|
Nguyễn Kiến Giang
Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào
Việt Nam (1995)
Lữ Phương sưu tầm, hiệu đính, giới thiệu
Trả lời một cuộc
phỏng vấn của BBC,
Nguyễn Kiến Giang cho biết bài viết này của ông đã được trình bày
tại một cuộc hội thảo ở Việt Nam vào năm 1995 (trước Đại hội Đại hội
VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam một năm), điều này cho chúng ta biết
điều quan trọng sau đây: vào lúc bấy giờ, trong bản thân tầng lớp
giới lãnh đạo của chế độ cộng sản Việt Nam đã có những chao đảo
khiến những cấm kỵ về mặt ý thức hệ và hành chính mà chế độ từng đưa
ra để ràng buộc, o ép giới trí thức và nghiên cứu từ lâu, nay đã
không còn tác dụng trói buộc những dòng suy tưởng nằm ngay trong
vòng kiểm soát của nó nữa.
Ý thức hệ chính thống của chế độ, mệnh danh là “chủ nghĩa Mác-Lênin”
đã bị cuộc sống đẩy vào một cơn khủng hoảng chưa từng gặp, điều mà
những ai đã sống qua cái đời sống tư tưởng của Việt Nam những năm
1986 đến 1991 đều không thể nào quên, do những tác động ghê gớm của
perestroika cùng với sự sụp đổ sau đó của Đông Âu và Liên Xô: sau
những nỗ lực “vận dụng” lại chủ nghĩa Mác-Lênin để tạo lại sức sống
cho một mô hình chủ nghĩa xã hội bị xơ cứng, sai lầm, chính trong
hàng ngũ những người cộng sản mà tác giả gọi là “lành mạnh” đã xuất
hiện xu hướng muốn nhìn lại ngay sự tồn tại của bản thân cái học
thuyết chính thống mệnh danh là “Mác-Lênin” ấy.
Những phát biểu của Nguyễn Kiến Giang trong bài viết này đã đi theo
xu hướng “nhìn lại” một cách tổng hợp vai trò lịch sử của cái ý thức
hệ đó đối với xã hội Việt Nam suốt một thế kỷ đã qua. Hàng loạt
những vấn đề học thuật căn bản đã được đặt lại với những lý giải mới
(phi chính thống) dựa vào một số tài liệu mới của giới nghiên cứu
(như phương pháp tiếp cận, bối cảnh lịch sử, các hình thức du nhập…)
nhưng điều quan trọng nhất được tác giả trình bày tập trung ở đây
chính là cái học thuyết “Mác-Lênin” đặc biệt mang nội dung stalinít
và maoít được Đảng Cộng sản chọn lựa, căn cứ vào đó phấn đấu kiến
tạo nên một nước Việt Nam mới trong tương lai.
Phân biệt giai đoạn chống chủ nghĩa thực dân để giành độc lập với
giai đoạn xây dựng hoà bình là điều mấu chốt để tác giả nhìn xét các
sự việc đã qua. Phản bác những ý kiến chỉ nhìn thấy những sai lầm và
tai hại toàn diện, trước sau như một của ý thức hệ Mác-Lênin với đất
nước, tác giả đã phân tích những nhu cầu lịch sử đặc biệt của Việt
Nam từ những năm 20 của thế kỷ trước dưới sự thống trị của thực dân
để thuyết minh cho tính chính đáng của sự lựa chọn cộng sản (mà Hồ
Chí Minh là đại biểu) đối với việc giải quyết điều mà tác giả gọi là
“hệ vấn đề” của đất nước vào lúc bấy giờ, tức là một loạt những vấn
đề mà tác giả cho rằng dù có khác nhau về quan điểm, tất cả các
phong trào yêu nước đều có thể chia sẻ là độc lập dân tộc và canh
tân xã hội.
Ý thức hệ cộng sản theo mô thức stalinít được Đảng Cộng sản chọn lựa
để giải quyết “hệ vấn đề” nói trên, tuy mang trong bản thân những
“căn tính” nguy hiểm, nhưng do phải tập trung vào nhiệm vụ quan
trọng nhất trong thời kỳ giành độc lập là chống sự đô hộ của thực
dân nên chưa có điều kiện để bộc lộ, trái lại, theo tác giả, đã chứa
đựng nhiều điều tích cực trong động lực lẫn phương pháp tranh đấu.
Tác giả đã dành nhiều đoạn trình bày luận cứ này: tiếp thêm sức mạnh
cho chủ nghĩa yêu nước nội tại một lý tưởng mới về công bằng xã hội,
tìm chỗ dựa có thể tin cậy ở bên ngoài để hỗ trợ cuộc tranh đấu bên
trong, khai thác được lực lượng quần chúng đông đảo bên dưới làm chỗ
dựa, tập trung được sức mạnh vào bộ tham mưu chỉ huy để giành chiến
thắng v.v…
Bên cạnh những mặt tích cực ấy, tác giả cũng đã nói nhiều đến những
tiêu cực của ý thức hệ Mác-Lênin nói trên. Nhưng theo ông thì những
sai lầm ấy chỉ bộc lộ rõ rệt, ngày càng hiển nhiên, trong thời kỳ
hoà bình, đặc biệt vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước khi chế độ
rơi vào tình trạng khủng hoảng toàn diện. Những gì tạo ra những cái
gọi là “ưu thế” trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, mang vào
xây dựng, đã có tác dụng rất tệ hại: gò ép cuộc sống theo cái sơ đồ
tương lai không tưởng, sùng bái các từng lớp bên dưới, xem thường
trí thức bên trên, đồng hoá sự chọn lựa của Đảng với sự chọn lựa của
nhân dân, độc tôn chân lý và quyền lực, bắt con người thường xuyên
hy sinh cho tập thể, kinh tế không hiệu quả, mức sống người dân sa
sút, bất mãn, mất lòng tin v.v…
Qua những gì đã phân tích, tác giả đã đi đến kết luận hết sức quan
trọng sau đây:
“Cuộc sống đã chứng minh khá đầy đủ rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã
thuộc về quá khứ (một quá khứ thật oanh liệt, đầy những hào hùng
và những bi kịch), mà không thuộc về hiện tại, lại càng không
thuộc về tương lai. Ở một mức độ nào đó, “số phận” của nó cũng
giống như “số phận” của Nho giáo ngày xưa”.
Tác giả cho rằng cuộc sống hiện nay đang phát triển theo một chiều
hướng khác hoàn toàn với cái ý thức hệ Mác-Lênin ấy, cho nên ông đã
đề nghị Đảng Cộng sản nên ý thức rõ điều đó để lãnh đạo dân tộc đi
tìm con đường phát triển mới cho đất nước, trong đó điều đầu tiên
được ông khẩn thiết kêu gọi là “không nên biến chủ nghĩa
Mác-Lênin thành một vật phân chia xã hội về mặt tinh thần và tư
tưởng để loại bỏ nhau”.
Giới thiệu một số nét chủ yếu trong bài viết của Nguyễn Kiến Giang
trong tình hình hiện nay, tôi đề nghị độc giả chú ý một số điểm sau
đây:
-
Bài viết này của tác giả là một bài phát biểu trước một hội thảo
do chế độ đương quyền tổ chức và kiểm soát. Việc đánh giá các
mặt tích cực lẫn tiêu cực của tác giả với cái ý thức hệ chính
thống của chế độ đã giữ được sự ôn tồn, khách quan để thuyết
phục nhưng cũng không vì thế mà kém quyết liệt, triệt để. Với tư
cách là một nhà nghiên cứu, những vấn đề ông đặt ra là hoàn toàn
mang tính chất học thuật nghiêm chỉnh. Điều này cho chúng ta
biết cách đây đã rất lâu rồi, Nguyễn Kiến Giang là một trong
những người đã tạo ra xu hướng nghiên cứu đứng từ phía bên
trong, trực diện yêu cầu Đảng Cộng sản xem xét lại tính chính
đáng của học thuyết mệnh danh “Mác-Lênin” trước tình hình mới
của đất nước và thế giới.
-
Kết luận cuối cùng của tác giả về sự lỗi thời bất lực của ý thức
hệ chính thống của chế độ mà chúng ta đã biết, đối với riêng
ông, là một kết luận không dễ dàng: trả lời BBC, ông cho biết
kết luận ấy đã được tìm ra sau một quá trình nhiều bước khó
khăn, đau đớn, dằn vặt. Vì vậy có thể xem bài viết của ông là
một bản kiểm nghiệm trung thực, can đảm với bản thân nhưng lại
tỏ ra bao dung, thanh thản trước cái chế độ mà mình hiến dâng cả
đời cho nó và cũng vì nó mà gặp phải nhiều lao đao. Với những
người đã chọn lựa một thái độ trí thức như ông thì những kết án
mệnh danh là “phản bội” đến từ phía bên này hoặc những yêu cầu
đòi phải “sám hối” nhiều hơn đến từ phía bên kia, là hoàn toàn
vô nghĩa.
-
Trong khi kêu gọi Đảng Cộng sản chủ động từ bỏ chủ nghĩa
Mác-Lênin lỗi thời, tác giả không hề đặt quá nhiều ảo tưởng vào
đề nghị ấy. “Có sự từ bỏ ngày càng triệt để. Có sự từ bỏ ngập
ngừng. Có sự từ bỏ theo lối sách lược. Và cũng có cả sự không
chịu từ bỏ. Bằng con mắt bình tĩnh, không khó gì mà không nhận
ra tình trạng giằng co hiện nay xung quanh chủ nghĩa Mác-Lênin”
– nhận xét này tác giả đã đưa ra cách đây hơn 10 năm, đến nay
vẫn còn ý nghĩa. Chủ trương “đổi mới” mà Đảng Cộng sản Việt Nam
buộc phải nương theo cuộc sống để thực hiện, từ đó đến nay, vẫn
chưa thoát khỏi tình trạng lùng nhùng về ý thức hệ như tác giả
đã nói, cũng vì thế, bên cạnh những chuyển biến tích cực thì về
nhiều mặt (như chính trị, văn hoá) lại ngày càng đẩy đất nước
vào những khủng hoảng trầm trọng hơn. Việc “biến chủ nghĩa
Mác-Lênin thành một vật phân chia xã hội về mặt tinh thần và tư
tưởng để loại bỏ nhau” do những chiếc lưỡi gỗ của Đảng chủ
xướng vẫn không hề giảm bớt. Cuộc đấu tranh thanh toán “chủ
nghĩa Mác-Lênin” có nội dung stalinít và maoít mà tác giả trình
bày vì vậy vẫn chưa thể chấm dứt.
-
Chúng ta không quên rằng bài phát biểu này của tác giả đã đã
diễn ra cách đây hơn 10 năm rồi. Nếu ngày nay viết lại, chắc
chắn nó sẽ được tác giả bổ sung về mặt tư liệu lẫn nhận định để
làm cho lập luận được đầy đủ, chặt chẽ hơn. Đặc biệt không thể
triển hạn việc cần thiết phải nhìn lại hệ thống tư tưởng của
Marx, Engels, căn cứ vào đó làm rõ hơn những sai lầm trong nội
dung của cái học thuyết gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” mà ông đề
cập. Không làm sáng tỏ được điều này, chúng ta không thể nào
nhìn ra được cái ảo tưởng cội nguồn của cuộc cách mạng mácxít
trong cả một thời kỳ, vì đó sẽ không thể chấm dứt được những
toan tính tiếp tục “vận dụng” chủ nghĩa Marx để biện minh cho
những thể chế toàn trị, từ đó sinh ra những mưu toan ngược lại,
muốn triệt hạ nó bằng cách đồng hoá nó với những thể chế toàn
trị ấy. Về mặt lý luận, chúng ta đều biết rằng bản thân chủ
nghĩa Marx là một vấn đề triết học phức tạp, không thể “bảo vệ”
hoặc “phủ nhận” bằng những thủ đoạn chính trị nhất thời, thực
dụng và thô bạo.
Sài Gòn, 1-4-2005
Lữ Phương
♦ ♦ ♦
Vào đề
Hiện nay, trong các giới nghiên cứu ở nước ta, vấn đề “số phận” của
chủ nghĩa Mác-Lênin đang được đặt ra với những mức độ khác nhau,
trực tiếp hay gián tiếp. Đây không phải là do ý muốn chủ quan của
một ai và cũng không tùy thuộc vào thái độ chủ quan của một ai cả.
Bản thân cuộc sống đang đặt ra vấn đề này, dù muốn lảng tránh cũng
không được. Tất nhiên, đây là vấn đề rất khó bàn luận, vì đụng tới
một học thuyết được đảng cộng sản, với tư cách đảng cầm quyền, coi
là “hệ tư tưởng chính thống”. Nhưng bằng cách này hay cách khác,
người ta vẫn cứ phải đụng tới. Và ngay cả những người đang đề xướng
phải “kiên quyết bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin” cũng đang
đụng tới trước hết: bảo vệ cái gì, đối với ai, và tại sao phải phát
triển, phát triển như thế nào…
[1]
Ở đây hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, cần lắng nghe nhau, tôn
trọng lẫn nhau để có thể “đãi cát lấy vàng”. Mọi thiên kiến, mọi
thành kiến đều không dẫn tới những kết quả mong muốn. Với tinh thần
đó, xin trình bày một số suy nghĩ của tôi về vấn đề này:
-
Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin
vào Việt Nam.
-
Ai du nhập và du nhập như thế nào?
-
Du nhập những nội dung gì?
-
Những hệ quả của sự du nhập này đối với sự phát
triển của xã hội Việt Nam cho đến nay
-
Cuối cùng có thể rút ra nhận xét gì về vị trí của chủ nghĩa
Mác-Lênin trong sự phát triển của đất nước từ nay về sau.
Nhưng trước khi đi vào nội dung nói trên, xin có mấy lời về phương
pháp.
Khi nghiên cứu và bàn luận vấn đề này, dễ vấp phải một loạt khó khăn
không dễ vượt qua. Chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm ấy cần được hiểu
như thế nào đây? Nội hàm của nó là những gì? Cho đến nay vẫn chưa ai
minh định được, và như chúng ta biết từ chính kinh nghiệm bản thân,
chủ nghĩa Mác-Lênin có rất nhiều cách lý giải khác nhau. Trước đây
và cả hiện nay, những người tự xưng là mácxít, lêninít lại có những
cách lý giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau đến mức coi nhau là
thù địch (những tranh chấp về lý luận giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và
Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm 60 và 70 là một ví dụ quá
rõ). Đánh nhau, bỏ tù nhau là những hiện tượng không phải là cá biệt
trong cuộc sống “đấu tranh tư tưởng” nhân danh “bảo vệ sự trong sáng
của chủ nghĩa Mác-Lênin”.
Về mặt lịch sử, khái niệm “chủ nghĩa Mác-Lênin” chỉ mới xuất hiện
chính thức từ những năm 30, trước đó người ta dùng khái niệm “chủ
nghĩa Mác”, và hai khái niệm ấy không phải là đồng nhất. Từ “chủ
nghĩa Mác-Lênin” theo một bài viết trên Pravda, xuất
hiện lần đầu tiên vào 1925, theo một nguồn tài liệu khác, vào 1930.
Được chính thức sử dụng trong Tóm tắt lịch sử Đảng Cộng sản Liên
Xô năm 1938; nói chung là dưới thời Stalin. Stalin tự coi và
được coi là người có tiếng nói cuối cùng về những nội dung cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ triết học (chương “Duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử” trong Tóm tắt lịch sử ĐCS (b) Liên Xô
) đến chính trị kinh tế học (Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô, 1952) và chủ nghĩa xã hội khoa học (trong
nhiều bài phát biểu khác nhau). Bản thân Stalin cũng bỏ ra nhiều
thời gian để làm công việc lý giải chủ nghĩa Mác-Lênin. Và sau khi
Stalin chết, không biết bao nhiêu lần chủ nghĩa Mác-Lênin được trình
bày với những dạng thức khác nhau, tùy theo những tác giả có thẩm
quyền khác nhau và tùy theo những hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Ở Việt Nam, theo chỗ tôi biết, ngoài những sách dịch từ tiếng Nga,
tiếng Hoa ra, chưa có một tác giả nào trình bày chủ nghĩa Mác-Lênin
một cách đầy đủ và được thừa nhận như tiếng nói chính thống cả. Một
số bài giảng của người này hay người khác, và cả một vài cuốn giáo
khoa Mác-Lênin (chủ yếu là của Trường Nguyễn Ái Quốc) nữa cũng chưa
được coi là chính thống và thường được sửa đi sửa lại cho hợp với
hoàn cảnh từng lúc. Bây giờ, nghe nói có thành lập một hội đồng biên
soạn và xét duyệt những giáo trình “chuẩn” về chủ nghĩa Mác-Lênin,
nhưng công việc chỉ vừa bắt đầu. Tất cả những điều đó nói lên một
nghịch lý: một hệ tư tưởng được coi là chính thống, nhưng chưa có
một tài liệu chính thống nào giải thích nó. Vậy thì, nói chủ nghĩa
Mác-Lênin là nói tới những gì đây? Thế nhưng trên thực tế, người ta
vẫn có thể quy kết người này “chống chủ nghĩa Mác-Lênin, người kia
“phản bội” nó v.v.. Và trong “cuộc đấu tranh tư tưởng bảo vệ chủ
nghĩa Mác-Lênin” ấy, không phải không có những trường hợp cắt xén và
bóp méo Mác-Lênin (lời dự báo của Mác “Tôi không phải là mácxít” hóa
ra đã thành sự thực).
