Nguồn:
Thông Luận
4-9-07 (và tiếp theo)
NHÌN LẠI NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ĐÃ
QUA
Nguyễn Văn Trung
I
Tha thứ và xin tha thứ
Hồi 1988, trong khung cảnh chính sách đổi mới, tôi
viết một bài dài khoảng 20 trang: “Nhìn lại những chặng đường đã
qua” theo đề nghị của tạp chí Nghiên Cứu Việt Nam (Études
vietnamiennes), nhà xuất bản Ngoại Văn ở Hà Nội, lúc đó do ông
Nguyễn Khắc Viện phụ trách, nhưng không biết tại sao đã không được
đăng. Bước vào năm 2000, tôi đã 70 tuổi. Nhiều người đề nghị tôi
“nhìn lại những chặng đường tôi đã đi qua”. Tôi thấy tôi phải đáp
lại yêu cầu này và vẫn giữ tinh thần, thái độ như đã bày tỏ trong
bài viết hồi 1988 ở Saigon.
Trước tiên, xin ghi lại mấy đoạn chính sau đây trong bài viết cũ vừa
kể: “Thực tế đất nước hiện nay đã quá rõ để cho tôi và mọi người
Việt Nam quay nhìn lại quá khứ gần đây, thấy được những ảo tưởng,
sai lầm của mình bất cứ ở xu hướng nào hay từ sự lựa chọn nào”...
Nếu chính tôi bây giờ mới hiểu những ảo tưởng của mình, của cả nước
liên quan đến những lựa chọn căn bản về những mục tiêu chính: Độc
lập, tự do, thống nhất, phát triển vào những khúc ngoặt lịch sử của
dân tộc như 1945, 1955, 1975, làm sao tôi có thể phê phán đổ lỗi cho
người khác với thái độ an tâm, coi sai trái là ở nơi người khác,
nhất là ở những kẻ cầm quyền?
Trong hồi ký Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của ông Đỗ Mậu mà
tôi chỉ được đọc qua bài giới thiệu trong tạp chí Đất Việt
của Hội Việt Kiều Canada, tháng Mười năm 1987, ông Đỗ Mậu đã khẳng
định thảm kịch ở Việt Nam bắt nguồn từ sự chém giết sống mái của
cộng sản quốc tế và công giáo quốc tế trên thân xác đại đa số nhân
dân Việt Nam. Đặc biệt ông phê phán gay gắt chế độ ông Diệm. Riêng
tôi, Đức Cha Nguyễn Văn Bình, cha Trần Hữu Thanh, ông đã tách ra.
Tôi không dám nhận vinh hạnh được tách rời ra đó. Điều tôi muốn thưa
với ông Đỗ Mậu là nếu đại đa số nhân dân Việt Nam kia và chính ông
Đỗ Mậu không ủng hộ một trong hai nhóm thiểu số thì đâu có cuộc đẫm
máu như trên?
Ở trong nước, hiện cũng có xu hướng phê phán kết tội cấp lãnh đạo
như thể chỉ họ gây ra thực tế hiện nay. Thế thì những người đã theo
cách mạng, thậm chí đảng viên, giữ nhiều chức vụ cao thấp trong
guồng máy này, không có trách nhiệm gì sao về những sai lầm của cấp
lãnh đạo mà bây giờ về hưu hay mất quyền, mới lên tiếng phê phán, đổ
tội cho người khác?
Tôi nghĩ rằng tình hình thực tế như bây giờ, một phần dân chúng sống
bằng ăn xin và ăn xin cả những người đã buộc phải bỏ nước ra đi, tất
cả chúng ta đã bị lột trần, không ai còn nhân danh gì được để phê
phán kết án người khác với bàn tay sạch... Như vậy, mọi phê phán
theo tinh thần đổ tại người khác chỉ gây thêm phân hoá chia rẽ và do
đó đưa đất nước này đến chỗ suy sụp trầm trọng hơn nữa mà thôi.
Trái lại nên chịu khó ngồi lại với nhau, không phải để phê phán,
hoặc chỉ để phản ánh cái tiêu cực, mà để cùng nhau tìm hiểu tại sao
đất nước lại đi tới tình hình hiện nay, tìm hiểu những điều kiện
nguyên nhân khách quan nào đã quy định chi phối những lựa chọn căn
bản có tính chiến lược lâu dài mà bây giờ mới thấy là sai lầm... Vấn
đề không phải là ai thắng ai, mà là tại sao miền Bắc đã thắng, miền
Nam đã thua, và rút cục tại sao tất cả đều thua và thua chính mình.
Hoặc nói cách khác, miền Bắc đã giải phóng miền Nam, nhưng xét về
mặt nhận thức, sau mười ba năm, có thể nói việc giải phóng miền Nam
về quân sự chính trị đã giải phóng cả miền Bắc và miền Nam về mặt
nhận thức.
Con đường đưa đất nước này đứng dậy, đi lên, khỏi sa xuống vực thẳm,
để trút bỏ niềm tủi nhục mà mọi người đều cảm nhận khi xem tivi Thế
Vận Hội Séoul 88 là trước hết nhận ra được những nguyên nhân khách
quan nào đã đưa dân tộc đến thảm cảnh hiện nay. Việc tìm hiểu giải
thích một cách khoa học này không đưa đến phê phán, kết án mà chỉ
đưa đến một cảm nhận với niềm thông cảm và liên đới trách nhiệm.”
Sau hơn 10 năm, hiện tượng phê phán tố cáo người khác, không phải
thuộc phe địch mà thuộc phe “ta”, trong nội bộ, không những không
suy giảm mà còn gia tăng đến mức những người lãnh đạo cao cấp nhất,
tố cáo nhau qua những tài liệu được viết ra dưới dạng hồi ký như của
ông Trần Quỳnh đề cao các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và tố cáo mạt sát
ông Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp vẫn giữ im lặng. Nhưng có đàn em của
ông lên tiếng đáp lại. Đây là những chuyện thuộc thâm cung bí sử cơ
mật trong BCTTUĐ mà kẻ nào tiết lộ là vi phạm nguyên tắc tổ chức của
Đảng. Ông Trần Quỳnh chắc hẳn biết rõ điều đó, nhưng ông thấy cần
tiết lộ chuyện nội bộ để cho “các thế hệ mai sau một ít tư liệu hiểu
đúng lịch sử cha ông họ”. Những tài liệu này cũng như những tài liệu
khác của ông Bảy Trấn, Trần Độ, v.v.. đều được phổ biến rộng rãi ở
hải ngoại. Trước khi tôi ra nước ngoài, một người bạn đi thăm con ở
Mỹ về cho biết tôi sang bên đó sẽ được nghe, đọc những gì bẩn nhất
của miền Nam trước 75 được phơi bày qua sách báo hải ngoại.
Tôi có cảm tưởng giới trẻ ít quan tâm những sách báo tố cáo chụp mũ
lẫn nhau này. Nhưng những người có liên hệ gia đình với các đối
tượng chỉ trích hay bị chỉ trích, không thể không tìm hiểu đâu là sự
thực trong các tài liệu sách báo in ra, hoặc không thể không thắc
mắc trước những vụ xuống đường, tuần hành mà họ chứng kiền, như vụ
Trần Trường ở California. Họ nghĩ gì về tư cách của cha anh họ,
những thế hệ đã liên hệ trực tiếp đến các biến cố, sự kiện được nêu
trên? Họ có kính trọng không hay chỉ kính vì là đàn anh, cha mẹ hoặc
lứa tuổi với cha mẹ, chú bác họ mà không trọng, không phục? Một số
sinh viên Evergreen College, San Jose đã lên tiếng thắc mắc, phàn
nàn về những vụ tố cáo, đả đảo loạn xạ trong cộng đồng:
“Quí vị biểu tình chống ca sĩ Thanh Lan được cộng sản Việt Nam cho
qua Mỹ để giao lưu văn hoá” cho cộng sản; Chống Nguyễn Ngọc Linh,
chống Thời Báo của Vũ Đình Nghi bị chụp mũ thân cộng; biểu
tình trước chùa Đức Viên và xâm nhập vào chùa lục soát tìm TT Thích
Trí Dũng 93 tuổi, biểu tình chống Đại Nhạc Hội Dạ vũ hè 98 mà Nguyễn
Ngọc Ngạn làm MC”.v.v.. (Theo Thời báo số 2439, Thứ Bảy, Chủ
Nhật 09,10-01-1999 San Jose)
“Qua hình thức biểu tình với danh nghĩa chống cộng tự coi là người
Quốc gia chân chính, mà lại cầm cái mũ cộng sản đi chụp các người
khác. Nhiều trí thức trẻ đã quyết định về Việt Nam tìm hiểu tại chỗ
như Nguyễn Tú Minh 22 tuổi cùng người chị ở California về thăm Việt
Nam (xem mục “Thời sự đặc biệt về quốc nội”, Thời Báo Canada,
số 532 ngày 10-03-2000).
Hoặc giả một Phan Trần Hiếu đã chứng kiến những vụ biểu tình chống
Trần Văn Trường treo cổ cộng sản và bích chương HCM trong tiệm phim
của mình với tư cách nhà báo của tờ The Orange Country Register,
trở về Việt Nam tìm hiểu nguồn gốc gia đình mình, gia đình Trần
Trường v.v... về Hoa Kỳ viết báo, in thành sách bằng tiếng Anh và
tiếng Việt 230 trang” (Theo: Phan Trần Hiếu, Cội Nguồn Bất An,
Roots of Unrest, xuất bản tại Hoa Kỳ 1999).
Còn giới trẻ trong nước như Thịnh Lê, 24 tuổi cho biết 80% người ở
lứa tuổi anh không biết ý nghĩa của các tên đường mang danh những
nhân vật cách mạng, nhưng lại biết rõ về các ca sĩ Mỹ như Madonna,
Michael Jackson... “Chúng tôi không thể được phân tích theo một điều
gì đó - ý thức hệ hay tôn giáo, tinh thần yêu nước. Trước đây người
ta coi trọng chính trị hoặc là theo hay chống cộng, theo hay chống
thực dân. Ngày nay chúng tôi đã trở thành cá nhân hoá... giống như
giới trẻ ở Mỹ, chỉ có thể coi những thành quả kinh tế hoặc lối sống
là quan trọng. (“Chúng tôi chẳng màng chú ý tới chính trị và các
chính trị gia”, Thời Báo Canada số 514 ngày 5-11-99).
Tuy nhiên cũng có những người trẻ thắc mắc lưu ý đến chính trị, đặc
biệt thời kỳ Đệ I Cộng Hòa, chẳng hạn về ông Diệm, các bạn đặt câu
hỏi: có phải ông Diệm là người yêu nước chân chính không? và chế độ
ông đứng đầu có phải chỉ là bù nhìn Mỹ dựng nên không? (Xem:
Người Việt Daily News OnLine 15-11-1997). Tài liệu cho thấy
những lý lẽ của những đàn anh hoặc bài bác hoặc ca tụng ông Diệm;
vậy đâu là sự thực? Đọc những sách báo, một số trí thức đã sinh ra
trước hay sau 75 trở về Việt Nam, ai cũng thấy mình tìm lại được
“quê cha đất tổ” và gắn bó với quê hương trước đây xa lạ một cách
thật gần gũi, thắm thiết, thậm chí yêu thích cả tiếng Việt mà họ chỉ
biết nói bập bẹ, nhưng còn thực tế Việt Nam, quá khứ và hiện tại
trong nước, ngoài nước, quả thật họ mới đã chỉ biết nêu lên những
thắc mắc. Việt Nam bây giờ có đến năm thực tại. thực tại Việt Nam
của những người ở trong nước nhìn tình hình trong nước theo diễn
tiến của nó từ 1975 đến nay qua nhiều thay đổi. Thực tại Việt Nam
của cộng đồng hải ngoại nhìn cộng đồng cũng theo diễn tiến những
thay đổi từ 75 đến nay. thực tại Việt Nam ở hải ngoại theo người
trong nước tưởng tượng. Thực tại Việt Nam nội địa theo người ở hải
ngoại tưởng tượng là thật và sau cùng thực tại Việt Nam của người
ngoại quốc nhìn Việt Nam theo quan điểm, quyền lợi của họ.
