỷ ba mươi và tiếp tục phát triển qua nhiều
thập niên đến ngày nay, Phật giáo Việt Nam
nguyện đem hết sức mình thực hiện hoà giải dân
tộc, thống nhất tổ quốc. Với một quốc gia độc
lập, thống nhất, an bình thịnh vượng, một nước
Việt Nam được trang bị bởi tư tưỏng Đại hùng,
Đại lực, Đại từ bi sẽ hoá giải các mâu thuẫn,
tương tranh quốc tế góp phần đem lại an bình cho
nhân loại.
“ Nhiều năm bị vây hãm
giữa những tiếng nói, âm thanh chát chúa hung
tợn của sắt thép, hận thù, đổ vỡ, moi
đã sững sờ và vui sướng như kẻ lạc đường giữa sa
mạc nắng cháy tìm được giếng nước và bóng râm
khi nghe được tiếng nói bao dung hoà ái như thế.
Độc lập Hoà bình, ngàn năm trước, ngàn năm sau
dân tộc Việt Nam cũng chỉ mơ ước như thế. Rất
nhiều người Huế, người miền Trung và cả miền Nam
nữa, là nạn nhân của những giấc mơ đẫm máu, đã
bị cuốn hút vào cơn mộng du tập thể tràn ngập
ánh đạo vàng, nắng chiều, kinh cầu và nhạc tụng.
“Trong đêm dài của nô lệ
và đói nghèo, dân tộc Việt Nam đã trải qua hai
cuộc mộng du lớn. Một của người cộng sản, và một
là của các người Phật giáo miền Trung. Là một
người ngoại đạo và cũng khá muộn màng, nhưng bởi
là người Việt Nam, là thi sĩ, nên ít nhiều gì
moi cũng đã tham dự vào hai cuộc mộng
du ấy.
“Tuy nhiên, moi
lại còn là người học luật, là kẻ duy lý, là học
trò của J. Rouseau (moi nói trước để
toi khỏi phân vân gì khi cần phải tố
cáo moi là con đẻ của chủ nghĩa Tư bản,
tên tư sản đội lốt mai phục) nên moi đã
nhanh chóng nhận ra rằng con đường của các nhà
lãnh đạo Phật giáo miền Trung chẳng phải là
thông lộ cho vấn đề Việt Nam như cảm giác ban
đầu của moi và của nhiều người khác.
Bởi tiền đề mà các vị ấy nêu ra dựa trên những
chi tiết chứ không phải là cốt lõi của vấn đề
Việt Nam. Từ khi người Pháp xâm chiếm đất nước
này cho đến bây giờ vẫn là xâm lược, chống xâm
lược. Những vấn đề khác: vô thần hay hữư thần,
độc tài hay dân chủ, cộng sản hay quốc gia…,
không phải là hoàn toàn bịa đặt, nó có đó, nhưng
là những nhân tố phát sinh, phụ thuộc, được thổi
phồng, cường điệu và huyền thoại hoá. Tất cả sẽ
được giải quyết sau khi nền độc lập của đất nước
được thu hồi, việc thống nhất đất nước được thực
hiện, và hoà bình được tái lập. Vả lại: ước mơ,
hoài bảo, khát vọng của các vị lãnh đạo Phật
giáo miền Trung quá to lớn, hão huyền, ở ngoài
khả năng, chức năng của một tôn giáo trước tình
hình đất nước.
“ Về mặt lí thuyết,
moi tâm đắc với học thuyêt Tư sản Dân
qưyền, và không mặn mà gì với chủ nghĩa cộng
sản. Tuy nhiên để đạt được cái mục đích cấp
bách: Độc lập và Thống nhất, moi sẵn
sàng đứng chung ngọn cờ Dân tộc mà đảng cộng sản
giương cao. Moi là người dân như hàng
triệu người dân miền Nam khác, không có tham
vọng chính trị, không phe nhóm, tham gia kháng
chiến theo khả năng và nhận thức của mình, một
khi sáng tỏ ra rằng đảng cộng sản có quyết tâm
và có khả năng đưa cuộc kháng chiến chống đuổi
Mỹ đến thắng lợi cuối cùng, moi đi
chung với các toi một đoạn đường. Có
thế thôi.
“Còn vấn đề học thuyết Tư
sản Dân quyền của moi, như có lần
toi đã hỏi?
“ Không có học thuyết nào
của moi cả. Chọn một con đường để đi là
việc của cả nhân dân. Học thuyết Tư sản Dân
quyền phải chăng là những khôn ngoan, chứ không
phải là chân lí tuyệt đối như chủ nghĩa cộng sản
hoặc như tín điều tôn giáo. Những khôn ngoan mà
các ông Montesquieu và Rousseau đề nghị nếu nhân
dân thấy có lợi thì dùng, không có lợi thì thôi.
Không ai có quyền và có khả năng áp đặt, dạy dỗ
người khác về bất cứ học thuyết nào khi người ta
không thấy có nhu cầu hoặc khi người ta không có
khả năng để tiếp cận. Học thuyết Tư sản Dân
quyền là sản phẩm của một trình độ văn minh. Nó
ra đời sau cuộc cách mạng đại công nghiệp, nó là
những khế ước được thừa nhận, vận dụng cho cả
hai phía: phía người cai trị được bầu vào các cơ
quan công quyền và phía những người công dân
chấp nhận sự cai trị của người mình đề cử thông
qua lá phiếu. Cả hai đều công nhận, ràng buộc,
bảo vệ các quyền hạn chức năng và các trách
nhiệm thông qua hiến pháp và luật pháp. Không
một ai, từ người đứng đầu các cơ quan quyền lực
cao nhất (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đến đảng
cầm quyền, ở trên, ở ngoài pháp luật cả. Tất cả
mọi người đều được pháp luật thừa nhận các quyền
căn bản bất khả nhượng. Có lẽ sau chiến tranh,
các quyền dân chủ chưa có điều kiện và khả năng
thực hiện đầy đủ, trong khi đó nhu cầu cấp bách
là bảo vệ các thành quả của cuộc kháng chiến,
bảo vệ an ninh trật tự và các điều kiện sống căn
bản cho tất cả mọi người không phân biệt, hạn
chế và đề phòng sự lạm quyền của một số người
say mê chiến thắng, cần nhanh chóng và nghiêm
chỉnh xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh
và trong sạch.
“ Câu hỏi tối qua của
toi về lực luợng thứ ba, moi đã
trả lời đại khái. Suốt mấy ngày nay, moi
suy nghĩ khá nhiều về vấn đề này. Theo moi
đây là một vấn đề tế nhị và phức tạp. Moi
nhắc lại quan điểm của mình: không có lực lượng
chính trị thứ ba trong cuộc chiến tranh giải
phóng. Nhưng thực tế là đảng cộng sản đã khẳng
định: hai cuộc cách mạng tiến hành cùng một lúc
là: cách mạng Dân tộc Dân chủ nhân dân và cách
mạng Xã Hội Chủ Nghĩa.
“Ở miền Nam, có rất nhiều
người kể cả một số người trong quân đội và chính
quyền Saigòn có ý thức chống Mỹ nhưng đồng thời
không đồng tình với người cộng sản về chủ nghĩa
Xã hội. Họ thuộc thành phần chính trị thứ ba.
“ Tuy nhiên do nhu cầu và
thủ đoạn chính trị, không những người cộng sản
các toi mà cả Mỹ cũng đã khẳng định một
cách giả dối rằng có một lực lượng thứ ba. Vả
lại trong số đông đảo thuộc thành phần chính trị
thứ ba cũng không thiếu những cá nhân, tổ chức
do ảo tưởng chính trị, cộng với sự hồn nhiên cả
tin, cũng vỗ ngực nhận mình là lực lượng thứ ba
nhằm mơ lấy vị trí nào đó trong sinh hoạt chính
trị sau này.
“Moi đã học môn
chính trị ở trường luật, moi đọc lịch
sử, moi đọc Machiavelle, Lenin, Chiến
quốc sách và qua kinh nghiệm hợp tác với các
toi trong một số hành động của phong trào
đô thị như tham gia phong trào Tự quyết, Mặt
trận văn hoá miền Trung, làm báo Tự Quyết, báo
Mặt trận Văn hoá và đặc biệt cùng với đám Bửu
Chỉ, Võ Quê, Nguyễn Duy Hiền, Phan Hữu Lượng,
Trần Đình Sơn Cước, và đám học trò trực tiếp như
Dung, Nhân, Hoàng Thị Thọ và hàng ngàn sinh
viên, học sinh Huê xuống đường, mitting, hội
thão, tổ chức đêm không ngủ… Chúng ta đã gần gũi
chia sẻ những khó khăn, khổ nạn buồn vui và cả
tâm sự … Qua đó moi đã có được những
hiểu biết chưa đầy đủ nhưng cũng đã khái quát
được mưu lược, thủ đoạn của người cộng sản
các toi. Moi chẳng mơ hồ gì về các
gợi ý, xúi giục ngầm, những đề nghị ẩn tàng tính
chất cơ hội, những thủ pháp câu kéo, hứa hẹn ỡm
ờ mà các toi đã thao tác thành thục như
bọn lầu xanh lão luyện các ngón nghề. Gần như
trong rất nhiều trường hợp, moi đã tỏ
ra ngây thơ, ngớ ngẩn để các toi mặc
sức múa máy. Quả tình các toi chưa hiểu
biết gì hết về một bộ phận trí thức giữa cái
thời đoạn đau thương này.
“ Làm chính trị xôi thịt
mà bẩy bịp, huyễn hoặc nhau, mua chuộc nhau là
chuyện bình thường. Đằng này các toi
làm cách mạng. Các toi xây dựng thế
giới, con người mới. Các toi nhân danh
cái nhân loại sáng láng, ưu việt nhất, cái nhân
loại đã đạt được tới đỉnh điểm của văn minh,
không ai có thể vượt qua, không cần phải thêm
bớt, biến hoá nữa, cái nhân loại thoả thuê sung
mãn tuyệt vời sau khi đã chia chác đầy đủ các
nhu cầu sinh thực. Đồng thời, các toi
cũng nhân danh mấy ngàn năm văn hiến mà đối xử
với quần chúng, với bạn đường như là những
phương tiện, thậm chí nếu cần thì biến họ thành
kẻ thù. Moi đề nghị các toi
coi lại. Nhất là toi, kẻ đi làm lực
lượng thứ ba. Toi có biết khi Mỹ cút
Nguỵ nhào thì ai là kẻ thù của cách mạng không?
Chắc chắn là những người chống Mỹ tự phát, những
người chống Mỹ mà không chịu sự lãnh đạo của
đảng cộng sản, thậm chí là những ngưòi kháng
chiến mà không phải là đảng viên cộng sản.
“ Qua sông bỏ đò, đặng cá
quăng câu, đặng chim bẻ ná, vắt chanh vứt vỏ.
Tất nhiên. Nhưng tuyệt đối: nhân dân và những
người chống Mỹ không cộng sản không phải là đò,
không phải là câu, không phải là ná, không phải
là chanh. Họ là những con người, cho dù họ tự
phát, cho dù họ không ở trong guồng máy, cho dù
ít nhiều họ có tham vọng tính toán riêng tư, cho
dù họ mơ mộng hão huyền. Tại sao các toi
lại độc quyền tính toán riêng tư, độc quyền chỉ
huy guồng máy, độc quyền mơ mộng hão huyền, mà
người khác lại không được? Chẳng phải các
toi đã nói rát cổ rách miệng rằng cách mạng
là sự nghiệp của nhân dân đó sao?
“ Hay là các toi
nghĩ: sau khi xây dựng xong xã hội cộng sản, các
toi sẽ cho không nhân loại một thiên
đường, do vậy mà sá gì cái văn hiến của một dân
tộc hẹp hòi, sá gì cái đói, cái khát, cái nhục,
cái đau, và cả cái chết nữa của một vài thế hệ
mà các toi cho là tàn dư của một nền
văn minh lỗi thời, là con đẻ của đế quốc thực
dân?
“Khi hết giặc, ngày đó
không xa, các toi không nên thừa thắng
xông lên vội mà nên đọc kỹ, nghĩ sâu hơn lịch sử
dân tộc, các toi sẽ thấy:
“Ở hai đầu cuộc chiến
tranh giải phóng thông thường là hai cuộc nội
chiến”
“Bao giờ cũng vậy, bọn
hiếu chiến, bọn bành trướng bá quyền, thực dân,
đế quốc (cứ gọi như vậy) luôn chực chờ cơ hội,
lợi dụng và khoét sâu các mâu thuẫn, các tranh
chấp xâu xé nội bộ dân tộc để tiến hành chiến
tranh xâm lược. Không có triều đại nào trong
lịch sử đất nước mà không để lại cho đời sau bài
học cay đắng đau lòng ấy.
“ Nội chiến – ngoại xâm,
ngoại xâm – nội chiến …
“ Cứ thế mà trùng trùng
duyên khởi.
“Tối qua không biết
moi nghe nhớ có đầy đủ không, khi toi
bảo những ngày tới, toi sẽ tất bật với
công tác lực lượng thứ ba.
