Quyển sách tuy chưa ra
mắt nhưng đã được sự chú ý và trông đợi từ
nhiều giới, những người quan tâm đến Việt
Nam Cộng Hoà, qua những tin tức từ không
gian ảo. Tác phẩm mang tên "Tâm Tư Tổng
Thống Thiệu" do tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng,
nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch của chính phủ
Việt Nam Cộng Hòa và cũng là cố vấn Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu vào những năm cuối
cùng trước biến cố 1975 biên soạn.
Giữa những lời khen
chê từ hằng chục năm nay, tác giả trình bày
những uẩn khúc trong tâm tư của vị Tổng
Thống cuối cùng của VNCH ra sao, và cuốn
sách đã được viết trong bối cảnh nào, Hà
Giang có cuộc phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Tiến
Hưng .
Bối cảnh ra đời
Hà Giang:
Chào tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cuốn Tâm Tư
Tổng Thống Thiệu của ông sắp được cho ra mắt
vào ngày Chủ Nhật, 16 tháng Năm tới đây, tại
Little Sài Gòn. Xin ông cho biết trong bối
cảnh nào và lý do nào đã thúc đẩy ông bỏ
công soạn cuốn sách rất là công phu này?
TS Nguyễn Tiến
Hưng: Thưa cô Hà Giang, năm 2005, chúng
tôi xuất bản cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”,
và độc giả đã đặt rất nhiều câu hỏi về những
diễn biến ở nơi hậu trường trong những năm
73, 74, 75, và tâm tư của ông Thiệu. Đặc
biệt nữa, là từ năm 2006 cho đến bây giờ, đã
có rất nhiều những giải mật mới về phía Hoa
Kỳ rất là quan trọng cho lịch sử. Những giải
mật mới này, đã soi sáng cho những điều mà
chúng tôi đã viết trước đây, và nó còn soi
sáng rõ hơn nữa những điều mà chúng tôi viết
ở trong cuốn sách mới này về tâm tư tổng
thống Thiệu.
Hà Giang:
Trong phần mở đầu của cuốn sách, tiến sĩ có
nói rằng, tâm tư của tổng thống Thiệu cũng
là tâm tư của riêng ông, và có lẽ là tâm tư
của nhiều người Việt Nam khác, xin tiến sĩ
nói về cái tâm tư này ạ.
TS Nguyễn Tiến
Hưng: Tôi cũng phải xác định là tâm tư
của ông ấy thì tôi nghĩ rằng rất là phức tạp
về nhiều khía cạnh. Riêng về tâm tư đối với
đồng minh thì chúng tôi có thể nói là chúng
tôi biết được khá rõ ràng, là vì làm việc
gần ông, và sau này được nghe rất nhiều lời
tâm sự, sau 75, thì thưa cô tôi có thể tóm
tắt đó là một tâm tư rất là trăn trở, rất là
ray rứt, vì một phần thì cần đến người đồng
minh từ bao gạo cho đến lít xăng, súng đạn
v.v…
Đấy, một đàng thì lại
rất là trăn trở trong lòng vì những hành
động của ngừơi đồng minh ấy. Thì ông (Thiệu)
nói là nay thế này, mai thế khác, tín hiệu
lẫn lộn, không biết thế nào mà mò. Chúng tôi
có viết chương 18, về cái bài phỏng vấn rất
dài, của ông với một tờ báo Đức, tên là “Der
Spiegel”, trong cái bài đó, tổng thống Thiệu
đã nói rất nhiều về cái mà ông gọi là “sự
phản bội”, ông ấy bảo là 4 đời tổng thống
Hoa Kỳ đã khuyến dụ nhân dân miền Nam đi vào
cái khối của thế giới tự do, rồi cuối cùng
tháo lui bỏ chạy. Và đặc biệt là có những
cái cam kết rất là vững chắc, thân tín rồi
cuối cùng cũng lờ đi.