Dù sao cũng có một số điểm được số đông (nếu không phải là tất cả)
những người tự nhận là mácxít-lêninít coi là những điểm cơ bản của
chủ nghĩa Mác-Lênin để phân biệt với những trào lưu tư tưởng khác.
Chẳng hạn: luận điểm về đấu tranh giai cấp dẫn tới chuyên chính vô
sản, luận điểm về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản như “người đào
huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, luận điểm về xóa bỏ chế độ tư hữu như
nguồn gốc của tình trạng “người bóc lột người", luận điểm về hai
giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản… Trên bình diện thế giới, những
luận điểm về chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa
tư bản, về thời đại cách mạng vô sản, về liên minh giữa phong trào
cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc… Tạm thời, chúng
ta hãy lấy những luận điểm ấy làm những nội dung cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin để xem xét vấn đề của chúng ta.
Nhưng đó chỉ mới là những khó khăn về phương pháp khi đụng tới chủ
nghĩa Mác-Lênin nói chung trong trường hợp riêng của Việt Nam, chúng
ta lại gặp những khó khăn cũng thật nan giải. Chẳng hạn: Hồ Chí Minh
được thừa nhận là “người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam”, người đầu
tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam”, nhưng có
thật hoàn toàn như thế không? Trong cuốn Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên nói tới sự tiếp thụ của
Hồ Chí Minh với cả Jésus, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Gandhi, Tôn Trung
Sơn, mà không phải chỉ tiếp thụ chủ nghĩa Mác-Lênin
[2] .
Chỉ một điểm đó thôi, cũng đủ để chúng ta cần suy nghĩ thật kỹ về
“biến thể Việt Nam” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài Hồ Chí Minh,
chúng ta còn biết tới một số tài liệu khác của một số người được coi
là những nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà thường đó cũng
là những người lãnh đạo chủ yếu của Đảng (Trường Chinh, Lê Duẩn
v.v..). Trong những tài liệu đó, có những điểm thống nhất, nhưng
cũng có những điểm khác nhau (và khác nhau không nhỏ). Chưa nói tới
những bài phát biểu miệng có ảnh hưởng lớn (có khi lớn hơn những bài
viết và đăng công khai) của nhiều người. Cái khó là ở đó: dựa vào
những tài liệu nào để bàn tới những nội dung của chủ nghĩa Mác-Lênin
ở Việt Nam?
Nói lên một vài khó khăn về phương pháp như vậy hoàn toàn không có
nghĩa là chúng ta đành bó tay. Điều đó chỉ có nghĩa là cần phải xem
xét thận trọng hơn mà thôi. Ở đây, phải chăng nên phân biệt những
“phản ứng chính trị” trong những bối cảnh khác nhau với những “quan
điểm lý luận” hay có tính chất lý luận. Cái quan trọng nhất đối với
chúng ta chính là ở điểm sau mà không phải ở điểm trước, tuy rằng
những “phản ứng chính trị” từng lúc ấy cũng nói lên khá rõ những
“quan điểm lý luận”.
Xin nói thêm một điểm khác ở mục “vào đề” này: lựa chọn cách tiếp
cận vấn đề như thế nào? Thường người ta ít phân biệt rõ mặt chính
trị và mặt khoa học khi xem xét vấn đề chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt
Nam. Ở đây tôi xin tách hai mặt đó ra để xem xét. Ở đây, vấn đề
không phải là dựa vào sự đối nghịch nhau về mặt chính trị, mà là tìm
kiếm những sự thật khoa học có thể đạt tới. Những bất đồng về ý kiến
đều không thể tránh trong mọi nghiên cứu khoa học là tự nhiên và
cũng là cần thiết.
Gác mặt chính trị sang một bên, tôi xin nói tới những cách tiếp cận
khoa học đối với vấn đề này.
Trước hết là cách tiếp cận sử học. Đó là cách tiếp cận quen
thuộc hơn cả đối với chúng ta. Lý giải các hiện tượng và các quá
trình - ở đây là sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam – trong
những liên hệ với từng bối cảnh lịch sử là yêu cầu hàng đầu của các
tiếp cận sử học.
Một cách tiếp cận khác không thể thiếu được là cách tiếp cận xã
hội học. Gần đây, một tác giả người Việt ở Pháp, tiến sĩ Trịnh
Văn Thảo, công bố một tác phẩm đáng chú ý: Việt Nam từ Khổng giáo
đến chủ nghĩa cộng sản (Vietnam du confucianisme au communisme,
L’Harmattan, Paris, 1990, 346 trang). Trong đó ông đã phân tích
nhiều vấn đề có liên quan tới nội dung nghiên cứu của chúng ta bằng
phương pháp xã hội học, từ đó ông đưa ra những nhận xét khá lý thú
[3] . Chúng ta có thể
và cần phải áp dụng cả cách tiếp cận này để đi tới những kết luận
đầy đủ hơn. Yêu cầu hàng đầu của cách tiếp cận xã hội học là đặt các
tác nhân xã hội (agents sociaux) vào những liên hệ chặt chẽ với các
nhóm xã hội nhất định và với những biến đổi xã hội cụ thể, tìm ra
những lực đẩy xã hội đối với các hành vi của những tác nhân xã hội
ấy. Vấn đề này có liên quan với việc xem xét những người du nhập chủ
nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam cũng như những người là đối tượng của
sự du nhập ấy, như những tác nhân xã hội tương ứng. Ở đây lịch sử xã
hội và tư tưởng của các cá nhân tham gia quá trình du nhập ấy giữ
một vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu.
Một cách tiếp cận nữa không thể thiếu là cách tiếp cận tâm lý học
và tâm lý xã hội. Trong thế kỷ XX đầy những biến thiên dồn
dập và to lớn của nước ta, nhưng phản ứng tâm lý của cá nhân và cộng
đồng rất không đơn giản và không phải bao giờ cũng ăn khớp với các
quan hệ xã hội, “chụp ảnh nguyên xi” những biến đổi xã hội đã diễn
ra. Những yếu tố xã hội như thành phần xã hội – giai cấp, địa vị xã
hội v.v… trong rất nhiều trường hợp, lùi xuống vị trí thứ yếu so với
những phản ứng tâm lý. Anh em cùng một bố mẹ có khi đứng hai bên
chiến lũy. Sự phân hóa về tâm lý và tư tưởng nhiều khi “lệch pha”
với sự phân hóa xã hội. Ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng khác
nhau có ý nghĩa quyết định trong những bước ngoặt lịch sử đất nước.
Chưa nói tới những yếu tố thuần túy cá nhân, có khi là những yếu tố
ngẫu nhiên, cũng đóng vai trò quan trọng. Một ví dụ: vào cuối những
năm 20, đầu những năm 30, thành phần xã hội và trình độ học vấn của
những người theo Việt Nam Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản không khác
gì nhau bao nhiêu. Nói chung đội ngũ “cốt cán” của hai chính đảng
này thường bao gồm những người trí thức cỡ trung bình, có xu hướng
yêu nước. Nhưng điều đó không ngăn cản những cuộc “đấu tranh tư
tưởng" quyết liệt giữa những tổ chức cách mạng đối địch nhau ấy. Ở
đây, sự khác nhau nhiều khi chỉ là do người này bắt được ánh sáng
này, người kia bắt được ánh sáng khác và cứ thế lao hết mình theo
thứ ánh sáng mình bắt được ấy. Những sự vận động về mặt tâm lý xã
hội dưới sự tác động của những liên hệ xã hội, ảnh hưởng xã hội,
biểu tượng, niềm tin v.v… không diễn ra theo lối đơn tuyến mà diễn
ra theo lối đa tuyến. Lý giải mọi hiện tượng bằng lý luận giai cấp
và đấu tranh giai cấp chỉ là một mặt cần tính đến nhưng không phải
là “vạn năng”. Nhất là khi đi vào tiểu sử của những nhân vật có ảnh
hưởng lớn tới tiến trình vận động xã hội, thì lại càng thấy rõ điều
đó.
Với sự vận dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng bổ sung cho nhau
như vừa nói, chúng ta có thể đi tới một bức tranh gần đúng với các
quá trình xã hội hiện thực, ở đây là quá trình du nhập chủ nghĩa
Mác-Lênin mà chúng ta đang nghiên cứu.
I. Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào
nước ta
Từ trước đến nay, thường giới hạn bối cảnh này vào những năm 20. Lý
do: khi Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và bắt
đầu tiến hành việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam thông
qua báo chí và các tổ chức cách mạng được ông thành lập sau đó. Đúng
là từ những năm đó, những sự lựa chọn khắc nghiệt được đặt ra trước
những người yêu nước và cách mạng Việt Nam ở hải ngoại cũng như ở
trong nước. Đi theo trào lưu cách mạng nào: vô sản hay không vô sản,
tiến hành đấu tranh cách mạng dưới hình thức nào: bạo lực hay phi
bạo lực; chỗ dựa xã hội chủ yếu là ở đâu: các tầng lớp “bên trên”
hay các tầng lớp “bên dưới”… một loạt câu hỏi đặt ra rất bức bách
đối với tình hình xã hội Việt Nam, theo những thôi thúc mạnh mẽ của
những tiến trình cách mạng thế giới hồi đó (nhất là cách mạng Nga và
cách mạng Trung Quốc).
Xin lưu ý một điểm: Có thể nói, trong cả thế kỷ này, những vận động
của xã hội Việt Nam nói chung và của các trào lưu cách mạng Việt Nam
nói riêng đã chịu sự tác động rất lớn của những tiến trình chung
diễn ra trên thế giới. Những phong trào cách mạng xung quanh nước
ta, đặc biệt của cách mạng Trung Quốc. Tất nhiên sự tác động này
thường bị “khúc xạ” qua những tính đặc thù của Việt Nam. Nhưng nhìn
chung, những nhịp bước của Cách mạng Việt Nam gần như ăn khớp với
những nhịp bước của cách mạng thế giới. Riêng về tác động của cách
mạng Trung Quốc, có thể nói trong mấy chục năm đầu thế kỷ này, Việt
Nam gần như theo sát từng bước đi của nó: từ phong trào Duy Tân, qua
phong trào cách mạng kiểu Tôn Trung Sơn (Quang phục Hội và Quốc dân
Đảng), đến phong trào thanh niên, rồi đến phong trào cộng sản. Về
sau này, tuy không ăn khớp đến mức đó, nhưng rõ ràng Trung Quốc vẫn
tác động rất lớn đến Việt Nam, từ đầu tranh vũ trang đến cải tạo xã
hội chủ nghĩa và đến cả “cải cách”, “đổi mới”, hiện nay. Điều đó
không có gì khó hiểu: giữa hai nước có nhiều nét giống nhau về xã
hội, lịch sử và truyền thống văn hóa-tư tưởng, mà Trung Quốc thường
là “người thầy” của Việt Nam về nhiều mặt, không những vì Trung Quốc
lớn hơn mà chủ yếu trình độ phát triển xã hội và văn hóa của Trung
Quốc thường đi trước ta một bước. Âu cũng là cái “nghiệp” của lịch
sử với đủ những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực của nó.
Thật ra, muốn nhìn nhận đúng hơn quá trình du nhập chủ nghĩa
Mác-Lênin vào nước ta, cần ngược lên lịch sử đất nước một chút nữa,
từ cuối thế kỷ XIX và nhất là từ những năm đầu của thế kỷ XX. Tôi
không có một phát hiện gì mới khi nói rằng: hệ vấn đề đặt ra
trước sự phát triển của đất nước đầu thế kỷ và cuối thế kỷ hầu như
giống nhau. Những mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, xã hội “văn
minh” đâu phải là chuyện mới mẻ! (Đúng là ngày nay chúng ta có thêm
từ “công bằng”, nhưng hệ vấn đề về cơ bản vẫn là thế). Bài
toán hiểm hóc nhất của tất cả các nước lạc hậu (và do lạc hậu mà rơi
vào ách thống trị của các cường quốc phương Tây) là bài toán vượt
tới trình độ văn minh của các nước tiên tiến hồi đó, để vừa thoát
khỏi ách nô dịch của nước ngoài, vừa khắc phục tình trạng lạc hậu
của đất nước. Và xét đến cùng, giành được độc lập chỉ là tiền đề
bắt buộc để đạt tới một xã hội văn minh và chỉ khi đạt tới đó
thì độc lập dân tộc mới thật sự có ý nghĩa. Hơn lúc nào hết, hiện
nay vấn đề này lại được đặt ra trong tính toàn bộ, tính tổng thể của
nó. Và không có gì lạ khi ở cuối thế kỷ này, khi chúng ta đã giành
được độc lập trọn vẹn, chúng ta cũng lại đứng trước hệ vấn đề “dân
giàu nước mạnh, xã hội văn minh” được đặt ra vào đầu thế kỷ này.
Tất nhiên, những nội dung và điều kiện của nó đã hoàn toàn khác
trước. Ngày nay chúng ta đã có tiền đề độc lập dân tộc và đang nói
tới “văn minh” trong bối cảnh một nền văn minh khác, nhưng hệ vấn đề
“dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” là sự phục hồi và
sự tiếp tục của hệ vấn đề đã đặt ra đầu thế kỷ, từ thời Duy Tân. Một
sự trùng lập đáng ngạc nhiên: Ngày nay từ “đổi mới” được dùng như
tên gọi một sự nghiệp lịch sử của toàn thể dân tộc nhằm “hiện đại
hóa” đất nước cũng là từ “Duy Tân” ở đầu thế kỷ, chỉ khác nhau ở một
từ là thuần Việt còn từ kia là Hán Việt. Sự xâm lược và thống trị
của chủ nghĩa thực dân là một hoàn cảnh đặc biệt để các nhà nho Duy
Tân đầu thế kỷ suy nghĩ về vận mệnh đất nước theo hướng giải phóng
dân tộc và hiện đại hóa đất nước. Xét theo một ý nghĩa nào đó, chính
chủ nghĩa thực dân đóng vai trò “kích thích” (theo lối phản diện) để
giới sĩ phu Duy Tân đặt ra những vấn đề vừa cấp bách vừa căn bản của
đất nước trong cả thế kỷ XX (một lần nữa, không thể không nhắc tới
tác động của những tư tưởng Duy Tân ở Trung Quốc đối với sĩ phu nước
ta, qua các Tân thư được đọc khá rộng rãi vào đầu thế kỷ). Không nên
đánh giá thấp sự tiếp nhận của giới sĩ phu Duy Tân đối với các trào
lưu tư tưởng phương Tây hồi đó. Họ đã đọc khá nhiều tác giả lớn
(nhất là J-J .Rouseau, Montesquieu, Spencer…) qua chữ Hán và đọc khá
sâu. Ngày nay, nhiều người trí thức thậm chí không hề làm quen với
những tác giả này, trong khi các sĩ phu thời trước rất “thuộc” họ.
Một ngộ nhận lớn của chúng ta là tưởng rằng những tác giả ấy đã “lỗi
thời”, chỉ cần đọc những tác giả Mác-Lênin là đủ để nắm được những
trí thức cao nhất của loài người. Và thế là ngoài sách Mác-Lênin ra,
người ta chẳng cần biết tới những tư tưởng “thấp kém” và “sai lầm”
khác.
Đọc một tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục như Văn minh tân học
sách chưa xác định được ai là tác giả), tôi kính phục vô vàn tầm
suy nghĩ của các sĩ phu Duy Tân. Các cụ phân tích rất hay tình trạng
lạc hậu của ta về kinh tế, về “tính tình” (tâm lý xã hội), về phong
tục… Nêu lên cũng rất hay bốn nguyên nhân suy đồi của Á Đông: Nội hạ
ngoại di (coi mình là hơn người), trọng vương khinh bá (trọng đạo
lý, khinh kỹ thuật và phương pháp), xưa đúng nay sai (người xưa luôn
luôn đúng) và cuối cùng, trọng quan khinh dân. Và vạch rõ “sáu đường
mở mang dân trí”: dùng chữ Quốc ngữ, đổi lại sách dạy học, cải cách
chế độ trường học, khuyến khích nhân tài mới, phục hưng công nghiệp
và thương mại, phát triển báo chí. Và để thực hiện những điều đó,
các cụ kêu gọi “kết nghĩa đồng bào”, nêu cao truyền thống yêu nước
của “dòng dõi Lạc Long”, của “con nhà Nam Việt”… Dù khác nhau về
phương pháp, độc lập dân tộc vẫn là mục tiêu của tất cả các xu hướng
(tự lập hay trông chờ ngoại viện, quân chủ hay cộng hòa, bạo lực hay
không bạo lực, theo cách phân chia của Trịnh Văn Thảo).
Rõ ràng phong trào Duy Tân với hai nội dung cơ bản (yêu nước và canh
tân xã hội để có độc lập dân tộc và xã hội văn minh) là di sản do
các vị tiền bối ở đầu thế kỷ XX để lại cho những kẻ hậu sinh trong
thế kỷ này, cho chúng ta hôm nay.