Người cộng sản mà đi làm
lực lượng thứ ba thì làm sao có được một lực
lượng thứ ba đích thực như hai lực lượng kia?
Chắc chắn là lực lượng thứ ba trá hình. Trá hình
cộng sản hay trá hình Mỹ. Trong chiến tranh,
việc đội lốt, trá hình, giả danh, mạo nhận là
chuyện bình thường và cần thiết cho mỗi bên. Bên
nào làm tốt công tác ấy là có thêm một yếu tố để
chiến thắng.
“Thế tuy nhiên, bên cạnh
và tiếp liền sau mục tiêu cách mạng Dân tộc, các
cậu còn có mục tiêu to lớn và cao cả tuyệt đối
là cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Và để tiến hành
mục tiêu này, một số người đã đứng chung chiến
hào với các toi hôm nay, các
toi sẽ biến họ thành kẻ thù ngày mai.
“Sau cái đêm dài nô lệ sẽ
là bình minh của cuộc đấu tranh giai cấp. Cải
cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp. Cải
tạo văn hoá, văn nghệ …
“Bao nhiêu con người bị
đày đoạ, bị sỉ nhục, bị giết chóc ở Nga, ở Tàu
và ở cả miền Bắc. Moi biết cuộc hành
trình bi thảm ấy từ Boris Pasternak, Koesler,
Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt … và có lẽ từ sự
câm nín của cha moi ”.
“ Moi nói lại:
Theo moi ở miền Nam vào cái thời điểm
cuối của cuộc chiến tranh Việt Mỹ này không có
lực lượng thứ ba mà chỉ có thành phần chính trị
thứ ba. Tại sao moi phải nhăc đi nhắc
lại nhiều lần vấn đề này? Bởi vì moi hy
vọng các toi sẽ bớt ám ảnh về một lực
lượng chờ chia với các toi quyền lãnh
đạo đất nước, và để các toi đỡ phải tốn
công sức đề phòng, đối phó với một kẻ thù ảo do
quá máy móc trong suy luận và quá tha thiết bảo
lưu vai trò lãnh đạo duy nhất, độc nhất của mình
sau chiến tranh. Còn một lí do quan trọng, có lẽ
quan trọng nhất khi moi khẳng định về
một thành phần chính trị thứ ba bao gồm đại đa
số quần chúng là để lưu ý các toi: cái
khối lượng quần chúng đông đảo này tuy họ không
đồng tình với các toi về chủ nghĩa cộng
sản nhưng họ không phải là kẻ địch. Và theo cái
đạo lí bình thường họ có quyền và đồng thời có
trách nhiệm trong việc hình thành đường hướng và
cách thức xây dựng đất nước.
“ Suốt ngày này bà dì
toi cứ nhắc đi nhắc lại câu nói của bà và
những người đi chợ: Hoà bình cái đã, mọi chuyện
tính sau. Câu nói cửa mệng ấy không hề đơn giản.
Cái gọi là tính sau ấy, hệ trọng hàng đầu vẫn là
đường hướng xây dựng đất nước sau chiến tranh.
Chắc là toi không kìm dấu được sự bực
mình nóng giận: Còn tính toán gì nữa, Đảng đã
suy nghĩ tính toán cả rồi, chỉ sợ nhân dân không
đủ sức, đủ tài thực hiện. Toi sẽ nói
với bà dì như vậy bằng cái giọng hơi xẵng,
toi không thấy cần phải giữ gìn lễ phép như
hồi còn chiến tranh mà mỗi lần về Huế toi
được chăm nuôi che chở.
“ Thôi tạm gác câu chuyện
chưa tới. Chúng ta trở lại câu chuyện đã qua.
Bởi chuyện qua cũng là chuyện sẽ tới.
“Sự hình thành thành phần
chính trị thứ ba là kết quả của một quá trình
vận động, là sự chuyển hoá tất yếu sau hàng chục
năm đụng độ khốc liệt một bên là nhân dân Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và bên
kia là đế quốc Mỹ và các chính quyền phụ thuộc
từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu và các bộ
phận phụ thuộc khác ở miền Nam. Các bộ phận phụ
thuộc ấy gồm các thành phần kinh tế tư nhân, các
đảng phái, các tôn giáo. Tất cả các lực lượng
lớn nhỏ trên làm thành một cái khung sườn cho mô
hình dân chủ kiểu Mỹ có nhiệm vụ canh gác tiền
đồn của thế giới Tự do, chống cộng, và cát cứ.
Không có một lực lượng thứ ba nào ở giữa xâm
lược và chống xâm lược cả.
“Tuy nhiên, nhân dân miền
Nam thì một phần theo bên này một phần theo bên
kia và đa phần không theo ai cả. Có nhiều lí do
để cái thành phần thứ ba thầm lặng ấy chọn lựa
chỗ đứng của mình, nhưng tập trung nhất thì có
hai:
— “Không theo Mỹ vì Mỹ là
ngoại nhân, là kẻ can thiệp, chiếm đóng, xâm
lược.
— “Không theo kháng
chiến, vì kháng chiến là cộng sản, là độc tài,
là chuyên chính vô sản, vô tôn giáo. Ba thành
phần dị ứng với cộng sản nhất là: tư sản, tôn
giáo, trí thức.
“ Cuộc chiến tranh Việt
Mỹ, không chỉ diễn ra sau trận Ấp Bắc và sau khi
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời, mà thực
chất nó đã diễn ra từ khi người Mỹ ủng hộ, bày
mưu tính kế, nuôi dưỡng chế độ Ngô Đình Diệm tố
cộng, diệt cộng và đặt cộng sản ra ngoài vòng
pháp luật. Ngô Đình Diệm thanh toán các đảng
phái, các giáo phái và các thành phần quần chúng
có quan hệ sâu sắc với Pháp (gồm cả Bảo Đại).
Anh em Ngô Đình Diệm cướp bóc của cải, bách hại
các nhà tư sản không cùng vây cánh , hạn chế
Phật giáo và chủ trương Thiên Chúa giáo toàn
trị.
“ Sau gần chín năm cai
trị, chính quyền phụ thuộc Ngô Đình Diệm đã đẩy
một bộ phận rất lớn quần chúng miền Nam hoặc
đứng hẳn về phía người cộng sản kháng chiến
chống Mỹ, hoặc qui tụ dưới ngọn cờ Phật giáo
miền Trung hình thành nên một lực lượng chính
trị quyết liệt chống chế độ độc tài, hoặc tách
ra khỏi chế độ mà trước đây mình ủng hộ để từng
bước tham dự vào cái đám đông thầm lặng đứng
giữa .
“Từ năm 1960 trở về sau,
trên bình diện luật pháp của chế độ, ở miền Nam
có hai lực lượng tranh hùng là các chính quyền
phụ thuộc Mỹ và Mặt Trận Giải Phóng do đảng cộng
sản Việt Nam lãnh đạo: — một hợp pháp ( cộng hoà
), và — một bất hợp pháp ( cộng sản).
“Trên góc nhìn chính trị
trong vòng luật pháp, ở miền Nam vào những năm
cuối của chế độ Diệm đã phát sinh một phong trào
đấu tranh của đồng bào theo đạo Phật. Động cơ
gần của phong trào Phật giáo là chống chế độ Ngô
Đình Diệm đàn áp, bất công, kêu đòi tự do và
bình đẳng tôn giáo. Phong trào không những được
đông đảo Phật tử hưởng ứng mà còn thu hút nhiều
thành phần quần chúng khác tham gia. Nhiều tướng
lãnh, chính khách của chế độ cũng quay lưng lại
với anh em nhà Ngô.
“Mặt Trận Dân Tộc Giải
Phóng, đồng bào miền Bắc, chính phủ và đảng cộng
sản ở Hà Nội cổ vũ và ủng hộ nhiệt tình phong
trào Phật giáo và xem phong trào này như là một
đồng minh, một bộ phận của mặt trận chính trị
đánh Mỹ.
“ Đến khi các giới cầm
quyền của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn, ở Sàigòn hoàn toàn
thất vọng về anh em nhà họ Ngô thì cuộc lật đổ
chính quyền này đã xảy ra. Cuộc lật đổ do các
tướng lãnh của quân đội Saigòn tổ chức và phát
động với sự hậu thuẫn của Phật giáo, của học
sinh, sinh viên. Chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung,
nhưng chế độ Việt Nam cộng hoà vẫn còn và Mỹ vẫn
là ông chủ của tiền đồn chống cộng.
“ Phật giáo nhận mình đã
nắm vai trò chính trong cuộc chính biến mà họ
gọi là cách mạng 1- 11- 1963.
“ Phật giáo nhanh chóng
tổ chức phát triển và kiện toàn guồng máy giáo
hội thống nhất.
“ Phật giáo nóng vội và
đưa người của mình vào các cơ cấu quyền lực lâm
thờì của chế độ Việt Nam cộng hoà.
“Phật giáo còn muốn có
một quốc hội lập hiến, một hiến pháp mới qua bầu
cử dân chủ và từ đó hình thành một chính quyền
dân sự mà những nhân vật chủ chốt trong các cơ
quan công quyền từ trung ương xuống địa phương
là người của Phật giáo hoặc đồng tình với Phật
giáo trong các tư tưởng, đường hướng về đất
nước, về thế giới. Nền tảng của tư tưởng và
phương lược hánh động này lập cước trên tư tưởng
Vô uý, Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi của đạo
Phật. Một chính phủ như thế sẽ có những cao tăng
làm cố vấn, bắt tay vào công việc ổn định tình
thế, xây dựng lại miền Nam, thiết lập quan hệ
với miền Bắc, hiệp thương thực hiện thống nhất,
đưa đất nước thoát khỏi áp lực của hai thế giới
cộng sản và Tư bản.
“Chúng ta có thể hình
dung, theo dự ước của lãnh đạo Phật giáo, chủ
yếu là các vị lãnh đạo Phật giáo miền Trung, sau
khi hoà giải hoà hợp dân tộc và thống nhất đất
nước, Việt Nam sẽ là một quốc gia Phật giáo xã
hội chủ nghĩa. Việt Nam sẽ là một nước phồn
thịnh, có một nền văn hoá nhân bản, nhân văn
không độc tài vô thần và cũng không quá thiên
trọng vật chất. Việt Nam sẽ là một trung tâm
Phật giáo thế giới, sẽ là nhân tố hoá giải các
xung đột đẫm máu trên bình diện toàn cầu, góp
phần xây dựng một nhân loại an lạc trong một thế
giới hoà bình.
“ Trong khuôn khổ cho
phép của một thứ dân chủ tiền đồn kiểu Mỹ, bằng
phương pháp đấu tranh bất bạo động, bằng tinh
thần vô uý của đạo Phật, bằng sức nhẫn nhục chịu
đựng hy sinh vô bờ bến trong truyền thống dân
tộc, bằng các kỹ thuật kêu gọi, vận động, tổ
chức quần chúng đấu tranh học tập được từ người
cộng sản qua sự đóng góp tích cực của rất nhiều
cựu kháng chiến nương nhờ cửa Phật sau các đợt
tố cộng, diệt cộng của Ngô Đình Diệm, phong trào
Phật giáo trong quá trình đấu tranh đã phô diễn
một sức mạnh kỳ lạ, một bản sắc Việt Phật tuyệt
vời, gây sửng sốt cho cả thế giới — đặc biệt là
nhân dân và chính phủ Mỹ.
“ Do vậy, không dừng lại
ở mục tiêu tôn giáo, sau khi chế dộ Ngô Đình
Diệm bị lật đổ, Phật giáo đã vội vã dấn thân vào
một chương trình chính trị, văn hoá, xã hội đầy
tham vọng, khiến nhà cầm quyền Mỹ và các bộ phận
phụ thuộc chống cộng khác ở miền Nam lúng túng
lo sợ về một cuộc giáp công có thể xảy ra giữa
cộng sản và Phật giáo, nên một mặc họ ra sức
dùng các âm mưu thủ đoạn gây chia rẽ, phân hoá
nội bộ giáo hội, mặt khác bằng bạo lực và các
phương tiện dư thừa, Mỹ và đồng minh của họ ở
Sàigòn đã xuống tay đánh nát các cơ cấu sức mạnh
thế tục mà Phật giáo mới gây dựng có mấy năm.
“Thế là Phật giáo, một
tôn giáo bị áp bức, bị phân biệt đối xử mới vươn
lên thành một lực lượng chính trị, trong bối
cảnh miền Nam đang diễn ra cuộc giao tranh ngày
một ác liệt giữa xâm lược và chống xâm lược, đã
tạo tác nên tình trạng đại náo loạn trong lòng
các đô thị — địa bàn của các thế lực phụ thuộc,
chỗ dựa tin cậy của Mỹ, và đã nhanh chóng trả
giá cho những tham vọng, những hoài bão vượt quá
giới hạn và khả năng của một tôn giáo lấy từ bi
hỷ xả và sự buông bỏ làm lẽ sinh tồn.
“ Cuộc mộng du tập thể
kết thúc. Giấc mộng lớn không thành (cứu đời lầm
than, hoá giải hai thế giới), giấc mộng nhỏ dang
dở (thống nhất Phật giáo,biến Phật giáo thành
quốc giáo, hoà giải Dân tộc, Thống nhất đất
nước). Tuy nhiên nếu nhìn trên góc độ lịch sử,
vô hình chung, phong trào Phật giáo từ những năm
1963 đến cuối 1966 đã góp phần to lớn vào công
cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ của toàn dân
dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.