Cái bài đó tựa đề là
“Người Mỹ đã phản bội chúng tôi”, chúng tôi
có in lại tòan bộ bài đó từ tiếng Đức được
dịch ra tiếng Anh, rồi có bút phê của ông
(Thiệu) rất là cẩn thận. Nhưng mà đặc biệt
có một tâm tư mà chúng tôi nghĩ rằng nó phản
ảnh phần nào cho tâm tư của chính cá nhân
chúng tôi, và nhiều người trong chúng ta, đó
là về phía ông ấy cũng như về phía nhân dân
miền Nam thì dù rằng có nhiều khuyết điểm,
dù rằng yếu kém, dủ rằng có lỗi lầm, tham
những này kia v.v…, nhưng mà cuối cùng thì
cũng đã cố gắng hết sức.
Hà Giang: Một trong những tranh
cãi kéo dài rất lâu là việc mà người ta
tưởng rằng tổng thống Thiệu khi ra đi đã
mang theo 16 tấn vàng cho mục đích cá nhân.
Trong cuốn sách của ông, tiến sĩ đã đề cập
đến việc này, xin ông tóm tắt cho thính giả
của đài Á Châu Tự Do nghe.
TS Nguyễn Tiến
Hưng: Phải nói riêng về cái vụ vàng thì
ông ây hòan tòan oan uổng. Mặc dầu là chúng
tôi cũng đã đề cập đến vấn đề này trong cuốn
“Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, và cho tới một
tháng trứơc đây, thưa cô, cũng vẫn có người
hỏi tôi.
Trong cuốn “Tâm Tư
Tổng Thống Thiệu” chúng tôi có để cả một
chương viết về việc này. Trong vòng hai ba
năm qua đã có những tài liệu rất rõ ràng, đó
là những mật điện của đại sứ Martin đánh vào
Sài Gòn từ đầu tháng Tư cho đến 17 tháng Tư,
đánh liên tục về cái chuyện vàng, thì là câu
chuyện nó là như thế này, rất là tóm tắt:
Lúc bấy giờ là hết rồi, viện trợ coi như là
cạn kiệt có 700 triệu, thế thì, sau cùng ông
(Thiệu) bảo là thôi thì bây giờ còn bao
nhiêu vàng còn bao nhiêu đô la thì có thể là
mang ra để mà ‘xả láng’, ông dùng cái chữ
‘xả láng’ đó.
Thì đầu tiên đó là
bàn với lại thống đốc ngân hàng quốc gia là
ông thống đốc Uyển bàn với đại sứ Martin thì
ông Martin cố vấn là phải mang sang Thụy Sĩ
để mà mua tiếp liệu bên đó nó dễ hơn bên Mỹ
tại vì bên Mỹ thì bị ràng buộc rất nhiều
luật lệ. Thế thì, có cái lệnh cho thống đốc
Uyển, mà ông Uyển vừa mới contact làm việc
với mấy hãng máy bay, tôi nhớ là TWA, Howard
Hughes mà bây giờ không còn nữa, để mà chở
cái số vàng 16 tấn đi, thì tin đó bị lộ ra
ngoài.
Các hãng bảo hiểm,
tôi nhớ là Lloyd’s of London, là hãng bảo
hiểm lớn, bởi vì khi chở một số vàng lớn như
vậy thì phải có bảo hiểm. Những bảo hiểm lớn
như vậy người ta bán insurance policy, thì
hãng bảo hiểm đó co vòi lại, rút lại không
bán bảo hiểm, thế là số vàng khựng lại. Báo
chí Sài Gòn lúc ấy hình như có đăng tin, hay
là có rumor rất mạnh là lúc ấy ông Thiệu
đang chở vàng đi, thì thưa cô lúc bấy giờ ai
cũng phủi tay hết, nhưng mà ông ấy cứ cương
quyết, thống đốc Uyển vẫn cứ liên lạc với
đại sứ Martin, thì đại sứ Martin sau cùng đã
liên lạc với bộ quốc phòng Hoa Kỳ.