Có người đánh giá phong trào Duy Tân đầu thế kỷ như là “hệ tư tưởng
tư sản”, nghĩa là như một thứ gì có thể vứt bỏ, không mảy may thương
xót để theo “hệ tư tưởng vô sản” cao hơn, đúng hơn. Bằng con mắt hôm
nay để nhìn lại, tôi thấy không phải như thế. Bởi vì, như trên đã
nói, hệ vấn đề đặt ra thời ấy và hệ vấn đề đặt ra hôm nay đối với
vận mệnh của đất nước về cơ bản giống nhau. Và khi đặt ra hệ vấn đề
mới ấy, các sĩ phu Duy Tân đầu thế kỷ đã phải dứt bỏ một cách đau
đớn với hệ tư tưởng cũ là Nho giáo, mà các cụ coi là những nguyên
nhân đưa tới sự lạc hậu của đất nước. Ở đây, ngoài tầm trí tuệ “nhìn
xa thấy rộng” ra, phải thấy đó là một sự dũng cảm lớn của các cụ.
Các cụ là những nhân cách lớn, dám đoạn tuyệt với những lề thói suy
nghĩ và hành động lỗi thời. Sự dũng cảm lớn nhất của mỗi con người
chính là ở chỗ dám đoạn tuyệt với những nhận thức, những đạo lý lỗi
thời mà bản thân mình từng coi là “khuôn vàng thước ngọc” không thể
thay đổi được. “Hủ nho” là đối tượng phê phán của các cụ, và sự phê
phán ấy bao hàm cả tự phê phán. Tinh thần của các cụ được thể hiện
bằng một câu trong Văn minh Tân học sách: “Dây đàn cầm không
hài hòa thì tháo ra mà sửa lại, nhà ở đã cũ hàng ngàn năm thì phải
dở đi mà làm lại”. Phải chăng đó là cái tinh thần hiện nay chúng ta
đang cần có?
Phong trào Duy Tân bị thực dân Pháp khủng bố nặng nề. Hầu hết các sĩ
phu Duy Tân đều bị bỏ tù không thương xót (có lẽ đó là lớp tù chính
trị đầu tiên bị đày ra Côn Đảo mà Huỳnh Thúc Kháng mô tả trong
Thi tù tùng thoại). Một số người còn bị thực dân Pháp chém đầu.
Thất bại của họ là thật dễ hiểu, nhưng họ đã làm được một sứ mệnh
rất lớn trong đời sống tư tưởng với hệ vấn đề mà bây giờ chúng ta có
thể gọi là vấn đề “hiện đại hóa” do họ đặt ra. Có ý thức hay không
có ý thức, tất cả các trào lưu yêu nước và cách mạng sau này đều
tiếp nhận những tư tưởng lớn ấy của họ. Không phải trong những tư
tưởng của họ không có những chỗ yếu, những hạn chế. Điều đó đã được
nói tới nhiều, nhưng cái lớn lao của họ dường như đã không được đánh
giá đúng, có khi bị phủ định quá dễ dàng (chẳng hạn chỉ cần ghép
những tư tưởng Duy Tân vào “hệ tư tưởng tư sản” là đủ để xóa bỏ đi
một cách nhẹ nhàng).
Tôi xin nói thật rằng: nếu ngày nay, giới trí thức chúng ta (lớp “kẻ
sĩ” hiện đại) có được tầm trí tuệ và khí phách ngang với những sĩ
phu Duy Tân, thì đã là điều đáng mừng lắm rồi. Trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của nước ta, vào những năm đầu thế kỷ chưa thật
chín muồi để cho những tư tưởng Duy Tân trở thành xu hướng chủ đạo
của toàn xã hội. Thêm vào đó, những biến đổi xã hội và lịch sử sau
đó lại đặt ra những vấn đề mới mà lớp trí thức “tân học” phải đương
đầu.
Có hai điểm cần nhấn mạnh:
Thứ nhất, sự thống trị thực dân, trong khi đè nặng lên
thân phận của mọi người Việt Nam, đã bước sang thời kỳ “khai thác
thuộc địa” tương đối ổn định hơn (đặc biệt là sau khi đàn áp xong
những cuộc khởi nghĩa vũ trang của Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn… và sau
chiến tranh thế giới thứ nhất). Chính trong thời kỳ này, dưới tác
động của những chính sách “khai thác thuộc địa” ấy, xã hội Việt Nam
có những thay đổi quan trọng. Lâu nay, chúng ta quen nhìn chủ nghĩa
thực dân ở một phía (bóc lột, đàn áp…) còn phía thúc đẩy sự phát
triển kinh tế-xã hội thì chưa được đánh giá đúng. Ở đây, xin nhắc
lại cách nhìn của Mác khi ông phân tích về sự thống trị của thực dân
Anh ở Ấn Độ. Theo ông: “nước Anh có hai sứ mệnh phải thực hiện ở Ấn
Độ: Một sứ mệnh có tính chất phá hoại, Một sứ mệnh phục hưng: thủ
tiêu xã hội (châu Á cổ xưa và đặt những nền móng vật chất của xã hội
phương Tây ở Châu Á…”. Nói cách khác, bên cạnh tính chất man rợ,
hung hăn và lòng tham vô độ của chủ nghĩa thực dân đối với dân bản
xứ, Mác cũng nói tới tác dụng khách quan (ngoài ý muốn của chủ nghĩa
thực dân) trong việc đưa các nước thuộc địa vào những quá trình thay
đổi mạnh mẽ về lực lượng sản xuất và về quan hệ sản xuất theo hướng
Âu hóa. Điều Mác nói về thực dân Anh ở Ấn Độ về cơ bản cũng thích
hợp với thực dân Pháp ở Việt Nam.
Trong mấy chục năm đầu thế kỷ, rõ ràng xã hội Việt Nam đã trải qua
những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, quan hệ hàng hóa-tiền tệ và cơ
cấu hạ tầng (đường bộ, đường sắt, các đô thị mới…) phát triển đến
một trình độ cao hơn nhiều so với trước đó. Về cơ cấu xã hội, đã
hình thành ra những tầng lớp xã hội mới (nếu chưa nói hẳn là những
giai cấp mới): tư sản, vô sản (viên chức, những người làm các nghề
độc lập…). Về văn hóa, chữ quốc ngữ được dùng một cách chính thức
trong các trường học (bên cạnh tiếng Pháp), các báo tiếng Việt được
xuất bản, những thể loại văn học và nghệ thuật mới hình thành, hệ
thống trường học từ tiểu học đến trung học và đại học (tuy có những
hạn chế lớn) được mở rộng… Tất cả những điều đó đã làm cho bộ mặt xã
hội Việt Nam khác hẳn xa với “xã hội truyền thông”. Dù tình trạng
lạc hậu vẫn được duy trì trên nhiều vùng của đất nước – nhất là ở
các vùng nông thôn rộng lớn – thì trên cơ thể xã hội Việt Nam đã ló
dạng một số yếu tố đáng kể của “xã hội hiện đại”. Nếu như tầng lớp
tư sản chỉ mới manh nha, nhưng chưa đủ sức trở thành một lực lượng
xã hội lớn mạnh (như trong trường hợp Ấn Độ chẳng hạn), và nếu như
tầng lớp vô sản cũng còn ít ỏi (chủ yếu là các phu đồn điền, phu mỏ,
còn vô sản công nghiệp chưa được bao nhiêu), thì tầng lớp trí thức
có thể nói là đã hình thành khá rõ và bắt đầu chiếm những vị trí xã
hội quan trọng. Người ta gọi đó là tầng lớp trí thức “Tân học”, phần
lớn từ các trường học - công và tư – thuộc hệ thống giảng dạy theo
chương trình giáo dục của thực dân Pháp mà ra. Mục tiêu của hệ thống
giáo dục này là truyền bá sự “khai hóa” của người Pháp ở thuộc địa
và đào tạo những nhân viên chức mẫn cán cho bộ máy cai trị thuộc
địa, nhưng về khách quan, hệ thống này đã đem lại một số “tri thức”
cần thiết cho một tầng lớp người ngày càng đông đảo và do đó, tạo ra
một giới trí thức mới. Trong giới trí thức này, có đủ các “bậc” (đại
học, trung học và tiểu học). Xin nhắc lại rằng khái niệm trí thức
cũng rất tương đối. Ở vùng quê tôi, đỗ tiểu học, có bằng primaire,
đã được người ta gọi bằng “thầy” rồi, có bằng diplôme thì oai hơn,
có bằng baccalauréat càng oai hơn nữa, và có bằng cử nhân thì đã là
“của hiếm”. Giới trí thức này làm nhiều nghề khác nhau: viên chức,
giáo viên, làm báo, viết sách… và về đại thể chia làm hai bộ phận:
viên chức Nhà nước và người làm nghề tự do. Mức sống của giới trí
thức cũng rất khác nhau. Và tất nhiên, do những vị trí xã hội khác
nhau, trong giới trí thức cũng có nhiều xu hướng tư tưởng khác nhau.
Nhưng nói chung, trừ một số trường hợp nào đó, lòng yêu nước và lòng
mong muốn canh tân xã hội vẫn tồn tại (sâu sắc hay bàng bạc) trong
giới trí thức Việt Nam. Chính cái “mẫu số chung” ấy cắt nghĩa tại
sao tuyệt đại đa số giới trí thức nước ta đã hưởng ứng mạnh mẽ và
tích cực cuộc cách mạng tháng tám sau này. Nhìn lại các cuộc vận
động yêu nước trong hơn 20 năm (từ đầu những năm 20 đến giữa những
năm 40) ta thấy rõ giới trí thức Việt Nam nói chung (kể cả học sinh
và sinh viên như “dự trữ” của nó) đã đóng vai trò chủ đạo (có người
nói tới vai trò “động lực” của tầng lớp tiểu tư sản trong các phong
trào yêu nước và cách mạng, xin nêu ra đây để chúng ta cùng suy
nghĩ). Có thể nói không chút quá đáng rằng lực lượng chính trị yêu
nước và cách mạng nào thu hút được đại đa số giới trí thức Việt Nam,
lực lượng đó giành được ưu thế rõ rệt.
Thứ hai, những biến đổi trên trường quốc tế cũng tác
động hết sức mạnh mẽ tới những biến đổi tư tưởng và xã hội ở Việt
Nam. Cho đến đầu những năm 20, trên thực tế chưa có sự phân hóa tư
tưởng theo “giai cấp”, hay nói đúng hơn, theo “hệ tư tưởng giai
cấp”. Sự phân hóa chủ yếu hồi đó là ở phương thức giành độc lập dân
tộc và thay đổi xã hội: như thường nói, giữa bạo lực và phi bạo lực,
hay giữa “cách mạng” và “cải lương". Với những biến đổi của tình
hình thế giới trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, những
người yêu nước và tiến bộ ở Việt Nam đứng trước một sự lựa chọn mới.
Cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga (1917) làm phân chia thế giới thành
hai phía với những giá trị giai cấp (tư sản và vô sản) được đặt
thành nền tảng. Các cuộc đấu tranh xã hội - và của dân tộc nữa - từ
nay xoay quanh cái trục “giai cấp” này. Yêu nước ư? Đúng, nhưng chưa
đủ: Yêu nước theo lập trường giai cấp nào (về chính trị, vấn đề giai
cấp nào lãnh đạo phong trào yêu nước được đặt ra). Tiến bộ xã hội ư?
Đúng, nhưng chưa đủ: tiến bộ xã hội mang lại lợi ích trước hết cho
giai cấp nào (thậm chí từ những “tiến bộ xã hội” mất đi, nhường chỗ
cho những từ ngữ “cách mạng xã hội”). Những khái niệm “giai cấp”,
“đấu tranh giai cấp” (giữa tư sản và vô sản) vốn được đẻ ra trong
các xã hộp phương Tây (nhất là từ giữa thế kỷ XIX trở đi), thì ngày
nay cũng được du nhập vào các nước lạc hậu ở phương Đông như những
khái niệm cơ bản. Hệ vấn đề của đất nước và xã hội bỗng nhiên thay
đổi đến mức hệ vấn đề đặt ra đầu thế kỷ bị đẩy lùi xuống bên dưới.
Những từ ngữ như “dân giàu nước mạnh”, “văn minh”… rơi vào quá khứ
để không bao giờ được nhắc lại trong sáu, bảy chục năm sau đó, mãi
đến đầu những năm 90 mới trở lại.
Thật ra, Cách mạng tháng mười Nga lúc đầu không ảnh hưởng trực
tiếp tới những biến đổi tư tưởng và xã hội ở nước ta. Trừ một
vài tờ báo có nói tới những sự kiện xảy ra ở nước Nga hồi đó (như tờ
Nam Phong chẳng hạn), nói chung dân Việt Nam ít biết tới nó.
Dần dần, thông qua những biến đổi tư tưởng và chính trị ở Trung Quốc
và ở Pháp, những tư tưởng của Cách mạng Nga mới bắt đầu “gây men”
trong một bộ phận yêu nước và cách mạng trẻ tuổi, có học và có xu
hướng cấp tiến. Trong những năm 20, ảnh hưởng của Ngũ tứ vận động,
của phong trào vô sản và cộng sản, nhất là của sự hợp tác Quốc-Cộng
trong thời kỳ Bắc phạt do Tôn Trung Sơn lãnh đạo chống lại bọn quân
phiệt thân đế quốc ở phía bắc Trung Quốc, và cuối cùng là ảnh hưởng
của sự chia rẽ Quốc-Cộng, kết thúc bằng chính biến phản cách mạng
của Tưởng Giới Thạch và thất bại của Quảng Châu Công xã. Tất cả
những biến động này tác động trực tiếp không những tới những người
yêu nước và cách mạng Việt Nam lúc đó còn lưu trú ở Trung Quốc, mà
còn gây ra những phản ứng trái ngược nhau trong giới trí thức trong
nước.
Đồng thời, với những ảnh hưởng của tình hình Trung Quốc, những sự
phân hóa chính trị mới – đặc biệt là sự phân hóa của Đảng Xã hội
Pháp thành hai đảng: Đảng Xã hội theo Quốc tế II và Đảng Cộng sản
theo Quốc tế III – cũng tác động trực tiếp tới những người Việt Nam
yêu nước và tiến bộ đang ở Pháp, cũng như tới bộ phận trí thức cấp
tiến trong nước.
Từ giữa những năm 20, với việc Nguyễn Ái Quốc đến Moskva và mở đầu
sự cộng tác chặt chẽ với Quốc tế III, ảnh hưởng của Liên bang Xô
Viết trở nên ngày càng trực tiếp hơn và mạnh mẽ hơn. Nguyễn Ái Quốc
là sự kết tinh của ba nguồn ảnh hưởng ấy, và điều đó đã gây những
dấu ấn không phai nhạt tới cái mà một số nhà nghiên cứu nước ngoài
gọi là “chủ nghĩa cộng sản Việt Nam”, nhưng đó là điều chúng ta xem
xét ở phần sau.
Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng: sự phân chia các trào lưu tư
tưởng và chính trị theo quan điểm giai cấp (tư sản và vô sản) trên
thế giới là nhân tố quan trọng nhất gây ra sự phân hóa trong giới
trí thức Việt Nam (ở trong nước cũng như ngoài nước trong những năm
20). Và đây là một sự phân hóa vô cùng phức tạp. Không nói tới những
người chủ trương dựa vào chính quyền thực dân để tiến thân về địa vị
xã hội và chính trị, ngay cả trong những người yêu nước, chống thực
dân và mưu cầu tiến bộ xã hội (theo những quan điểm khác nhau), sự
phân hóa cũng diễn ra thật quyết liệt. Một số người tuy vẫn giữ tinh
thần yêu nước, với những thái độ khi “cương" khi “nhu” khác nhau,
nhưng dứt khoát chống lại chủ nghĩa cộng sản (như Huỳnh Thúc Kháng).
Một số thanh niên yêu nước cấp tiến ngả sang sự lựa chọn con đường
cách mạng vô sản ở những mức độ khác nhau, đồng thời, vẫn truyền bá
những tư tưởng của cách mạng Pháp 1789 (tiêu biểu là Nguyễn An
Ninh). Một số khác lựa chọn con đường trung gian không chống cộng
cũng không theo cộng sản, đặt cách mạng quốc gia lên trên “cách mạng
thế giới” (tức cách mạng giai cấp) và phỏng theo Quốc dân Đảng Trung
Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng). Số còn lại từng bước hướng vào chủ
nghĩa cộng sản (tiêu biểu là Hồ Tùng Mậu, lúc đầu tham gia Tâm Tâm
xã, sau đó tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, rồi
trở thành một trong những đảng viên đảng cộng sản đầu tiên). Có
người lựa chọn Việt Nam Quốc dân Đảng, sau đó chuyển sang Đảng Cộng
sản (như Trần Hữu Độ, Trần Huy Liệu). Một điểm cần nhấn mạnh: tất cả
những người lựa chọn chủ nghĩa cộng sản đều nung nấu tinh thần yêu
nước mạnh mẽ. Việc lựa chọn chủ nghĩa này trong phần lớn các trường
hợp là do nhìn thấy nó đem lại những sức mạnh mới (trong nước và
trên thế giới) có thể giúp giải phóng dân tộc một cách có hiệu quả
hơn. Nói cách mạng vô sản nhưng chủ nghĩa yêu nước vẫn là một nền
tảng tư tưởng của tất cả những người cộng sản.
