Trong ngoại giao, để đạt được mục đích, các
viên chức Trung Quốc đã không thiếu những
lời hoa mỹ nhằm thuyết phục các nước láng
giềng nghe theo. Thế nhưng, có một ngôn ngữ
khác mà báo chí Trung Quốc dành cho các nước
trong khu vực, trái ngược hoàn toàn với ngôn
ngữ hòa nhã vốn thường được các nhà ngoại
giao nước này sử dụng.
Mời quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu thêm hai
loại ngôn ngữ trái ngược nhau này.
Trung Quốc không có
ý định xâm lược các nước khác?
Đầu năm nay, trong chuyến viếng thăm Ban Thư
ký Asean ở Jakarta, nhân vật đứng đầu trong
việc xây dựng các chính sách đối ngoại của
Trung Quốc, ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên
Quốc
vụ Trung Quốc đã hết lời
ca ngợi khối Asean. Trong một bài phát biểu,
ông Đới Bỉnh Quốc ca ngợi Asean trong 10 năm
qua như, Asean đã trở nên "ảnh hưởng
nhiều hơn về chính trị, cạnh tranh hơn về
kinh tế, và đóng vai trò quan
trọng và duy nhất trong việc bảo vệ và thúc
đẩy sự ổn định trong khu vực”.
Cũng trong bài phát biểu này, ông Đới Bỉnh
Quốc khẳng định rằng, Trung Quốc không bao
giờ có ý định xâm lược các nước khác.
Ông nói: “Hãy nhìn vào lịch sử của Trung
Quốc. Trung Quốc có truyền thống và văn hóa
xâm lược và mở rộng hay không? Tôi đã ghi
nhận, rất nhiều người trên toàn thế giới nói
"không". Trung Quốc không muốn quyền bá chủ
hoặc tìm kiếm mở rộng, ngay cả khi Trung
Quốc mạnh nhất thế giới, với 30% GDP toàn
cầu cách đây vài trăm năm.
Nhiều người trong số các bạn biết về các
chuyến hải trình của Trịnh Hòa tới các vùng
biển phương Tây. Dẫn đầu hạm đội mạnh nhất
thế giới, Trịnh Hòa thực hiện bảy chuyến đi
tới các vùng biển phương Tây, mang tới đó đồ
sứ, tơ lụa và trà, chứ không phải chém giết,
cướp bóc hay chủ nghĩa thực dân”.
Thế nhưng, trái ngược với những ngôn từ hoa
mỹ của ông Đới Bỉnh Quốc sử dụng là giọng
điệu kêu gọi chiến tranh của báo chí Trung
Quốc. Trong những năm gần đây, báo chí nước
này có những bài viết kêu gọi chính phủ
Trung Quốc nên phát động cuộc chiến tranh
chống Việt Nam và các nước trong khu vực,
như báo Luận Đàn, Trung Quân Võng, Trung Hoa
Võng (China.com), milchina.com và rất nhiều
báo mạng khác.
Đáng chú ý nhất là tờ Hoàn Cầu Thời Báo, đây
là nhật báo có uy tín tại Trung Quốc, với
lượng phát hành mỗi số gần 2 triệu bản và
phóng viên có mặt hơn 60 nước trên thế giới.
Báo này liên tục có các bài liên quan đến
Biển Đông với luận điệu hoàn toàn trái ngược
ngôn ngữ ngoại giao mà Trung Quốc thường hay
sử dụng.
Chẳng hạn như, đầu tháng
7 năm ngoái, tờ Hoàn Cầu Thời Báo có bài
viết với tựa đề: “92% dân mạng Trung Quốc
tán thành việc dùng vũ lực giải quyết vấn
đề Biển Đông”. Hơn 1 tháng sau, một bài
báo khác đăng trên tờ báo này kêu gọi phát
động cuộc chiến chống Việt Nam như: “Cuộc
chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến
Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam tan tác”.
Cuối tháng 10 năm ngoái, một bài báo khác
trên tờ Hoàn Cầu có tựa đề: “Trung tướng
Quân Giải phóng nói rất mạnh: ‘Đã chuẩn bị
đánh ở Biển Đông rồi’”.
Mặc dù các trang mạng này cũng nhắc đến
sự hiện diện của các nước khác trên Biển
Đông như Philippines, Malaysia, Brunei,
Indonesia và kêu gọi Trung quốc “phải
dùng ‘binh’ nếu dùng ‘lễ’ không mang hiệu
quả”. Thế nhưng, với Việt Nam họ kêu gọi
nên sử dụng vũ lực, vì theo báo chí Trung
Quốc, các học giả nước này cho rằng Việt Nam
là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là đối thủ
khó giải quyết nhất trong tranh chấp với
Trung Quốc ở Biển Đông.