Trong cuốn sách này
chúng tôi viết, in lại những mật điện nguyên
thủy đó để làm bằng chứng cho lịch sử. Và
mới đây thì chúng tôi được biết là báo Tuổi
Trẻ của Sài Gòn có một bài rõ ràng của anh
Hủynh Đỗ Sơn. Anh Hủynh Đỗ Sơn là người làm
việc coi về kho vàng của ngân hàng quốc gia
trước 75. Anh ấy viết lại rất rõ ràng việc
chuyển nhượng lại số vàng tính từng ly từng
lượng và anh ấy ghi rõ con số nào số mấy,
hai hầm vàng, mười sáu tấn vàng để ở đâu, ở
đâu. Thưa cô thì cái đó là rất rõ ràng, và
bây giờ tôi nghĩ là sau cuốn sách này, thì
chuyện vàng hòan tòan được giải tỏa đối với
ông Thiệu, thưa cô.
Phơi bày nhiều
uẩn khúc
Hà Giang:
Vâng, thưa tiến sĩ, thế còn cái câu “I have
nothing to do with the Vietnamese refugees”,
có nghĩa là “tôi không dính dáng gì đến mấy
người tị nạn Việt Nam cả, mà người ta cho
rằng tổng thống Thiệu đã nói, thì đầu đuôi
nó ra làm sao ạ?
TS Nguyễn Tiến
Hưng: Thưa cô Hà Giang, tôi viết ngay ở
trong phần đầu về cái chuyện này. Tôi nghĩ
rằng đây là chuyện làm cho ông ấy đau đớn
nhất, có thể nói là đau đớn nhất, đứng về
phương diện cá nhân. Từ sau 1975, thưa cô.
Chuyện tóm tắt thì nó như thế này. Khoảng
cuối năm 79, tháng Mười, thì có những tờ báo
của chúng ta, có đăng tải trang đầu rằng ông
Thiệu nói cái câu là “tôi không còn cái gì
mà mắc mớ đến vấn đề thuyền nhân nữa”, mà
đang khi đó thì phong trào thuyền nhân đang
là lên rất cao, mọi người đang cố gắng hết
sức để mà lo cái chuyện này. Hai hôm sau thì
tôi nhận lá thư của ông.
Chính ông kể lại
chuyện nó như thế nào? Tức là ông ấy nói
rằng, có một cái thằng, ông ấy gọi là cái
thằng. Ông tức ai ông hay nói thằng lắm. Thì
cái thằng Michael Dunlop thuộc tờ báo NOW,
now là bây giờ, ông bảo ông cho phỏng vấn
rất là vắn. Vấn đề kẹt là chữ “for” và chữ
“with”, thì ông Thiệu nói rằng, khi họ hỏi
ông rằng, ông có thể làm được cái gì, đối
với vấn đề thuyền nhân hay không, thì ý ông
muốn nói là, bây giờ tôi không còn quyền
hành gì nữa, không còn phương tiện gì đề mà
làm được bất cứ cái gì đối với vấn đề này.
Thì nếu mà ông muốn nói
như vậy thì phải nói là “I have nothing to
do for them”, theo ông nhà báo, thì ông
Thiệu nói là “I have nothing to do with
them”. Chỉ có mỗi một chữ “for” với chữ
“with”, mà nó thay đổi hẳn cái ý nghĩa, thưa
cô. Ông đau đớn lắm. Đó là lần đầu tiên, và
duy nhất trong cụôc đời, tự tay ông viết một
cái thư để mà tự cải chính với
Editor-in-Chief của báo NOW, và thư đó ông
yêu cầu tôi rất rõ ràng, là vấn đề nó như
vậy, thì anh tìm cách nào mà clear up,
cải chính dùm tôi.
Hà Giang:
Trong cuốn sách của tiến sĩ, có một chương
nói hẳn về tính đa nghi của tổng thống
Thiệu, nhưng cũng lại có một chương khác lại
nói là ông Thiệu quá tin vào người Mỹ. Một
người rất là đa nghi thì có thể quá tin vào
ai được không ạ? Đó có phải là một điều mâu
thuẫn không thưa tiến sĩ?