“Các toi nên nhớ
một điều, không nhất thiết, chỉ có những lãnh
tụ, những vị anh hùng, những đảng viên, những
kháng chiến quân kỳ cựu mới có những cống hiến
to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Phong
trào Phật giáo nói chung và Hoà thượng Thích
Quảng Đức … cũng đã bày tỏ lòng yêu nước, đã góp
phần to lớn theo cách riêng của mình.
“Khi tham dự vào cuộc
mộng du của Phật giáo, moi đã chẳng mơ
hồ gì về một kết cục bế tắc đang chờ phía trước.
Tuy nhiên những ngày bị giam cầm ở nhà ngục Phú
quốc, moi mới có dịp nghiền ngẫm sâu
hơn những nguyên nhân thất bại của con đường Đạo
pháp và Dân tộc mà các vị lãnh đạo Phật giáo
miền Trung khởi xướng.
Moi không phải
là Phật tử, do vậy mà mục tiêu đạo pháp đối với
moi cũng tương tự như mục tiêu Xã Hội
Chủ Nghĩa mà các toi thường thuyết kèm
mỗi lần có dịp từ sau sáu mươi tám (chiến dịch
Mậu thân).
“Đối với moi Đạo
pháp và Xã Hội Chủ Nghĩa rất xa và cũng rất gần.
Xa trong nhận thức và gần trong tình cảm. Không
ai phủ nhận yếu tố “tình” đóng một vai trò rất
quan trọng trong các quan hệ thế thái.
“ Ngoài các ngôi nhà thờ
họ tộc, các đình làng, rất nhiều người Thừa
Thiên Huế lớn lên, hít thở, thâm nhập một cách
tự nhiên trong bầu không khí của hương trầm,
chuông mõ, kinh kệ, chùa chiền và Phật tự.
“Qua lịch sử, qua văn
chương, qua địa chí, qua các mối giao tiếp hàng
ngày của mạ moi, của chính bản thân
moi ở xóm giềng, ở trường học, ở cảnh quan
và đặc biệt ở trong tù… Gần như ngày nào, ở đâu
moi cũng có thể gặp được Phật cả, không
những moi gặp Phật qua các Tăng Ni
thỉnh thoảng giao tiếp ở chùa, ở các tổ chức từ
thiện, các hoạt động xã hội, mà moi còn
gặp Phật qua các Phật tử như bà Huyện (mẹ của
đám Kim Lan, Nguyên Hạnh …), như anh Trung, như
Trụ Vũ, như Thanh Thuyền, như Võ Đình Cường —
trực tiếp hay gián tiếp, không phải bằng thuyết
giáo mà bằng hơi thở sự sống . Còn cái khối
thiên kinh vạn quyển của đạo Phật thì moi
chưa hề đụng đến. Do vậy Đạo pháp đối với
moi vừa thân quen vừa xa lạ.
“Chủ Nghĩa Xã Hội đối với
moi cũng như thế. Những gì moi
đọc được qua sách báo, moi nghe được
qua các phương tiện truyền thông, qua các cuộc
trò chuyện, tranh luận – cho dù người đối thoại,
trao gởi dẫn truyền là “địch” hay là “ta”,
moi cũng không chia xẻ được. Đó là phần
nhận thức. Tuy nhiên Marx, chủ nghĩa cộng sản,
Chủ Nghĩa Xã Hội đối với moi lại khá
gần. Có lẽ những gì gần với tên tuổi Nguyễn Ái
Quốc, Hồ Chí Minh, cũng gần gũi đáng tin. Và bởi
vì giữa Nguyễn Ái Quốc và moi còn có
những con người ruột thịt, những bạn bè thân
thiết, những người mà moi biết chắc họ
đã đi vào cuộc kháng chiến với những động cơ
trong sáng với lòng yêu nước thương nòi chứ
không phải vì một lí do nào khác. Có thể họ mơ
mộng, chứ họ không gian dối ích kỷ. Anh Tú
moi đi kháng chiến rồi đi tập kết, đám
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngưyễn Đính, đám bạn trẻ
moi (Bửu Chỉ, Võ Quê, Nguyễn Duy Hiền,
Phan Hữu Luợng,Trần Đình Sơn Cước… ) và đám học
trò lớp sau như Nguyễn Thị Nhân, Hoàng Thị Thọ,
Phan thị Dung… là những ví dụ.
“ Những ngày bị giam ở
Phú Quốc, thường xuyên bị biệt giam vì moi
là một tên tù bất trị, trong cái bối cảnh khắc
nghiệt của cái celulle chật chội, hôi hám tối
tăm và nóng bức, moi đã chống đỡ, đã
phản ứng để tự tồn bằng cách tập luyện và để tâm
trí suy nghĩ miên man về nhóm từ: Đạo pháp và
Dân tộc, theo như dự phóng của các nhà lãnh đạo
Phật giáo miền Trung.
“Theo moi, cả
Ngô Đình Diệm, cả Phật giáo miền Trung và cả
người cộng sản các toi, tuy có những
nhận thức khác nhau về dân tộc nhưng đều có một
điểm chung là xem dân tộc như một phương tiện
(Ngô Đình Diệm) hoặc như một chặng đầu của cuộc
hành trình của mình (Phật giáo và cộng sản).
Nước Chúa của Ngô Đình Diệm, Đạo pháp của Phật
giáo, Chủ Nghĩa cộng sản của người cộng sản Việt
Nam mới là cái đích cuối cùng.
“ Câu chuyện nước Chúa
của Ngô Đình Diệm đã đi vào quá khứ, chỉ để lại
cho người đời sau một ký ức đáng buồn.
“ Câu chuyện Đạo pháp vẫn
còn lằng nhằng chưa ngã ngũ. Sau những cuộc đấu
tranh chính trị từ 1964 – 1966 với hàng trăm
cuộc xuống đường, biểu tình, tuyệt thực, tự
thiêu, li khai và nhất là cuộc xuống đường kỳ lạ
của bàn thờ, lư hương, bài vị, chuông mõ, ảnh
tượng — Phật giáo đã bị đàn áp thẳng tay bởi Mỹ
— Thiệu Kỳ, và bị tan rã, xâu xé, đổ nát từ bên
trong. Nhưng một bộ phận lãnh đạo Phật giáo
vẫn chưa buông bỏ cái khát vọng cứu nước, cứu
đời bằng chuông mõ kinh kệ, bằng tinh thần vô uý
bất bạo động, bằng đại hùng, đại lực, đại từ bi.
“ Theo moi, Đạo
pháp dù có ưu việt đến đâu, uyên áo như thế nào
cũng chỉ là một phạm trù thuộc lãnh vực tôn
giáo. Tôn giáo nếu có một sức mạnh nhân bản thật
sự và người lãnh đạo, người thực hành tôn giáo
có nhận thức đúng đắn và tích cực đối với đất
nước, dân tộc đến đâu cũng không nên gộp chung
việc đạo, việc đời làm một. Đặc biệt dân tộc
trong tình thế đất nước bị xâm lược là một vấn
đề thuộc lãnh vực chính trị và cách mạng. Tinh
thần vô uý, đại hùng, đại lực, đại từ bi chống
trả với đồng đô la, với các ghế lớn nhỏ trong hệ
thống quyền lực đời thường đã rất khó, huống hồ
chi đương đầu với sức huỷ diệt của hàng triệu
tấn bom B52, súng lớn súng nhỏ, chất độc hoá
học, xe tăng, và hạm đội?
“Cuộc cách mạng Tư sản
Dân Quyền tại Pháp năm 1789 đã giải quýêt triệt
để những vấn đề căn bản của cuộc khủng hoảng
toàn diện và sâu rộng ở nước Pháp và châu Âu.
Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến
khủng hoảng ấy là sự cưỡng bức, sự tiếm quyền
của nhà thờ Thiên Chúa giáo trong mọi lãnh vực
của đời sống xã hội, đặc biệt là lãnh vực chính
trị, văn hoá và khoa học. Một trong những thành
tựu lớn nhất của cách mạng Pháp (1789) là đánh
sập quyền lực nhập nhằng giữa giáo quyền và thế
quyền, cưỡng bức tôn giáo trở lại nhà thờ, trả
lại các quyền lực, các của cải mà giáo hội đã
tiếm đoạt lại cho nhân dân, trả lại chính trường
cho các nhà hoạt động chính trị kiểu mới — những
đại diện của các tầng lớp lao động tiên tiến gồm
tư sản, trí thức và công nhân.
“Lúc mãn hạn tù, rời khỏi
Phú quốc, trở lại đất liền, trở lại Huế, moi
— một thành viên vòng ngoài của phong trào Phật
giáo, ở những năm từ 1963 đến 1966, cảm thấy
lòng mình có phần nhẹ nhàng thanh thản vì đã trả
xong món nợ tình cảm qua mối liên hệ Dân tộc với
các nhà tu hành làm chính trị viễn mơ.
“ Phong trào Phật giáo
nói cho rốt ráo chẳng bao giờ nên, và chẳng có
khả năng trở thành một lực lượng chính trị. Đừng
nói chi đến một lực lượng chính trị gọi là “thứ
ba” có tham vọng đứng trên, đứng ngoài hai thế
lực tương tranh, mà xương sống của hai thế lực
tương tranh ấy là bạo lực và của cải vật chất.
“ Phật giáo không có hai
thứ đó — bạo lực và của cải vật chất — vậy thì
Phật giáo lấy gì để nuôi dưỡng, để bảo vệ cho
một thế quyền (Chính trị) ?
“ Cuộc đàn áp thẳng tay,
bạo tàn của Mỹ — Thiệu Kỳ hồi 1966 đã đẩy những
thành phần của phong trào Phật giáo, trong đó có
moi, trở lại vị trí và chỗ đứng của
mình — ấy là chỗ đứng và vị trí của đám đông
thầm lặng: Thành phần thứ ba.
“ Phật giáo thì như
thế.Vậy thì ở miền Nam không còn nhóm nào, nhân
vật nào có khả năng, có điều kiện trở thành lực
lượng thứ ba sao? Chắc chắn toi sẽ hỏi
moi câu này. Bởi mỗi lần về Huế là
toi say sưa kể và mô tả các cuộc đấu tranh
quyết liệt của nhóm này, nhân vật nọ trong phong
trào chống Mỹ, chống Thiệu — Kỳ ở Saigòn.
“Moi đồng ý với
toi là những ngày sắp tới phong trào đô
thị càng sôi nổi và quyết liệt hơn bao giờ hết.
Và chính những cuộc đấu tranh này qua các hệ
thống truyền thông sẽ tạo nên một áp lực to lớn
trong dư luận quốc nội và quốc tế đối với các
thế lực phi dân tộc ngày càng teo co ốm yếu ở
Sàigòn và các đô thị, Tuy nhiên theo nhận định
của moi trong các vận động đầy phấn
khích dưới con mắt của các toi, trong
cái thế trận ngày càng qui tụ nhiều màu, nhiều
sắc ấy sẽ không bao giờ có được một lực lượng
chính trị nào khác ở ngoài cái quỹ đạo đang vận
hành theo lực hút của cuộc chiến tranh nhân dân
mà đảng cộng sản là người chỉ huy tối thượng và
duy nhất. Toi thử kiểm điểm đi. Nhóm
Dương Văn Minh ư? Nhóm Công giáo cánh tả của các
linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá
Cần, Phan Khắc Từ, và của các trí thức như
Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Thế Nguyên,
Diễm Châu … ư? Nhóm đối lập ở Hạ viện của Ngô
Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quí Chung, Phan Xuân
Huy, Kiều Mộng Thu ư? Phong trào học sinh, sinh
viên ư? … Nhóm Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô
Bá Thành và Ni sư Huỳnh Liên ư? Phong trào Dân
Tộc Tự Quyết của Luật sư Nguyễn Long ư? Tất cả
các vị ấy, ai cũng nôn nóng, ai cũng dấn thân
hết mình, hay tỏ ra hết mình tuỳ theo gốc gác và
động cơ mà chính họ mới biết và các toi
cũng biết được phần nào. Nhưng đối với người
cộng sản, đảng cộng sản thì, một mặt cảnh giác,
điều nghiên, một mặt níu bên này, kéo bên kia,
thúc giục bên nọ, cốt sao cho sào huyệt của đối
phương rối loạn và tan nát được chừng nào tốt
chừng đó.
“Thực chất cái mà các
toi dán cho nhãn mác, huyền thoại là lực
lượng thứ ba bao gồm:
“— Một phần lực lượng thứ
ba trá hình mà những nhân vật nòng cốt là những
người cộng sản được lệnh mai phục từ sau 1954 và
được bổ sung thường xuyên trong các tổ chức,
các toi gọi là công khai, biến tướng, hợp
pháp hay nửa hợp pháp. Những người này luôn
luôn vỗ ngực là người Quốc Gia đấu tranh vì các
mục tiêu dân chủ, dân sinh, hoà bình.