Những người trí thức trẻ lớn lên trưởng thành ở hải ngoại thấy khó
hiểu được sự thực chế độ miền Nam trước 75 của cha anh họ, vì một số
những người thuộc thế hệ cha anh họ đã bôi nhọ, bôi đen quá khứ đó
bằng những tố cáo, vu khống, chụp mũ nhau đôi khi thật thô bỉ hạ
cấp. Sách báo, phim ảnh, thậm chí cả sách giáo khoa của nước họ định
cư cũng đầy dẫy xuyên tạc, thiên vị bất công vô tình hay cố ý vì có
những ký giả, nhà biên khảo ngoại quốc nổi tiếng gây được sự nghiệp
nhờ thành tích phản ánh một giai đoạn thời cuộc Việt Nam; nay họ
không dám tỏ ra hối tiếc, can đảm nhìn nhận những sai trái, những ảo
tưởng của mình về giai đoạn đó để bảo vệ sự nghiệp của mình. Thực
ra, không thể trách người nước ngoài có những cái nhìn thiên lệch về
Việt Nam, đặc biệt về chế độ miền Nam trước 75; vì chính những người
Việt Nam hải ngoại, đáng lẽ phải làm chứng sự thực cho nó, thì hành
động hay cách hành động của họ lại chỉ có tác dụng biện minh thêm
những cái nhìn thiên kiến, thiên vị của người ngoại quốc.
Về Việt Nam, tìm hiểu tại chỗ, những trí thức trẻ của cộng đồng ở
hải ngoại cũng khó nhận diện chế độ miền Nam của cha anh họ, vì chế
độ này không còn hoặc chế độ hiện hành đã lật đổ nó, làm cho cha anh
họ bỏ nước ra đi, cũng đã và đang tự thay đổi. Nhưng nếu họ tiếp xúc
được với những người của chế độ hiện nay đã thay đổi là lối nhìn xác
tín của mình như Phan Trần Hiếu thuật lại trong cuốn sách của anh,
thì quả thật những tiếp xúc đó đã giúp họ hiểu được một cách trung
thực hơn đôi chút thực tế của miền Nam trước 75 và của chế độ hiện
nay qua diễn tiến của nó từ 75 đến bây giờ.
Việc đi “thực tế” tại chỗ, ngay tại quê hương Việt Nam như Phan Trần
Hiếu đã làm cho họ điều kiện nhận ra tư thế của họ và những ước mơ
họ mong muốn: “Chúng tôi đứng mỗi chân trên một thế giới, chúng tôi
có hai căn cước. Trong khi chuyền tay ngọn đuốc tự do, phải chăng
chúng tôi đã có đủ tầm nhìn để vinh danh quá khứ và chào đón tương
lai? Ai sẽ tạo được sự thống nhất mà người Việt Nam luôn luôn mong
mỏi nhưng chưa bao giờ đạt đến? (tr. 225)
Sau cùng Phan Trần Hiếu nêu lại tám câu hỏi gửi người đọc suy nghĩ
và giải đáp cho anh, cho thế hệ giới trẻ của anh. Chẳng hạn:
1. Về sự hận thù: thân mẫu của tác giả có ý kiến nặng nề về
người nhà buôn (Trần Trường) đã là mục tiêu của những cuộc chống đối
ở Wesminster “Đừng thương hại hắn sau khi con gặp gia đình hắn”. Bà
cảnh giác con trai mình. Bạn có nghĩ đó là một lời khuyên không?
Người Việt có nhìn thấy hoàn cảnh một cách sáng suốt, hay anh ta
ngây thơ?
2. Về tha thứ: Người lính Việt Cộng tặng một món quà cho thân
mẫu người viết. Anh ta nói cuộc đời cực nhọc của mình đã giúp anh ta
hiểu được nỗi đau khổ của bà. Nếu bạn là bà mẹ, bạn có nhận món quà
của anh ta không?
3. Đổi thay: Nhiều người trốn chạy cộng sản chỉ nhớ Việt Nam
như lúc mà họ ra đi thôi. Nếu họ trở lại bây giờ, liệu họ có thể nào
thấy được đất nước đã thay đổi ra sao? Bằng cách nào tác giả đã có
thể vượt lên trên những định kiến về Việt Nam? Người ta thay đổi
thái độ ra sao?”
Ông bạn chủ nhiệm một tạp chí hàng tháng đưa cho tôi coi cuốn sách
Cội nguồn bất an của Phan Trần Hiếu và nói với tôi: chúng ta
có trách nhiệm với người trẻ này. Sau khi đọc xong, tôi cũng nghĩ
như vậy. Trong bài viết hồi 1988 “Nhìn lại những chặng đường đã qua”
tôi đã ghi: “chế độ mà tôi đang sống trong đây (tôi tránh dùng từ
cộng sản hoặc xã hội chủ nghĩa vì không khoa học), chế độ này được
thiết lập ở miền Bắc từ 1945-1975. Tôi không có trách nhiệm gì về
việc đó, Nhưng chế độ trên được thiết lập ở miền Nam từ 1975, thì
tôi nhìn nhận có phần trách nhiệm của mình, vì những điều tôi nói,
viết, làm đã đưa một số người đi theo cách mạng và một số người khác
không đi theo cũng có thái độ chấp nhận ở lại. Sau 1975 tôi thường
nghe họ trách: “vì Thầy/vì Anh mà tôi ở lại...”
*
**
Sau đảo chính 1963, tình hình miền Nam xáo trộn, không ai có thể thờ
ơ với những vấn đề chính trị. GS Trần Ngọc Ninh, GS Ngô Gia Hy và
tôi ra tờ Tìm Hiểu in ronéo. Nhưng không bao lâu tôi thấy
phải ra khỏi giới giáo sư đại học, tập hợp nhiều người cầm bút trẻ,
kể cả những người làm thơ, viết tiểu thuyết. Chúng tôi ra tập san
Hành Trình vừa phân tách thời cuộc, vừa có những sáng tác thơ
văn phản ảnh những suy tư, thái độ nhận thức... Tạp chí đưa ra khẩu
hiệu: Làm cách mạng xã hội không cộng sản. Lối nhìn này tác
động vào những người chống cộng ngay cả trong quân đội. Tướng Lê
Nguyên Khang biên thư cho tôi bầy tỏ tán thành đường lối của Tạp Chí
vì “không thể giải quyết chiến tranh này chỉ bằng súng đạn”. Tạp chí
giải thích những kinh nghiệm quân đội làm cách mạng như đang thấy ở
Phi Châu, Nam Mỹ, đặc biệt giới thiệu Nasser đã làm nảy nở nơi các
tướng tá trẻ ước muốn quân đội làm cách mạng xã hội. Thế Uyên, nhà
văn, có tham gia viết bài trong Hành Trình, về sau ông đứng
ra điều hành tạp chí Thái Độ sau khi Hành Trình ngừng
xuất bản, cổ võ cho xu hướng kể trên.
Nhưng những cố gắng suy nghĩ cụ thể mà tôi đã đóng góp sau Hành
Trình rồi Đất Nước là kế hoạch “Xây Dựng Nông Thôn” của
Đại Tá Nguyễn Văn Bé, một người kháng chiến cũ. Chúng tôi thành lập
một nhóm thân hữu làm việc suy nghĩ lý luận, gặp nhau ở Saigon hay
ra Vũng Tầu “tại bản doanh” của Đại Tá Bé. Tôi ghi và viết ra một
tập nhan đề “Những lựa chọn căn bản” phân tách thực tế xã hội miền
Nam, những phương hướng cơ bản xây dựng miền Nam, tạo điều kiện
thống nhất, những phương thức thực hiện cụ thể... Hiệu quả của kế
hoạch bình định, xây dựng nông thôn sau 75 được tướng Lansdale ghi
lại trong một cuốn sách ông viết đại ý như sau: “ông lái xe jeep chở
mấy vị dân sự cấp đại sứ, lãnh sự ban đêm ở một vùng nông thôn miền
Trung, xe bị chặn lại hỏi giấy tờ, nhưng không phải là V.C. mà là
cán bộ áo đen Xây Dựng Nông Thôn, và như vậy đánh tan huyền thoại
nông thôn quốc gia ban ngày, VC ban đêm. Nhưng những thành quả đó đã
không thay đổi được diễn tiến của thời cuộc.
Chiều tối 30-04-75 Đại Tá Bé đến tôi. Chúng tôi đứng ngoài balcon cư
xá tôi ở nhìn ngắm phố xá Saigon đang đổi chủ mà không bình luận gì,
sau đó tôi nói : “Đại Tá nên đi ra nước ngoài.” Ít năm sau, tôi nghe
tin ông vượt biên bằng đường biển, rồi qua đời ở Mỹ.”
Quan điểm của Hành Trình cũng tác động vào giới trẻ trí thức,
sinh viên ở các đô thị, tạo ý thức về nhu cầu làm cách mạng xã hội
không thể không làm cách mạng xã hội, nhưng theo họ chỉ có cách mạng
xã hội cộng sản, không thể có cách mạng xã hội không cộng sản và do
đó họ ra Khu hay gia nhập các tổ chức tranh đấu nằm vùng của cộng
sản, phê phán công khai trên sách báo của họ về tính cách ảo tưởng
của lập trường cách mạng xã hội không cộng sản, nhưng vẫn phải thừa
nhận như Lữ Phương đã làm: Hành Trình đã là chất xúc tác
chính đưa họ vào con đường cộng sản.
Dưới đây là một đoạn khác tôi viết trong “Nhìn Lại Những Chặng Đường
Đã Qua” năm 1988 vừa nhắc ở trên:
“Trí thức ở đô thị không thể bằng lòng với mục tiêu giải phóng dân
tộc được đề ra, họ muốn thấy xa hơn nữa, do đó không thể không nói
đến cách mạng. Tôi đã nói về cách mạng một cách công khai trên sách
báo hợp pháp hay không hợp pháp để đáp lại đòi hỏi trên của họ. Tôi
đã trình bày và phê phán một cách nghiêm chỉnh theo sự hiểu biết của
tôi lúc đó. Những điều tôi viết có thể đúng, có thể sai, nhưng đều
xuất phát từ sự chân thành, thẳng thắn, và chỉ muốn tìm hiểu sự thực
trong tinh thần tôn trọng người nghe, người đọc, không áp đặt bằng
bất cứ quyền lực nào, kể cả quyền lực của người thày giáo, nhằm gợi
ý, thúc đẩy họ suy nghĩ và phê phán. Trong hoàn cảnh miền Nam hồi
đó, ở các đô thị, lựa chọn đi theo cách mạng hay có một thái độ trí
thức đối với cách mạng không phải dễ, nhất là đối với những người
không có truyền thống gia đình làm cách mạng (cha ông làm cách mạng,
thì con, cháu đi theo). Trái lại nhiều người xuất thân từ những gia
đình di cư 1954, như Trần Triệu Luật, Nguyễn Trọng Văn, Thế
Nguyên... Họ đã theo cách mạng, không phải vì bị tuyên truyền như
người học sinh kể trên [1] cho biết, mà vì tự ý suy nghĩ, phê phán
và tự lựa chọn...”
Sau năm 1975, tôi gặp lại một số sinh viên cũ đã ra khu, đi Hà Nội
hồi 1967, 1968... Họ cho biết thái độ nhận thức của họ đã làm cho
những người họ tiếp xúc và ngay chính họ phải ngạc nhiên vì lối
nhìn, suy nghĩ rất khác nhau của đôi bên.
Với thời gian, họ cũng như tôi và có lẽ tất cả chúng ta những người
đang sống trong “chế độ” đều ít nhiều nhận ra là những niềm tin của
mình trước kia về con đường đi tới của đất nước chỉ là một ảo tưởng
trước thực tế đất nước như hiện nay. Bây giờ những người quen biết,
phía bên này hay bên kia đều có những người đã chết, những người còn
sống thì dằn vặt day dứt, nghi ngờ về những lựa chọn trước đây của
mình và không hiểu được tại sao, chỉ thấy đau xót. Ngay cả những
người bạn tôi mới quen từ miền Bắc vào sau 1975 cũng có tâm trạng
day dứt đau xót, có những người bạc đầu đã hy sinh gần hết cuộc đời
mình, bây giờ cũng tự hỏi: cả một đời xả thân cho cách mạng để đi
đến tình trạng này sao? Họ cho tôi biết không phải chỉ mình Tố Hữu
khóc Staline chết mà cả họ cũng làm thơ, cũng khóc thật chân tình...
chỉ sau này mới hiểu.”
*
* *
Những ai nhận ra ảo tưởng, ở phía bên này hay phía bên kia nói chung
đều thuộc giới trí thức. Đối với quần chúng, là nạn nhân của thời
cuộc, họ chỉ biết cảm nhận và cam chịu một cách âm thầm những hy
sinh, mất mát quá lớn. Quá khứ đầy nước mắt và đẫm máu từ 50 năm qua
còn đè nặng trên tâm trí họ, như bà mẹ của Phan Trần Hiếu đã biểu
lộ. Nhà xã hội học Bungari Lili Deyanova đã viết: “Ký ức vùng
Balkans này là một chất độc. Ngay cả ở Bungari, phe tả cũng như phe
hữu đều có. danh sách những người tử nạn, những vinh nhục. Vùng
Balkans có quá nhiều quá khứ để có thể gánh chịu nổi” (Tuần báo
Nouvel Observateur, 15-21 Aout 1999). Quá khứ trên dưới 50 năm
của những người Việt Nam có lẽ cũng vậy.