TS Nguyễn Tiến
Hưng: Vâng thì, nếu mà mình đặt câu hỏi
như vậy, một cái chương có tựa đề là “Đa
nghi Tào Tháo”, thì kể lại những cái chuyện
ông chỉ cho tôi cách mà đa nghi nữa cơ. Ông
bảo vậy. Ông bảo anh phải cẩn thận từ cái
chấm, cái phẩy anh cũng phải, thật ra ông
chỉ cho mình đa nghi. Nhưng còn cái chuyện
tin vào Mỹ thì tôi nghĩ rằng ông ấy vẫn nghi
Mỹ, chuyện ấy ông cũng nói rất dài trong tâm
tư của ông mà chúng tôi đã viết lại.
Hà Giang:
Nhiều người đã đổ lỗi cho tổng thống Thiệu
là chính ông đã làm mất Việt Nam, và lên án
ông là đã rời đất nứơc ra đi khi quân sĩ vẫn
còn đang ở lại chiến đấu. Theo tiến sĩ thì
những suy nghĩ này có quá khe khắt với tổng
thống Thiệu không?
TS Nguyễn Tiến
Hưng: Cái vấn đề mất Việt Nam nó có
nhiều khía cạnh lắm, nó là một câu hỏi lớn.
Tôi nghĩ rằng có rất nhiều dữ kiện nó đưa
đến vấn đề sụp đổ của miền Nam. Tôi nghĩ
rằng một mình ông Thiệu cũng không phải là
người có khả năng để mất Việt Nam. Nhưng mà
tôi nghĩ rằng hòan cảnh của ông ấy rất là
khó khăn trong lúc đó là vì, cuối cùng thì
cạn kiệt hết miền Nam, dựa vào Hoa Kỳ quá
nhiều, đến lúc mà cắt cái umbilical cord thì
coi như là mình không còn cái khả năng tồn
tại nữa.
Dư luận nói rằng là
ông đã bỏ chạy, đào ngũ, thì thưa cô, trong
cuốn sách này, chúng tôi đã viết rất rõ
ràng, là ông đã bị áp lực từ chức. Áp lực
rất mạnh mẽ, tiến sĩ Kissinger qua đại sứ,
bằng cách nói với ông rằng, ông mà không từ
chức, thì cơ hội cuối cùng cho miền Nam là
không còn nữa, tức là đặt vào vai ông một
trọng trách vô cùng nặng nề.
Điều thứ hai là ông
không từ chức thì tướng lãnh của ông cũng
bắt ông từ chức, thì cô nghĩ là hai còn
đừơng đó thì không còn cách nào nữa. Nhưng
mà ông vẫn vớt vát, ông hỏi: “Ừ thì tôi từ
chức, nhưng mà tôi từ chức thì có viện trợ
không? Đại sứ Martin nói là nếu mà ngài từ
chức, có thể có, có thể không, nhưng mà nếu
ngài không từ chức, thì chắc chắn là
không. Thì thưa cô, thì cái đó là cái áp
lực. Đó là áp lực từ chức. Rồi áp lực ra đi
nữa. Kỳ thực ra là ông ấy phải ra khỏi miền
Nam thưa cô. Thì tôi có nghe bà tổng thống
Thiệu kể lại là thì thôi mẹ con mày đi đi,
tao ở lại, tao mặc cái quần đùi.
Kể lại chuyện áp lực
thì có những tài liệu đại sứ Martin mới tiết
lộ, chúng tôi mới có ở trong cuốn sách này,
thì cái áp lực ông phải ra đi cũng rất nặng
nề, tại về phía Mỹ, cũng như phía Pháp, cũng
như là tổng thống Hương mới lên, hay là
tướng Dương Văn Minh, đều làm áp lực cho ông
ấy phải ra đi, tại vì nếu ông ấy không ra đi
thì mặt trận không chịu điều đình.
Hà Giang:
Cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã dành thì
giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn
này.