“Một phần những lương tri
Dân tộc trỗi dậy từ trong lòng chế độ phụ thuộc
Mỹ. Do sự chuyển đổi của tình hình đất nước và
thế giới, do sự đấu tranh không ngừng của bản
thân và các mối quan hệ cục bộ, họ nhích từng
bước, tách dần ra khỏi guồng máy phụ thuộc, lợi
dụng cái gốc gác, cái thế Quốc gia sâu dày sẵn
có của mình (chính trị, kinh tế, tôn giáo, trí
thức), đấu tranh vì các mục tiêu trong sạch và
lành mạnh xã hội ở bước khởi đầu. Bước tiếp theo
là đấu tranh chống sự can thiệp ngày càng lộ
liễu và trắng trợn của Mỹ, và chống chế độ phụ
thuộc ngày càng đổ nát hư hỏng. Bước tiếp theo
nữa là đấu tranh cho một miền Nam hoà bình, hoà
hợp, một miền Nam là một phần của nước Việt Nam
độc lập và thống nhất, chứ không phải là một
quốc gia riêng biệt mà một thời họ đã thụ nhận
và tin tưởng. Thành phần này tương đối trẻ, lớn
lên sau Genève, được đào tạo hay tự đào tạo bài
bản, nghiêm túc, có trình độ văn hoá cao, có lý
tưởng. Ở giai đoạn cuối của cuộc hành trình của
họ là chấp nhận Độc Lập, Thống Nhất, Hoà Bình
dưới ngọn cờ và sự lãnh đạo của đảng cộng sản,
mặc dù đa phần trong số họ sẽ là đối tượng cải
tạo, canh chừng của các toi. Bởi dưới
con mắt của người cộng sản , họ là những thành
phần có khả năng, có điều kiện chia phần lãnh
đạo đất nước.
“Họ là đại diện chân
chính của thành phần chính trị thứ ba. (không
phải là lực lượng chính trị thứ ba).
—“ Một phần là những nhân
vật trung gian của cả hai phía đang chờ đợi một
sắp xếp, một nâng đỡ quốc tế. Theo họ, cuộc
chiến tranh này kết thúc như thế nào tuỳ thuộc
tương quan lực lượng và quyền lợi của các nước
lớn.
—“ Cũng còn một thành
phần thứ ba là những con bài chiến lược của Mỹ
hoặc là những tay trở cờ không chịu kết chùm với
đám Nguyễn Văn Thiệu.
“Chắc chắn là toi
biết rõ hơn moi, nên toi thử
trả lời xem lấy gì để nối kết các thành phần
trên làm một lực lượng chính trị? Tình tự dân
tộc, tinh thần yêu nước, sự chán ghét chiến
tranh một cách chung chung ư? Lấy gì để cái mà
toi gọi là lực lượng chính trị thứ ba
bảo vệ mình khi cần chiến đấu với hai lực lượng
tua tủa bom đạn kia? Lại nữa, lực lượng
chính trị thứ ba lấy gì để nuôi sống một
khi những dành dụm trong gia đình sẽ cạn kiệt
sau vài ba tháng, hoặc những đóng góp chia sẻ
của “bạn bè” vì một lí do nào đó đứt đoạn? Và
cuối cùng, lực lượng chính trị thứ ba
có nơi nào làm chốn dung thân một khi bị chính
quyền Sàigòn đánh bật ra khỏi địa bàn ký trú của
mình? Nguyễn Hoàng còn có châu Thuận, Châu Hoá.
Lưu Bị còn có Ba Thục, còn lực lượng chính trị
thứ ba chỉ có cách chạy lên Lộc Ninh. Mà chạy
lên Lộc Ninh thì còn đâu là thứ ba nữa!
“ Bốn yếu tố nền tảng là
tư tưởng chính trị (sách lược, chiến lược), sức
mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và địa bàn đứng
chân đều không có thì lấy gì cho một lực lượng
chính trị tồn tại?
“Cũng như phong trào Phật
giáo hồi 1964 – 1966, các hoạt động đối lập, tẩy
chay, chống độc tài, kêu gọi chấm dứt chiến
tranh, kêu gọi hoà bình, hô hào hoà giải hoà hợp
dân tộc của các nhóm thứ ba đang dựa trên một
điểm tựa chông chênh, mong manh và sách lược
nhất thời.
— “ Điểm tựa thứ nhất là
những kẻ hở pháp lí tiền đồn kiểu Mỹ mà bọn lính
đánh thuê bị trói buộc vào giai đoạn cuối của
cuộc chiến tranh. Tại Sàigòn nơi có nhiều tai
mắt của các cơ quan truyền thông quốc tế thì sự
điên cuồng của con thú cùng đường sẽ bị kiềm
chế, giảm nhẹ một mức độ nào đó, còn các địa
phương xa xôi như Huế chẳng hạn thì sẽ có luật
rừng.
— “Điểm tựa thứ hai là
pháp lý hiệp định, pháp lý ngoại giao
từ hiệp định Paris sắp được công bố trên bình
diện quốc tế. Ở miền Nam thì chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu ém nhẹm, và mặc dù các toi hả
hê phổ biến, nhưng khó mà phổ cập đến đông đảo
quần chúng nhân dân. Cũng như hiệp định Genève
1954, vấn đề thực hiện hay không nằm trong tay
người Mỹ và Ngô Đình Diệm. Hiệp định Paris ngày
nay trên đại thể quyền chủ động lại nằm trong
tay Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng.
— “Điều thứ ba là sức
mạnh quân sự, là bạo lực cách mạng của kháng
chiến đang lớn lên từng ngày, đang tiến gần,
tiến sát và âm thầm xâm nhập vào các cứ điểm
cuối cùng của tiền đồn chống cộng ở các đô thị
miền Nam, đặc biệt Sàigòn.
“Quân Mỹ rút, quân Việt
Nam cộng hoà thì hụt hẫng, hết tinh thần, bấn
loạn. Còn quân miền Bắc thì ở lại, đường chiến
lược Hồ Chí Minh thì thênh thang ngang dọc, binh
lính súng đạn, khí tài, cơm gạo tràn vào miền
Nam như nước vỡ bờ. Trước hiệp định Paris người
cộng sản bị đặt ngoài vòng pháp luật. Sau hiệp
định Paris con trai Hà Nội sẽ đi mua sắm và ngắm
nhìn con gái Huế ở đường Trần Hưng Đạo, ở chợ
Đông Ba, và những đứa cháu nội, cháu ngoại có
thể tìm thăm ông bà tổ tiên ở Vỹ Dạ, ở Kim Long
và cả trong Đại Nội.
“ Người cộng sản các
toi và cả nhân dân hai miền Nam Bắc còn
mong chờ gì hơn khi mà lực lượng kháng chiến,
lực lượng cách mạng ở trên hai thế chiến lược
trong đánh ra và ngoài ào ào đánh vô? Mỹ và
chính quyền Việt Nam cộng hoà chỉ còn có một con
đường duy nhất là bay lên trời.
“ Cũng may mà chỉ có một
lực lượng thứ ba trong kịch bản, một lực lượng
thứ ba ảo, một lực lượng thứ ba do cài đặt bơm
thổi, giả danh, mạo nhận. Nếu không thì:
“ Giả dụ có một lực lượng
thứ ba thật, một thứ Tây Thục của thời Tam quốc
bên Tàu, một chân ở giữa hai chân Ngô — Nguỵ,
thì tình hình đất nước, tình hình miền Nam sẽ
giằng co năm mười năm nữa hoặc lâu hơn, và lấy
gì mà bảo đảm mọi chuyện sẽ được dàn xếp tương
nhượng trong hoà bình? Hay là xương máu còn đổ
nữa cho đến trận cuối cùng! Và khi đó chỉ giữa
những người Việt Nam với nhau.
“Moi nói thêm
một lần cuối, không có một lực lượng thứ ba nào
trong các cuộc chiến tranh chống đuổi xâm lược .
Mà chỉ có thành phần chính trị thứ ba, trong đó
có moi. Và rồi cái thành phần chính trị
thứ ba ấy cũng sẽ tiêu vong luôn một khi cuộc
chiến tranh kết thúc. Khi ấy chỉ còn một nước
Việt Nam, một dân tộc Việt Nam dưới dưới sự cai
trị của đảng cộng Sản. Không còn một, hai, ba gì
hết. Đất nước sẽ Độc lập, Thống nhất và Hoà
bình. Đất nước là một, Dân tộc là một như lời cụ
Hồ đã nói.
“ Tuy
nhiên Chủ Nghĩa Xã Hội và
đảng cộng Sản có phải là một
với nhân dân không? Đó là
vấn đề, một vấn đề rất mới
và không kém phần khắc
nghiệt.
“ Bà
dì toi, mạ moi
và hết thảy mọi người
trong đa số nhân dân thầm
lặng đang nói: Hoà bình cái
đã, mọi chuyện sẽ tính sau.
Chữ “sau” trong câu nói cửa
miệng ấy chỉ là một khoảnh
khắc. Liền sau cái khoảnh
khắc ấy, nhân dân Việt Nam,
từ người lãnh đạo cao nhất
đến người dân vô danh tiểu
tốt, đều sẽ là người Tự Do.
Mọi người có trách nhiệm và
có quyền tham dự vào việc
định hướng cho đất nước
mình.
“Moi
không có ý định làm rối trí
toi khi nêu ra một
vấn đề có tính lí thuyết vào
cái thời điểm mà những con
người hành động như toi
cần phải tập trung mọi sức
lực để đánh trận cuối cùng.
Một vận động viên đang chạy
nước rút sắp tới đích, bất
cứ sự vướng bận nào cũng là
sai lầm không thể tha thứ.
Moi biết như thế
“ Tuy
nhiên câu hỏi toi
đặt ra cho moi, đối
với moi, lại là một
vấn đề không chỉ là sự lựa
chọn có ý nghĩa hành động mà
còn là vấn đề thuộc lãnh vực
lí thuyết.
“Lên
núi hay không lên núi đối
với một người đã khẳng định
từ đầu là chỉ đi với người
cộng sản các toi
đến hết cuộc hành trình Độc
lập, Thống nhất và Hoà bình
như moi, không chỉ
đơn giản như một tiều phu
hay một du kích, một cán bộ
lên xuống núi vì nhu cầu
kinh tế hay vì nhiệm vụ cần
phải thi hành.
“Từ
lâu vị trí chiến đấu của
moi là trường học là đô
thị, và mãi cho đến khi kết
thúc thắng lợi cuộc chiến
tranh, thì vị trí đó cũng
không thay đổi. Rất nhiều
lúc moi hoang mang,
lo sợ trước những đe doạ
chết người từ chính quyền
Việt Nam cộng hoà. Và đã có
lúc moi đã nghĩ đến
việc tạm lánh một nơi nào đó
như vào Sàigòn chẳng hạn hay
lên chiến khu như đề nghị
của các toi.
Nhưng vào Sàigòn hay lên
chiến khu thì xem như rời bỏ
vị trí của mình. Vị trí của
moi như thế nào,
các toi và chính
quyền này hiểu rõ hơn cả
moi. Vì hiểu rõ như thế
nên cả hai phía đều có hai
biện pháp ứng xử khác nhau.
“ Phía các toi thì
chỉ phối hợp, gợi ý từ xa,
các mối ràng buộc không vượt
quá quan hệ tình cảm, bạn
bè. Và như thế xét trên
nhiều mặt có lợi cho phong
trào và thoải mái hơn cho cá
nhân moi. Về phía
chính quyền Việt Nam cộng
hoà, họ thà đối diện với một
Việt cộng, dễ ứng xử và ít
nguy hiểm hơn với một kẻ
nội thù như moi.
“Một
cán bộ Việt cộng không thể
đứng lớp từ trường này qua
trường nọ, tháng nọ qua năm
kia, trước hàng ngàn học
sinh con em của hàng ngàn
gia đình đủ mọi thành phần
trong thành phố, kêu gọi Mỹ
rút quân, phê phán tố cáo
chế độ Việt Nam cộng hoà
hiếu chiến lệ thuộc, tay
sai, tham nhũng, vi phạm các
quyền dân chủ dân sinh. Và
trong những trường hợp cần
thiết, do yêu cầu của kháng
chiến, thì phát động bãi
khoá, xuống đường, mitting,
biểu tình…, nhân danh là
thành viên, là bộ phận của
nền dân chủ tư sản và trên
lý thuyết được hiến pháp,
luật pháp của chế độ Việt
Nam cộng hoà bảo hộ, được dư
luận “tiến bộ” trong hệ
thống thế giới tự do đồng
tình, can thiệp. Và đặc
biệt, tạo tác nên một tình
trạng rối loạn giữa lòng đối
phương, gây chia rẽ hoang
mang dao động trong hàng ngũ
đối phương, tạo cơ hội cho
“phe ta” tấn công đối phương
trên cả hai mặt trận quân sự
lẫn chính trị.
“ Ở
lại vị trí của mình là lí do
thứ nhất moi không
lên núi.