Quả thực ký ức là một chất độc đầu độc và vì thế vấn đề quan trọng
hơn cả, cấp bách nhất là cần xác định: phải giữ cái gì, phải quên
cái gì. Những ai đã giữ một chức vụ, vai trò nào đó trong hành chánh
quân sự, sinh hoạt chính trị văn hoá hẳn đều đã nhìn nhận -ít ra
trong thâm tâm- những thất bại, ảo tưởng của mình, nhưng ít người
chịu nhận trách nhiệm về phần mình khi tìm hiểu những nguyên nhân
thất bại, ảo tưởng và thường đổ lỗi cho người khác. Về mặt tâm lý xã
hội, trước một số sự kiện có tầm mức rộng lớn liên quan đến số phận
của tập thể dân tộc như ngoại bang xâm lược hay chế độ độc tài, đảng
trị, những nạn nhân có xu hướng tạo ra những bung xung (bouc
émissaire) ở trong một giới xã hội nào đó đảm nhận vai trò thủ phạm
gây nên những thảm bại, tai họa... để cho tất cả người khác có được
lương tâm yên hàn....
Về chuyện Thực Dân, có sự kiện đông đảo người Việt Nam không Công
giáo, có thể chia rẽ thù địch nhau nhưng lại đồng tình về lối nhìn
đối với người Việt Nam công giáo. Ngay cả trí thức làm luận án tiến
sĩ bằng tiếng nước ngoài như ông Lê Thành Khôi phê phán nhà Nguyễn
thật nghiêm khắc về mọi mặt, trừ chính sách đối với công giáo. Việc
cấm đạo, bách hại người công giáo, theo ông, được biện minh như lý
do bảo vệ an ninh quốc gia (raison d'État). Không thiếu gì những
người ngoài công giáo theo Tây, cộng tác với Tây, nhưng chỉ người
công giáo mới bị nhắc đến chỉ vì cái tôn giáo họ theo. Bao lâu người
không công giáo còn coi người công giáo là vật tế thần, bung xung để
che giấu những yếu kém biện minh những bất lực thất bại của mình hay
triệt để hơn nữa bao lâu chưa dám nhìn lại mình qua người công giáo
xem mình đã Tây hoá, nghĩa là đã Kitô hoá đến mức độ nào. về văn hoá
và do đó tố cáo người công giáo là tự phê, tự tố cáo, không thể nói
đến hòa hợp hòa giải dân tộc về mặt tín ngưỡng...
Ngày nay, từ “cộng sản” được dùng để tố cáo người cộng sản và cả
những người không cộng sản, suy nghĩ, hành động khác mình cũng để
che giấu biện minh những yếu kém, bất lực, thất bại của mình...
Tuy nhiên cũng có một vài tiếng nói của những lãnh tụ đảng phái quốc
gia thẳng thắn đề cao những gì là công lao của Việt Minh và không đổ
mọi trách nhiệm cho người cộng sản, vì theo các vị này, những lãnh
tụ quốc gia cũng phải chịu trách nhiệm về phần mình. Những nhận định
như thế có thể tìm thấy thấy trong hồi ký Việt Nam Những Ngày
Lịch Sử của ông Nguyễn Tường Bách và Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ
xuất bản gần đây ở nước ngoài. Nếu một bên nhìn nhận những lỗi lầm,
thiếu sót về phần mình, hành động đó về mặt trí thức, đạo lý, thì
điều bắt buộc là phía bên kia cũng phải làm tương tự. Có như vậy mới
có thể cùng nhau vượt quá khứ hướng về tương lai. Nhưng nếu có người
nhìn nhận lỗi lầm, sai trái về phần mình, lại bị người khác đố kỵ,
oán ghét lợi dụng những thú nhận của mình làm một bằng cớ tố cáo kết
án mình như một nhóm trí thức mệnh danh Phật giáo ở hải ngoại đã và
vẫn còn làm đối với người Công giáo thì quả thật “hết chuyện để
nói”!
Chia rẽ, oán thù không phải chỉ xảy ra giữa các bên đối nghịch mà
còn trong nội bộ một bên, một giới... Gần đây đã có những người lên
tiếng tố cáo kết án công khai người đồng đạo, đồng đảng ngay trong
giới lãnh đạo cao cấp hơn cả, gây nên những lời qua tiếng lại thật
nặng nề... chắc hẳn người đọc là người đồng đạo đồng đảng không đứng
về phía nào, không vui thích gì trong khi người ngoài đố kỵ, oán
ghét lấy làm hả dạ, cổ võ phổ biến rộng rãi những tố cáo kết án nhau
này. Về mặt chính trị, làm chính trị, người ta có thể làm như vậy,
nhưng về mặt tư cách, đạo lý thì sao?
Nhiều trí thức đã có địa vị sự nghiệp ở nước ngoài, hồi ông Diệm lên
cầm quyền năm 1954, về nước giúp ông. Sau một thời gian, thất vọng
vì ảo tưởng của mình, đã âm thầm rời bỏ tham gia chính quyền, trở
lại Pháp, Hoa Kỳ, và cho đến nay, những thất vọng của họ vẫn “sống
để trong bụng, chết mang đi”, không hề thấy những trí thức này lên
tiếng phê phán đả kích chế độ ông Diệm. Hồi 1945, đông đảo trí thức
ở nước ngoài hoặc trong nước đã theo ông Hồ, theo kháng chiến cũng
đã thất vọng, có người bỏ Đảng, nhưng cho đến nay vẫn giữ yên lặng,
Phải chăng có thể gọi họ đều là những kẻ hèn nhát? Hay phải nói là
vì tự trọng mà họ giữ im lặng? Và phải chăng chỉ những người lên
tiếng tố cáo mới can đảm? Nhưng cho dù những người lên tiếng phê
phán tố cáo một lý tưởng một chế độ mà trước đây họ đã tin theo, ca
tụng, phục vụ và thậm chí đã mạt sát thậm tệ những kẻ chống lại họ
đó có nói đôi điều đúng đi nữa, thì những người đã từng nghe họ
trước đây xưng tụng làm sao có thể tin những điều họ nói bây giờ như
thể họ đã không dính lứu với lý tưởng chế độ họ đã tôn thờ và phục
vụ? Nếu bây giờ họ muốn được lắng nghe, trước hết họ cần can đảm
khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm, chia sẻ liên đới trách nhiệm với
chế độ mà họ phê phán đả kích, như một trí thức Pháp đã theo đảng và
sau bỏ đảng viết hồi ký “Quá khứ một ảo tưởng”:
“Sau cùng, xin có một lời về tác giả, vì bất cứ
cuốn sử nào cũng đều là cuốn sử của chính mình. Tôi có một liên
hệ về tiểu sử và đề tài mà tôi nói ở đây “Quá khứ một ảo tưởng”.
Tôi chỉ việc trở lại những năm tháng tuổi trẻ mà tôi là đảng
viên từ 1949 đến 1956 để tìm ra dĩ vãng của một ảo tưởng. Vấn đề
mà tôi thử tìm hiểu ngày nay, như vậy, không thể tách rời khỏi
đời tôi. Tôi sống trong nội tâm ảo tưởng mà tôi thử nhìn lại
chặng đường đã qua vào một trong những thời kỳ ảo tưởng đó được
phổ biến rộng rãi hơn cả. Tôi có phải hối tiếc viết lịch sử thời
kỳ này không? Tôi không tin như vậy, sau 40 năm, tôi phê phán
thời đó tôi mù quáng không chút khoan nhượng nhưng cũng không
cay đắng. Không khoan nhượng vì sự thứ lỗi xuất phát từ những ý
định tốt, theo tôi, không chuộc lại được sự ngu muội và tự phụ.
Cũng không cay đắng vì thái độ dấn thân khốn kiếp đó đã dạy dỗ
tôi rất nhiều. Tôi ra khỏi cuộc dấn thân khốn kiếp này mới thấy
được phải bắt đầu tra hỏi về say mê cách mạng, và được miễn
nhiễm không để bị những ý tưởng mang tính chất tôn giáo giả mạo
thâm nhập trong hành động chính trị của mình”. (Francois Furet,
Le Passé d'une illusion, Essai sur l' idée communiste au XXe
siècle. Lời nói đầu, tr 15-16).
Còn những người thuộc tầng lớp cùng đinh trong xã
hội: binh lính, cu li, trộm cướp đi theo cụ Hồ, cụ Ngô đã được những
chế độ đó đưa lên hàng tướng tá bộ trưởng, tổng cục, tổng giám đốc
v.v.. làm sao không kể đến ân tình hiếu nghĩa không phải chỉ trong
xã hội Á đông mà xã hội nào ít nhiều cũng cho rằng không thể ăn cháo
đái bát, không thể chửi những người, chế độ như thể cha mẹ đã không
đẻ ra họ... vì đạo lý không cho phép làm như vậy. Phùng Quán, một
nhà thơ nổi tiếng trong nhóm “Nhân Văn-Giai phẩm” đã từng bị Đảng
đầy đọa, hành hạ trong nhiều năm trời, khi được phục hồi cũng sống
dở chết dở. Nhà thơ nói về những khốn khổ của mình, của bạn bè, đàn
anh mình không oán thù, chỉ cần mô tả đã gây xúc động người đọc.
Nhưng điều đáng cảm phục hơn nữa là ông kể lại chuyện về quê nhà một
làng nghèo cực ở Quảng Trị. Ông nói chuyện với thiếu nhi về ca dao
và đưa ra nhận định phê phán thái độ phản phúc, bội bạc trong bài ca
dao về Sen và Bùn vì làm sao Sen có được mùi hương, vẻ đẹp như vậy
nếu không nhờ bùn tanh hôi... Rồi ông được mời ngâm thơ vì cả làng
hãnh diện có một nhà thơ nổi tiếng. Ông thú nhận hồi thơ ấu trong
làng, ông chỉ dám mơ về sau này được làm thằng mõ là mãn nguyện lắm
rồi. Nhưng nhờ có Đảng, cách mạng ông mới trở thành nhà thơ, mặc dầu
Đảng đã làm cho ông và bạn bè ông thân tàn ma dại...
*
* *
Có một sự kiện thuộc quá khứ của cha anh mà các thế hệ con cháu bây
giờ muốn tìm hiểu, là chuyện học tập cải tạo, hay tù chính trị, sau
khi người cộng sản chiếm được chính quyền. Ở hải ngoại, một số hồi
ký viết về đề tài này đã xuất bản, nhiều cuốn bán chạy. Nhưng lại
xảy ra trường hợp vài tác giả thuộc giới nghệ sĩ, nhà văn tố cáo mạt
sát nhau qua những hồi ký mà họ đã viết. Gần đây, có tác giả là sĩ
quan quân đội quốc gia trước 54, ở lại miền Bắc và phải đi học tập
cải tạo sau 54, viết về các trại cải tạo ở miền Bắc, không nói về
mình mà chỉ nhằm ghi lại cung cách ở tù của mấy tu sĩ công giáo mà
tác giả không công giáo gọi là các thánh tử đạo, và gửi đăng báo ở
hải ngoại. (Xem những bài có giới thiệu là Ký của Kiều Duy Vĩnh,
đăng trong tạp chí Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), những số 98, 100 v.v..
(năm 1997).
Rồi một vài cuốn hồi ký khác như Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư
Hiên, hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, (Văn Nghệ
xuất bản, Hoa Kỳ 1997).Sách bán khá chạy, tái bản nhiều lần, có lẽ
không hẳn chỉ vì kể chuyện ở tù cải tạo, mà vì tác giả là con một
người là bí thư ông Hồ, bị tù trong vụ án gọi là “vụ xét lại chống
Đảng”. Vụ này đã xảy ra trên 30 năm trước mà vẫn còn kéo dài cho đến
bây giờ. Tác giả đã kể những chuyện “thâm cung bí sử” của giới lãnh
đạo chóp bu của đảng mà người đọc hải ngoại, đa số gốc miền Nam chỉ
nghe đồn hoặc biết qua loa... Cũng đã có những phê phán Vũ Thư Hiên
từ những cây bút tị nạn gốc miền Bắc hay miền Nam định cư ở Bắc Mỹ.
Tất cả những hồi ký, ký về cải tạo, tù chính trị do những tác giả
chống cộng gốc miền Nam hay cán bộ, cựu đảng viên gốc miền Bắc đều
nhằm tố cáo chế độ lao tù và chế độ chính trị chủ trương chế độ lao
tù đó. Nhưng tại sao những “nạn nhân” của chế độ lao tù đó lại không
đồng ý được với nhau, thậm chí tố cáo mạt sát nhau? Vậy những người
trẻ thuộc hàng con cháu, được các tác giả là cha anh của họ gửi tặng
sách, biết nghe ai, tin ai?