Chính sách ngoại
giao “hòa bình” của Trung Quốc?
Trong khi đó, đài Phát thanh Quốc tế Trung
Quốc CRI đưa tin về chính sách ngoại giao
của nước này như sau: “Trước
sau như một, Trung Quốc
thi hành nguyên tắc độc lập tự chủ,
không ký kết liên minh với bất cứ nước
lớn hay tập đoàn quốc gia nào, không
tổ chức và tham dự tập đoàn quân sự,
không tham gia
chạy đua vũ trang,
không tiến hành khuếch trương quân sự.
Phản đối chủ nghĩa bá quyền, giữ gìn
hòa bình thế giới, chủ trương các nước
không phân biệt lớn
nhỏ, mạnh yếu, giầu nghèo đều là
thành viên bình đẳng trong cộng đồng
quốc tế. Giữa các nước giải quyết
các cuộc va chạm và tranh chấp thông
qua hiệp thương hòa bình, không nên dùng
vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực, không
kiếm cớ can thiệp công việc nội bộ
của nước khác.
Nguyện thiết lập và phát triển quan
hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các
nước trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm
phạm lẫn nhau, không can thiệp công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có
lợi, và cùng chung sống hòa bình.”
Và ông Đới Bỉnh Quốc cũng đã lặp lại chính
sách ngoại giao của Trung Quốc như đài CRI
đưa tin: “Hãy nhìn vào các chính sách cơ
bản của Trung Quốc. Không tìm kiếm quyền bá
chủ là chính sách quốc gia cơ bản của chúng
tôi và sự lựa chọn chiến lược. Trung Quốc
muốn tình hữu nghị, không phải quyền bá chủ.
Trung Quốc luôn luôn theo đuổi chính sách
láng giềng tốt và thân thiện.
Trung Quốc là đại diện cho sự bình đẳng giữa
tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay
yếu, giàu hay nghèo và tôn trọng các quyền
của người dân của họ, được lựa chọn con
đường phát triển của họ một cách độc lập.
Chúng tôi sẽ tuân theo sự hợp tác đôi bên
cùng có lợi và tiến bộ chung. Sự ổn định lâu
dài của Trung Quốc, phát triển và thịnh
vượng đã được chứng minh là cơ hội cho các
nước láng giềng, không phải là một thách
thức, không phải là một thảm họa”.
Thế nhưng, ngày 14 tháng
5, mạng milchina.com đăng
bài của
Thượng tướng Trì Hạo Điền, nguyên phó
Chủ tịch Quân ủy, kiêm Bộ trưởng Quốc phòng
Trung Quốc, với lời lẽ kêu gọi Trung Quốc
nên phát động một cuộc chiến trong khu vực.
Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy đã dịch bài
viết này, trong đó có đoạn ông Trì Hạo Điền
viết như sau:
“Để ngăn cản, làm chậm thời gian bùng nổ
cuộc chiến ở eo biển Đài Loan, trước
tiên phải đưa cuộc chiến ở eo biển Đài Loan
lên mức ‘quyết chiến chiến lược đối xứng’,
vừa là trình tự cá chết thì lưới cũng rách,
nếu chúng ta không thắng được trong cuộc
chiến ở eo biển Đài Loan thì hậu quả chiến
bại còn thê thảm hơn cuộc chiến tranh Giáp
Ngọ. Vì vậy không đánh thì thôi, đã đánh là
phải tiêu diệt toàn diện Nhật Bản, đánh cho
Mỹ tàn phế, điều này chỉ có chiến tranh hạt
nhân mới làm tròn nhiệm vụ.
Cầu thiện được ác, đó là kết cục cuối cùng
của chính sách hiện nay của chúng ta, cầu ác
được thiện, chỉ có năng lực tiêu diệt toàn
diện Nhật Bản, đánh cho Mỹ tàn phế thì mới
giành được hòa bình, nếu không vấn đề eo
biển Đài Loan kéo dài không quá 10 năm,
trong 10 năm tất có đại chiến”.
Hay các bài viết với những ngôn từ hiếu
chiến đã được đăng trên báo tiếng Trung có
tựa đề “Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam
để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa”
và “Trung Quốc phải dùng vũ lực để tấn
công bọn Việt Nam lòng lang dạ sói”, do
GS Vũ Cao Đàm dịch, mà chúng ta có thể tìm
thấy trên các tờ báo mạng, đủ để thấy sự mâu
thuẫn giữa ngôn ngữ ngoại giao và báo chí
của Trung Quốc như thế nào.
Liệu các nước trong khu vực có còn tin vào
những ngôn từ ngoại giao hoa mỹ, mâu thuẫn
với luận điệu báo chí và hành động thực tế
của Trung Quốc, hay đã đến lúc các nước nhàm
chán vì phải nghe những ngôn từ ngoại giao
này?