“ Lí
do thứ hai là moi
không muốn lún sâu vào guồng
máy, mà chắc chắn như đinh
đóng cột là đảng cộng sản sẽ
lái đất nước tiến lên Xã Hội
Chủ Nghĩa sau khi đã tiến
hành thắng lợi cuộc chiến
tranh giải phóng. Để chúng
ta không nợ nần gì với nhau,
và cũng để chúng ta –
các toi và moi
– tránh được một tình trạng
khó xử khi mỗi người là một
công dân tự do đứng trên cái
nền tảng chung là Dân tộc,
Đất nước mà thể hiện trách
nhiệm và quyền hạn của mình.
“
Chúng ta cùng nhìn về tương
lai chứ không phải moi
nhìn về tương lai theo ngón
tay chỉ đường của đảng cộng
sản.
“
Toi yên chí là moi
không làm rối trí các
toi bằng lí thuyết trừu
tượng. Có lẽ moi đã
lạm ngôn khi dùng các từ:
làm rối trí các toi.
Moi xin rút lui câu
vừa nói. Không ai có thể làm
rối trí các toi
bằng bất cứ một lí thuyết
trừu tượng nào trong cảnh
huống đảng cộng sản là chủ
nhân ông của tất cả mọi
thắng lợi. Tâm trí các
toi đã tràn đầy, viên
mãn, không thể nhận thêm bất
cứ thứ gì. Và cũng trong
cảnh huống ấy, bất cứ thứ gì
không phải từ miệng các
toi nói, từ tay các
toi chỉ cũng đều là tàn
dư của đế quốc, thực dân,
phong kiến, là CIA mai phục,
là phản ứng giai cấp.
“Hay
là các toi nói sá
gì một cá nhân là moi,
một cá nhân còn bảo thủ quá
nhiều tàn tích của phong
kiến, một cá nhân được đào
tạo hít thở trong nền giáo
dục văn hoá thuộc địa, một
đệ tử của chủ nghĩa tư sản
phản động, một trí thức thủ
lĩnh của các phần tử tiểu tư
sản quá quen với những cuộc
xuống đường đấu tranh vì các
mục tiêu chiến thuật: dân
chủ, dân quyền trong chế độ
“Mỹ Nguỵ”. Moi là
một tên phản động mới
trong cuộc cách mạng Xã Hội
Chủ Nghĩa.
“Moi
chấp nhận hết tất cả mọi
thuộc từ tệ hại mà các
toi dành cho moi,
bới các toi đã sáng
chế những ngôn từ ấy chẳng
phải để mà chơi. Người cộng
sản rất nghiêm túc trong tất
cả các cuộc đấu tranh của
mình. Ngôn từ cũng là súng
đạn, gươm giáo trong các
cuộc đấu tranh ấy. Moi
chấp nhận hết, bởi moi
biết các toi không
thể nhìn trí thức, nhìn quần
chúng, nhìn đất nước, nhìn
thế giới theo một nhãn quan
nào khác sau một cuộc trường
chinh nhọc nhằn khổ nạn đến
như vậy. Moi chấp
nhận hết, vì moi
biết sẽ không có bất cứ sức
mạnh nào có thể làm các
toi thay đổi mục tiêu
của mình. Trừ thực tế.
“ Các
toi đã có những kinh
nghiệm từ vụ Nhân Văn giai
phẩm, do vậy mà các toi
sẽ không để cho một
tình trạng tương tự xảy ra ở
miền Nam sau chiến tranh.
Moi cũng có những
hiểu biết về vụ Nhân Văn
giai phẩm, từ các cuộc nổi
dậy ở Budapest hồi 1956, ỏ
Nga hồi Stalin, ở Trung quốc
thời cách mạng Văn hoá, ở
Tiệp khắc hồi 1968 … Do vậy
mà moi cũng sẽ
không làm bất cứ việc gì để
cho tình thế thêm rối ren đổ
vỡ không cần thiết. Đất
nước, Dân tộc cần hàn gắn,
nghỉ ngơi, hoà hợp sau chiến
tranh.
“Một
triều đại bắt đầu cũng như
một mũi tên được bắn đi từ
cây cung. Mũi tên bay xa hay
gần tuỳ theo sức bật của
cung thủ, tuỳ theo lực hút
của đia cầu và cũng tuỳ theo
tác động của thời khí. Đời
sau muốn học lịch sử, có thể
tránh được những kinh nghiệm
xương máu.
“
Cung thủ trong trường hợp
này là đảng cộng sản, một
đảng đã hình thành, tôi
luyện, lớn lên cùng Dân tộc,
với Đất nước suốt bốn mươi
năm chống ngoại xâm và thắng
lợi vang dội trước những kẻ
thù xâm lược giàu mạnh, hung
hãn nhất của thời đại. Một
đảng như thế, một cung thủ
như thế khi đã quyết thì tất
nhiên Chủ Nghĩa xã Hội nhất
định phải bắt đầu song hành
với cuộc chiến tranh giải
phóng và sẽ thừa thắng xông
lên liền sau khi nền độc lập
được vãn hồi, thống nhất
được thực hiện. Cũng như mũi
tên nhất định sẽ bay đi từ
đôi tay của người cung thủ.
“
Không gì, không ai có thể
cản trở, làm thay đổi quyết
tâm của đảng cộng sản trước
tình và thế này.
“Moi
sẽ làm gì, sẽ sống ra sao
trong cái đất nước Xã Hội
Chủ Nghĩa của người cộng Sản
các toi?
“ Và
không chỉ có moi,
mà hàng mấy chục triệu người
Việt Nam, kể cả những người
đã góp từng giọt máu, từng
hạt lúa, từng đứng chung với
các toi trong một
chiến hào sẽ đặt câu hỏi
này.
“
Toi thử hình dung một
đa số tuyệt đối chỉ được
quyền nhìn theo hướng ngón
tay chỉ của một thiểu số, đi
đứng nằm ngồi, cử động chân
tay, làm việc, suy nghĩ, nói
năng, cảm xúc, vui buồn theo
mệnh lệnh và sự ban phát của
một thiểu số, thì đó là cái
gì vậy?
“Mỗi
lần nghĩ về một ngày nào đó
không xa, là một cán bộ giáo
dục đến trường đến lớp với
những giáo trình đã được
soạn sẵn, moi chỉ
có việc đọc nguyên xi từ đầu
đến cuối không sót một câu,
không sai một chữ, không
thiếu một dấu phết (dấu
phẩy) và moi sẽ cho
điểm tốt, điểm xấu các học
trò mình theo tiêu chí đó,
moi ớn lạnh cả người.
“Không, nhất định moi
không thể là một cán bộ giáo
dục và học trò moi
không thể là những cái băng
cassette chỉ biết thu phát
những gì moi đọc,
moi kiểm tra.
“
Không, nhất thiết moi
không là cán bộ gì cả,
moi là một thầy giáo,
một trí thức như ông nội
moi muốn, như đám học
trò moi đã tin yêu,
như mạ moi đã từng
chăm sóc, che chở và hy
vọng.
‘Trong chiến tranh moi
là một thầy giáo kháng
chiến ở cương vị của mình.
Và trong hoà bình moi
sẽ là một thầy giáo, một trí
thức tham dự với ý thức tự
do và niềm tự hào vào công
cuộc xây dựng đất nước, xây
dựng con người. Học trò
moi, bạn bè cùng thế hệ
của chúng và những thế hệ
tiếp theo sẽ là những con
người tự do. Chúng sẽ hạnh
phúc nhiều hơn moi,
bởi điều kiện và bối cảnh
chúng sống sẽ tốt hơn những
gì moi đã trải
nghiệm. Đáng buồn, đây chỉ
là cuộc viễn mơ.
“Thực
tế là, trong đất nước Xã Hội
Chủ Nghĩa nhất định sẽ tới
theo như ý chí của đảng cộng
sản, nếu không là thầy giáo,
là trí thức, moi có
thể làm được gì?
“Làm
tổ trưởng tổ hợp tác thợ hớt
tóc ư?
“Làm
quản lý hợp tác xã mua bán
ư?
“Bửa
củi, xách nước, lau sàn
trong nhà của các cán bộ
lãnh đạo để đổi lấy miếng
bánh từng ngày như bác sĩ
Zivago của Boris Pasternak
ư?
“Hay
gánh phân, bắt ốc, chăn trâu
như Quang Dũng, Hữu Loan,
Trần Dần, Lê Đạt, Phùng
Quán, Hữu Đang ư …?
“ Cả
những việc ấy cũng chẳng để
dành cho moi nữa,
bởi thù ngoài đã quét. Đặng
cá, thì bẻ câu thôi.
“Đất
của nhà Chu. Trời của nhà
Chu. Trăm họ của nhà Chu.
Thóc của nhà Chu. Rau trên
núi Thú Dương cũng là của
nhà Chu …
“ Vậy
thì còn gì cho kẻ sĩ như Bá
Di, Thúc Tề sống nữa?
“
Không chỉ có Bá Di, Thúc Tề,
không chỉ có những người như
moi mà tất cả hàng
chục triệu người thuộc thành
phần chính trị thứ ba hôm
nay, và là mấy chục triệu
người Việt Nam ngày mai trên
mọi miền đất nước sẽ không
có một cuộc sống bình
thường, bình dị như họ đã
hằng ao ước trong suốt hàng
trăm năm nô lệ, nếu đảng
cộng sản, bằng ý chí của
mình, quyết gắn kết Dân tộc
với Chủ Nghĩa Xã Hội.
“
Giành lại đất nước, dành lại
trăm họ trên đầu ngọn súng.
các toi thuờng nói
một câu đại loại như thế.
Câu nói này chỉ đúng một
nửa. Cuộc chiến tranh nhân
dân mà đảng cộng sản phát
động và lãnh đạo đến thắng
lợi cuối cùng không chỉ nhờ
có súng đạn. Nhưng khi tàn
cuộc chiến tranh nhân dân
các toi sẽ biến câu
nói chỉ đúng một nửa ấy
thành chân lí, thành kim chỉ
nam: Cai trị đất nước, ổn
định trăm họ cũng trên đầu
ngọn súng thôi. Nếu không
dùng súng đạn thì lấy gì sai
bảo trăm họ như một bầy nô
lệ?. Lời nói thật thà và
thẳng thắn này sẽ khiến
toi phẫn nộ, căm giận,
mà chưa làm toi hết
lí lẽ:
— “
Bọn chủ nô sử dụng nô lệ để
thoả mãn lòng tham và những
lợi ích riêng tư của chúng.
Đảng cộng sản quản lí con
người, sử dụng sức lao động
và tất cả mọi tài sản khác
vì mục đích chung. Mục đích
sẽ biện minh cho phương
tiện. Không thể đánh đồng
bọn chủ nô với đảng cộng sản
được. Chỉ có bọn phản động
mới cá mè một lứa như thế”.
“ Tạm
thời moi tin lời
toi. Vì bây giờ là
chiến tranh. Tất cả sức
người, sức của đều dồn cho
kháng chiến. Đến khi hết
chiến tranh, đất nước đi vào
làm ăn xây dựng, lấy gì để
bảo đảm cái chí công vô tư
trong lòng người cộng sản?
Lấy gì để hạn chế lòng tham
và sự lạm quyền nơi người
cộng sản khi chính người
cộng sản áp đặt lên nhân dân
cái quyền toàn diện và tuyệt
đối của mình? Học thuyết đức
trị cực đoan đã phá sản ngay
từ khi thầy Khổng còn tại
thế. Và cái học thuyết pháp
trị nửa vời của nhà Tần đã
đào mồ chôn cả lí thuyết gia
và con cháu của bạo chúa.
Thương Ưởng, Hàn Phi Tử và
cả Tần Nhị Thế đều cùng
chung số phận. Sau Khổng Tử
hơn 2500 năm, sau Tần Thuỷ
Hoàng gần 2300 năm mà người
cộng sản các toi
chỉ biết thi hành một thứ
chính trị vá víu giữa đức
trị cơ hội (khi nào cần thì
nói chuyện đạo đức) và bê
nguyên xi cái pháp trị nửa
vời (mọi người bình đẳng
trước pháp luật trừ Tần Thuỷ
Hoàng — trừ đảng cộng sản).
“ Vì
khẳng định quyền lãnh đạo
toàn diện và tuyệt đối của
mình mà trong chiến tranh
chống ngoại xâm, đảng cộng
sản đã đẩy một bộ phận quần
chúng rời khỏi hàng ngũ
kháng chiến, thậm chí còn có
một bộ phận khác chạy hẳn về
phía xâm lược.
“ Một
mai khi đất nước Độc lập,
Thống nhất, trước sự lãnh
đạo toàn diện và tuyệt đối
của đảng cộng sản, nhân dân
không biết chạy đi đâu nữa
cả — vì nhiều lí do, trong
đó có lí do run sợ trước bạo
lực cách mạng — họ trở thành
thầm lặng một thời gian, cho
đến khi không còn chịu được
nữa thì chuyện gì sẽ xẩy ra,
chắc toi biết được
rồi: Đất nước suy sụp và e
rằng không tránh được nội
chiến.
“
Nghĩ đến nội chiến mà
moi run bắn cả người,
cũng như khi moi
nghĩ về Chủ Nghĩa Xã Hội
vậy.