Điều đáng lưu ý là trong số các tác giả, có cả những người thuộc
giới nhà tu và chính một tác giả trong giới này lại bị các nạn nhân
đồng cảnh, không phải những người cầm bút, kết án.. Đó là cuốn
Aka và Thập giá - ai thắng ai? của linh mục Phan Phát Huồn (do
nxb. Viet Redemptorist Mission, California, USA xuất bản,1999) đi
trại cải tạo với tư cách là tuyên úy quân đội VNCH đồng hoá sĩ quan
cấp tá. Tập hồi ký này có in kèm theo những phản ứng của người đọc
lúc hồi ký đang trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: có những lời
xưng tụng và có cả những lời sỉ vả. Có thể tác giả nghĩ rằng đăng
lại cả những lời sỉ vả chỉ thêm giá trị những lời xưng tụng? Nhưng
độc giả bày tỏ những lời sỉ vả tự xưng là sĩ quan quân đội: “Đối với
linh mục Huồn: “chúng ta biết nhau quá nhiều” không phải chỉ ở Suối
Máu, các trại kể từ K1 đến K5 mà còn ở trong quân đội trước 75, có
thể là cấp chỉ huy của linh mục Huồn ở Tổng Tham Mưu, các phòng tình
báo, an ninh, Chiến Tranh Chính Trị, Quân Cụ.” v.v...
Những lời nói nặng, sỉ vả không dẫn chứng cụ thể có thể làm cho
người đọc ít am hiểu thời cuộc trước 75, như giới trẻ, hay những
giáo dân tốt lành tin tưởng kính mến các cha, nhất là các cha dòng,
cho rằng đây là những người ngoại đạo đố kỵ công giáo bôi xấu đạo,
hạ nhục các linh mục. Tuy nhiên, người đọc vô tư bỏ qua những lời
nói nặng nề, có thể thắc mắc về hai điều mà những người phê phán đã
nêu lên: tác giả khoe những ưu ái trân trọng mà Tổng Thống miền Nam
đã từng dành cho mình. Tại sao một nhà tu, chuyên lo chuyện phần
hồn, lại được người cầm quyền phần đời, kể cả người có quyền thế
nhất nước phải vì nể, vì đạo đức thánh thiện hay vì thế lực chính
trị do quyền hành tôn giáo mà có? Những phê phán cũng trách tác giả
bỏ nước ra đi trong khi nhiều tuyên úy sĩ quan khác ở lại trong
nước?. Tuyên úy quân đội không phải quân nhân sĩ quan thực thụ. Tác
giả nộp đơn xin xuất cảnh với danh nghĩa HO phải chăng như vậy là
nhìn nhận những người bắt tác giả đi học tập cải tạo và cho phép
linh mục xuất ngoại với danh nghĩa HO đã xử sự đúng trong việc coi
tác giả không phải là linh mục mà là sĩ quan?
Những bạn đọc Công giáo có thể thắc mắc về cái tựa sách mà LM Phan
Phát Huồn đặt cho hồi ký: Aka và Thập Giá, ai thắng ai?.
Thắng thua có ý nghĩa nào đó trên bình diện nhân loại, nhưng có ý
nghĩa gì không trên bình diện tôn giáo, đức tin?
Hồi ký của linh mục Phan Phát Huồn và của một số sĩ quan, viên chức
chính thể VNCH ở cấp chỉ huy đều xác nhận đã bị buộc phải thú tội,
nhìn nhận những thất bại của cá nhân, phe quân đội, hành chánh VNCH,
và còn buộc phải chào cờ, ca hát hoan hô các đường lối cách mạng của
kẻ thắng trận như điều kiện học tập cải tạo tốt để được ra khỏi
trại... Ý định hạ nhục được đẩy đến cực độ trong chính sách dùng
người ít học, nói ngọng hay phát âm theo giọng địa phương làm cán bộ
quản lý trại, những người mà bây giờ một vài tác giả hồi ký cải tạo
tỏ ý khinh thường, nhưng không hiểu họ có dám bày tỏ thái độ khinh
bỉ công khai thời ở trong trại “cải tạo” hay không? Rất nhiều người
đi học tập cải tạo sau này ra nước ngoài theo diện bảo lãnh hay HO
vẫn giữ yên lặng, phải chăng chỉ vì họ còn biết giữ một chút liêm
sỉ?
Độc giả hải ngoại công giáo hay ngoài công giáo đọc mấy bài của Kiều
Duy Vĩnh nhắc tới ở trên và đặc biệt cuốn: Năm chiếc bánh và hai
con cá của T.G.M Nguyễn Văn Thuận mà tôi có giới thiệu trong tạp
chí Đi Tới, Montreal, số tháng 1, 1999. Sách có nhắc lại kỷ
niệm thời ở tù 13 năm, nhưng chúng ta không thể không nhận ra cung
cách ứng xử khác hẳn của nhà tu này so với cung cách của linh mục
Phan Phát Huồn và thắc mắc tự hỏi tại sao cũng là một nhà tu theo
cũng một tôn giáo lại có những cách ứng xử trái ngược nhau như vậy?
Thực ra, tôi biết nhiều trường hợp các nhà tu Công giáo hay Phật
giáo, trong chỗ riêng tư, đều nhìn nhận thời gian học tập cải tạo
hay ở tù chính trị như một thử thách giúp họ trở lại với tinh thần
tôn giáo, lý tưởng tu trì mà trước đó họ đã ít nhiều xa rời, thậm
chí phản bội nữa, nhất là những kẻ có quyền hành đạo đời. Do đó họ
coi học tập cải tạo, ở tù như một hồng ân Thiên Chúa ban cho họ để
tu tỉnh lại. Một người bạn già từng làm Giám đốc công an một tỉnh
Bắc Việt trước 54, di cư vào Nam và sau 75 đi tù cùng thời gian với
tôi, viết cho tôi:
“Nhận được thư anh, tôi ngạc nhiên, sửng sốt và
cảm động như ngày 8-2-1988 tôi nhận được lệnh tha của Công An.
Thật vậy tôi không ngờ anh còn sống và được ra nước ngoài như
thư anh viết. Kỳ ở Chí Hòa, tôi được Võ Long Triều cho biết anh
đã về chầu Chúa. Khi ra khỏi tù tôi cũng không nghĩ đến liên lạc
anh cũng vì lý do trên...
“Tóm lại, tôi không oán hận gì trong những năm bị cấm cố vì xét
theo một khía cạnh nào đó, nhất là khía cạnh đức tin thì thời
gian ở tù là một dịp để đền tội và sống đức tin một cách sâu
sắc, đầy đủ hơn những năm tháng hoạt động tông đồ trước ngày
Saigon mất. Đại khái, đã từng làm luật sư mình mới thấm thía
những khẩu hiệu: “An toàn pháp định” và hiểu thế nào là tù cấm
cố (réclusion). Chính ra chế độ học tập cải tạo bằng lao động
còn dễ chịu và đỡ tổn hại thần kinh hơn chế độ cấm cố, quanh năm
ngày tháng, giam kín trong 4 bức tường mà anh cũng có dịp thử
nghiệm ở đường Trần Hưng Đạo” (Sở C.A. Thành Phố, trước 75 là
nha Cảnh Sát Đô Thành –chú thích của NVT). Nhớ viết thư cho tôi
vì tôi cũng có đôi chút hiểu biết về tình trạng Việt kiều ở Mỹ.
Chính tình trạng này cũng làm tôi bị déprimé vì đồng bào
hay đúng hơn những người làm chính trị ở miền Nam di dân qua Mỹ
còn bị quá nhiều chia rẽ và lẩn quẩn với hận thù. Trong hoàn
cảnh như thế, khó mà làm được việc gì ích quốc lợi dân và đóng
góp cho tương lai Việt Nam. Lơ mơ còn bị chụp mũ đủ thứ và có
khi bị ăn cả đạn nữa. (thư riêng, viết ngày 19-04-1994).
Trước khi ra khỏi tù về nhà, tôi có cám ơn người thẩm
vấn tôi, gọi là trưởng phòng chấp pháp (ông là người đã hỏi cung hầu
hết trí thức, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư và các nhà tu hành Công giáo,
Phật giáo bị bắt trong những năm đầu sau 75), cám ơn về thời gian ở
sở C.A. Lúc đó ông không hiểu được ý của tôi; chỉ về sau khi về hưu
chúng tôi hay gặp nhau, lại nghe ông tâm sự kể những đau buồn ảo
tưởng của một đảng viên (“đâu có ngờ đến tình trạng hiện nay”), tôi
nói ông mới hiểu.
Tôi cũng biên thư cho mấy trí thức giáo sư Pháp đã can thiệp cho
tôi, chỉ xin nói tên một người: giáo sư Laurent Schawtz đồng chủ
tịch tòa án Russell với J.P. Sartre, để cám ơn sự can thiệp của các
vị đó, do một người bạn ở Paris cho biết, mà tôi không rõ các vị đó
can thiệp thế nào, với ai. Tôi nói với các vị đó: thời gian ở tù là
một tĩnh tâm tốt nhất trong đời tôi. Có khi ba tuần, một tháng bị
giam trong một “cachot” lờ mờ không rõ ngày đêm, chỉ mong được gọi
đi thẩm vấn, vì như vậy là được ra ngoài nhìn thấy ánh nắng, cảm
thấy gió thổi, thở khí trời và nhìn thấy người, là những điều bình
thường nhưng chỉ thấy quý khi mất... Những ai quen nếp sống hoạt
động có thể đập đầu vào tường tự sát vì không chịu nổi tình trạng
không được tiếp xúc, giao thiệp. Người ta thường sợ phải nhìn vào
mình, nhất là để phản tỉnh tự kiểm điểm, và như vậy hoạt động giao
thiệp chẳng qua là một cách để trốn lánh không phải nhìn vào mình,
hay nói theo Pascal, là một thứ “divertissement”. Nhưng một người
quen suy tưởng, ít nhiều có đời sống nội tâm lại coi tình cảnh ở tù
một mình là dịp hiếm hoi để nhìn lại toàn bộ cuộc đời của mình, đối
diện với lương tâm và trước mặt Chúa mà không cảm thấy cần tự biện
hộ, vì nghĩ rằng có thể không bao giờ ra khỏi nơi đây, hoặc chỉ ra
khỏi nơi đây khi đã ra khỏi đời này...
Trong tình cảnh đó, dễ dàng nhận ra những gì mình đã nhân danh gọi
là lý tưởng này nọ đôi khi chỉ che giấu những động cơ, mục tiêu cá
nhân: Hám danh lợi quyền lực, muốn được xung tụng trọng vọng... Đồng
thời thấy được phán đoán phê phán người khác, dù đúng ở một khía
cạnh nào đó, xét về toàn diện con người như một huyền nhiệm, vẫn là
hẹp hòi sai lầm. Ngoài ra cũng nhận ra những khía cạnh tích cực,
những ưu điểm ở nơi người bị phê phán... Sau cùng dễ dàng nhìn nhận
những lỗi lầm, sai trái của mình và đảm nhận trách nhiệm về phần
mình trong những sai trái lỗi lầm ở nơi người khác...
Sau khi ra tù, tôi được biết mấy linh mục quen thân và hai sinh viên
cũ tố cáo tôi, dẫn đến việc tôi bị tù. Thoạt nghe không khỏi buồn bã
chua xót vì những linh mục đó là những người bạn đường, hoặc đàn em
tôi đã nâng đỡ, xin Nha động viên hoãn dịch, chấm đỗ cao học mặc dầu
các giám khảo khác chống đối họ vì lập trường chính trị, và đưa họ
vào ban giảng huấn đại học. Nhìn lại mình, tự kiểm điểm cách đối xử
của tôi trước đây thế nào, và tôi nhận ra những sai trái của một lối
hành xử: cho là một cách khống chế (donner c'est asservir). Sau 75,
họ tìm cách tách khỏi tôi như thể không dính dáng gì với tôi, và đã
tố cáo tôi. Tôi quyết định đi gặp họ để xin lỗi họ... Tha thứ và xin
tha thứ quả thật rất khó, không đơn giản chút nào vì tha thứ và được
tha thứ không phải chỉ là trả một món nợ mà chính là phục hồi một
quá khứ.
Phải nhớ lại những lời nói việc làm nào đã gây tổn thương, xúc phạm
người khác, phải tìm hiểu tại sao và trong hành trình ngược thời
gian phải tìm hiểu, đôi khi đụng đến cái không thể phục hồi được.
Không thể đền bù được và do đó không thể tha thứ được... những con
người, thể chế chính trị xã hội nạn nhân của những phê phán đả kích
một cách oan uổng, bất công đã chết hoặc không còn tồn tại nữa. Tuy
người chết không thể làm sống lại, một chế độ đã qua không thể phục
hồi, nhưng vẫn có thể thay đổi những ý nghĩa đã gán cho quá khứ và
chính nhu cầu thay đổi ý nghĩa đưa tới đòi hỏi tha thứ và xin tha
thứ. Tha thứ và xin tha thứ không xoá bỏ quá khứ mà chỉ gán cho quá
khứ những ý nghĩa khác thể hiện một giải thoát làm cho tâm hồn được
thanh thản....