Như vậy, vào những năm 20, chủ nghĩa cộng sản (mà lúc đầu là chủ
nghĩa Lênin và sau đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tuy rằng giữa hai khái
niệm đó có khác nhau như đã nói đoạn đầu) được gieo trên một mảnh
đất khá thuận lợi của những phong trào yêu nước và cách mạng trong
nước. Không phải tất cả những người yêu nước và cách mạng đều theo
chủ nghĩa cộng sản, nhưng rõ ràng nó đã chiếm được trí tuệ và trái
tim của một bộ phận đáng kể trong số đó để dần dần trở thành một lực
lượng chính trị chủ đạo. Về sau này, bối cảnh lịch sử và xã hội có
những thay đổi khác nữa làm cho sự du nhập và truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin có những điều chỉnh và phát triển mới (đặc biệt trong
những năm chiến tranh thế giới thứ hai), nhưng về cơ bản, dấu ấn của
bối cảnh những năm 20 vẫn rất đậm nét trong lịch sử “chủ nghĩa cộng
sản Việt Nam”.
II. Ai du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam?
Thoạt nhìn, vấn đề này có vẻ đơn giản, và người thường trả lời thật
đơn giản: người đầu tiên du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là
Nguyễn Ái Quốc. Tất nhiên câu trả lời ấy là có căn cứ, nhưng chưa
đủ, vì trên thực tế không đơn giản như vậy. Đúng là Nguyễn Ái Quốc
là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam (không có ai trở thành đảng
viên Đảng Cộng sản từ 1920 như Nguyễn Ái Quốc cả, nếu tính tuổi đảng
thì Nguyễn Ái Quốc hơn tuổi đảng của lớp cộng sản đầu tiên khoảng
trên dưới 10 năm), và cũng đúng là Nguyễn Ái Quốc là người viết về
chủ nghĩa cộng sản sớm nhất trên sách báo cách mạng Việt Nam (lúc
đầu là trên Le Paria, trong cuốn Le procès de la
colonisation francaise, sau đó là trên tờ Thanh niên và
trong cuốn Đường Cách Mệnh). Nhưng không phải chỉ có Nguyễn
Ái Quốc làm công việc giới thiệu chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam
trong những năm 20. Xin nêu lên vài tên tuổi đã đóng góp vào công
việc này: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Đào
Duy Anh… Chúng ta biết Phan văn Trường là người từng cộng tác với
Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh để khởi thảo ra Bản yêu sách Tám
điều do Nguyễn Ái Quốc mang tới Hội nghị Versailles năm 1919.
Sau này (1926), ông cùng với Nguyễn Thế Truyền lập ra tờ Việt Nam
hồn và giới thiệu chủ nghĩa cộng sản trên tờ báo này. Trên La
Cloche Fêlée (1923), từ cuối năm 1925, Nguyễn An Ninh đã cho
đăng khá đều đặn những bài của một số lãnh tụ Quốc tế cộng sản hồi
đó (Zinoviev, Bukharin, Karl Radek, Gabriel Péri) và đầu năm 1926
cho đăng Tuyên ngôn đảng cộng sản trong tám kỳ báo liền. Đào
Duy Anh với Quan Hải tùng thư (nửa sau những năm 20) đã phổ biến một
cách khôn khéo chủ nghĩa Mác. Còn có thể dẫn ra những tên tuổi khác.
Đối với những người đã được biết và chưa được biết này, chúng ta còn
quá ít chú trọng giới thiệu, đó là một bất công lịch sử không nên để
kéo dài.
Cũng xin nói rằng những con đường du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin một
cách công khai (và có khi hợp pháp), như vậy, tuy có ảnh
hưởng đến một phần trí thức nhất định (những người này vừa có trình
độ học vấn khá, vừa có “nguồn” tài liệu thuận lợi), nhưng những con
đường không hợp pháp, bí mật, vẫn giữ vai trò chính. Những người
cách mạng “xuất dương" (chủ yếu là sang Trung Quốc và Pháp) đón nhận
chủ nghĩa cộng sản bằng nhiều cách, kể cả dự các lớp huấn luyện rồi
đưa vào trong nước. Ở trong nước, các tổ chức cách mạng có xu hướng
cộng sản cũng thông qua những “đầu vào” và “đầu ra” của mình để làm
công việc này. Đặc biệt, trong những thời kỳ khủng bố mạnh mẽ của
thực dân Pháp, như đầu những năm 30 và trong những năm chiến tranh
thế giới thứ hai, các nhà tù trở thành “trường học chủ nghĩa cộng
sản” rất có hiệu quả. Nhiều người cộng sản khi bị tù mới làm quen
với lý luận Mác-Lênin một cách kỹ lưỡng hơn. Họ kiếm được những sách
báo cộng sản qua con đường bí mật, rồi người hiểu trước giảng lại
cho người chưa hiểu. Qua phương tiện truyền miệng ấy, nhiều người
“nhập tâm” những gì nghe được và hiểu được để biến thành “vốn liếng
lý luận” của mình. (Tôi nhớ sau Cách mạng tháng Tám, khi được dự một
lớp huấn luyện chính trị do Xứ ủy Trung bộ mở (tháng 11/1945), những
anh em tham gia cách mạng còn “non choẹt” lớp chúng tôi đã say sưa
nghe anh Trần Tống giảng về chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong tay chẳng có
tài liệu gì, cứ trình bày bằng trí nhớ những gì thu nhận được trong
tù gần như thuộc lòng. Về sau đối chiếu lại, thấy những bài giảng
này rất khớp với cuốn Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin
do Stalin viết năm 1924).
Sau Cách mạng tháng Tám, sự du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin còn qua
những con đường khác nữa, “chính quy” hơn: các trường Đảng được mở,
một số đảng viên được đi học lý luận ở các trường đảng Trung Quốc và
Liên Xô. Nhiều sách báo được dịch ra từ tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng
Hán và được xuất bản với những số lượng lớn, và cả một số nhà lý
luận của Liên Xô, Trung Quốc được mời vào giảng dạy chủ nghĩa
Mác-Lênin ở các trường, lớp trong nước (chủ yếu là trường Nguyễn Ái
Quốc). Hàng năm, hàng nghìn đảng viên được đào tạo về lý luận qua
những con đường “chính thống” này. Nhưng ở đây, xin tập trung nói về
sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin từ đầu những năm 20 cho tới Cách mạng
tháng Tám là chính.
Qua bức tranh hết sức sơ lược nói trên, có thể phân tích số người
tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong những thời kỳ đầu
như sau:
Nói chung, đó là những người thuộc “tân học” với những trình độ khác
nhau, đại đa số là những người có trình độ tiểu học và trung học.
Trong giới “cựu học”, rất hiếm người theo chủ nghĩa cộng sản (kể cả
những sĩ phu thời Duy Tân còn lại). Điều đó thật dễ hiểu: chủ nghĩa
cộng sản vốn là sản phẩm của văn hóa phương Tây, sử dụng những khái
niệm phương Tây, nên những người “tân học” dễ tiếp nhận hơn.
Trừ một số rất ít người tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa cộng sản
bằng cách công khai, tuyệt đại đa số làm công việc này bằng những
con đường bí mật, bất hợp pháp.
Do những nguồn thu nhập bị hạn chế rất lớn, nên số người hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin một cách có hệ thống, “tận gốc” chỉ là một thiểu số
nhỏ. Đại đa số chỉ tiếp nhận nó bằng cách gián tiếp, rất giản lược.
Nhưng trong những điều kiện ngặt nghèo thời thuộc địa, chừng đó cũng
đủ để cho những người cộng sản có được một “hành trang lý luận” tối
thiểu để có thể hoạt động được cũng như để có thể “chọi” với những
xu hướng tư tưởng khác. Ở đây có một điểm cần nói rõ: không phải đa
số những người trí thức “tân học” theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tuy lòng
yêu nước và ý thức cải cách xã hội (cái thường gọi là “Âu hóa”) của
họ vẫn còn khá sâu đậm. Họ từ bỏ di sản nho giáo để chuyển sang tiếp
nhận văn hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa Pháp, nhưng không sẵn
sàng tiếp nhận chủ nghĩa cộng sản. Dưới mắt họ, chủ nghĩa cộng sản
vừa “quá khích” (chủ trương đấu tranh giai cấp theo lập trường giai
cấp vô sản), vừa “nguy hiểm” (những người cộng sản chủ trương lật đổ
ách thực dân bằng con đường bạo lực). Họ muốn thể hiện lòng yêu nước
và sự mong muốn cải cách xã hội một cách ôn hòa hơn, “an toàn” hơn.
Lưỡi máy chém và nhà tù thực dân Pháp, cũng như vị trí xã hội của
họ, đưa họ tới một sự lựa chọn khác: chủ yếu bằng con đường hoạt
động văn hóa và hợp pháp. Chỉ đến thời kỳ cách mạng tháng Tám, một
bộ phận trong số họ mới ngả theo con đường cách mạng, đi theo Việt
Minh. Và sau đó, trong những điều kiện lịch sử thật đặc biệt, khi
yêu cầu giải phóng dân tộc trở nên bức thiết và cũng là khi có những
hoàn cảnh thuận lợi hơn (như Hồ Chí Minh nói trong Tuyên ngôn độc
lập: “Pháp chạy Nhật hàng”), thì đại đa số giới trí thức ủng hộ
cách mạng (lúc này, chính những người cộng sản cũng đặt vấn đề giải
phóng lên hàng đầu). Ngày nay nhìn lại, có thể đánh giá một cách
bình tĩnh hơn những gì mà giới trí thức “ôn hòa” đã làm cho văn hóa
Việt Nam trong những thời kỳ những năm 20-30 là rất quan trọng,
nhưng đây là một chủ đề khác.
Một câu hỏi thường được đặt ra trong giới nghiên cứu gần đây: sự du
nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam phải chăng là một “tất yếu
lịch sử”. Theo tôi có thể nói như vậy, nhưng không nên hiểu “tất yếu
lịch sử” như một cái gì có tính định mệnh, mà nên hiểu đó như là kết
quả của những quá trình lịch sử nhất định trong một bối cảnh lịch sử
nhất định. Không riêng gì ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa
Mác-Lênin trong thời kỳ này cũng được du nhập ở nhiều nước khác
Trung quốc, Ấn Độ, Indonesia… (chỉ nói tới những nước xung quanh
ta). Như đã nói, hệ vấn đề “giải phóng dân tộc” và “hiện đại hóa” xã
hội đã thay đổi căn bản vào thời kỳ này, đã biến thành hệ vấn đề
“cách mạng xã hội” theo hướng đấu tranh giai cấp. Và ở đây, chính bộ
phận cấp tiến trong những người yêu nước và cách mạng ở nước ta cũng
đã tỏ ra “thức thời” để khỏi bị “lạc hậu” so với sự phát triển của
các cuộc đấu tranh cách mạng trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, sự đàn
áp và khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp không để cho người yêu nước
cấp tiến có một khả năng hoạt động nào khác ngoài con đường làm cách
mạng đến cùng
[4] ; chủ nghĩa
Mác-Lênin với tính chất cách mạng triệt để của nó (chưa nói tới
chuyện đúng sai) rõ ràng đã đáp ứng đầy đủ nhất với con đường cách
mạng này (riêng đầu đề Đường cách mệnh do Nguyễn Ái Quốc đặt
ra cho cuốn sách huấn luyện của mình đã nói rất rõ điều đó).
Sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam dù có được coi là một
“tất yếu lịch sử” đi nữa, cũng không thể coi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam như là thắng lợi “tất yếu” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thắng
lợi ấy, nói đúng hơn, là kết quả một sự điều chỉnh chủ nghĩa
Mác-Lênin đến mức G. Boudarel, một nhà nghiên cứu Pháp rất quen
thuộc Việt Nam, coi như một sự “tà đạo”. Nhưng đó cũng là chuyện sẽ
bàn tới sau.
Cuối cùng, qua bức tranh còn rất sơ lược về những người du nhập chủ
nghĩa Mác-Lênin trước đây, có thể nổi lên một điểm hết sức quan
trọng nữa: đó là tính không thuần nhất về xã hội và tư tưởng của họ.
Mỗi người mang vào đó những dấu ấn riêng của mình, tùy ảnh hưởng
mình tiếp nhận và tùy “tư thế” xã hội và tư tưởng của mình. Hơn nữa,
tùy theo nguồn gốc của sự du nhập (Liên Xô, Pháp, hay Trung Quốc từ
bên ngoài, và các “lò” huấn luyện bên trong khác nhau – tức các nhà
tù khác nhau (Côn đảo Sơn La, Ban Mê Thuột, Lao Bảo…) sự tiếp nhận
chủ nghĩa Mác-Lênin cũng mang những nội dung khác nhau. Giữa những
người cộng sản, ngay từ buổi đầu cho tới cả hôm nay, cách hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin không phải khi nào cũng giống nhau. Đã có những cuộc
đấu tranh khá gay gắt giữa những người cộng sản về cách hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin trong từng giai đoạn cách mạng. Những cuộc đấu tranh
này được giải quyết nhờ ở hai yếu tố: Thứ nhất, tổ chức và kỷ
luật chặt chẽ của Đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung cao độ do
hoàn cảnh hoạt động vô cùng khó khăn trước cách mạng và cũng do
chính nguyên lý xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thứ hai,
đây là yếu tố quan trọng nhất, uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong những
người cộng sản Việt Nam, một uy tín gần như tuyệt đối đối với đại đa
số đảng viên. Cách hiểu uyển chuyển và riêng biệt của Nguyễn Ái Quốc
– Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như về tiến trình cách
mạng Việt Nam có sức thuyết phục lớn trong những người cộng sản Việt
Nam, nhất là vào những bước ngoặt hết sức phức tạp của cách mạng
Việt Nam.
III. Du nhập những gì?
Quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam không đơn giản
như có người tưởng. Bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin trải qua những cách
lý giải khác nhau, với những điểm nhấn mạnh từng lúc khác nhau. Nó
không phải là một hệ thống lý luận thuần túy, mà gắn chặt với những
chủ trương chính trị từng lúc, và mỗi lần đường lối chính trị thay
đổi là một lần có sự lý giải khác đi về mặt lý luận. Điều đó nhiều
khi đặt người cộng sản vào những hoàn cảnh thật khó xử. Những nội
dung của nó cũng được bổ sung dần dần, từ chỗ sơ lược đến chỗ ít sơ
lược hơn, từ những dự báo ban đầu đến những kết luận. Trong một thời
gian dài, từ những năm 30, tức là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra
đời, trung tâm lý giải và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin là Moskva.
Tuy không hình thành một “giáo hội”, nhưng trên thực tế chúng ta
cũng thấy một cái gì tương tự. Stalin, với những tác phẩm và những
bài phát biểu của ông, đóng vai trò “giáo chủ”. Mọi ý kiến của
Stalin được coi như những “chân lý cuối cùng”, những chuẩn mực để
phân biệt đúng sai trong phong trào cộng sản quốc tế. Không những
các vấn đề chung của thế giới, mà cả nhiều vấn đề trong từng nước có
đảng cộng sản hoạt động, những ý kiến của Stalin thường được viện
dẫn ra làm căn cứ, làm phương pháp. Tôi nhớ đầu năm 1950, khi học
trường Nguyễn Ái Quốc, có một vài đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng
đến giảng và đưa ra một vài nhận xét về những sai lầm về đường lối
của Trung ương Đảng lúc đó (như về chủ trương “chuyển sang tổng phản
công”, về vấn đề ruộng đất…). Mặc dầu Tổng Bí thư hồi đó (Trường
Chinh) đã giải thích lại và bác bỏ những ý kiến phê phán này, nhưng
chưa đủ sức thuyết phục. Một buổi tối tháng Năm, Cụ Hồ đến. Cụ rất
nghiêm như ít khi thấy. Cụ nói thẳng vào những ý kiến phê phán Trung
ương của một số cán bộ và nói: “Bác vừa đi Liên Xô về. Bác đã gặp
đồng chí Stalin, đã trình bày đường lối của đảng ta với đồng chí
Stalin. Nghe xong, đồng chí Stalin nhận xét: đường lối của Đảng các
đồng chí là đúng. Mà đồng chí Stalin đã nói đúng là đúng, vì đồng
chí Maurice Thorez nói, đồng chí Stalin là người không bao giờ sai
cả”. Cả lớp im lặng và cảm thấy được thuyết phục hoàn toàn. Ví dụ
nhỏ vừa nói cho thấy uy quyền của Stalin về mặt tư tưởng và lý luận
đến mức nào. Không chỉ ở nước ta, ở một số nước khác cũng vậy. Chẳng
hạn năm 1948, G. Dimitrov, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bulgari (trước
đó là Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản), đã đưa ra luận điểm về con
đường dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội khác với con đường xô
viết, đó không phải là con đường chuyên chính vô sản. Stalin bác bỏ
ngay luận điểm này và khẳng định: xô viết và dân chủ nhân dân chỉ là
hai hình thức khác nhau của cùng một con đường chuyên chính vô sản,
thực chất của dân chủ nhân dân cũng là chuyên chính vô sản. Dimitrov
phải rút bỏ ý kiến của mình ngay. Có thể kể ra rất nhiều những ví dụ
như vậy.