“ Cái
vòng luẩn quẩn — nội chiến —
ngoại xâm — độc lập — nội
chiến … luôn là một định
mệnh khắc nghiệt ám ảnh đất
nước dân tộc mãi vậy sao?
“
Chắc là toi sẽ
phùng mang trợn mắt phun vào
mặt moi nhiều thứ
cho hả giận. Trong rất nhiều
trường hợp ngôn ngữ chưa đủ
để bày tỏ nỗi sân si của con
người. Toi nghĩ:
làm gì mà một đảng đã trải
qua nhiều chặng đường oanh
liệt như đảng cộng sản, một
đảng đã đưa đường chỉ lối
cho nhân dân đánh thắng liên
tiếp hai tên thực dân đế
quốc giàu mạnh hung tợn nhất
thời đại mà để cho đất nước
rơi vào tình trạng suy sụp
và nội chiến? Lòng tốt của
đảng đâu? Trí thông minh và
tài thao lược của đảng đâu?
Niềm tin, dũng khí và nghị
lực của đảng đâu? Súng đạn,
phương tiện quân sự nhiều vô
số kể của hai thế giới, của
hai phe gom lại sau chiến
tranh để đâu?
“
Những câu hỏi toi
đặt ra không khó trả lời cho
toi và cho cả
moi.
“ Đối
với toi, câu trả
lời đã có trước khi câu hỏi
được đặt ra: Câu trả lời đã
có từ khi đảng cộng sản được
thành lập và được củng cố
vững chắc qua từng giai đoạn
của cuộc kháng chiến trưòng
kỳ và những thắng lợi vinh
quang. Bây giờ thì toi
khẳng định thêm một lần nữa:
“ Khó
như đánh Tây, đuổi Mỹ mà
đảng còn làm được. Còn việc
gì khó hơn mà đảng không làm
được?
“Câu
nghi vấn khẳng định của
toi không thuyết phục
được moi. Moi
đồng ý đánh Tây đuổi Mỹ
rất khó. Bản thân moi
vô cùng cảm phục và biết ơn
những người cộng sản đã chỉ
đường dẫn lối cho cả dân tộc
trong hai cuộc kháng chiến.
Nhưng ở đời còn những việc
khó chứ không chỉ có hai
việc như toi thường
kể lể. Giành thiên hạ khó đã
đành. Nhưng trị thiên hạ đâu
phải là việc dễ? Ai bảo là
đánh được Tây, đuổi được Mỹ
thì có thể làm bất cứ công
việc gì là nói càn. Toi
nhìn lại lich sử đời Tây Sơn
mà coi. Ai chống ngoại xâm
giỏi bằng Quang Trung Nguyễn
Huệ? Nhưng ổn định việc nhà
thì ông bó tay.
“ Vả
lại, việc khó là việc có thể
làm được. Người này không
làm được, lúc này không làm
được thì người kia, lúc khác
làm được. Lấy ví dụ việc
đánh Tây, suốt gần 80 năm kể
từ khi thực dân Pháp đô hộ
Việt Nam, rất nhiều phong
trào yêu nước, nhiều cuộc
nổi dậy mưu cầu độc lập
nhưng đều thất bại. Đến khi
ông Hồ Chí Minh, đảng cộng
Sản xướng xuất và lãnh đạo
thì thành công. Đảng cộng
sản và dân tộc đã làm một
việc khó. Cực kỳ khó. Đuổi
Mỹ là một việc cực kỳ khó
thứ hai.
“ Tuy
nhiên có những việc ở ngoài
khả năng khó dễ. Có những
việc không thể làm được. Bất
cứ ai cũng làm không được,
kể cả đảng cộng sản.
“
Việc không làm được moi
muốn nói ở đây là việc xây
dựng Xã Hội Chủ Nghĩa.
“ Căn
cớ duy nhất là: Dù đảng cộng
sản có quyết tâm đến thế nào
đi nữa mà nhân dân không
đồng tình cũng đành chịu.
“ Tại
sao nhân dân không đồng
tình?
“ Lý
do đơn giản và dễ hiểu là
khi đảng lãnh đạo toàn diện
và tuyệt đối thì không ai
còn một chút quyền tự do nào
nữa cả.. Tự do kinh tế:
không, mà tự do tinh thần
cũng không nốt. Các toi
bao giờ cũng nhắc lại câu
nói của cụ Hồ là “ không
có gì quí hơn độc lập — tự
do ”. Cái khái niệm Độc
Lập, Tự Do mà ông Hồ nêu lên
không chỉ là tương quan giữa
các quốc gia dân tộc, mà còn
hàm chứa trong các mối quan
hệ giữa người và người trong
cùng một nước.
“ Tục
ngữ có câu: Có thực mới vực
được đạo. Trong chế độ Xã
Hội Chủ Nghĩa ở Nga, ở Tàu
và ở miền Bắc, việc “thực”
nằm trong tay đảng, việc
“đạo” nằm trong đầu của
đảng, thì nhân dân chỉ còn
là một bầy đàn được nuôi
sống chứ không phải
là những người có quyền
được sống. Các nhóm từ
được nuôi sống
và quyền được sống
có nội dung khác nhau một
trời một vực. Đó là sự dị
biệt giữa bọn tay sai và
người kháng chiến. Bọn tay
sai được nuôi sống
bởi bọn cướp nước, bọn xâm
lược. Còn người kháng chiến
thì chiến đấu để giành quyền
được sống cho dân tộc trong
đó có mình.
“Và
chăng, không những chỉ có
nhân dân mới không đồng
tình, mà rồi trong đảng cộng
sản lần hồi cũng sẽ có những
người không đồng tình với
Chủ Nghĩa Xã Hội. Bởi mục
đích, động cơ đầu tiên của
người cộng sản là giải phóng
dân tộc, giải phóng nhân
dân. Không có lí do gì một
khi dân tộc được giải phóng
mà nhân dân lại bị nhốt cả.
Khi đảng cộng sản giành lấy
quyền lãnh đạo toàn diện và
tuyệt đối trong xây dựng Xã
Hội Chủ Nghĩa là đã nhốt
nhân dân rồi. Điều bi đát là
người nhốt, và người bị
nhốt, mới hôm qua thôi, đã
cùng ở chung một chiến hào
chống xâm lược.
“
Dường như Marx đã nói đâu đó
rằng trong các chế độ, các
xã hội người nhốt người,
người áp bức bóc lột người –
không ai thành người cả. Nô
lệ không đã đành. Ông chủ
cũng không.
“ Thế
đó, bởi tuyệt đại đa số nhân
dân muốn làm người tự do cho
nên nhất định đảng cộng sản
không làm được Xã Hội Chủ
Nghĩa.
“Tuy
nhiên có một việc rất khó,
khó không thua chống Tây,
đuổi Mỹ mà đảng cộng sản có
thể làm được, và chỉ có đảng
cộng sản mà thôi, là giải
phóng mình, giải phóng nhân
dân ra khỏi cơn mộng du tập
thể, trả lại độc lập tự do
cho nhân dân, để Chủ Nghĩa
Xã Hội, lí tưởng cộng sản và
đảng cộng sản Việt Nam tồn
tại trong ký ức Dân Tộc và
Nhân Loại những dấu ấn tráng
lệ một thời. Thời cơ là một
yếu tố quan trọng trong việc
tranh thiên hạ và cả trong
việc cai trị thiên hạ.
“ Lần
bị bắt gần đây nhất, trước
khi được trả tự do, moi
có gặp Liên Thành tại
văn phòng của nó. Nó mời
moi hút thuốc, uống
nước và nói chuyện. Câu
chuyện đại ý như thế này:
“ Tôi
đã từng là học trò của thầy
không phải nửa chữ, một chữ
mà những hai niên khoá. Thầy
dạy tôi môn Quốc văn lớp đệ
ngũ mỗi tuần sáu giờ và môn
công dân mỗi tuần một giờ ở
lớp đệ tứ.
“ Vì
nghĩa thầy trò nên tôi tha
cho thầy về lần này, và chỉ
lần này thôi. Tôi là trưởng
ty cảnh sát, trách nhiệm của
tôi là bảo vệ an ninh trật
tự, bảo vệ sự tồn tại của
chế độ trong cương vị của
mình. Những năm còn trên ghế
nhà trường, tôi đã không
nghe lời thầy như các học
trò khác để chống phá chế
độ. Tôi có những lí lẽ của
tôi. Mấy năm trở lại đây
chúng ta lại gặp nhau trong
một cảnh ngộ tại ty cảnh sát
này. Tôi ra lệnh bắt thầy,
và thầy là tù nhân của tôi.
Tôi đã làm hết sức mà không
lay chuyển được quyết tâm
của thầy. Thôi thì việc ai
nấy làm, đường ai nấy đi.
Tôi nói lại: Lần này trả tự
do cho thầy vì nghĩa cũ.
Thầy nhớ cho, chỉ lần này
thôi. Từ đây về sau nếu thầy
cứ tiếp tục cùng với đám học
trò của thầy tiếp tay cho
cộng sản chống phá chế dộ,
tôi sẽ không nương tay. Tôi
cũng muốn nói với thầy điều
này trước khi thầy ra về: Có
bao giờ thầy tự hỏi trong
chế độ cộng sản mà thầy đang
góp hết sức để cho mau tới
đó, họ sẽ đối xử ra sao với
những người tự tung tự tác
như thầy đã hành xử trong
chế độ này?…”
“
Những gì Liên Thành mô tả về
chế độ cộng sản không mới mẻ
gì đối với moi. Ở
một khía cạnh nào đó – khía
cạnh tiêu cực – trong chế độ
cộng sản – moi còn
biết nhiều hơn nó, một kẻ
chống cộng điên cuồng — tất
nhiên nhiều hơn toi,
một kẻ đến với chủ nghĩa
cộng sản như một tin đồ tôn
giáo.
“
Trước đây đã có lúc moi
xếp toi bên cạnh
Liên Thành để xem giữa hai
người có cái gì giống nhau,
có cái gì khác nhau? Moi
nhìn qua nhìn lại thấy không
có gì giống nhau cả. Gia
cảnh, tính tình, xu hướng
sống, thái độ sống, khác
nhau nhiều quá.
“
Nhưng rồi sau cái ngày rời
ty cảnh sát với những lời
tuyệt tình của Liên Thành,
moi mang máng thấy
có cái gì giống nhau giũa
hai người. Lúc đầu mang máng
thôi. Càng về sau càng sáng
tỏ. Cái giống nhau giữa hai
người khác biệt như nước với
lửa các toi, là
moi không thể sống với
ai được cả.
“ Với
Liên Thành là lúc này, lúc
nó níu kéo một cách tuyệt
vọng một thế lực phi lí và
bạo tàn: bọn xâm lược Mỹ.
“ Với
các toi chưa phải
là lúc này, mà đợi đến khi
Mỹ cút — Nguỵ nhào, và đảng
cộng sản đưa cả nước tiến
lên Xã Hội Chủ Nghĩa.
“ Một
người khi đã biết trước cái
chết không thể tránh khỏi
như moi, lâm thế
toi, toi
sẽ sử dụng cái tự do cuối
cùng của mình như thế nào?
“— Để
cho Liên Thành nó giết vì
mục tiêu cá nhân, hèn nhát
của một tên tay sai cùng
đường?
“—
Hay để cho các toi
giết nhân danh cái thiện,
cái tiến bộ, cái lí tưởng,
cái tất yếu Xã Hội Chủ Nghĩa
? Người cộng sản khi bất đắc
dĩ phải giết ai đó thì đương
nhiên y là một tên tồi tệ,
một tên không đáng sống, một
tên làng bỏ họ từ.
“
Thiếu gì những chi tiết
trong đời moi để
các toi sử dụng các cơ quan
truyền thông mà các toi
độc chiếm để rao truyền
trong khắp thiên hạ ở cái
thành phố nhỏ bé này, ở cái
miền Nam tội nghiệp này rằng
cái tên Ngô Kha có bao nhiêu
vấn đề nghiêm trọng. Các
toi chỉ cần thêm, bớt,
sửa đổi một vài chi tiết là
moi sẽ có một lí
lịch xứng đáng với bất cứ
mức độ trừng phạt nào.
“
Chẳng hạn gia đình nội ngoại
mấy đời phong kiến quan lại
“
Chẳng hạn anh em họ hàng làm
tướng Nguỵ ác ôn.
“
Chẳng hạn chửi Mỹ Nguỵ thẳng
thừng, xúi giục học trò bãi
khoá xuống đường mà chỉ bị
bắt qua quít rồi vẫn tiếp
tục đi dạy lãnh lương.
“
Chẳng hạn chỉ cần lật ngược
cái biện chứng: Yêu nước tất
yêu Chủ Nghĩa Xã Hội, không
yêu Chủ Nghĩa xã Hội là
không yêu nước. Mà từ không
yêu nước đến Việt gian, đến
CIA mai phục mấy hồi?