Bây giờ, nhìn lại những chặng đường đã qua ở tuổi 70, tôi thấy vẫn
phải bắt đầu bằng quá trình tha thứ và được tha thứ.
*
**
Tôi có một bản thảo về ngôn ngữ và văn học dân gian gặp rắc rối
trong nước nên chưa xuất bản được. Ra hải ngoại, tôi đưa cho Nguyễn
Mộng Giác, lại gặp rắc rối về những lý do tôn giáo không phải liên
quan đến chính bản thảo, mà đến cá nhân tôi. Đã xảy ra một hiểu lầm
làm cho Nguyễn Mộng Giác “đoạn tuyệt” với tôi. Sư kiện này buộc tôi
phải nhìn lại toàn bộ những liên hệ của tôi với Phật giáo trước và
sau 1975 để tìm hiểu tại sao có những đố kỵ ác cảm với tôi, mặc dầu
tôi có những quan hệ thân tình với nhiều vị lãnh đạo Phật giáo như
HT Trí Quang. Cuối cùng tôi nhận ra rằng, đối với một số dư luận
Phật giáo, đặc biệt ở những người hẹp hòi hay đầy mặc cảm, tôi không
thể được tách rời ra khỏi giới Công giáo và những chế độ chính trị ở
miền Nam trước 75, đặc biệt thời Đệ Nhất Cộng Hòa, nghĩa là tôi
không được tách ra khỏi những uất ức oán giận bất mãn đối với người
Công giáo và những chế độ chính trị được coi như những chế độ Công
giáo; và vì thế tôi phải nhận lãnh trách nhiệm liên đới về phía Công
giáo. Mang tâm nguyện tha thứ những ngộ nhận, xuyên tạc vu khống và
xin được tha thứ, tôi đã viết thư xin lỗi Nguyễn Mộng Giác và đã
được trả lời. Trao đổi thư từ giữa tôi và Nguyễn Mộng Giác đã đem
lại cho tôi một thanh thản tâm hồn, một niềm vui vì một mối bất hòa
đã được giải tỏa. Tôi nghĩ rằng sau khi tôi viết về vấn đề này và
xin lỗi những người Phật giáo đố kỵ vì một số lời nói bài viết của
tôi đã gây phiền lòng, bất kể đúng hay sai, tôi cũng sẽ được thanh
thản, và niềm vui lớn hơn nữa.
Đối với giới Công giáo ở hải ngoại, tôi cũng gặp rắc rối. Sự kiện ra
nước ngoài hay đi đây đó (Hoa Kỳ, VN) tạo ra nghi ngờ là tôi được
“cử đi công tác trí vận”, vì tôi không đi làm, không hưởng trợ cấp
nào, tại sao có tiền mà đi?
Sự nghi ngờ tăng thêm khi tờ Tin Nhà ở Paris ấn hành một phụ
bản Về Cuộc Đối Thoại Dân Chủ. Lữ Phương - Nguyễn Kiến Giang và
Nguyễn Văn Trung (1995), nêu nhiều nghi vấn về tư cách chính trị
của tôi. Theo chỗ tôi biết, không có nhiều phản ứng ở báo chí bên
Mỹ. Tôi được đọc một bài ký bút hiệu của độc giả gửi báo Văn Nghệ
Tiền Phong mà ông chủ bút cho tôi biết trước sẽ đăng để bán báo.
Bài báo mạt sát tôi một cách hạ cấp và nhầm lẫn một cách tai hại
giữa một người tên là Nguyễn Kiến Giang, một đảng viên dính líu vào
vụ án “chống xét lại” ở miền Bắc, với Nguyễn Kiên Giang, tác giả
viết kịch cải lương ở miền Nam. Có lẽ vì vậy không gây được tranh
luận kẻ bênh người chống như tờ báo mong muốn. Sau đó, Đức Ông Hoài,
phụ trách Phong Trào Giáo Dân ở hải ngoại, một chức vụ do Roma đặt
ra, viết Tâm Thư trong đó có nhắc đến tôi, khẳng định tôi được cộng
sản sai đi. Tâm Thư chỉ phổ biến trong nội bộ Công giáo. Người Công
giáo đi hồi 75 chỉ nghe tiếng tôi là người hay phê phán, đả kích
giáo hội, đặc biệt về hai điều: Liên hệ với chế độ thực dân và mất
gốc về văn hoá, sau được những người ngoài Công giáo như Trần Văn
Giàu, Nhất Hạnh dựa vào đó mà phê phán Công giáo, nhưng lại không
biết gì về thời gian sau năm 75 tôi đã thay đổi lối nhìn. Trước 75
tôi hay đặt vấn đề “Dân tộc cho người Công giáo”, bây giờ tôi cho
rằng đến lúc đặt vấn đề “Công giáo đặt cho Dân tộc”. Lối đặt vấn đề
như thế đã có tác động trong giới trí thức đảng viên.... Trong tập
“Nhìn lại những chặng đường đã qua” này tôi sẽ trình bày diễn tiến
những quan niệm của tôi về vấn đề Công giáo đặt ra thế nào trước và
sau 75 và chắc dư luận công giáo hải ngoại sẽ hiểu rõ tôi hơn. Duy
có trường hợp mối bất hòa giữa Nguyễn Ngọc Lan và tôi có thể đã là
nguồn gốc việc ra phụ bản Tin Nhà và -phần nào- Tâm Thư Đức
Ông Hoài. Hồi 1992, anh Nguyễn Ngọc Lan viết bài phê phán tôi, sau
nhiều bạn cũ của anh. Tôi đáp lại, nhưng bài này chỉ phổ biến thật
giới hạn trong chỗ bạn bè gần gũi. Nhưng sau khi tôi ra nước ngoài
ai đó đã biên tập lại bài tôi viết, bỏ một số đoạn, đem in và phổ
biến rộng rãi trong các họ đạo, ngoài ý muốn của tôi. Điều quan
trọng ở đây không phải là ai phải ai trái, mà những người quen biết
cả hai chúng tôi không vui gì về mối bất hòa này, nên tôi quyết định
viết thư xin lỗi anh Lan. Anh Lan đã đáp lại mau chóng và tôi thật
hân hoan về sự hòa giải này, nên cũng xin phép anh Nguyễn Ngọc Lan
sẽ cho phổ biến thư anh để bạn bè quen biết chia sẻ với tôi niềm hân
hoan và những ai lợi dụng mối bất hòa này không còn có thể lợi dụng.
*
* *
Sau cùng xin nhắc đến một lá thư gửi cho tôi trong một hoàn cảnh
thật đặc biệt để tôi nhìn lại những chặng đường dạy học và biên khảo
nghiên cứu của tôi.
Đây là bài viết của một thí sinh kỳ thi ban Triết ở Đại Học niên
khoá 1969 về đề tài: “Phê bình huyền thoại phải chăng không tránh
được dựa trên huyền thoại phê bình?”. Thay vì làm bài, thí sinh đã
để 4 giờ viết thư cho tôi, và, qua tôi, cho các đàn anh bày tỏ tâm
sự của tuổi trẻ trước thời cuộc đưa anh tới quyết định bỏ thi, mặc
dầu thi đậu là một điều kiện hoãn dịch... Tôi đưa cho mấy giáo sư
giám khảo đọc, chúng tôi đều cảm phục tư cách, thái độ can đảm của
anh. Riêng tôi muốn chấm cho anh đậu cao, nhưng có vị khác không tán
thành vì bài vượt ra khỏi nội qui trường thi. Cuối cùng mọi người
đồng ý không cho điểm và tôn trọng sự lựa chọn của thí sinh. Tôi
chụp sao lại một bản in giữ làm kỷ niệm, và sau 30 năm, phổ biến,
trả lời công khai tác giả, không rõ còn sống hay đã chết, ở Việt Nam
hay định cư ở nước ngoài. Tôi muốn tâm sự với tác giả về những ý
nghĩ của tôi hồi đó (trước 75) và sau 75.
Trước 75, tôi đã viết nhiều bài, in sách phê phán tố cáo chế độ giáo
dục ở miền Nam Việt Nam mà tôi gọi là “nỗi buồn đại học”, và chế độ
chính trị xã hội miền Nam mà tôi gọi là “nỗi buồn chiến tranh”, “nỗi
buồn nhược tiểu”. Những phê phán này hoặc chỉ ở mức độ đòi thay đổi
một đường lối, chính sách, hoặc triệt để hơn thay đổi cả chế độ...
Thời đó, tôi chỉ nhìn thấy những thiếu sót, sai trái, yếu kém của
miền Nam, thể chế Việt Nam Cộng Hòa... Tóm lại, chỉ thấy toàn màu
đen...
Sau 75, chế độ miền Nam (được gọi là “chế độ Mỹ Ngụy”, “vùng tạm
chiếm”) không còn nữa. Tôi dần dần nhận diện lại những khuôn mặt của
chế độ đó, và mới thấy những cái hay, tích cực của nó mà trước 75
tôi đã không lưu ý vì đó là những cái bình thường của nếp sống hằng
ngày, sinh hoạt giảng dạy, văn hoá.... Trớ trêu hơn nữa chính người
miền Bắc mới vào nêu thắc mắc, nhắc nhở tôi nhận diện lại. Chẳng hạn
đối với người miền Nam, cầu xa lộ Biên Hòa trước khi vào Saigon vẫn
chỉ là cái cầu, nhưng đối với người từ miền Bắc vào lại nhận thấy
không phải cái cầu mà vẫn là con đường nối dài. Hoặc tại sao miền
Nam lại lưu tâm giải quyết nhu cầu hằng ngày như đi vệ sinh một cách
chu đáo đến thế khi họ thấy và được dùng những cuộn băng mang nhãn
hiệu “Kiss me” trắng tinh vẫn còn bày bán trên vỉa hè Sài Gòn sau
ngày 30/04/75. Những nền nếp sinh hoạt đại học, cách tuyển mộ nhân
viên giảng huấn, giảng dạy, thi cử, trước 1975 nay bị xoá bỏ được
thay thế bằng những lề lối trái hẳn truyền thống đại học của thế
giới. Lúc này tôi mới cảm nhận được ý nghĩa, giá trị của những nền
nếp đại học trước 1975. Tuy nhiên, phải nói ngay là không phải những
gì đã phê phán trước 1975 là sai trái cả. Nhưng cái sai trái, thiếu
sót là đã không nhận ra những cái tích cực ưu điểm tựa mầu hồng, mầu
trắng của chế độ giáo dục xã hội miền Nam trước 75.
Điều ngày này tôi nhận ra là nhiều nếp sống mang nhiều ý nghĩa giá
trị xã hội đạo đức bị lợi dụng nhằm mục đích lật đổ chế độ miền Nam,
và những người dễ để cho bị lợi dụng thực ra cũng có trách nhiệm sự
lợi dụng đó về phần mình. Chỉ xin nêu hai trường hợp:
1. Tự trị Đại Học. Miền Nam trước 75, ít nhiều thực
hiện được cái mà bây giờ gọi là “xã hội công dân” (Société civile)
nghĩa là một mảng sinh hoạt do chính giới liên hệ tự quản lý như các
hội bác sĩ, luật sư, hay tự trị đại học của giới đại học. Phong trào
tranh đấu đô thị của sinh viên do Thành Đoàn lãnh đạo thành lập
Phong Trào Tự Trị Đại Học, núp sau một nếp sống dân chủ, bị coi là
“chiêu bài” để che giấu, biện minh những hoạt động chống đối chính
quyền, đặc biệt chống đối quân dịch. Cảnh sát có thể đàn áp ở ngoài
đường phố, nhưng không thể trong khuôn viên đại học. Sinh viên vẫn
có quyền treo biểu ngữ, hô khẩu hiệu, biểu tình mà cảnh sát không
dám can thiệp vì giáo sư, khoa trưởng đồng tình “bảo vệ Tự Trị Đại
Học”. Sau 75, người tiếp quản dạy học Văn Khoa, thắc mắc hỏi tôi tại
sao lại Tự Trị Đại Học? Năm 1992 Trung Tâm nghiên cứu Châu Á Thái
Bình Dương, trong Đại Học Sư Phạm TpHCM tổ chức hội thảo, đề nghị
tôi viết về Tự Trị Đại Học trước 75. Bài này đã không được đọc trong
khoá hội thảo và Hà Nội cho người vào điều tra vì nghi ngờ có một
mưu đồ gì đây.