Chúng ta không chỉ tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin từ Liên Xô, từ
Stalin, mà còn từ Trung Quốc, từ Mao Trạch Đông nữa. Trong nhận thức
của những người cộng sản Việt Nam trước đây, Mao Trạch Đông là một
nhà mácxít-lêninnít vĩ đại, có công áp dụng và phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin ở Trung Quốc và ở các nước Châu Á. Sự du nhập chủ nghĩa
Mao từ những năm 40 đến những năm 60 đã để lại những dấu ấn sâu đậm
trong đời sống lý luận và tư tưởng của những người cộng sản Việt Nam
[5]
. Thậm chí có thể nói tới một sự sao chép gần như nguyên xi một số
luận điểm của Mao: ba phương châm “dân tộc, khoa học, đại chúng”
trong lĩnh vực văn hóa “dân chủ mới” rồi “chuyên chính dân chủ nhân
dân” trong lĩnh vực chính trị “ba giai đoạn" trong lĩnh vực quân sự,
“chỉnh phong, chỉnh đảng” trong lĩnh vực xây dựng đảng, rồi “cải tạo
xã hội chủ nghĩa”, “hợp tác hóa nông nghiệp”, rồi đấu tranh “chống
chủ nghĩa xét lại hiện đại” trong lĩnh vực tư tưởng v.v… và v.v… Nói
cách khác, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông cũng được coi là “chính
thống” của chủ nghĩa Mác-Lênin ở nước ta. Nhiều người cộng sản Việt
Nam, khi tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, thật ra rất ít đọc thẳng từ
Marx, Engels và Lenin, mà chủ yếu là “nhập môn” bằng những tác phẩm
của Stalin và Mao Trạch Đông. Tiếc thay, vấn đề này chưa bao giờ
được làm rõ đến mức cần thiết cả. Nói như vậy, để thấy rằng cái gọi
là “chủ nghĩa Mác-Lênin” được du nhập vào Việt Nam về cơ bản là “chủ
nghĩa Stalin” và “chủ nghĩa Mao”. Những người trực tiếp đọc Marx,
Engels và Lenin thật ra chỉ là một số rất ít trong thời kỳ trước
cách mạng, và về sau này tuy số người đó có tăng lên (chủ yếu trong
số cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận) nhưng vẫn còn ít ỏi.
Trong thời gian gần đây những sai lầm của chủ nghĩa Stalin và chủ
nghĩa Mao được nhiều người nhận rõ qua những hậu quả hết sức tai hại
đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, vì
thế, được điều chỉnh lại cho phù hợp với hoàn cảnh mới, nhưng công
cuộc điều chỉnh này thật ra cũng chưa thật mạnh mẽ và triệt để, di
sản của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao vẫn còn được giữ nguyên
trên nhiều vấn đề căn bản. Vả chăng, vấn đề không phải là “điều
chỉnh” vấn đề được đặt ra ở một chiều sâu hơn nhiều: đó chính là vấn
đề “tồn tại” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Và bây giờ, rõ ràng chúng ta
đứng trước một bức tranh hỗn loạn. Những người muốn bảo vệ chủ nghĩa
Mác-Lênin trên thực tế vẫn bị chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao cầm
tù. Trong khi đó, một số ngày càng nhiều người thấy rõ tính chất lỗi
thời của chủ nghĩa Mác-Lênin và lên tiếng phê phán và bác bỏ nó.
Tình hình ấy phải chăng báo hiệu giai đoạn kết thúc quá trình du
nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta? Xin để cho thời gian phán xét.
Sự du nhập một học thuyết không bao giờ là quá trình một chiều từ
ngoài vào, mà bao giờ cũng là quá trình hai chiều, vì có sự tiếp
nhận từ bên trong. Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải ngoại lệ. Ở trường
hợp Việt Nam, có thể nói chiều thứ hai, chiều tiếp nhận chủ động từ
bên trong, là rất mạnh (chiều bên trong này bao gồm cả ở những người
cách mạng Việt Nam ở ngoài nước, vì nói chung họ gắn bó rất mật
thiết với những phong trào cách mạng trong nước). Nhưng chính chiều
thứ hai này, trong khi góp phần du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin từ ngoài
vào như một nhân tố ngoại sinh (exogène), đã làm cho nó thích ứng
với những nhu cầu bên trong, lai ghép với “cơ địa” Việt Nam để rồi,
trong trường hợp thành công nhất, trở thành một nhân tố “nội sinh”
(endogène). Và khi đó, chủ nghĩa Mác-Lênin không còn giữ nguyên dạng
của nó nữa, mà có những biến hóa nào đó. (Tình hình này về cơ bản
giống như Khổng giáo du nhập Việt Nam ngày xưa, một đằng thì trải ra
hàng trăm năm, một đằng chỉ trong vòng vài chục năm). Như đã nói, ở
Việt Nam, hệ vấn đề đặt ra đầu thế kỷ là độc lập dân tộc và canh tân
xã hội. Hai yêu cầu này vẫn còn nguyên khi chủ nghĩa Mác-Lênin du
nhập vào nước ta.
Bộ phận cấp tiến trong những người yêu nước và cách mạng từ những
năm 20 tuy tiếp nhận hệ vấn đề mới của thời đại, lấy “trục giai cấp”
làm chính, nhưng thứ nhất, không ai bỏ quên hai yêu cầu nói trên và
thứ hai, đây là cái chủ yếu, coi hệ vấn đề mới là sự “tiếp sức” có
hiệu quả hơn để giải quyết hệ vấn đề vốn có. Nói cụ thể hơn, những
người tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung đều xuất phát từ lòng
yêu nước và khát vọng canh tân xã hội (hiện đại hóa) và lấy nó làm
“vũ khí” của mình. Hồ Chí Minh nhiều lần nói tới chủ nghĩa yêu nước
đưa mình tới chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nói tơi xu hướng chung
nhất của lớp người tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin đầu tiên, tuy trong
những hoàn cảnh có khác nhau. Và không chỉ lớp cộng sản đầu tiên, cả
những lớp cộng sản sau này (cho đến năm 1975) và đại thể cũng như
vậy, mặc dầu động cơ trở thành cộng sản có thể mang thêm một số yếu
tố khác (tiến thân, quyền lực v.v…).
Đọc lại những tài liệu lịch sử của phong trào cộng sản lúc đầu, có
thể nhận thấy rất rõ một trong những “chất nền” (substance) của
phong trào cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước và khát vọng tiến
bộ xã hội của những bộ phận quần chúng rộng lớn. Không phải chỉ
riêng những người cộng sản mới có “chất nền” này, nhiều người, nhiều
bộ phận khác (kể cả những người chống lại chủ nghĩa cộng sản) cũng
có. Chỉ có khác là những người cộng sản là bộ phận cấp tiến hơn, họ
muốn tìm thấy những vũ khí mạnh hơn, phù hợp với xu hướng cách mạng
bạo lực của họ trong bối cảnh lịch sử mới của thế giới và đất nước.
Thứ vũ khí họ tìm thấy đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Yêu nước và khát
vọng tiến bộ xã hội cộng với xu hướng cấp tiến, bạo lực phải chăng
đó là “mẫu số chung” của các lớp người đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin ở
nước ta?
Ở đây, có một vấn đề đã và đang được thảo luận trong nước và cả ở
ngoài nước là: đối với những người cộng sản Việt Nam, giữa hai nhân
tố “dân tộc” và “giai cấp”, nhân tố nào chiếm vị trí chủ đạo? Cụ thể
hơn, đối với Hồ Chí Minh, có người đặt câu hỏi: đối với ông chủ
nghĩa cộng sản là phương tiện để giành giải phóng dân tộc, hay giải
phóng dân tộc là phương tiện để thực hiện chủ nghĩa cộng sản? Theo
dõi cuộc tranh luận này, có thể thấy rõ hai ý kiến ngược hẳn nhau.
Một bên đặt “giải phóng dân tộc” lên hàng đầu, còn bên kia thì đặt
“giai cấp”, “chủ nghĩa cộng sản” lên hàng đầu. Và bên nào cũng đưa
ra những luận cứ riêng của mình, Huỳnh Kim Khánh, tác giả cuốn
Vietnamese Communism 1925-1945 (Cornell University Press 1982),
lấy vấn đề này làm cốt lõi cho công trình nghiên cứu của mình, trình
bày những ý kiến của mình dựa vào rất nhiều tài liệu lịch sử phong
phú và đáng tin cậy. Nhưng cuối cuốn sách, tác giả vẫn chưa đi tới
kết luận rõ ràng. Câu hỏi vẫn được treo ở trang cuối là: “Trong sự
kết hợp hệ tư tưởng cộng sản với chủ nghĩa yêu nước trong sự phát
triển của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin phải
chăng là cỗ xe chuyên chở chủ nghĩa yêu nước Việt Nam? Hay chủ nghĩa
yêu nước đã được lợi dụng để bành trướng hệ tư tưởng cộng sản? (tr.
341). Tiếc thay, ông mất đột ngột vì trụy tim ở Mỹ và không tiếp tục
được công trình hết sức thú vị của mình.
Đây không chỉ là một vấn đề học thuật, mà còn là một vấn đề luôn
luôn nảy sinh và được giải quyết đi giải quyết lại trong lịch sử chủ
nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Và theo tôi hiểu, vấn đề này cũng đang
được đặt ra ngay cả trong quá trình “đổi mới” hiện nay.
Tôi xin có một số ý kiến về vấn đề này. Trước hết, cần nhìn lại thực
tế vốn có, mà không phải theo suy diễn. Và để được thuận tiện, xin
lấy trường hợp của Hồ Chí Minh, người cộng sản đầu tiên và cũng là
người có uy tín nhất trong phong trào cộng sản Việt Nam, để phân
tích. Theo tôi, ở Hồ Chí Minh, không có vấn đề cái gì là chính, là
chủ đạo giữa hai nhân tố “dân tộc” và “giai cấp”. Ở ông, hai nhân tố
quyện lại thành một, không thể phân chia. Đọc lại toàn bộ tác phẩm
của ông, theo dõi toàn bộ hoạt động của ông (mà về đại thể đã có thể
nắm bắt được, trừ một vài “lỗ hổng” nào đó cần tiếp tục tìm kiếm),
không ai có thể nghi ngờ lòng yêu nước của ông, cũng như không ai có
thể nghi ngờ tín niệm cộng sản (conviction communiste) của ông. Ông
là nhà yêu nước lớn, là một trong những lãnh tụ nổi tiếng của phong
trào giải phóng dân tộc - điều đó đã được nhìn nhận khá đầy đủ. Chỉ
riêng một việc ông bị những đồng chí của mình phê phán là theo chủ
nghĩa quốc gia (tức chủ nghĩa dân tộc) vào đầu những năm 30, cũng đủ
để chứng minh điều này. Trong cuốn sách của Huỳnh Kim Khánh, ta đọc
thấy mấy trang nói rất rõ về chuyện này (trước đó, trong một cuốn
sách viết về Cách mạng Việt Nam, Daniel Hémery cũng có viết về
chuyện này, và lần đầu tiên tôi biết được việc Ban lãnh đạo Hải
ngoại của ĐCSĐD phê phán Nguyễn Ái Quốc chính là từ cuốn sách của
tác giả người Pháp ấy). Huỳnh Kim Khánh, dựa vào nhiều tài liệu có
thật, cho ta biết sau 1931 Nguyễn Ái Quốc bị phê phán là mắc “tàn
tích tiểu tư sản”, cuốn Đường cách mệnh bị coi là một “tài
liệu nồng nặc mùi quốc gia chủ nghĩa” và việc ông chủ trương dùng
bạo lực tối thiểu chống lại các thế lực phản cách (trung lập hóa địa
chủ và tư sản) bị tố cáo là “cơ hội chủ nghĩa”, kìm hãm sự phát
triển nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương. Hồng Thế
Công, bí danh của một người lãnh đạo Đảng hồi đó (mà người ta cho
rằng đó là Hà Huy Tập) kịch liệt công kích Nguyễn Ái Quốc trên
Tạp chí Bônsơvích (số 8/12-1934)
[6]
:
“Công lao của Nguyễn Ái Quốc đối với chúng ta thật to lớn, nhưng các
đồng chí chúng ta không được quên những tàn tích quốc gia chủ nghĩa
của Nguyễn Ái Quốc và những chỉ thị sai lầm của đồng chí ấy về những
vấn đề căn bản của phong trào cách mạng tư sản dân quyền và những lý
luận cơ hội của đồng chí ấy bám rễ vào đầu óc của phần đông đồng chí
chúng ta, giống như những tàn tích tư sản vẫn sống dai dẳng trong
đầu óc những hội viên Thanh Niên, Tân Việt và Vừng Hồng.
Nguyễn Ái Quốc không hiểu được những chỉ thị của Quốc tế cộng sản;
không hợp nhất được ba tổ chức cộng sản từ trên xuống dưới… Tài liệu
Sách lược vắn tắt của Đảng và Điều lệ của Đảng hợp
nhất không theo đúng chỉ thị của Quốc tế cộng sản. Ngoài ra Nguyễn
Ái Quốc còn chủ trương một sách lược cải lương và hợp tác: “trung
lập tư sản và phú nông”, “liên minh với địa chủ nhỏ và vừa”, v.v… Vì
những sai lầm đó, nên từ tháng Giêng đến tháng Mười năm 1930, ĐCSĐD
đã đi theo một chiến lược có nhiều điểm trái với những chỉ thị của
Quốc tế cộng sản, tuy trong thực tế đã lãnh đạo quần chúng kiên
quyết đấu tranh cách mạng”. (Huỳnh Kim Khánh, sách đã dẫn, tr. 185).
Nhiều bằng chứng sau đó cho thấy Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương
đặt giải phóng dân tộc lên cao nhất, đặc biệt là trong thời kỳ Việt
Minh 1941-1945, trong cách mạng Tháng Tám và kháng chiến, thậm chí
vì lợi ích dân tộc đã chủ trương công khai giải tán Đảng Cộng sản
Đông Dương (tháng 11/1945), dù rằng trên thực tế Đảng vẫn hoạt động.
Đối với tuyệt đại đa số những người cộng sản cho đến năm 1975, vấn
đề dân tộc vẫn được đặt lên cao nhất.
Thế thì Hồ Chí Minh và những người cộng sản khác có thật sự là những
người cộng sản kiên định và trung thành không? Theo tôi, đúng là như
vậy. Trừ một số người vào đảng với tính toán cơ hội chủ nghĩa (nhất
là từ khi đảng cộng sản cầm quyền), coi đó là “bằng đỏ” để tiến
thân, nói chung, đó là những người chân thành tin theo chủ nghĩa
cộng sản dù rằng trình độ lý thuyết của số đông còn thấp (và cũng
không thể khác thế được).
Trong tập sách Hồ Chí Minh – Sa vie et son oeuvre (Paris,
1990), một số ngòi bút người Việt và người Pháp đưa ra nhiều bằng
chứng để chứng minh rằng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trước sau vẫn
trung thành với cộng sản, vẫn là người triệt để tuân theo đường lối
của Quốc tế cộng sản, của Stalin. Nhiều tài liệu họ đưa ra, theo tôi
là có thật. Về mặt này, họ không sai. Nhưng dụng ý của họ là từ chỗ
đó để bác bỏ tinh thần dân tộc, sự nghiệp giải phóng dân tộc của Hồ
Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam. Vì bây giờ chế độ cộng
sản sụp đổ ở một loạt nước, chủ nghĩa cộng sản bị coi là “tội lỗi”,
nên họ muốn đặt Hồ Chí Minh và những người cộng sản khác vào ghế bị
cáo của lịch sử. Đới với họ, nếu đã là yêu nước thì không thể là
cộng sản, và nếu là cộng sản thì không thể là người yêu nước. Sự
thật lịch sử chứng minh hoàn toàn khác. Người ta có thể vừa là yêu
nước vừa là cộng sản. Cũng như người ta có thể là yêu nước mà không
phải là cộng sản. Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin mang hai nội dung
chủ yếu đối những người cộng sản: Thứ nhất, nó là phương tiện
và điều kiện có hiệu quả nhất, thuận lợi nhất để giành giải phóng
dân tộc; Thứ hai, nó đề xướng những lý tưởng xã hội cao đẹp
nhất, những lý thuyết đưa tới giải phóng xã hội và con người khỏi
mọi áp bức bóc lột. Vì thế, người cộng sản vừa chân thành mưu
cầu giải phóng dân tộc, lại vừa chân thành tin theo lý tưởng
và lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản. Về sau này, hai mặt đó dần dần
tách khỏi nhau qua sự thể nghiệm lý thuyết cộng sản ở Việt Nam (mà
dưới đây sẽ trở lại với điều này). Còn trong một thời gian dài, hai
mặt ấy không tách khỏi nhau trong tâm thức của những người cộng sản.