“
Toi biết không, vào
những thời điểm phong trào
lên cao, moi ít khi
về nhà vào buổi tối vì sợ
bọn cớm phục ở những góc
đường vắng . Moi ở
lại đâu đó. Ở trụ sở Tổng
hội, ở thư viện Đại học, ở
nhà một vài người bạn hay
nhà một đứa học trò mà bọn
cớm ít nghi ngờ nhất. Nhà
Vĩnh Phối chẳng hạn. Nhà Đức
Di Lặc ở tiệm buôn Nam Hải
chẳng hạn. Nhà bà dì toi
ở An Cựu chẳng hạn. Sáng hôm
sau moi về nhà rất
sớm lúc trời còn mờ tối. Bà
chị moi mở cửa. Mạ
moi chờ sẵn phía
sau. Chị moi nói
suốt đêm bà không ngủ, cứ đi
tới đi lui, thắp hương van
vái trước bàn thờ. Đợi
moi dựng xe xong, mạ
moi ôm chầm lấy
moi, đưa tay sờ đầu sờ
mặt, nắn nót tay chân xem có
sức mẻ u bướu gì không? Mấy
năm nay bà vẫn như thế, Tuổi
già sức yếu, mắt kém, lòng
thương và nỗi lo cho sự an
nguy của moi càng
tăng vì tình thế, vì sự đe
doạ của nhà cầm quyền càng
khắc nghiệt. Nhưng thương và
lo cho moi là một
khía cạnh, mà không can ngăn
và chừng mực nào đó khuyến
khích moi dấn thân
vào cuộc tranh đấu là khía
cạnh khác của tâm can bà.
Không riêng gì những bà mẹ
Huế như mạ moi, mà
hầu hết rất nhiều bà mẹ Việt
Nam mà lịch sử đã tôi luyện
qua hàng ngàn năm khổ nạn đã
không xem đứa con là của
riêng một mình mình, một gia
đình mình. Và đặc biệt đã
không giản lược nó thành một
của báu mãi mãi cần được
nuôi sống cần
được bảo vệ trong vòng tay
của mình. Năm trước một
người bà con trong họ, tướng
Ngô Du, đến thăm và gợi ý
với mạ moi là bằng
cách nào đó khuyên can để
moi trở lại làm một
giáo sư bình thường, một kẻ
ăn cây nào rào cây đó,
và nếu muốn đi con đường
chính trị thì anh em có thể
giúp nhau …
“Trước đó đã nhiều lần qua
những người thân trong họ,
Ngô Du cũng gởi lời đại loại
như vậy. Lần này mạ moi
nói thẳng với Ngô Du: “Cám
ơn ông tướng đã quan tâm đến
tình thâm máu thịt. Nhưng
câu tục ngữ ông tướng vừa
nhắc hoàn toàn không đúng
cho anh Ngô Kha nhà ni, và
xin lỗi ông tướng tui có nói
khó nghe thì ông cũng không
nên chấp người già. Cả ông
tướng và cả Kha nhà ni chỉ
có một cây cần phải rào, cần
phải giữ, cần phải chăm bón
là cây Việt Nam. Ông tướng
tuổi với anh Tú nhà ni. Hồi
nhỏ các anh chơi với nhau
rất thân. Lớn lên mỗi người
mỗi ngã. Ông tướng đi lính
cho Tây. Anh Tú nhà ni đi
theo Việt Minh đánh Tây. Bây
giờ ông làm tướng ăn lương
Mỹ. Anh Tú không biết sống
chết nơi nào, đang ở miền
Bắc hay vào Nam đánh nhau
với Mỹ, với ông tướng. Tui
là mẹ, gần hai mươi năm nay
tui chỉ mong nước nhà thống
nhất, anh Tú nhà ni trở về,
anh em thôi đánh nhau.Từ mấy
năm nay anh Kha nhà ni có
làm việc gì đó gây hại cho
ông tướng, làm ông tướng
không bằng lòng, làm cho tui
ngày đêm lo lắng mất ăn mất
ngủ, nhưng xét cho thấu tình
đạt lí thì cả anh Tú, anh
Kha nhà ni đều cùng làm một
việc như ông tướng đã nhắc
nhở: “ ăn cây nào, rào cây
đó”.
“ Có
điều cái cây theo ý ông
tướng khác với cái cây của
ông cha và anh em nhà ni.
Tui già quá rồi, ông tướng
thì trăm công nghìn việc,
chắc là họ hàng chẳng có dịp
gặp nhau lần nữa. Tôi nói
lần cuối cùng để cám ơn ông
tướng và cũng để ông tướng
thôi vướng bận với những
tính toán tình cảm chẳng đến
đâu….”.
“
Cuối cùng Ngô Du không
thuyết phục nửa, mà doạ dẫm:
“ Rứa
bác không sợ tai hoạ xảy ra
cho anh Ngô Kha bất cứ lúc
nào ạ?
“ Tui
sợ, sợ lắm. Sợ đêm sợ ngày,
sợ tháng sợ năm. Thương con
đứt ruột, nhớ con khô gan,
nhưng làm sao bây chừ. Tui
đẻ chúng ra, tui nuôi chúng
lớn để chúng làm người. Mỗi
người sống và chết theo cái
mệnh của mình. Ông tướng có
cái mệnh của ông tướng. Anh
Tú, anh Kha nhà ni có cái
mệnh của anh Tú, anh Kha nhà
ni. Tui chưa hề nghĩ đến
việc khuyên anh Kha nhà ni
bắt chước ông tuớng mà “ăn”,
mà “rào” cái cây khủng khiếp
lủng lẳng bom đạn Mỹ ấy. Con
Hùm chết để da, con Người ta
chết để tiếng. Có bà mẹ nào
không muốn con mình được
sống yên lành. Nhưng không
phải vì sự yên lành ấy mà bà
mẹ lại đi xúi con mình ham
sống, sợ chết, bất chấp để
tiếng xấu muôn đời sau …”
“
Moi sinh năm1935, năm
ni xấp xỉ cái tuổi mà Khổng
Tử bảo là không hoài nghi về
mình nữa. Moi chưa
biết hết các khái niệm của
từ bất hoặc của ông
thầy vĩ đại này. Nhưng sau
gần mười lăm năm bước vào
cuộc hành trình nhiều lận
đận lắm chông gai, khổ nạn
để đi tìm và khẳng định thân
phận kẻ sĩ, và đặt kẻ sĩ là
mình ấy ở giữa đất nước vào
cái thời điểm rất khó có một
hình dung từ ngắn gọn để mô
tả cho chân xác. Moi
không hề bắt chước bà Huyện
Thanh Quan và đám hủ nho Bắc
Hà vào đầu thế kỷ 19 để chỉ
thấy đất nước như là Một
vũng Tang thương
nước lộn trời, cũng
không nhớ tiếc cái quá khứ
huy hoàng một đi không trở
lại của giai đoạn thịnh thời
nhà Hậu Lê. Moi
cũng không còn muốn bắt
chước Cao Bá Quát mà mộng mị
Quyết xoay bạch ốc lại
lâu đài. Moi ý
thức rất rõ cái hạn chế lich
sử, cái hạn chế địa chính
trị, cái hạn chế trình độ
văn minh, nhất là sức sống
của tuyệt đại đa số nhân dân
trong một đất nước vừa mới
vượt thoát nô lệ, chiến
tranh trong lạc hậu và đói
nghèo.
“Moi
nghĩ, sau chiến tranh, vấn
đề lớn nhất và huyết mạch
không phải là học thuyết
này, ý thức nọ, mà là tiếp
tục củng cố nền độc lập quốc
gia, bước đầu đặt nền móng
cho các quyền công dân cơ
bản làm cốt lõi để phát
triển đầy đủ các quyền con
người. Không phải ngày một
ngày hai mà làm được cái
công việc thiên nan vạn nan
này. Cái công việc mà ở nước
Pháp, ở châu Âu, ở cái nôi
của chế độ cộng hoà và nền
sản xuất đại công nghiệp
phải mất hàng hai trăm năm
kể từ 1789,và phải kinh qua
không biết bao nhiêu sai
lầm, tội ác (bóc lột, đàn áp
lao động, tiến hành chiến
tranh thực dân, xâm lược, và
gây ra hai cuộc chiến tranh
thế giới).
“Cũng
như thế, thống nhất đất
nước, lập lại hoà bình không
chỉ là vấn đề lãnh thổ, vấn
đề chấm dứt chiến tranh với
các thế lực thù địch, thiết
lập quan hệ hữu hão với bên
ngoài, mà cốt lõi phục hồi
sức dân, hoà hợp với các
thành phần quần chúng trong
tình thương yêu, trong ý
thức công bằng, tôn trọng
lẫn nhau, xoá bỏ tận gốc rễ
sự phân biệt các thành phần
quần chúng (thứ nhất, thứ
hai, thứ ba) là tàn dư của
những thực tế các sách lược
và biện pháp chiến tranh của
cả hai bên. Và đặc biệt là
từng bước giải thể các khái
niệm tuyệt đối và toàn diện
của đảng cầm quyền. Có làm
như vậy mới đáp ứng các
nguyện vọng sâu xa nhất của
nhân dân và thực hiện lí
tưởng, hoài bão của người
cộng sản như lời tuyên bố
của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
trong bản tuyên ngôn Độc lập
và như ba mục tiêu của chính
phủ Việt Nam Dân Chủ cộng
Hoà: Độc lập — Tự do — Hạnh
phúc.
“
Toi thấy đó, khi đảng
cộng sản thực hiện chuyên
chính vô sản, khẳng định vai
trò vị trí thống soái của
mình trong việc lãnh đạo
quốc gia, quản lí và điều
hành đất nước theo con đường
Xã Hội Chủ Nghĩa một cách
toàn diện và tuyệt đối thì
có thể đạt được các mục tiêu
mà moi vừa nêu ra không?
“ Dĩ
nhiên là không rồi.
“
Chắc chắn là toi sẽ
chẳng thấy ở nơi lập luận
của moi một chút sự
thật và thiện chí nào, bởi
vì vào lúc ấy, lúc các
toi say sưa với chiến
thắng, các toi
không muốn nghe bất cứ một
tiếng nói nào, không muốn
thấy bất cứ một thứ ánh sáng
nào ngoài tiếng nói và ánh
sáng của chủ nghĩa Marx –
Lenin, của đảng cộng Sản vô
địch. Và tất nhiên các
toi gạt phắt qua một
bên, hoặc nếu cần thì tiêu
diệt moi với những
tội lỗi như moi đã
cảm nhận và đã nói ở trên.
Trong chế độ Xã hội Chủ
nghĩa của các toi,
hoặc moi sẽ sống
như một tên nô lệ, hoặc sẽ
bị giết chết như một tội đồ.
“Moi
nhắc lại, cái giống nhau
giữa Liên Thành và toi
là moi không
sống được với ai cả.
“ Tuy
nhiên có một cái khác biệt
rất sâu sắc về cái chết của
một con người là moi,
một trí thức, khi bị bọn
Liên Thành giết vì quyền lợi
cá nhân của nó và quyền lợi
của bọn tay sai, quyền lợi
của cái cây mà mạ moi
mô tả là lủng lẳng bom
đạn Mỹ, sẽ có lợi cho phong
trào. Các toi sẽ có
thêm cái cớ để làm rối loạn
sào huyệt đối phương, phát
động đấu tranh, tố cáo đối
phương phá bỏ hiệp định
Paris, giết hại người thuộc
lực lượng thứ ba, vi phạm
dân chủ, dân quyền.
“
Toi thấy đấy, cái sống,
và cả cái chết nữa, của mỗi
người trong cuộc chiến tranh
này đều có giá của nó và đều
có những tác động khác nhau.
Bất cứ một cuộc dấn thân nào
cũng đòi hỏi trước hết một
chọn lựa trí tuệ, một dũng
khí để thực hiện, và một
tình yêu vượt qua cái riêng
tư, hội nhập vào trong cái
chung. Và không chỉ là sự
sống, mà là cái chết của một
số trường hợp lại đóng góp
nhiều hơn cho cuộc kháng
chiến. Mạ moi, gia
đình moi, bạn bè
moi, hàng chục ngàn
học trò của moi qua
nhiều năm gắn bó, và cũng có
thể cả anh Tú moi
nữa đang ở đâu đó trên đất
nước này, sẽ thương khóc nhớ
tiếc moi. Tất cả
mọi người trong sâu thẳm tâm
can họ, họ đau đớn mất đi
một người ruột thịt, một
bằng hữu, một ông thầy đã
sống mà không để lại điều gì
khiến họ phải hổ thẹn.
“ Còn
trường hợp thứ hai, nhân
danh cái tốt lành, cái tiến
bộ, cái vĩ đại của cuộc cách
mạng xã Hội Chủ Nghĩa mà
các toi sẽ giết moi,
lâm thời thì các toi
có cái cớ để biện chính cho
hành động của mình, để
các toi yên tâm trong
chốc lát. Ngoài ra không lợi
lộc, tốt đẹp gì cho ai cả.
không cho các toi,
không cho mạ moi và
gia đình moi, bạn
bè, học trò moi,
lại càng không cho cái chung
to lớn mà các toi
nhân danh.