2. Lựa chọn trung thành với đạo lý hơn bảo vệ một lập
trường chính trị. Sau 75, một buổi họp thân hữu nhóm sinh viên
tranh đấu được tổ chức ở nhà Bé Ký Hồ Thành Đức. Anh B hỏi tôi có
gặp mấy bạn học của anh gần đây không. Rồi anh khoe: hồi tụi em hoạt
động nội thành, đi qua khu canh gác giữ an ninh của mấy bạn học đó,
họ hỏi thăm rồi nói: thôi tụi bay đi chỗ khác, không bắt tụi em. Tôi
hỏi lại anh: Nếu bây giờ mấy anh bạn đó hoạt động chống đối đi qua
khu vực anh giữ an ninh, anh có bắt không?
- Bắt chứ. Ngay cả trong hàng ngũ tướng tá, cũng có trường hợp bao
che cho những người nằm vùng vì là họ hàng ruột thịt. Cách mạng Việt
Nam là bậc thầy của sách lược Lêninít vì đã bổ sung cho nó một yếu
tố mới: Vận dụng những tình cảm gia đình, quan hệ vợ chồng, bạn bè
v.v. phục vụ những mục tiêu tranh đấu cách mạng. Do đó những người
nằm vùng có thể hoạt động công khai, ít ra đối với những người quen
thân mà không sợ bị tố cáo. Như vậy, chế độ chính trị miền Nam thua
phải chăng cũng còn vì lý do thuộc đạo lý: Lựa chọn trung thành với
những giá trị đạo lý hơn bảo vệ một lập trường chính trị? Nhưng có
người như ông Ngô Đình Cẩn bất chấp đạo lý, pháp lý, lựa chọn hiệu
nghiệm chính trị dùng khủng bố “bạo lực phản cách mạng” để chống lại
khủng bố bạo lực cách mạng của người cộng sản. Ở miền Trung nhiều
thanh niên trước khi tập kết ra Bắc được khuyến cáo lập gia đình,
nhưng để vợ lại miền Nam. Sau đó, người chồng chưa về được gửi gắm
bạn bè xâm nhập từ Bắc vào cho vợ, yêu cầu người vợ giúp đỡ bạn như
giúp mình. Ông Cẩn buộc những người vợ có chồng tập kết phải ly dị,
lấy người khác. Hồi 1957-1960 tôi đang dạy học ở Huế, thường về
Saigon bằng xe hỏa chạy ban đêm thật an ninh. Chỉ sau này, quãng
1992 được đọc tài liệu của nhóm tình báo chiến lược cựu tù nhân của
ông Cẩn ca tụng những “thành tích chống cộng tuyệt vời của Ngô Đình
Cẩn”, tôi mới hiểu tại sao hồi đó ở miền Nam có an ninh ổn định.
Nhưng ông Cẩn bị Tòa Án miền Nam kết án tử hình vì những vi phạm
pháp lý của ông. Bây giờ, nếu tòa án đó xử lại, mà nhân chứng, luật
sư là những người lãnh đạo cách mạng, cựu tù nhân của kẻ bị cáo, thì
sẽ phán quyết ra sao?
Qua hai trường hợp tôi vừa nhắc ở trên, sau 30 năm, tôi muốn ngỏ đôi
lời với tác giả lá thư gửi đàn anh viết thay vì làm bài thi. Hồi đó,
đọc lá thư có gây xúc động và làm cho tôi cảm phục anh, không phải
vì anh phê phán đả kích Mỹ, chế độ miền Nam, vì đó là điều bình
thường trong tình thế thời đó; không phải mình anh đã làm như thế.
Báo chí miền Nam công khai gọi đại sứ Mỹ Bunker là “ông già tủ
lạnh”, “quan thái thú Giao Chỉ”, sự can thiệp của người Mỹ là do bàn
tay lông lá của họ. Tôi nhớ Phan Nhật Nam trong một ký chiến trường
có thuật lại: ông đã điện đàm với một chính uỷ phía bên kia, đề nghị
ông chính uỷ đả kích Liên Xô, Trung Quốc sau khi nghe ông đả kích
Hoa Kỳ. Ông chính uỷ không đáp lại đề nghị của Phan Nhật Nam. Tôi
cũng không thấy cần phải đặt vấn đề “cảm phục” Phan Nhật Nam và “chê
trách” ông chính uỷ nọ. Đây không phải vấn đề tư cách thuộc đạo lý
mà là vấn đề thế chế chính trị khác biệt. Khung cảnh văn hoá xã hội
của miền Nam trước 75 đã để cho những người cầm bút có thể phê phán,
đả kích công khai những người cầm quyền và đồng minh, còn thể chế
của miền Bắc thì không. Sau 75, tôi phục Phan Nhật Nam vì thái độ
cương quyết từ chối gặp và nhận bảo lãnh của người cha đứng ở phía
bên kia trong thời gian nhà văn học tập cải tạo.
Trở lại với tác giả lá thư viết trong phòng thi kia, sở sĩ tôi cảm
phục anh là vì anh đã can đảm quyết tâm từ chối một ưu đãi dành cho
một số thanh niên trí thức (có tú tài học đại học) được hoãn dịch
nếu thi đậu.... Sau 1975, nếu anh còn sống, ở lại miền Nam, nhớ lại
hành động của mình đã chửi Mỹ, chế độ miền Nam, chửi cộng sản trong
bài thi, chắc hẳn anh nhận ra lúc anh viết, anh chỉ nghĩ đến những
gì anh muốn nói, mà không hề băn khoăn dè dặt e ngại sẽ gặp phiền hà
gì về chính trị. Tôi và mấy giáo sư giám khảo đọc bài của anh cũng
có tâm trạng tương tự: không thấy e ngại liên lụy gì về thái độ của
anh, và đã không làm cái việc là báo cáo sự kiện đã xảy ra... Nhưng
sau 75 liệu anh có dám làm như thế không và chúng tôi có dám “bỏ
qua” việc làm của anh không?
Chắc anh có đọc ít nhiều những gì tôi đã viết. Thời gian trước 75,
tôi đã có hàng chục cuốn sách xuất bản, đầy những phê phán chế độ
người Mỹ can thiệp vào miền Nam, nghĩa là tôi cũng đã “hưởng ít
nhiều tự do ăn nói, phê phán” của chế độ chính trị miền Nam thời đó.
Ngoài ra, tôi còn giảng dạy một lớp về Marx trong nhiều năm ở ban
triết trường đại học Văn Khoa. dĩ nhiên trong tinh thần nghiên cứu
đại học và cũng chỉ giới hạn vào việc giới thiệu, hành trình của
Marx, đặc biệt thời trẻ tuổi. Tôi không gặp một rắc rối nào về phía
chính quyền, hay ngay cả một phê phán tố cáo của một người cầm bút
nào đó trong việc giảng dạy. Đem đi kiểm duyệt để xuất bản, cuốn
viết về cuộc đời Marx được in còn cuốn Nhận diện Marx thì
không. Nhiều bài khác liên hệ đến cộng sản, có bài bị kiểm duyệt bỏ
một số trang, có bài bị bỏ nguyên cả bài, đều được ghi nhận trong
sách là bị kiểm duyệt bỏ. Những tác giả khác cũng làm tương tự. Ít
ai lo ngại tối nay có người đến nhà hỏi thăm sức khoẻ hay nhận được
giấy của phòng an ninh chính trị kêu đi làm việc...
Chế độ chính trị xã hội miền Nam trước 75 phân biệt đời công với đời
tư, tôn trọng tự do trong lãnh vụ đời tư và ít nhiều tôn trọng tự do
trong lãnh vực đời công ngay cả về chính trị. Chủ trương như thế
không phải không có ngụ ý chính trị, trước mắt hay về lâu về dài.
Chẳng hạn để chứng tỏ miền Nam có tự do, miền Bắc thì không; hoặc để
tạo cho dân chúng, đặc biệt giới trí thức, ngay cả thân cộng hay
theo cộng sản nếp sống dị ứng với những thể chế áp đặt một chiều,
rập khuôn. Điều này đã được thể nghiệm sau 75, còn đối với những
sinh viên trí thức ra khu, ra Hà Nội, nó đã được thể nghiệm sau biến
cố Mậu Thân 1968 như một số đã tâm sự với tôi sau 1975.
Tuy nhiên những chủ trương để cho ăn nói ít nhiều tự do, phê phán
chỉ thuộc về phương thức thực hiện, không phải về bản chất chế độ.
Đúng là một thứ chuyên chính tư bản. Chuyên chính tư bản chỉ khác
chuyên chính vô sản về phương thức thực hiện, không phải về bản
chất. Sau 75, nếu anh ở lại miền Nam, chúng ta đã được nghe nói
nhiều về luận điệu chuyên chính tư sản, nhưng chúng ta ít được
thuyết phục....
Khả năng thuyết phục chắc hẳn cao hơn nếu những người nói vận dụng
lập luận của chính các nhà nghiên cứu tây phương như cuả J.
Christophe Rufin ( La dictature libérale, le secret de la toute
puissance des démocraties au XXe siècle. Clattis, 1999) mà tôi
được đọc gần đây. Tôi lược tóm một số ý của tác giả này gửi anh:
“Chế độ tự do tồn tại không tùy thuộc sự kiện các địch thủ của nó
yếu kém, mà tùy thuộc vào chính sức mạnh riêng của nó. Sức mạnh bắt
nguồn từ khả năng không phải chỉ thắng các kẻ thù mà còn phát triển
nhờ chống lại các kẻ thù của nó. Nền văn hoá tư sản tạo cho mình một
sức mạnh do chính những thù địch nó phải đương đầu. Đó là nền văn
hoá trong lịch sử không hề đòi hỏi một ưng thuận tự nguyện nào. Trái
lại không những nó để cho tự do mà còn khuyến khích những chống đối
nó triệt để nhất. Nó có điểm đặc biệt được nuôi dưỡng bằng chính
những gì chống lại nó, biến đổi thành sinh lực cho việc điều hành
chế độ tất cả những thế lực nhằm tiêu diệt nó. Chuyên chính tư sản
áp đặt ngay cả cho những ai phủ nhận nó mà không vì vậy ngăn cản họ
chống lại nó vì tất cả những đối kháng trong dân chủ tư sản đều bị
hoán chuyển có lợi cho nó và những kẻ nhằm tiêu diệt nó thật triệt
đế lại chính là những kẻ đóng góp nhiều nhất giúp nó phát triển.”
Nhìn lại lịch sử diễn tiến trên 100 năm nay, ai cũng thấy chủ nghĩa
Marx và phong trào cộng sản thế giới ra đời đã là một mối đe dọa
sinh tử cho chế độ tư bản.. Nhưng sau khi bức tường Bá Linh bị phá
huỷ, chế độ tư bản đã ra khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng này từ
nhiều thập niên trước đây, nay trở thành siêu cường độc nhất. Tuy
nhiên chủ nghĩa Marx không hoàn toàn trở thành lỗi thời, Nó mang một
khuôn mặt mới ở ngay Bắc Mỹ, nơi đã thực sự dửng dưng với chủ nghĩa
này thời nó cực thịnh ở Âu châu vào những thập niên 50-70. Nhưng sự
phục hồi tư tưởng Marx không ra khỏi khuôn viên các đại học. Trong
giới nghiên cứu của các viện khoa học xã hội, giao lưu văn hoá, cũng
thấy hình thành những phê phán triệt để chế độ tư bản cho thấy chế
độ tư bản đang rơi vào một khủng hoảng khác. còn trầm trọng hơn
khủng hoảng mà Marx đã dự đoán vì theo các nhà nghiên cứu này, nó sẽ
tự tiêu diệt vì những thành công của nó về kinh tế. Do đó kinh tế tư
bản là một kinh tế tự sát trong khuôn khổ rộng lớn hơn của một nền
văn minh tự sát vì chính những khái niệm cơ bản đã từng được coi như
mấu chốt của sức mạnh tư bản: Khoa học kỹ thuật, tính hợp lý hoá,
khái niệm tiến bộ, phát triển v.v.. Nhưng tương tự sự phục hồi chủ
nghĩa Marx, những tư tưởng phê phán triệt để chế độ tư bản cũng
không vượt ra khỏi giới nghiên cứu ít ỏi của các viện nghiên cứu.