Di chúc của Hồ Chí Minh là bằng chứng nổi bật nhất, ở đó con
người yêu nước-cộng sản là nguyên khối.
Hãy gác lại một bên ý kiến của một số người cho rằng không cần tới
chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nước thuộc địa và nửa thuộc địa vẫn giải
phóng mình khỏi ách thực dân. Cách đặt vấn đề như vậy không giúp gì
thêm cho nhận thức về lịch sử Việt Nam mấy. Các quá trình lịch sử
bao giờ cũng rất hiện thực, rất cụ thể. Những suy luận trừu tượng,
theo lối “giả định”, có thể có ích trong lĩnh vực nhận thức nào đó
(các khoa học kỹ thuật có tính chính xác cao, chẳng hạn), nhưng
trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn thì
phương pháp đó ít có hiệu quả. Vấn đề đặt ra là: chủ nghĩa Mác-Lênin
giúp được những gì (hay không giúp được gì) cho những người cộng sản
trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam (tôi nhấn mạnh:
ở Việt Nam)? Xin trả lời: giúp được nhiều, rất nhiều với điều kiện
(và trên thực tế đã có điều kiện ấy), những người cộng sản đặt đúng
vấn đề về dân tộc, nói cụ thể hơn, đặt “dân tộc” lên trên “giai
cấp”. Sở dĩ phải nói đến điều kiện không thể thiếu này, vì không
phải không có một số người cộng sản nào đó đặt ngược lại và do đó,
đã dẫn tới những hậu quả tai hại cho giải phóng dân tộc đã đành mà
còn cả cho chính bản thân đảng cộng sản (như trong thời kỳ Xô viết
Nghệ An 1930-1931).
Chủ nghĩa Mác-Lênin giúp được những gì?
Trong bối cảnh thế giới và trong nước từ giữa những năm 20 đến giữa
những năm 70, chủ nghĩa Mác-Lênin giúp tìm kiếm những sức mạnh
mới để đấu tranh giải phóng dân tộc. Như đã biết, những người
yêu nước và cách mạng trước đó cũng đã làm công việc này nhưng không
thành công. Ở bên trong, những người cộng sản hướng tới các tầng lớp
“bên dưới" hơn là các tầng lớp “bên trên”, tức là hướng tới những
khối quần chúng nhân dân đông nhất, vừa giàu lòng yêu nước lại vừa
có khát vọng công bằng xã hội mạnh mẽ nhất (đó cũng là hai nét tâm
thức truyền thống của người Việt). Với những người cộng sản, các
tầng lớp “bên dưới" được huy động ngày càng rộng lớn vào đấu tranh
giải phóng dân tộc, mà tiêu biểu nhất trong các cuộc biểu tình khởi
nghĩa hồi tháng Tám 1945 và sau đó trong các cuộc kháng chiến chống
ngọai xâm. Những tầng lớp này, trước kia thường bị coi như những lực
lượng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước một cách thụ
động, thì bây giờ họ được coi là lực lượng chính, với ý thức
chủ động ngày càng lớn. Tính nhân dân của các cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước hết là ở chỗ đó. Đi đôi với điều
căn bản này, những người cộng sản Việt Nam, bằng những thái độ uyển
chuyển và khôn khéo của mình, còn liên kết được với những bộ phận
nhất định trong các tầng lớp “bên trên” tham gia đấu tranh giải
phóng dân tộc. Và trong những giờ phút có tính bước ngoặt lịch sử,
đặc biệt trong cách mạng Tháng Tám 1945 và một thời gian sau đó,
đúng là những người cộng sản đã lập được một Mặt trận thống nhất dân
tộc ở một trình độ rộng lớn chưa từng thấy. Tính toàn dân của
cách mạng giải phóng dân tộc được thể hiện khá đầy đủ. Nhà sử học
Pháp P. Devillers được nhắc tới trên đây, trong Histoire du Viet
Nam de 1940 a 1952 (Ed. Du Seuil, Paris), đã nói tới điều này
không thể nào đúng hơn
“Những niềm hy vọng, những mối oán hận, những say sưa bị đẩy lùi từ
hàng chục năm nay đột nhiên nổ ra trong một sự hăng hái kỳ lạ, một
nhiệt tình tập thể mà lịch sử dân tộc chưa hề thấy, toàn thể nhân
dân chan hòa với nhau trong một điều thần bí là Độc lập. Họ
tìm thấy sự hùng mạnh và thống nhất của mình. Không có một việc gì
đối với họ là không thể làm được (trích theo Nguyễn Kiến Giang,
Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, NXB Sự thật, Hà
Nội 1961, trang 20).
Ở bên ngoài, những người cộng sản cũng tìm kiếm những sức mạnh mới
làm chỗ dựa của công cuộc giải phóng dân tộc. Trong thời đại mới,
phong trào giải phóng dân tộc nào không tìm được những chỗ vựa vững
chắc ở bên ngoài thì chắc chắn không thể thành công được. Trước đó,
vấn đề này cũng được đặt ra với các nhà yêu nước và cách mạng cũ
(Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh là những nhân vật tiêu biểu). Những
chỗ dựa họ muốn tìm và cũng tìm được phần nào, nói chung là không
thể tin cậy, vì thế họ không thể thành công. Bây giờ chủ nghĩa
Mác-Lênin giúp cho những người cộng sản Việt Nam tìm được những sức
mạnh mới, trước đó chưa có, và những sức mạnh này tỏ ra là đáng tin
cậy. Tính giai cấp của phong trào cộng sản và vô sản trên thực tế đã
mang lại cho những người cộng sản Việt Nam sự đoàn kết và ủng hộ của
những người cộng sản Pháp, Nga, Trung Quốc,… Và qua đó, của một bộ
phận vô sản cũng như một bộ phận giới trí thức (“trí thức tiến bộ”,
như người ta thường gọi vậy) ở các nước đó. Cũng cần nói thêm sự
đoàn kết của các dân tộc thuộc địa ở những vùng xa xôi hay gần gũi
thông qua những tổ chức chống đế quốc khác nhau. Về phần mình, những
người cộng sản cũng đoàn kết và ủng hộ những phong trào cách mạng và
vô sản ở nhiều nước khác. Cần đặc biệt nhất mạnh một điểm hết sức
quan trọng: sự ủng hộ của các đảng cộng sản đã nắm chính quyền,
trước hết là ĐCSLX, hoặc trực tiếp, hoặc thông qua Quốc tế cộng sản.
Đây không chỉ là ủng hộ về mặt tinh thần, mà cả về mặt tổ chức và
vật chất, về ảnh hưởng trực tiếp của Liên Xô trong chiến tranh chống
phát xít, của sức mạnh kinh tế và quân sự của Liên Xô, và về sau này
của ĐCSTQ sau khi đảng này nắm chính quyền. Nhiều người cộng sản
được đào tạo từ các nước này, nhiều nguồn viện trợ vũ khí, kỹ thuật…
cũng đến từ các nước này. Tất cả những sự đoàn kết và ủng hộ ấy được
những người cộng sản gọi một cách đầy phấn khởi và tin tưởng là “chủ
nghĩa quốc tế vô sản”. Những người cộng sản và nhân dân Việt Nam
đóng vai trò nhân tố “chủ quan” một cách đầy đủ và thật chủ động,
nhưng không thể nào giải thích những thắng lợi của những người cộng
sản Việt Nam mà bỏ qua hoặc đánh giá thấp nhân tố “khách quan” ấy.
Dù trong sự đoàn kết và ủng hộ theo “chủ nghĩa quốc tế vô sản” ấy có
xen lẫn những yếu tố không lành mạnh (vị kỷ, nước lớn, áp đặt…) thì
không vì thế mà có thể phủ nhận nó như một thực tế hiển nhiên. Ưu
thế của những người cộng sản Việt Nam so với những người yêu nước và
cách mạng trước kia là ở đó.
Chủ nghĩa Mác-Lênin giúp cho những người cộng sản và một bộ phận
rộng lớn trong nhân dân Việt Nam có được những lý tưởng xã hội làm
linh hồn cho các cuộc đấu tranh giải phóng. Nhìn lại lịch sử, ở nước
ta cũng như nhiều nước khác, phong trào giải phóng dân tộc nào cũng
đi theo những lý tưởng xã hội nào đó. Yêu nước và giải phóng đất
nước không bao giờ là lý tưởng riêng biệt, mà thường gắn với những
lý tưởng, những học thuyết xã hội khác nhau (chủ nghĩa Gandhi, chủ
nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, chủ nghĩa Kémal…). Câu hỏi của
những người dân mất nước bao giờ cũng là: sau khi giành được độc lập
dân tộc rồi, chế độ xã hội nào đến với mình? Đó là câu hỏi liên quan
với số phận từng con người với tư cách con người. Chủ nghĩa cộng sản
đem lại một câu trả lời rành mạch: đó là một xã hội không có người
bóc lột người, một xã hội công bằng, không có giàu nghèo, không có
của riêng, mọi thứ đều là của chung cả. Tất nhiên, không phải ai
cũng tán thành lý tưởng đó. Nhưng số đông người dân đang sống nghèo
cực, đó là lý tưởng hết sức hấp dẫn. Nhất trong những hoàn cảnh như
của Việt Nam, với tâm thức cộng đồng còn mạnh, với lý tưởng một xã
hội “đại đồng” còn phảng phất màu sắc chủ nghĩa bình quân, với khát
vọng “đổi đời” nhanh chóng thì lý tưởng đó rất hợp với “thể tạng”
đại đa số người, nếu không nói là tất cả những người cộng sản Việt
Nam và những người đi theo họ đều gắn lòng yêu nước, ý chí giải
phóng dân tộc với những lý tưởng công bằng xã hội ấy. Ngây thơ ư? Có
thể là thế, nhưng đó là một sự thật. Cuộc sống sau này, khi bắt tay
xây dựng một xã hội mới theo những lý tưởng đó, dần dần mở mắt cho
mọi người để thấy rằng những lý tưởng ấy mang “tính không tưởng vĩ
đại”, nhưng đó là chuyện về sau. Còn trong tiến trình đấu tranh giải
phóng, những lý tưởng xã hội do chủ nghĩa Mác-Lênin đề xướng đã đóng
đầy đủ vai trò “chính ủy” của nó.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đem lại cho những người cộng sản Việt Nam một
phương pháp tổ chức lực lượng đối với bản thân mình và đối với quần
chúng đông đảo rất có hiệu quả. Có nhà nghiên cứu nước ngoài gọi đó
là “kỹ thuật tổ chức” của cộng sản, và gọi như vậy không có gì sai.
ĐCSVN được tổ chức theo “đảng kiểu mới” của Lênin, tỏ ra rất có hiệu
quả trong đấu tranh, nhất là khi phải đương đầu với những thế lực
thù địch mạnh hơn nó rất nhiều. Một đảng chiến đấu, với kỷ luật thép
để bảo đảm sự lãnh đạo tập trung từ trên xuống dưới, để bảo toàn lực
lượng đến mức cao nhất trong những hoàn cảnh khủng bố và chiến tranh
– những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra được một đảng như vậy. Và
bằng những hình thức, những phương thức tổ chức vừa uyển chuyển, vừa
chặt chẽ, ĐCSVN đã tạo ra được cả một mạng lưới tổ chức quần chúng
chặt chẽ ngày càng sâu rộng, tới tận ngõ ngách thành phố, làng mạc,
thâm nhập các tầng lớp xã hội khác nhau. Thành công của những người
cộng sản Việt Nam, ở một mức độ rất lớn, là thành công về mặt tổ
chức. Và thành công này chính là bắt nguồn từ học thuyết về tổ chức
đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tóm lại, với chủ nghĩa Mác-Lênin, những người cộng sản Việt Nam có
được những sức mạnh mới, những lý tưởng xã hội mới, những phương
thức tổ chức mới, những yếu tố này làm tăng thêm rất nhiều sức chiến
đấu giành giải phóng dân tộc và làm cách mạng xã hội.
Về chủ nghĩa cộng sản với tư cách một xã hội tương lai, thì trong
thời gian đầu, từ giữa những năm 20 đến giữa những năm 50, nó chỉ
mới hiện ra dưới dạng lý tưởng xã hội. Mặc dù rải rác đây đó có nói
tới chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hiện thực ở Liên Xô trên
báo chí bí mật và công khai của đảng cộng sản (rất tiếc là
Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc, một tập sách nhỏ viết
về xây dựng xã hội mới ở Liên Xô, đã bị thất lạc). Phải đến sau khi
giải phóng miền Bắc, tức là khi vấn đề chuyển sang giai đoạn cách
mạng xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng sản chính thức đặt ra, thì
những lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin mới
được du nhập như một học thuyết. Và điều này cũng chỉ được làm dần
dần, vừa về lý luận, vừa bằng kinh nghiệm.
Trên thực tế, những lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội đó chủ yếu là
dựa vào những tác phẩm của Stalin (những báo cáo, những bài nói,
những bài viết của Stalin từ cuối những năm 20 đến cuối những năm
30, và sau đó là tác phẩm Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô năm 1951), tất cả đều được coi như những tác phẩm
kinh điển. Toàn bộ “hành trang lý luận” của những người cộng sản
Việt Nam khi bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa là ở đó.
Nhưng có hai điểm cần chú ý:
1. Từ sau đại hội ĐCSLX lần thứ XX (1956), một số luận điểm của
Stalin về chủ nghĩa xã hội bị phê phán và được điều chỉnh lại theo
hướng coi trọng hơn sản xuất hàng hóa dưới chủ nghĩa xã hội theo quy
luật giá trị và phi tập trung hóa quản lý kinh tế. Nhưng nói chung,
mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội (gọi là “mô hình Xô Viết”) đã hình
thành từ thời Stalin vẫn giữ được về cơ bản.
Bên cạnh “mô hình Xô Viết”, những người cộng sản Việt Nam cũng đặc
biệt chú trọng những bài học về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng
chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc (công thư hợp doanh trong lĩnh vực
công thương nghiệp, hợp tác hóa trong lĩnh vực nông nghiệp, “nhiều,
nhanh, tốt, rẻ” trong xây dựng chủ nghĩa xã hội…). Về thực chất đó
cũng là một “mô hình Xô viết” nhưng có “cải biên” cho phù hợp với
tình hình Trung Quốc.
Về đại thể lý luận Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội có thể tóm tắt như
sau:
-
Chủ nghĩa cộng sản gồm có hai giai đoạn: chủ nghĩa xã hội (bậc
thấp) và chủ nghĩa cộng sản (bậc cao).
-
Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với những nội dung chủ
yếu: cải tạo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và cá thể thành
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức sở hữu
chính: Nhà nước (toàn dân) và tập thể (hợp tác xã); công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa; tập thể hóa (hợp tác hóa) nông nghiệp;
cách mạng văn hóa và tư tưởng (bảo đảm cho hệ tư tưởng Mác-Lênin
thành hệ thống trị duy nhất và phổ biến toàn xã hội).
-
Bảo đảm sự lãnh đạo duy nhất và vững chắc của đảng cộng sản
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản,
chủ yếu bằng Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà thực chất là chuyên
chính vô sản.
-
Chủ nghĩa quốc tế vô sản trong đấu tranh cách mạng chuyển thành
chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội (hợp tác, phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa, đoàn
kết, thống nhất trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới để
chống lại, đẩy lùi và thủ tiêu hệ thống tư bản chủ nghĩa thế
giới…).
Phải nói rằng trong những người cộng sản Việt Nam từ giữa những năm
50 đến đầu những năm 60, vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiếp
nhận một cách vô vùng hoan hỉ và với niềm tin mãnh liệt (Hồ Chí
Minh: “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thang”, 1961). Những biến động
xảy ra trong phe xã hội chủ nghĩa hồi đó, như các sự kiện Hungari;
và Balan năm 1956, cuộc đấu tranh về quan điểm giữa ĐCSLX và ĐCSTQ
dẫn tới sự chia rẽ trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào
cộng sản quốc tế… dù có gây ra những phân vân nào đó, cũng không lay
chuyển được niềm tin vào tương lai xã hội chủ nghĩa của những người
cộng sản Việt Nam.