“
Moi nhắc lại lần thứ
một ngàn, lần thứ một triệu
và có thể thì nhiều hơn thế
nữa: Marx và chủ nghĩa cộng
sản, đã đóng góp vô cùng to
lớn cho sự phát triển trí
tuệ nhân loại với phương
pháp luận biện chứng và với
chất men tôn giáo lí tưởng
về một thế giới đại đồng đã
thu hút, đã tạo niềm tin, đã
tập hợp nhiều phần tử ưu tú
của đất nước và nhân loại
hình thành nên một đảng, một
phe trong điều kiện, thời
điểm lịch sử đen tối nhất
của dân tộc, đã cùng với dân
tộc hoàn thành mục tiêu,
khát vọng lớn nhất, cao quí
nhất là đánh đuổi ngoại xâm,
dành lại Độc lập, thực hiện
Thống nhất đất nước. Nhân
dân Việt Nam và cả thế giới
nữa đã và sẽ ghi nhận chân
lí này. Nhưng mục tiêu thứ
hai là giải quyết nghèo đói,
thiết lập công bằng, tiến bộ
xã hội, tạo dựng hạnh phúc
cho trăm họ thì cuộc cách
mạng Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ
không giải đáp được gì.
Những giải pháp của Thương
Ưởng, Hàn Phi Tử đời Tần,
Vương An Thạch đời Tống bên
Trung Hoa và Hồ Quí Li trong
lịch sử Việt Nam đều thất
bại trong đau thương và dẫn
đến mất nước (trường hợp Hồ
Quí Li). Không phải các ngài
ấy thiếu thện tâm, thiếu ý
chí, thiếu hoài bão khát
vọng to lớn, mà các ngài ấy
chỉ thiếu một điều là bất
chấp trăm họ, lơ mơ về nhân
tình thế thái.
“ Thế
đó, cái chết của moi
và cũng có thể của nhiều
người khác nữa sẽ vô ích đối
với sự nghiệp cứu nhân dân,
cứu nhân loại của các
toi. Chỉ một thời gian
ngắn sau cái chết của
moi thôi, các toi
sẽ thấy tài thao lược, ý chí
sắt đá, niềm tin vững chắc
và cả công nghiệp to lớn của
đảng cộng sản trong chiến
tranh không bảo đảm cho sự
thành công của cuộc cách
mạng long trời lở đất mà
các toi đã xốc nổi lùa
đẩy nhân dân tiến lên. Và
khi ấy, không ai trên đất
nước này đau khổ bằng
các toi. Và chính
các toi đã làm cái việc
mà kết quả đi ngược lại
những ước mơ, những khát
vọng ban đầu của mình: cứu
nhân độ thế.
“ Cái
chết của moi, đối
với mạ moi và đối
với đám học trò, bạn bè của
moi cũng là một kết
cục chẳng hay ho gì, thậm
chí còn là một điều sỉ nhục
to lớn đối với họ. Mạ
moi đã nói với tướng
Ngô Du câu tục ngữ: “Con Hùm
chết để da, con Người ta
chết để tiếng”. Mạ moi
dư biết khi moi hay
bất cứ ai tham dự vào cuộc
đấu tranh là lành ít dữ
nhiều. Bà thường đọc nho nhỏ
câu thơ của Tố Hữu: Khi dấn
thân vô là phải chịu tù đày/
Là gươm kề cổ súng kề vai.
Bà nói với Ngô Du cái mệnh
của mỗi người là thế. Xuất
thân trong một gia đình khoa
bảng mấy đời, viết và đọc
được chữ Hán, thuộc truyện
Kiều không sót một câu,
đương nhiên bà hiểu thế nào
là mệnh trời theo quan điểm
Nho giáo. Tuy nhiên chữ mệnh
mà mạ moi dùng khi
nói chuyện với Ngô Du không
hàm triết lí đạo Nho mà chỉ
diễn đạt một khái niệm về
sinh mệnh tất yếu của mỗi
người Việt Nam trước cuộc
chiến tranh chống ngoại xâm.
Một mặt bà muốn nói với Ngô
Du là cái sống cái chết của
một tên lính khố xanh, một
viên tướng (như Ngô Du) ăn
lương Mỹ giết hại đồng bào,
chống lại đất nước dân tộc,
hoàn toàn trái ngược với cái
sống cái chết của những
người kháng chiến. Mặt khác
bà chấp nhận cái chết của
những đứa con, những giọt
máu của bà với điều kiện cái
chết ấy không để lại
tiếng xấu cho muôn đời sau.
“ Thế
đó, khi bà mẹ đồng tình và
chia sẻ sự chọn lựa, sự gắn
bó sinh mệnh của cá nhân với
sinh mệnh của tổ quốc, bà
không muốn con bà phản bội
lại sự chọn lựa gắn bó
thiêng liêng cho dù phải hy
sinh. Đạo lí, tâm tình của
những phụ nữ như mạ moi
là như thế. Tổ quốc là con,
là chồng, là anh em, là
những con người thuộc về
kháng chiến. Và ngược lại
những người rụôt thịt và tất
cả những gì liên quan đến
kháng chiến đều là một phần
của Tổ quốc.
“ Mạ
moi, những phụ nữ
cùng cảnh ngộ, những học trò
đã theo moi dấn
thân vào những cuộc đấu
tranh, sẽ không đủ sức chịu
đựng tình trạng chia lìa đổ
vỡ giữa con người mà họ hằng
thương mến, tin yêu với cách
mạng, với kháng chiến mà họ
tôn sùng ngưỡng mộ.
Bởi
cách mạng, kháng chiến là
một thực thể thiêng liêng
cao đẹp vượt lên trên hết
mọi thứ thiêng liêng cao đẹp
mà họ nâng niu, vun xới, bảo
vệ và tham dự.
“ Nếu
mạ moi, đám học trò
moi tin vào các cáo
buộc của các toi để
cho cái chết của moi
danh chính ngôn thuận theo
những kịch bản của các
toi thì sự mất mát, đau
đớn của họ to lớn và sâu
nặng biết dường nào. Đó là
một khả năng. Khả năng thứ
hai là mạ moi, đám
học trò của moi
không tin vào những lời bịa
tạc, vu khống, mạ lị quanh
cái chết của moi,
thì chính các toi
đã vô hình chung nhú mớm cho
họ niềm tuyệt vọng và sự sụp
đổ tâm hồn.
“Không, nhất định moi
không để cho bản thân mình
rơi vào cái tình thế bi kịch
ấy. Moi phải thoát
ra thôi, mặc dầu mỗi lần
nghĩ đến sự tàn ác, cái dã
man của đám Liên Thành,
moi đã vô cùng khiếp
sợ.
“
Moi không có tự do đầu
tiên sự ra đời – làm người.
Tuy nhiên moi có tự
do cuối cùng. Tự do cuối
cùng của moi là sự
lựa chọn giữa hai cái chết.
Khi một con người còn có
được sự lựa chọn, cho dù là
sự lựa chọn giữa hai cái
chết, thì con người ấy chưa
phải là kẻ tuyệt vọng.
“ Lời
trăn trối cuối cùng của ông
nội moi về việc
chọn nghề, chọn nghiệp cho
anh em moi trước
khi nhắm mắt, gợi ý của cha
moi về vị trí, chức
năng của kẻ sĩ, lương thức
của mạ moi về lẽ
sống của con người ở đời, sự
trong sáng hồn nhiên và khát
vọng giá trị của các thế hệ
học trò moi và rất
nhiều những nguồn mạch sâu
kín của mỗi người trong
chúng ta ở hai bờ biên giới,
ở phía trước phía sau thực
tại lịch sử đã chia sẻ cùng
moi sự yếu đuối,
nỗi khiếp sợ, thôi thúc và
thêm sức cho moi
dứt khoát chọn lựa cuối cùng
này. Moi sẽ chết
trên đường của thành phố
thân yêu chỉ vì các mục tiêu
và khát vọng của dân tộc.
“Mong
ước cuối cùng của moi
là một lúc nào đó mỏi mệt,
rã rời trước cái mù mịt của
cơn mộng du sát cạnh mép bờ
của vực thẳm, toi
sẽ nhớ lại, tìm lại những tờ
giấy gói trà Tam hỷ và những
bao hương này, đọc lại một
lần nữa mấy lời tâm tình của
một người bạn sắp chết. Con
chim sắp chết cất tiếng hót
bi ai. Con người sắp chết
nói lời phải chăng. Lời nói
phải chăng của moi
là trong hoà bình xây dựng,
không có quyền lực nào đối
với nhân dân là toàn diện và
tuyệt đối cả.
“
Nhân dân Việt Nam đã trao
cái toàn diện và tuyệt đối
cho đảng cộng sản trong suốt
hai cuộc kháng chiến trường
kỳ và quá ư gian khổ rồi.
Nhân dân đã cống hiến từng
hạt gạo, từng giọt máu và cả
tự do của họ cho nền Độc
Lập, cho Thống Nhất, cho Hoà
Bình. Sức mạnh, sự chịu
đựng, hy sinh của mỗi con
người, mỗi thành phần, và cả
cộng đồng chẳng phải bao giờ
cũng vô hạn. Đảng cộng sản
vào một thời điểm nhất định
đã tập hợp, rèn đúc nên một
sức mạnh to lớn từ những
người con ưu tú của dân tộc
và đã làm hết sức mình cho
những mục tiêu cao cả cấp
bách của đất nước. Những
người con ưu tú của dân tộc
không phải là những ông
Thánh và sức mạnh của đảng
cộng sản không hề là của kho
vô tận, mà đã có lúc
đầy, ắt sẽ có lúc vơi.
“Có
hạt gạo nào, giọt máu nào
trong nhân dân là để tái tạo
lại sức mạnh dân tộc, phục
hồi lại vóc dáng đất nước,
để Dân tộc, Đất nước hội
nhập và sống phải chăng với
thiên hạ chứ không phải vét
hết để xây dựng thiên đường
hoang tưởng.
Nụ cười là của nỗi đau
Nước mắt là của mai sau
Thiên đường
“ Đã
có lúc moi thưởng
thức và đồng cảm với toa
hai câu thơ này. Cho đến khi
Võ Đông kể là toi
đã sáng tác nó trong hoàn
cảnh nào thì những cảm nhận
thẩm mỹ bị tiêu tan hoàn
toàn, thay vào đó là những
ray rức, đau đớn, thống hối
và ở mức độ nào đó, moi
đã khinh bỉ, ghê tởm
chính mình và cả toi
nữa.
“Võ
Đông kể vòng vo, chủ ý nêu
một ví dụ và không hề nhắm
vào ai qua câu chuyện cả.
Nhưng sau mấy ngày kiểm
nghiệm, moi thấy
mình có tham dự vào cái chết
của một con người, một thanh
niên háo hức sống, một chiến
sĩ đã lao vào cuộc chiến
tranh với tất cả sự trong
sáng và nhiệt tình của tuổi
trẻ. Câu chuyện xảy ra vào
cuối tháng trước: Một tối
không trăng, đội công tác
được lệnh từ trên núi về đón
một người khách đã hẹn từ
thành phố. Đội công tác nằm
chờ tại một nơi nào đó ở một
xã cận sơn. Một đêm. Hai
đêm. Ba đêm. Người khách từ
thành phố sai hẹn. Đội công
tác lên núi và bị phục kích
giữa đường. Người chiến sĩ
trẻ tuổi nhất bị thương
nặng, đồng đội đưa lên núi
và chết sau đó. Lúc bây giờ
toi ở trên núi,
chứng kiến những tình tiết,
những trối trăn và cả những
thương tiếc mất mát của anh
em đồng đội. Và toi
đã làm thơ để bày tỏ khát
vọng của mình. Võ Đông thì
kể chuyện qua quít cốt để
nói vòng vo về những hiểm
nguy, khổ nhọc của đội công
tác đường dây. Các toi
đã không nói thẳng trách
nhiệm của moi đối
với cái chết của người trẻ
tuổi, con trai của một bà mẹ
nào đó, là người yêu của một
cô gái nào đó, là thành viên
của một đơn vị chiến đấu và
biết đâu anh ta không phải
không là học trò của moi.
Moi không trách Võ
Đông và cả toi nữa,
bởi các toi đang
thực hiện nhiệm vụ chính trị
của mình. Nhưng moi
khinh bỉ toi bởi
toi đã nhân cái
chết của một con người –
cũng có thể là ngàn triệu
con người — chỉ để bày tỏ
một khát vọng hão huyền.
Không, moi không
bao giờ chia sẻ với toi
và bất cứ ai về một thiên
đường được xây bằng bạo lực,
bằng máu và nước mắt. Máu,
nước mắt và sự đỗ vỡ đã quá
đủ để dành lại nước, dành
lại người, dành lại nhà,
dành lại cuộc sống phải
chăng cho Dân tộc trong cộng
đồng nhân loại. Do vậy mà
trước đó moi đã
đồng tình, chia xẻ với
toi về một thái độ lạc
quan kiêu hãnh của cả dân
tộc chiến đấu để vượt qua
đêm dài nô lệ.
“Về
phần moi chưa bao
giờ như lúc này, moi
tự vấn, tự chê trách, tự
khinh bỉ mình về sự liên đới
của bản thân dẫn đến cái
chết của người thanh niên
kia. Điều tệ hại trong cung
cách hành xử của moi
là sự dùng dằng nửa ở nửa
đi. Đúng ra moi
phải dứt điểm ngay từ đầu,
là không đi, là ở lại vị trí
chiến đấu của mình…”
|