Tôi thường tham dự những sinh hoạt của những viện này, với tư cách
hội viên, và tôi thật ngạc nhiên nhiều khi nhận ra ở Bắc Mỹ cũng có
sự kiện gọi là “phổ biến hạn chế”, “lưu hành nội bộ” như ở Việt Nam
hiện nay, chỉ khác một điều ở Việt Nam có qui định, còn ở Bắc Mỹ thì
không thấy có qui định pháp lý hay thể chế đại học nào ngăn chặn
việc phổ biến rộng rãi, đơn giản chỉ vì những nhà nghiên cứu này
không có điều kiện tài chánh mà thôi trong khi những phương tiện
truyền thông đại chúng nằm trong tay các tổ hợp tư bản và họ dĩ
nhiên không bỏ tiền ra phổ biến rộng rãi những công trình nghiên cứu
này. Tuy vậy không phải vì thế mà không trân trọng những phê phán
triệt để, đưa vào nghiên cứu để tìm cách vượt qua thử thách khủng
hoảng còn nếu bỏ tiền ra là để phổ biến rộng rãi những cuốn như của
Francis Fukuyama, một chuyên gia Mỹ của hãng Rand Corporation và
nhân viên bộ ngoại giao Hoa Kỳ: The End of History and the Last
Man. Ở Việt Nam chỉ biết những cuốn như vậy, có gây lo ngại tạo
ra những cuộc trao đổi, phê phán nó. Tôi viết một bài giới thiệu
đăng trong tạp chí Phát Triển Kinh Tế của đại học Kinh Tế
(Trường Luật cũ) số 22 tháng 8, 1992 gây những phiền hà cho ban chủ
trương sau khi số báo in ra. Mùa hè 1997, tôi giới thiệu những luận
điểm phê phán chuyên chính tư sản do các viện nghiên cứu đề ra trên
đài RFI, sau đó mang về Việt Nam nhiều băng video, tài liệu để giới
thiệu với bạn bè ở Việt Nam, nhưng toàn bộ đều gặp trắc trở chưa lưu
hành được.
Hiện tôi còn giữ một bản ghi phát biểu trong buổi tiếp xúc với đại
diện ban dân vận thành uỷ Thành Phố HCM tại nhà riêng ngày thứ 5
12/8/1993 yêu cầu tôi và một số người khác cho biết ý kiến về thời
kỳ mở cửa đổi mới, thái độ đối với trí thức trong nước, ngoài nước.
Tôi đã nói đại ý: “tình hình hiện nay là: không mở cửa sẽ chết, mở
cửa không chuẩn bị chu đáo, đi lệch hướng cũng chết. Tình thế hiện
nay là tình thế SOS cứu nguy dân tộc, ưu tiên trên hết là nhận thức
được con đường muốn đi là phục hồi niềm tin, lòng người... Sau 6 năm
tôi về nước để tìm hiểu xem những đề nghị của tôi có được đáp ứng
hay không. Tôi thấy những qui định ngăn cấm ấn phẩm từ bên ngoài vào
nước vẫn còn đó....”
*
* *
Viết “Nhìn những chặng đường đã qua” này, tôi không coi đây là một
ký hay hồi ký nhằm rút ra những bài học cho các thế hệ
sau. Các thế hệ sau càng xa thời đại hiện nay họ càng bắt gặp những
vấn đề thời đại của họ đặt ra, rất khác những vấn đề của thời đại
hiện nay. Họ phải đương đầu và giải quyết những vấn đề thuộc thời
đại của họ theo sự hiểu biết của họ, cho họ và cũng rất có thể nghi
ngờ giá trị những bài học thế hệ trước muốn để lại cho họ vì dễ dàng
nhận ra những thiên vị chủ quan của các bài học đó, chẳng hạn như
đọc loại hồi ký của ông Trần Quỳnh. Do đó, viết tập “Nhìn lại...”
này, tôi tìm hiểu thời đại của tôi và gửi cho những người đương thời
(cùng tuổi hay trẻ hơn) nhằm đóng góp phần của mình tiến tới một cái
nhìn phong phú, sâu xa và khách quan hơn về thời đại của chúng ta,
vì, nói theo một ý của Sartre, thời đại hiện tại xấu hay tốt, vinh
quang hay khốn nạn cũng là thời đại của chúng ta, và chúng ta không
có thời đại nào khác. Do đó chúng ta chỉ có bổn phận sống cho trọn
vẹn thời đại chúng ta, vinh quang thì cố giữ lại chia sẻ, oán thù
thì cố xoá bỏ. Nếu có để lại cho con cháu sau này điều gì, thì chỉ
là một tấm gương: cha anh đã đá đấm nhau tơi bời, nhưng cuối cùng
cũng hòa giải được với nhau.
Tôi không thể xác định tập “Nhìn lại…” này thuộc thể loại diễn từ,
văn học nào: không phải ký, hồi ký và ngay cả biên khảo lịch sử cũng
không phải, vì theo nhiều nhà tâm lý học hiện đại như Rosenfield,
chúng ta không thể có những hình ảnh bất biến về quá khứ để sử dụng,
mà chỉ có những tái xây dựng những sản phẩm của tưởng tượng nghĩa là
chúng ta tạo ra một cái nhìn về quá khứ thích ứng với hiện tại.
(Xem: L'Invention de la mémoire. Flammarion, 1999). Theo
Gerard Edelman, giám đốc viện khoa học thánh kinh ở Đại Học
Rockefeller, Nữu Ước, giải thương Nobel về y học (Biologie de la
science) Odile Jacob 1992: nhớ là xây dựng lại, không phải sao chép
y chang các biến cố sống thực và sao chép có lựa chọn tùy theo cái
nhìn hiện tại. Kinh nghiệm hằng ngày cho biết nhiều người cùng chứng
kiến một biến cố, về sau mỗi người thuật lại một cách khác nhau, hay
ai cũng tin mình thuật trung thực quá khứ. Như vậy, ký, hồi ký phải
chăng cũng là xây dựng một tác phẩm tiểu thuyết nhằm biện hộ quá khứ
của mình? Cùng lắm, đây chỉ là một chứng từ của một người đương thời
với tất cả những thiếu sót, chủ quan có thể có vì dù sao tôi cũng
phải nhớ lại và sẽ cố tránh làm lộn những ý nghĩ ước muốn của mình
bây giờ và cách đây 30, 40 năm, và vì thế lừa dối người đọc.
Ngoài ra, trong điều kiện cho phép, cố dùng dẫn chứng, tài liệu liên
hệ để người đọc tham khảo, kiểm tra.
Trong tập “Nhìn lại những chặng đường đã qua” này tôi không nói gì
về thời gian ở tù vì tôi nghĩ kinh nghiệm ở tù trong chế độ hiện
nay, chỉ những người đã trải qua mới hiểu được, nhưng không thể nói
ra lời, vì những chân lý cốt yếu của kinh nghiệm này không thể
chuyển giao cho người không có. Tôi nhận thấy những người đã trải
qua mà tôi biết dù là người miền Nam chống cộng hay người miền Bắc
theo cộng vẫn ở lại trong nước, hay đã đi nước ngoài nói chung đều
giữ im lặng.
Những chân lý cốt yếu của kinh nghiệm ở tù chính trị có lẽ cũng
tương tự kinh nghiệm gọi là “chỉnh huấn” của cán bộ, đảng viên
trung, cao cấp ở miền Bắc. Tôi đã nghe anh Nguyễn Kiến Giang trong
vài đêm kể lại kinh nghiệm đi chỉnh huấn của anh và tôi hiểu tại sao
anh viết nhiều điều, xuất bản cả ở nước ngoài nhưng hình như anh
không bao giờ nhắc đến chỉnh huấn. Nếu tôi không nhầm, theo chỗ tôi
được đọc, chỉ một vài người như Tô Hoài nhắc phớt qua Chỉnh Huấn
trong hồi ký của ông. Ra nước ngoài, tôi đọc những gì viết về trại
tập trung Đức Quốc Xã, cũng thấy nhiều tác giả nhận định không thể
viết ra, chuyển giao cái không thể tưởng tượng được, và ai sáng tác,
hư cấu các chuyện trại tập trung thành tác phẩm văn học là lừa dối
độc giả và làm cho độc giả nghi ngờ những sự kiện xảy ra cho những
nạn nhân ở trại. Tôi hỏi một linh mục dòng tên, bản thân ông là cựu
tù trại tập trung, tại sao ông và các người đồng cảnh im lặng, ông
cũng trả lời tương tự như trên...
Tuy nhiên tôi có thể nói về những hậu quả tích cực của thời gian ở
tù, ít ra về hai điều:
1. Khám phá tha nhân. Ở ngoài nhà tù, những giao tế thường
rơi vào tình trạng không thực, nói năng trao đổi không tránh khỏi
những điều lảm nhảm, bá láp. Ở trong tù tuy bị cô độc nhưng không cô
đơn vì người khác đều là những kẻ vắng mặt hay đã qua đời lại hiện
diện một cách thật đích thực và sống động và tôi có thể đối thoại,
cảm thông một cách thật sâu sắc với họ. Sự khám phá này làm cho tôi
nghĩ đến triết học của G. Marcel tôi đã đọc mà không tin. Tôi cũng
hiểu tại sao các nhà tu hành tịnh khẩu hay thinh lặng, tuy sống
thoát tục, nhưng không thoát ly với người ngoài đời vì vẫn gần gũi
cảm thông với đồng loại. Thân xác bị lột trần, chỉ mặc áo maillot,
quần đùi, bị tách rời khỏi những đồ dùng thiết yếu như kính cận, cái
bút. Tình trạng này giúp tôi dẹp bỏ được tự ái, tự kiêu tự đại tuy
sau khi ra tù, vẫn không hoàn toàn dứt bỏ nhưng ít ra luôn luôn ý
thức được yêu cầu gạt bỏ và vì thế dễ dàng hơn trong cố gắng dẹp
bỏ... Chỉ còn vấn đề tư cách. Không biết tôi còn giữ được không, và
nếu còn thì được bao nhiêu, tuy tôi cũng phải cố gắng giữ...
2.Trong tình hình hiện nay nghi ngờ bao phủ vì mất tin tưởng,
mất tín nhiệm nói cái gì không quan trọng bằng tư cách nói. Những
điều tôi nói, viết ra có được đón nhận, lắng nghe không, hay bị gạt
bỏ ngay từ đầu vì những thiên kiến, đố kị, ác cảm đối với tôi ? Cũng
như những người khác, tôi đều có kẻ yêu người ghét. Khi tôi chết
rồi, không ai nỡ nói đến những điều muốn tố cáo, kết án vì thế tôi
mong muốn được nghe và trân trọng lắng nghe phê phán, những sai trái
về nhận thức và những chê trách về tư cách. Tôi sẵn sàng xin tha thứ
và tha thứ. Vì điều tôi mong ước chưa hẳn là nói lên được những sự
thực nào đó về quá khứ, mà là giải tỏa những thiên kiến và thực hiện
được hòa giải với những người quen biết hay không quen biết.
Nhiều người giải tỏa được nhưng thiên kiến hòa giải được với nhau sẽ
tạo được bầu không khí thuận lợi đế có thể nói với nhau bàn chuyện
đất nước. Tôi có một số người quen biết sẵn sàng trong tư thế tự
kiểm thảo để tìm hiểu quan điểm của người khác. Mùa hè 1995, tôi gặp
lại BS Trần Kim Tuyến, tôi hỏi ông có thể gặp những người ông quen ở
phía bên kia như Phạm Xuân Ẩn, người đã giúp ông ra nước ngoài hôm
30 -4-1975, ông nói sẵn sàng gặp cả những người không quen biết và
ông tâm sự với một thái độ khiêm tốn. Ông nói, tôi đâu có nghĩ làm
những việc đã làm! Thời cuộc đã đưa đẩy tôi, một người chỉ muốn học
làm thầy thuốc, vào những chức vụ an ninh tình báo mà tôi không hề
được chuẩn bị, do đó phạm nhiều sai lầm là điều tất nhiên, nhưng
khuyết điểm lớn hơn cả là tôi đã không am hiểu văn hoá Mỹ. Rất tiếc
ông đã qua đời mấy tháng sau lần trao đổi với tôi.
Khi về Saigon hồi 1995, tôi gặp mấy sinh viên cũ cho biết anh Bùi
Hồng Sĩ có về Việt Nam và gặp lại người ám sát hụt anh. Trước 1975
những nhóm quyết tử của Thành Đoàn gồm sinh viên học sinh đã ám sát
các nhà văn, nhà báo như Từ Chung, Chu Tử. Hiện tôi còn giữ một danh
sách cảnh cáo một số sinh viên các phân khoa mà ông gác dan trường
Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trao cho tôi. trong đó có Ngô Thế Vinh,
sinh viên y khoa. Bùi Hồng Sĩ, chủ tịch sinh viên niên Văn Khoa bị
bắn nhưng chỉ bị thương. Rất tiếc Chu Tử đã chết hồi 1975; nếu ông
còn sống đến 1985, đọc sách của Thành Đoàn kể lại thành tích, thì
mới biết là mình đã nhận định sai lầm, vì ông viết trong Không
Hận Thù rằng ông không tin cộng sản bắn ông, vì nếu cộng sản bắn
thì phải là những tay súng chuyên nghiệp. Nhưng sự thực là học sinh,
sinh viên trong tố ám sát đã bắn hụt vì họ không phải là những tay
súng chuyên nghiệp.