Nhân đây, xin nói một chút về cuộc đấu tranh tư tưởng trong phong
trào cộng sản quốc tế, chủ yếu là giữa ĐCSLX và ĐCSTQ từ cuối những
năm 50 đến những năm 70. Về thực chất, đây là cuộc đấu tranh giữa
hai xu hướng khác nhau về xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc, hai mặt này gắn chặt với nhau rất khắng
khít. Trong khi ĐCSTQ và những người tán thành nó về cơ bản vẫn duy
trì “mô hình Stalin” về xây dựng chủ nghĩa xã hội, hơn nữa còn đẩy
những mô hình đó tới những chỗ cứng rắn hơn, cực đoan hơn, thì ĐCSLX
và những người tán thành nó muốn điều chỉnh mô hình đó cho “mềm
hơn”, có hiệu quả kinh tế hơn, dân chủ hóa đời sống xã hội và sinh
hoạt đảng. Gắn liền với điều đó, về mặt quốc tế, một bên vẫn giữ con
đường đấu tranh bạo lực chống đế quốc, mở rộng các cuộc cách mạng ra
các khu vực khác nhau trên thế giới. Còn một bên thì chủ trương thi
đua kinh tế, chung sống hòa bình giữa hai hệ thống, chuyển biến hòa
bình lên chủ nghĩa xã hội. Lúc đầu, ĐCSVN về cơ bản tán thành những
lập trường của ĐCSTQ, cuộc đấu tranh chống “chủ nghĩa xét lại hiện
đại” diễn ra một cách quyết liệt về mặt tư tưởng và chính trị, và sử
dụng cả những công cụ chuyên chính vào mục đích này. Về sau, khi đã
thống nhất được đất nước, khi đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng xã
hội và kinh tế ngày càng nghiêm trọng, thì chính ĐCSVN chuyển sang
tiếp nhận “mô hình Xô Viết” có điều chỉnh. Nhưng sự chuyển hướng này
không đủ để cứu vãn tình trạng khủng hoảng của đất nước. Chính bản
thân Liên Xô, với mô hình có điều chỉnh ấy, cũng rơi vào tình trạng
trì trệ và suy thoái nặng nề. Cuối cùng thì ĐCSTQ từ cuối những năm
70 cũng phải vất bỏ mô hình cũ, chuyển sang đường lối cải cách và mở
cửa, vượt xa “mô hình Xô Viết” có điều chỉnh rất nhiều, đến mức dung
nạp nhiều yếu tố cơ bản của kinh tế tư bản chủ nghĩa và họ làm điều
đó không úp mở (một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã mỉa mai đọc “chủ
nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” thành “chủ nghĩa tư bản mang
màu sắc Trung Quốc” hoặc “chủ nghĩa tư bản mang nhãn hiệu chủ nghĩa
xã hội”). Đến lượt ĐCSVN, bằng đường lối “đổi mới”, về thực chất
cũng như trên thực tế cũng từ bỏ “mô hình Xô Viết” dù là kiểu Stalin
hay kiểu “có điều chỉnh”. Đến đây, thật sự đang diễn ra một cuộc
khủng hoảng tư tưởng; và lý luận. Không phải mô hình cũ, chắc chắn
là thế rồi. Nhưng mô hình mới của chủ nghĩa xã hội là thế nào thì
chưa có ai trả lời được cả. Thành thử, khi sự vận động xã hội và
kinh tế của xã hội Việt Nam hiện nay trên thực tế đang chuyển sang
một quỹ đạo khác, dần dần rời bỏ những nền tảng lý luận về chủ nghĩa
xã hội theo cách hiểu Mác-Lênin, thì trong những người cộng sản Việt
Nam, nhất là trong giới nghiên cứu lý luận, người ta thấy rõ một sự
phân hóa ngày càng sâu sắc. Một số người muốn đoạn tuyệt với lý luận
xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, đi tìm một thứ lý
luận thích hợp hơn và có hiệu quả hơn. Số người này cũng chia làm
hai “có người muốn trở về nguồn (Mác-Lênin hoặc Mác mà không phải
Lênin), và có người muốn đoạn tuyệt về cơ bản với cả Lênin lẫn Mác.
Một số những người khác coi những đổi mới hiện nay chỉ là “sách lược
tạm thời”, là một sự “rút lui” cần thiết trước khi chuyển sang một
(hoặc nhiều) cuộc “tiến công” mới, để trở lại với những nền tảng của
mô hình cũ (chuyên chính vô sản, sở hữu nhà nước và tập thể…). Một
số người khác nữa muốn làm một sự “hội tụ” của chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa tư bản, tìm thấy trong chủ nghĩa xã hội-dân chủ những yếu tố
cần thiết cho “con đường thứ ba”. Cuộc đấu tranh về mặt lý luận này
chắc chắn còn kéo dài và chừng nào chưa đi tới kết cục rõ ràng,
chừng đó sự vận động xã hội vẫn gặp nhiếu trắc trở, nhiều bước vòng
quanh, nhiều dạng nửa vời. Nhưng thực tiễn những năm “đổi mới” vừa
qua cũng cho thấy một hướng ngược lại: chính từ sự vận động hiện
thực của xã hội, đang và sẽ nảy sinh ngày càng nhiều yếu tố đúng
và cần cho sự giải quyết tình trạng khủng hoảng lý luận.
IV. Những hệ quả của sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin đối với sự phát
triển của xã hội Việt Nam cho đến nay
Trong những phần trên đây, đã trình bày phần nào về hệ quả ấy, ở đây
xin nói rõ thêm: chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam với tư cách một
thứ lý luận, một học thuyết được những người cộng sản Việt Nam coi
là “cách mạng” và “khoa học” để giải quyết hai vấn đề được đặt ra từ
những năm 20, giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội. Đối với những
người cộng sản giải phóng dân tộc là tiền đề bắt buộc phải có để làm
cách mạng xã hội, đồng thời cũng là một mục tiêu mang giá trị tự
thân trong hoàn cảnh một nước thuộc địa. Cách mạng xã hội là lý
tưởng cổ vũ cho giải phóng dân tộc, đồng thời là mục tiêu của sự
phát triển xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
(Lời tựa viết cho bản tiếng Nga quyển “Hồ Chí Minh, Những bài
viết và nói chọn lọc” 1959, do chính Hồ Chí Minh gạch dưới,
Tuyển tập Hồ Chí Minh, NXB Sự thật 1960, tr. 705). Hay như sự
tổng kết của đại hội IV về hai ngọn cờ do ĐCSVN luôn luôn giương
cao: Độc lập dân tộc và “yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội là một”.
Thực tế lịch sử cho thấy một bức tranh khác thế. Một mặt đúng là chủ
nghĩa Mác-Lênin đã giúp cho những người cộng sản Việt Nam những điều
kiện và sức mạnh mới trong đấu tranh giải phóng dân tộc, như đã phân
tích khá kỹ ở phần trên. Phủ nhận điều đó (nếu muốn, có thể dùng mấy
chữ “cống hiến đó” hay “cống hiến to lớn đó”) là phủ nhận một mảng
quan trọng của sự thật lịch sử đất nước. Nhưng cũng sẽ sai lầm khi
quy tất cả những thắng lợi của giải phóng dân tộc cho chủ
nghĩa Mác-Lênin. Trong mọi giai đoạn đấu tranh cho độc lập dân tộc,
không thể đánh giá thấp những đóng góp của những bộ phận yêu nước
khác. Tinh thần yêu nước là tài sản chung của dân tộc, không phải
của riêng ai. Tinh thần yêu nước ấy được hun đúc từ trong chiều sâu
xa xưa của lịch sử đất nước, và trực tiếp hơn, cả từ những phong
trào yêu nước đầu thế kỷ. Những phong trào ấy nói chung gặp thất
bại, nhưng cả những thất bại ấy cũng không làm lu mờ những hình ảnh
của họ trong ký ức người dân. Lớp trẻ chúng tôi vào những năm trước
Cách mạng tháng Tám 1945 thấy lòng mình rung động vì một hình ảnh
Phan Bội Châu không kém gì hình ảnh của Nguyễn Ái Quốc. Lòng yêu
nước của chúng tôi chẳng những được dấy lên với những sách báo cách
mạng, mà cũng được khuấy động bằng những Thi tù tùng thoại, Thơ
văn các nhà chí sĩ Việt Nam… những ca khúc bi hùng Hồn tử sĩ,
Kinh cầu nguyện, Bạch Đằng giang… Đó chỉ là một vài ví dụ. Còn
biết bao đóng góp có tên vào không tên của biết bao nhiêu người,
biết bao nhiêu dòng yêu nước khác, giống như những con suối nhỏ cùng
nhau tạo thành dòng chảy chính, mà trong dòng chảy chính ấy, những
người cộng sản đã góp phần của mình một cách xứng đáng. Trong cuộc
chiến đấu chống Mỹ, chẳng hạn, làm sao có thể quên được phong trào
Phật giáo đầu những năm 60 với những hình ảnh xúc động lương tâm mọi
người như hình ảnh tự thiêu của Thích Quảng Đức? Làm sao có thể quên
được phong trào văn hóa đầy tinh thần dân tộc “Trở về cội nguồn” hay
“Hát cho đồng bào tôi nghe”? Những phong trào ấy có thể chịu ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp của Đảng Cộng sản (thông qua Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) hay không, vẫn là dòng chảy
yêu nước riêng để tụ hội thành cuộc chiến đấu chống Mỹ và những
chính quyền do Mỹ đỡ đầu ở Sài Gòn.
Trong những hoàn cảnh đấu tranh quyết liệt nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin
phải thích ứng với những phong trào giải phóng dân tộc chung, mà
không phải ngược lại. Bản thân những người cộng sản Việt Nam hiểu
rất rõ điều đó, khi gác bỏ lại những khẩu hiệu có tính chất giai cấp
của mình, khi kêu gọi đại đoàn kết dân tộc. Những khái niệm như “chủ
nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa cộng sản” không hề có mặt trong chương
trình Việt Minh hay trong cương lĩnh Mặt trận dân tộc giải phóng. Và
nếu như trong những hoàn cảnh như vậy, đại đa số dân chúng tin vào
những người cộng sản, thì đó chủ yếu là vì họ đánh giá cao tinh thần
yêu nước triệt để của những người cộng sản, mà không phải (hay chưa
phải) họ đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin như hệ tư tưởng vô sản, chưa
phải họ tin vào chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản.
Ở đây, xin nói một chút về sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam. Một số
người cộng sản ngày nay nói một cách khẳng định rằng: “chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam”. Đúng
thế chăng? Tôi xin phép được nghi ngờ. Có lẽ không có gì rõ hơn sự
lựa chọn của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ cách mạng Tháng Tám.
Hồi đó, nhân dân lựa chọn cái gì? Lựa chọn độc lập, tự do, hạnh
phúc, lựa chọn Nhà nước cộng hòa dân chủ, lựa chọn
Việt Minh như một mặt trận thống nhất dân tộc thật sự với những
thành viên khác nhau của nó, lựa chọn những người có đức có
tài lãnh đạo quốc dân. Lựa chọn bằng những cuộc khởi nghĩa
tháng Tám đầy khí thế. Lựa chọn bằng tham gia Giải phóng quân, Vệ
quốc đoàn, Nam tiến… Lựa chọn bằng Tổng tuyển cử (6-1-1946) một cuộc
bầu cử hoàn toàn tự do, có sự tham gia của nhiều tổ chức và cá nhân
thuộc những xu hướng chính trị khác nhau. Lựa chọn bằng Hiến pháp
thật sự dân chủ tháng 11-1946 do Quốc hội đầu tiên thông qua. Sự lựa
chọn của người dân là như vậy. Còn sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản là sự lựa chọn của những người cộng sản, một bộ phận
(dù là cách mạng nhất đi nữa thì cũng là một bộ phận) mà không phải
của nhân dân nói chung, của toàn dân.
Sự lựa chọn ấy và những hệ quả tất yếu của nó lẽ ra phải trở thành
hiện thực trên đất nước này, nhưng những hoàn cảnh lịch sử tiếp theo
không cho phép. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bắt buộc phải
gác lại nhiều khát vọng tự do, dân chủ và hạnh phúc. Như một đạo
quân hùng vĩ, nhân dân Việt Nam đứng lên chiến đấu một mất một còn
với những đội quân xâm lược. Và trong các cuộc chiến đấu triền miên
hàng chục năm để giành độc lập, Đảng Cộng sản Việt Nam tỏ ra là một
bộ chỉ huy dũng cảm và tài năng, kiên định và khôn khéo, được đông
đảo quần chúng tin theo. Đó cũng là một sự thật lịch sử phải ghi
nhận.
Nhưng ngay trong quá trình lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm ấy và
cả sau đó, một số người cộng sản đi tới một sự ngộ nhận lớn: tưởng
rằng sự lựa chọn về hệ tư tưởng của mình cũng là sự lựa chọn của
nhân dân nói chung. Chủ nghĩa Mác-Lênin, hệ tư tưởng của những người
cộng sản, được họ coi là hệ tư tưởng của nhân dân, của toàn dân
(hoặc nếu chưa phải như vậy, thì phải đạt tới chỗ đó bằng mọi giá).
Tôi và những người cộng sản gần gũi với tôi hồi đó cũng nằm trong số
những người mắc phải sự ngộ nhận này.
Không phải chỉ có thế, chủ nghĩa Mác-Lênin, trong khi đem lại những
ưu thế cho những người cộng sản trong đấu tranh giải phóng dân tộc,
như đã nói ở trên kia, cũng biến thành những ưu thế ấy thành những
mặt ngược lại tích cực biến thành tiêu cực. Hay nói như Lênin: ưu
điểm kéo dài thành khuyết điểm.
Khi khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng của các tầng lớp “bên
dưới" (thường là nghèo khổ và thất học) một ưu thế không thể nào
chối cãi của những người cộng sản theo quan điểm giai cấp của chủ
nghĩa Mác-Lênin – thì đồng thời, cũng bộc lộ ngay những mặt trái của
điều đó: sùng bái tính cách mạng “tự nhiên” của những người thuộc
các tầng lớp “bên dưới” và đem đối lập họ với người thuộc các tầng
lớp “bên trên” bị coi là không cách mạng (chưa nói có một số người
bị coi là phản cách mạng), với giới trí thức xuất thân từ các tầng
lớp đó. Ngay trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1951 trở đi, với
những cuộc vận động chỉnh huấn, chỉnh đốn tổ chức và nhất là với
phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, sự phân biệt đối
xử này đã đạt tới mức độ rất cao. Sự sợ hãi thay dần cho niềm tin tự
nguyện.
Khi dựa vào những sức mạnh bên ngoài (theo chủ nghĩa quốc tế vô
sản), thì đi đôi với sự tiếp nhận những cái hay cái tốt (cả về vật
chất lẫn tinh thần) – và đó cũng là một ưu thế không thể chối cãi
được – còn tiếp nhận cả những cái sai, cái xấu (“chủ nghĩa Stalin”
và “chủ nghĩa Mao”). Quan trọng nhất là việc đặt đất nước chịu tác
động trực tiếp của cuộc đấu tranh giữa hai phe trên thế giới (các
nước Phương Tây cũng phải chịu trách nhiệm nếu không phải nhiều hơn,
thì cũng không ít hơn về mặt này), khiến cho cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc của nước ta phải kéo dài và mất quá nhiều tổn phí về
người và của.
Khi đưa những lý tưởng xã hội vào đấu tranh giải phóng dân tộc, thì
đồng thời cũng thổi lên một bầu không khí không tưởng về những “ngày
mai ca hát”, về “tương lai tươi sáng” dưới chủ nghĩa xã hội, cách
biệt rất xa với những gì đang xảy ra ở những “thiên đường trên trái
đất” (Liên Xô hôm nay là ngày mai của chúng ta”…).
Khi áp dụng những phương thức tổ chức rất có hiệu quả vào đấu tranh
giải phóng dân tộc, cũng đồng thời biến nó thành nền nếp sống của xã
hội và cá nhân, đặt cá nhân vào những hoàn cảnh “hy sinh” thường
xuyên cho tập thể, triệt tiêu tính chủ động và những khát vọng sống
bình thường của cá nhân, biến cá nhân thành “cái đuôi” của tập thể.
Các quyền dân chủ và tự do của người dân bị hạn chế trong hoàn cảnh
chiến tranh, và người dân tự nguyện chịu sự hạn chế ấy để tập trung
ý chí và sức mạnh vào chiến đấu và chiến thắng, nhưng điều đó lại
chuyển thành tình trạng mất dân chủ (từ phía lãnh đạo cũng như từ
phía bị lãnh đạo, “quần chúng”).
Những chuyển hóa ấy và những yếu tố tâm lý, lịch sử khác nữa tạo ra
một mảnh đất hết sức thuận lợi cho sự hình thành một chế độ toàn
trị, về mặt khách quan. Trong khi đó, về mặt chủ quan, chủ nghĩa
Mác-Lênin đã chứa sẵn trong bản thân nó những căn tính
(dispositions) hướng tới chế độ toàn trị: quan niệm lãnh đạo độc
tôn, độc quyền của giai cấp vô sản mà Đảng cộng sản tự coi là đại
diện duy nhất, sự phân chia xã hội thành các giai cấp, tầng lớp cách
mạng và phản cách mạng (hay ít ra không cách mạng), việc biến chủ
nghĩa Mác-Lênin với tư cách hệ tư tưởng vô sản thành hệ tư tưởng
thống trị xã hội, tính chiến đấu không khoan nhượng (ta và địch) của
những người cộng sản về chính trị và tư tưởng được đưa thành khuôn
mẫu chung cho toàn xã hội… những căn tính ấy còn được tiếp sức bằng
chủ nghĩa Mao, một dạng thô thiển và thô bạo hơn của chủ nghĩa
Mác-Lênin, mà mô hình cố hữu của nó chính là chế độ chuyên chế quan
liêu phương Đông. Và thế là sự cộng hưởng của hai mặt khách quan và
chủ quan ấy tạo thành một chế độ toàn trị theo đúng nghĩa đen của
nó, một biếm họa về những lý tưởng xã hội của chính chủ nghĩa
Mác-Lênin.
Những điều vừa nói càng thể hiện nổi bật hơn khi tiến hành cách mạng
xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo những quan niệm,
những lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin (ở miền Bắc từ giữa những năm 50
và ở miền Nam từ giữa những năm 70). Chủ nghĩa Mác-Lênin không có và
không thể có một mô hình xã hội chủ nghĩa nào khác ngoài “mô hình xô
viết” với những biến thể khác nhau của nó. Mô hình này (với sự vận
dụng được gọi là sáng tạo theo lối làm cho nó “mềm” hơn hay “cứng”
hơn) đã đem lại những gì cho nền kinh tế và đời sống xã hội nước ta,
tưởng không phải nói nhiều. Rất nhiều bài viết, và cả một số văn
kiện chính thức của ĐCSVN, đã phân tích khá rõ. Chỉ có điều là sự
phân tích ấy được giới hạn trong lĩnh vực kinh tế và phần nào trong
lĩnh vực xã hội, mà không nói tới các lĩnh vực tư tưởng và chính
trị.
Mấy chục năm noi theo “mô hình Xô Viết” kiểu Stalin (có cải biên sau
đó ít nhiều), đất nước không những không tiến gần tới những lý tưởng
xã hội chủ nghĩa mà còn xa rời hơn. Sản xuất không hiện đại hóa
được, các hoạt động kinh tế không có hiệu quả, mức sống của đại đa
số dân chúng sa sút, công thêm đời sống tư tưởng và chính trị ngày
càng bị siết chặt, những bất mãn xã hội ngày càng tăng, các tệ hại
xã hội xảy ra sâu hơn và rộng hơn (như có người nhận xét: còn hơn cả
dưới các chế độ cũ). Giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác, nước
ta lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và toàn diện từ cuối
những năm 70.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đem lại những gì cho đất nước về mặt xây dựng
chủ nghĩa xã hội, mỗi người có thể trả lời không khó khăn lắm câu
hỏi đó bằng sự thể nghiệm của chính bản thân mình. Đây không còn là
một vấn đề lý luận nữa, mà đã là một hiện thực hiển nhiên.
Chính vào lúc khủng hoảng xã hội đạt tới trình độ cao nhất, xã hội
cơ hồ lâm vào ngõ cụt, thì chính người dân và những người cộng sản
có đầu óc lành mạnh tìm mọi cách để thoát khỏi khủng hoảng. Vừa chịu
tác động của những “cải cách”, “cải tổ” từ các nước xã hội chủ nghĩa
khác, vừa tự mình tìm kiếm kiên trì và gian khổ, cuối cùng xã hội
Việt Nam từ giữa những năm 80 đã bước vào một thời kỳ mới, dần dần
khôi phục lại sức sống của mình. Đó là thời kỳ “đổi mới” như chúng
ta vẫn thường gọi, khi ý chí và hành động của người dân “từ bên
dưới" kết hợp được với sự tỉnh táo và sự dũng cảm “từ bên trên”. Đổi
mới về thực chất là sự đoạn tuyệt đầy khó khăn và đầy đau đớn với lý
luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội. Thừa nhận điều đó
hay không thừa nhận, thì sự thật là thế. Khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào
sự thật”, được đưa ra tại Đại hội VI của ĐCSVN, vẫn còn giá trị và
càng có thêm giá trị vào lúc này, khi đất nước đứng trước một sự lựa
chọn mới, triệt để hơn.
V. Chủ nghĩa Mác-Lênin còn lại những gi?
Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin đã đóng vai trò lịch sử nổi bật
trong hơn ba phần tư thế kỷ nay. So với lịch sử trường kỳ của dân
tộc, của đất nước đó là một thời gian khá dài. Nhưng đặt trong bối
cảnh thế kỷ XX, khi nhu cầu giải phóng dân tộc và hiện đại hóa đất
nước được đặt ra một cách bức bách trong thời đại hiện nay, thì đó
là một thời gian không ngắn. Sự kiểm nghiệm của cuộc sống, của thời
gian trong hơn ba phần tư thế kỷ qua đủ để chúng ta kết luận về “vận
mệnh lịch sử” của nó trên đất nước này.
Như đã nói ở trên, chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam đã đóng
vai trò trên hai mặt: đấu tranh giải phóng dân tộc và cách mạng xã
hội, xây dựng xã hội mới. Nhìn lại một cách thật tỉnh táo, thật
khách quan không có định kiến nào, có thể nói: trong lĩnh vực thứ
nhất, nó đã đóng vai trò lịch sử trọng yếu, không thể xem nhẹ, càng
không thể phủ định một cách giản đơn. Việc những người cộng sản đi
đầu và lãnh đạo các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong hàng
chục năm qua đã được các giới nghiên cứu, có cảm tình với chủ nghĩa
cộng sản hay không, đánh giá khá đầy đủ (cũng như họ đánh giá một
cách tin tưởng rằng những người theo chủ nghĩa quốc gia, trên thực
tế phần lớn cuối cùng đã dựa vào các nước đế quốc, từ Pháp, Nhật đến
Mỹ, bỏ rơi ngọn cờ dân tộc vì thái độ “chống cộng” cố chấp). Lịch sử
về mặt này đã được viết không phải bằng mực mà cả bằng máu và nước
mắt. Và bây giờ, dù có đưa ra đủ thứ lập luận hay “bằng chứng” như
thế nào đi nữa, cũng không thể phủ nhận rằng những người cộng sản
Việt Nam (nhất là lớp người hoạt động dưới thời thực dân Pháp, trong
cách mạng và kháng chiến) đúng là những người yêu nước. Tinh thần
yêu nước và kiên cường đấu tranh giải phóng dân tộc là di sản tinh
thần quý giá nhất và có sức sống bền vững nhất của những người cộng
sản. Chính cái thế mạnh ấy của ĐCSVN đang và sẽ giúp cho những người
cộng sản còn tiếp tục đóng vai trò cần thiết đối với đất nước lúc
này.
Trong lĩnh vực cách mạng xã hội, xây dựng xã hội mới, những người
cộng sản Việt Nam đã cắm sâu những lý tưởng xã hội của mình trong
một bộ phận quần chúng rộng lớn. Đó cũng là một thành công đáng kể,
và những ý tưởng xã hội ấy có thể vẫn còn có tác dụng để ngăn ngừa
những hiện tượng phân hóa xã hội không bình thường, không lành mạnh
trong thời kỳ chuyển biến xã hội-kinh tế hiện nay, khi những người
lao động lương thiện và những người có công với đất nước rơi vào
cảnh nghèo khổ, may lắm là đủ ăn, còn cả một bọn ăn cướp hợp pháp và
bất hợp pháp thì tha hồ xà xẻo của cải đất nước, trở thành những
phần tử giàu có theo lối “hãnh tiến-lưu manh chính cống”.
Nhưng bên cạnh đó, những lý luận và quan niệm chủ nghĩa Mác-Lênin về
xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đã phá sản, không thể cứu vãn được “mô
hình xô viết” kiểu Stalin phá sản đã đành mà tất cả những mô hình có
thể có của nó cũng không tránh khỏi phá sản khi vẫn dựa vào “đấu
tranh giai cấp, ai thắng ai” vào “sự thiết lập quan hệ sản xuất dưới
hình thức sở hữu nhà nước và tập thể trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân”, vào “sự lãnh đạo độc tôn của giai cấp vô sản và đảng của giai
cấp này”, vào “chuyên chính vô sản như sự thống trị của giai cấp
công nhân”, mà trên thực tế là quyền lực độc quyền và cao nhất của
bộ máy Đảng-Nhà nước, vào “hệ tư tưởng Mác-Lênin thống trị toàn xã
hội”… Trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, chủ nghĩa Mác-Lênin
đã mất tác dụng tích cực của nó.
Không phải ai khác, chính ĐCSVN trong thời gian gần đây đã từng bước
từ bỏ những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa
xã hội được quan niệm là “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và
văn minh”. Các chế độ sở hữu khác nhau, kể cả sở hữu tư nhân, đã
được dần dần coi trọng. Chuyên chính vô sản không được nhắc tới công
khai, thay vào đó là khái niệm “Nhà nước do dân, của dân và vì dân”.
Đấu tranh giai cấp được thay bằng “cùng nhau tìm những điểm tương
đồng, trong khi vẫn thừa nhận những điểm khác nhau”. Kinh tế tập
trung có kế hoạch được thay bằng “kinh tế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước". “Đóng cửa” được thay bằng “mở cửa”.
Sự vận động hiện thực của xã hội Việt Nam theo hướng kinh tế thị
trường, xã hội dân sự (hay xã hội công dân), Nhà nước pháp quyền,
dân chủ, khoan hòa, mở cửa có những thuận lợi đáng kể, một phần quan
trọng là nhờ ĐCSVN từng phần từ bỏ và thay thế những giáo điều cứng
nhắc của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội. Sự từ bỏ hay thay
thế ấy, như chúng ta đang thấy, không phải một lúc và không hề suôn
sẻ. Có sự từ bỏ ngày càng triệt để. Có sự từ bỏ ngập ngừng. Có sự từ
bỏ theo lối sách lược. Và cũng có cả sự không chịu từ bỏ. Bằng con
mắt bình tĩnh, không khó gì mà không nhận ra tình trạng giằng co
hiện nay xung quanh chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cuộc sống đã chứng minh khá đầy đủ rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã
thuộc về quá khứ (một quá khứ thật oanh liệt, đầy những hào hùng
và những bi kịch), mà không thuộc về hiện tại, lại càng không
thuộc về tương lai. Ở một mức độ nào đó, “số phận” của nó cũng
giống như “số phận” của Nho giáo ngày xưa.
Sự vận động xã hội hiện nay và trong tương lai gần gũi đang đòi hỏi
những tìm kiếm mới về con đường phát triển xã hội thích hợp nhất.
Những tìm kiếm ấy đã bắt đầu, và cũng bắt đầu từ chính trong ĐCSVN,
bên cạnh những tìm kiếm của những người có tâm huyết với đất nước,
có tầm nhận thức phù hợp với thế giới hiện đại. Chưa bao giờ cần có
một sự hợp lực chung để tìm kiếm con đường đi tới của đất nước như
bây giờ. Chỉ cần gạt bỏ những định kiến, những mặc cảm – vết tích
của một thời “tư tưởng trị” đã qua – là có thể cùng nhau làm được
công việc hệ trọng và bức bách ấy. Và nếu như trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, những người cộng sản từng đóng vai trò đi đầu,
vai trò trung tâm, thì không một lý do gì lại ngăn cản họ tiếp tục
đóng vai trò trong việc tìm kiếm con đường thích hợp với dân tộc
hiện nay. Nhưng đó là sự lựa chọn của bản thân những người cộng sản,
không ai có thể làm thay được. Tôi cầu mong ĐCSVN thành công trong
sứ mệnh mới này. Và chắc chắn sự thành công ấy sẽ là cái bảo đảm tốt
nhất để ĐCSVN tiếp tục đóng vai trò xứng đáng của mình trong xã hội,
hiện nay và cả trong tương lai.
Xem xét quá trình du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là
một công việc không đơn giản. Và công việc này có thể tiến hành từ
những quan điểm rất khác nhau, từ chính những người Mác xít-lêninnít
hay từ những người thuộc các trào lưu khác. Nhiều lắm, những ý kiến
trên đây của tôi cũng chỉ là những gợi ý sơ lược, và tất nhiên, theo
cách suy nghĩ của tôi. Chắc chắn những ý kiến đó sẽ gây ra những sự
tranh luận, thậm chí những sự bài bác
[7]
.
Tôi xin bày tỏ một mong muốn tha thiết, đó là không nên biến chủ
nghĩa Mác-Lênin thành một vật phân chia xã hội về mặt tinh thần và
tư tưởng để loại bỏ nhau. Theo hệ tư tưởng nào, đó là quyền của
mỗi người, mỗi tổ chức và quyền đó phải được tôn trọng, miễn là đừng
biến học thuyết mình theo thành một sự độc quyền và độc tôn. Lợi ích
chung của dân tộc, của đất nước quá lớn để mỗi người không lao vào
những sự đối địch nhau về tư tưởng dẫn tới chỗ chia rẽ đáng tiếc.
ĐCSVN đề xướng đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc, theo tinh thần cùng
nhau tìm những điểm tương đồng và tôn trọng những điểm khác nhau.
Chỉ mong sao điều đó sớm trở thành hiện thực trên đất nước ta.
Tháng giêng 1995
Chú thích
[1]Tiêu
biểu nhất là cuốn sách của Ông Nguyễn Đức Bình mới xuất bản gần đây:
Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo tôi đó là một cố gắng không có triển vọng. Vì hai lẽ: Nguyễn
Đức Bình không đưa ra được những luận điểm gì mới mẻ hơn những luận
điểm gì từng có ở chủ nghĩa Mác-Lênin (mà thực chất là chủ nghĩa
Stalin) cách đây 10-50 năm, chứng tỏ nó lâm vào trạng thái “vô
sinh”. Chỉ hơn 30 trang, ông Nguyễn Đức Bình coi tất cả những gì
khác với chủ nghĩa Mác-Lênin là sai trái, ông đã dùng tới 15 lần chữ
“kẻ thù” để gọi những người có ý kiến khác với chủ nghĩa Mác-Lênin.
Một thứ lý luận co lại, không đếm xỉa gì tới những thành tựu văn hóa
và tư tưởng của loài người, liệu có thể tồn tại một cách bình thường
không?
[2]Đây là một đoạn mà
Trần Dân Tiên viết trong Hồ Chí Minh truyện (NXB Tam Liên,
Thượng Hải, 1949, Trương Nhiệm Thức dịch ra tiếng Hoa)… trong tất cả
các lý luận cách mạng, ông Nguyễn cảm thấy chủ nghĩa Tôn Văn là
thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Chủ nghĩa Tam Dân
của bác sĩ Tôn Dật Tiên có thể tổng kết là:
Chủ nghĩa dân tộc: độc lập cho mọi dân tộc
Chủ nghĩa dân quyền: tự do của nhân dân
Chủ nghĩa dân sinh: hạnh phúc và hưởng thụ của nhân dân
Đây là cái mà Việt Nam cần. Đây là cái mà dân tộc Việt Nam đòi hỏi.
Đây là cái mà Nguyễn Ái Quốc tìm kiếm. Từ đó về sau, Nguyễn Ái Quốc
có lòng kính trọng sâu sắc với vị lãnh tụ vĩ đại này của nhân dân
Trung Quốc và trở thành người học trò trung thực của ông ta” (tr.
81).
[3]Xin lấy một ví dụ
từ cuốn sách này: tác giả đã nhặt từ những sách báo lịch sử và văn
học (từ thời kỳ thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta cho tới Cách
mạng tháng tám) khoảng 650 cái tên. Rồi từ đó, tác giả lại chọn ra
222 nhân vật được coi là nhóm-bằng chứng (groupe-témoin) với một số
dữ kiện tiểu sử giống nhau: tên, năm sinh, quê quán, nguồn gốc xuất
thân, học vấn, nghề nghiệp (chức vụ), tác phẩm. Ông chia số nhân vật
này thành những thế hệ khác nhau: thế hệ 1862, thế hệ 1907, thế hệ
1925. Mỗi thế hệ tương ứng với một giai đoạn lịch sử đất nước ta.
Chẳng hạn:
-
Phạm Văn Đồng
-
Sinh 1906
-
Quảng Ngãi
-
Con một nhà nho làm quan
-
Trung học
-
Giáo viên, đảng viên (Đảng cộng sản), Thủ tướng thời Hồ Chí Minh
-
Tác giả những bài viết và báo cáo về chính sách của nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ đó, tác giả đặt các nhân vật vào những trào lưu chính trị và tư
tưởng đương thời và kết hợp với những dữ kiện khác để đánh giá họ.
[4]Trong cuốn
Paris-Saigon-Hanoi (Gallimard, Paris, 1988), Philippe Devillers,
một người chuyên nghiên cứu về Việt Nam có uy tín ở Pháp, có viết về
điều này rằng: “Sự đàn áp mà Đảng cộng sản Đông dương là đối tượng
chỉ làm tăng thêm uy tín của đảng đối với nhiều người trẻ tuổi. Sự
đàn áp ấy, và cách đối phó của đảng, cách đảng biết chi phối các nhà
tù thông qua những cán bộ của mình, đã làm cho từ năm 1933 đảng trở
thành bậc thầy hoạt động bí mật, thành lãnh tụ thực sự của sự đối
lập và sức mạnh chính trị bản xứ quan trọng nhất trong nước, và về
mặt tiềm năng, điều đó sẽ có hệ quả vô cùng lớn đối với tương lai
đất nước".
[5]Đại
hội II của Đảng Cộng sản (khi còn lấy tên Đảng Lao động Việt Nam)
năm 1951 đã chính thức đưa tư tưởng Mao Trạch Đông vào Điều lệ đảng.
[6]Dịch
theo sách của Huỳnh Kim Khánh vì không có nguyên bản.
[7]Xin
nhấn mạnh một lần nữa: ở đây tôi không bàn về vấn đề chủ nghĩa
Mác-Lênin có liên hệ với những tư tưởng của Mác, Engels và Lenin tới
mức nào. Vấn đề này được dành cho một tiểu luận khác.
|