Sang Hoa Kỳ, gặp lại Bùi Hồng Sĩ, tôi hỏi và anh xác nhận có về gặp
người đã bắn hụt anh. Tôi không hỏi thêm vì tôn trọng sự gặp gỡ này
và muốn để cho những người trong cuộc thuật lại sự hòa giải giữa họ.
Tôi cũng gặp lại Bs Ngô Thế Vinh, sau 1975 đi học tập cải tạo rồi
được đi Hoa Kỳ. Anh nhắc tôi đọc bài anh viết “Rực rỡ mùa Thu” trong
Thế Kỷ 21, số 70 (tháng 11/94). Bài báo được viết dưới dạng
sáng tác tiểu thuyết: 3 nhân vật tiêu biểu cho ba thái độ trước vấn
đề: về hay không về giúp Việt Nam về y tế. Chính và Trường cùng thế
hệ, đỗ bác sĩ ra trường trước 75, người đi tị nạn ở Hoa Kỳ, người ở
lại Việt Nam, chỉ sang Mỹ lúc ung thư máu vào giai đoạn chót, nhưng
khác nhau về thái độ của người thầy thuốc đối với bịnh nhân; Toàn
con Chính, bác sĩ thuộc thế hệ sau gần gũi với Trường, bạn của bố,
tình nguyện về Việt Nam chữa bệnh. Chính, chủ tịch hội Y Sĩ Việt Nam
Hải Ngoại có một lập trường dứt khoát: không làm gì hết cho tới thời
hậu cộng sản. Hơn nữa còn phải ở thế tấn công vận động duy trì cấm
vận, chống bang giao. Thái độ của Chính không biết đã gây tổn thất
nào cho cộng sản, nhưng trước mắt Chính đã hy sinh cả bạn lâu năm
của mình, cưỡng bách họ ra khỏi hội chỉ vì cái tội tiếp đón một nghệ
sĩ từ Saigon qua bị chụp mũ thân cộng. Hành động của Chính gây một
nỗi cay đắng của người tị nan cộng sản ngay từ 75 nay lại phải nghĩ
tới một cuộc di tản lần thứ hai để tránh khỏi lằn đạn của chính
những người bạn hướng tới từ phía sau lưng mình. Sinh viên Ngô Thế
Vinh thoát được ám ảnh bị bạn học sát hại trước 75 vì chống cộng,
nay bác sĩ Ngô Thế Vinh lại bị ám ảnh sát hại cũng bởi đồng nghiệp
vì cổ võ về quê nhà thể hiện tinh thần trách nhiệm của người thầy
thuốc là tiếp tay cho cộng sản.
Ghi chú:
Chống cộng mà vẫn là cộng sản?
(1). Điều đáng lưu ý là những người chống cộng lại sử dụng những
phương thức tranh đấu, ngôn ngữ, luận điệu cộng sản mà họ đang chống
lại. Ở Bắc Mỹ, thường thấy những tổ chức chống cộng ra thông cáo
quyết nghị: Toàn dân toàn thể các hội đoàn này nọ tố cáo lên án cộng
sản…, hô khẩu hiệu đả đảo trong các cuộc biểu tình ngoài đường phố
làm cho những người đã sống thời Việt Minh nhớ lại những gì đã thấy
cách đây trên 50 năm. Những người chống cộng ở Liên Xô, Đông Âu đã
hãnh diện, tự cho mình mới chống cộng thứ thiệt vì là con đẻ của chế
độ, nhưng vẫn sử dụng ngôn ngữ, những khái niệm mang tính chất ý
thức hệ cách mạng cộng sản, những luận điệu và đường lối chính thức
của Đảng.
Châu Ái trong bài: “Sửa một từ để điều chỉnh một quan điểm” (báo
Sàigon Giải Phóng số 31615 ngày 19-2-87) nêu lên xu hướng tôn
giáo hoá đảng mà theo ý ông cần điều chỉnh: “ Đó là trước nay có
những người, những nơi thường dùng chữ “đảng” đối với Đảng, ví dụ
“lập công dâng Đảng”, “Chương trình văn nghệ mùa xuân dâng Đảng” Có
nên nói và viết như vậy không?. Theo ý chúng tôi thì không nên. Đảng
ta là một đảng cách mạng và khoa học, một thực tế vật chất chứ không
phải một tố chức tín ngưỡng”. Nhưng trong thực tế từ tổ chức, thể
chế đến tâm linh đều bày tỏ qua ngôn ngữ có tính chất tôn giáo như:
“Giác ngộ” vào đảng, “Tuyên thệ tuyệt đối tin Đảng”, “Trung thành”,
“Vô cùng thương tiếc”, “đời đời nhớ ơn”, “sống mãi trong sự nghiệp
chúng ta”, “vĩnh viễn”, “muôn vàn kính yêu”, “nhiệt liệt”, “nhất
trí” v.v..
Về sách lược, cách mạng dựa vào bạo lực, coi như động cơ của lịch sử
và do đó dùng bạo lực để thay đổi lịch sử. Dùng ngôn ngữ quân sự để
diễn tả mọi sinh hoạt khác về văn hoá, kinh tế, chính trị: Mặt Trận
Tổ Quốc, Tiến quân vào sản xuất, Ra quân, chiến thắng, thắng lợi...
Trong giao lưu văn hoá, hoặc sống lâu năm trong chế độ, ngay cả
người không theo cộng sản cũng chịu ảnh hưởng sử dụng ngôn ngữ của
chế độ. Tôi cũng không thoát khỏi ảnh hưởng này mặc dầu có ý thức
khi viết, nói. Trong cuốn sách của TGM Nguyễn Văn Thuận: Năm
chiếc bánh và hai con cá (Hoa Kỳ 1988) nói về thời gian 13 năm ở
tù, ông dùng những từ ngữ, kiểu nói của chế độ một cách tự nhiên như
chiến sĩ gác, chiến sĩ trực làm xong một việc: dùng sợi dây điện để
làm sợi dây mang Thánh Giá do một người gác tù cho. Trước 11 giờ đêm
chúng tôi đã làm xong. Tôi mừng quá. Thắng lợi”. Người ta thường
nói: đi bộ cho hòa bình, cầu nguyện cho hòa bình... nhưng những
người không cộng sản cũng dùng từ: tranh đấu cho Hòa Bình, Thần học
giải phóng, thay vì từ cứu rỗi của tôn giáo.
Do đó, không lạ gì những người nhận là con đẻ của chế độ chưa thoát
khỏi những dấu ấn của chế độ mà bây giờ họ phê phán chống đối. Một
vài dẫn chứng rút ra từ sách báo do sinh viến trí thức từ miền Bắc
định cư ở Đông Âu xuất bản:
“Huyện T ngày đó có phong trào nuôi vịt và làm vụ đông rất thắng
lợi. Đấu tranh chính trị, vũ khí hàng đầu là thông tin, không có bom
công phá cường quyền nào mạnh hơn nhận thức về quyền công dân, chiến
sĩ dân chủ.
Nói về “Đảng nhân dân hành động được thành lập ở Cộng Hòa Liên Bang
Đức”: “Đảng chủ trương đấu tranh ôn hòa bất bạo động, lấy nhân dân
là nguồn sức mạnh to lớn và là đối tượng phục vụ chính của mình là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu tranh của đảng, tạo thành một
sức mạnh tổng hợp để xây dựng lại một nước Việt Nam mới thật sự tự
do dân chủ “, “Tuyên thệ dưới Đảng kỳ, tôi nguyện trung thành với
Đảng NDHĐ sát cánh kề vai cùng đồng đội chiến đấu dưới ngọn cờ của
Đảng để dựng lại nước Việt Nam thật sự phồn vinh và hùng mạnh.”
Đọc những đoạn trên có thể thấy tâm tình thái độ của người bỏ đảng
chống đảng có khác gì người vẫn theo Đảng đâu! Nếu đảng chỉ là một
tổ chức hoạt động chính trị, không mang tính chất tôn giáo, thì ai
thấy hợp cứ ghi tên vào, không hợp thì ra, cần gì phải tuyên thệ
trung thành như đối với một lý tưởng mang tính chất tôn giáo?
Trong Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên có đoạn: “Cuộc xung
đột vũ trang của dân chúng miền Nam chống lại chính quyền Saigon bắt
đầu bằng những trận đánh lẻ tẻ từ đầu thập niên 60, được Hanôi
khuyến khích và yểm trợ đã mau chóng lớn lên thành nội chiến” (tr.
14) Đó là quan điểm chính thức của Đảng Nhà Nước. Trong hồi ký, khi
nói đến những Công An ngay cả cán bộ cao cấp (Cục phó cục chấp pháp)
tác giả thường dùng ngôn ngữ hạ cấp bầy tỏ sự khinh bỉ của mình.
Bọn chúng, y, hắn... Đây là một thói quan đã trở thành nếp ở
miền Bắc.
Sau 1975, ông Đào Duy Anh vào Nam thăm một số trí thức miền Nam. Khi
nói chuyện, ông thường gọi Thằng Diệm, Thằng Thiệu. Chúng tôi
chỉnh: Thưa cụ, thưa Bác, trong Nam, một cách chính thức trên sách
báo, khi nói tới những lãnh tụ miền Bắc bao giờ cũng gọi là “ông”,
ông HCM, ông Phạm Văn Đồng... không bao giờ gọi là “thằng”. Có đăng
hình thì cũng đàng hoàng không phải tranh vẽ châm biếm, đả kích. Ông
Đào Duy Anh thú nhận: “Tôi sống với họ lâu năm quá nên cũng bắt
chước thói quen hạ cấp. Xin lỗi.”
Tác giả Vũ Thư Hiên viết đại khái là: lịch sự với y chỉ có thiệt
(trang 46). Kinh nghiệm của tôi thì khác. Nhưng nếu độc giả đã đọc
Năm chiếc bánh và hai con cá sẽ thấy kinh nghiệm của TGM
Thuận cảm hoá được những người canh giữ ông. Tôi cũng nhận thấy là
ông Nguyễn Tường Bách, lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong hồi
ký Những ngày lịch sử, nói về những ngày tháng 1945, vẫn gọi
ông Hồ là Chủ Tịch HCM, Cụ Hồ.
Nguyễn Văn Trung
© Thông Luận 2007
[1] người thanh niên này viết thư cho tôi từ vùng
Châu Đốc trước khi ra anh bỏ thành đi ra khu.
II
Những lựa chọn căn bản
“… Ở cái thời độc tài, bạo động
chia rẽ vì ai cũng cho mình nắm được chân lý toàn diện, thiết tưởng
cần đề cao sự hoài nghi, phản kháng và gặp gỡ, trao đổi, đối thoại…”
Trong cuộc đời cầm bút của tôi gần 50 năm, đặc biệt
thời kỳ 1955-1975, tôi đã viết khá nhiều, nhưng bị phê bình, đả
kích, mạ lỵ, mạt sát cũng khá nhiều. Có lẽ tôi thuộc số ít nhà cầm
bút ở miền Nam là kẻ bị cáo trạng nhiều hơn cả, từ tất cả các bên,
các giới xã hội, chính trị, tôn giáo trong một tình cảnh VN bị phân
chia thành hai miền thù địch chiến tranh và riêng miền Nam có phân
hoá đố kỵ giữa các phe phái, giới nhóm với nhau. Tôi còn giữ được
hầu hết sách báo phê bình đả kích tôi, góp lại thành một tập trên
500 trang mang tựa đề: «Người cầm bút, kẻ bị cáo».
Tôi nghĩ rằng việc sắp xếp theo thời gian và bên cạnh nhau những bài
đả kích tố cáo cá nhân tôi sẽ giúp người đọc nhận ra được tình cảnh
chia rẽ, đố kỵ, oán thù không đội trời chung giữa những tập thể gọi
nhau là đồng bào của một nước Việt Nam mến yêu có 4000 năm
văn hiến; vì thực ra người ta tố cáo tôi chính là để tố cáo tập thể
thù địch với người ta mà lại đem gán ghép cho tôi đấy thôi. Chẳng
hạn có người lên án tôi là người chống Cộng tinh vi hay ngược lại
tôi là người Cộng Sản, thân Cộng, có những lời nói hành động có lợi
cho Cộng Sàn. Tôi là người Công giáo, bị người đồng đạo tố cáo, vu
khống mạ lỵ là kẻ rối đạo, phản đạo, hoặc thân Cộng, Cộng Sàn. Hầu
hết chỉ là những lời cáo gian, vì người ta chỉ nghe tin đồn, dư
luận, ngay cả trong giới giáo sĩ, giáo phẩm, những người theo một
đạo có giới răn rõ rệt về tội vu vạ, cáo gian, cấm xét đoán như lời
Chúa dạy («đừng xét đoán để khỏi bị phán xét»); nhưng đối với người
không Công giáo, Cộng Sản và nhất là những người Phật giáo lại không
tách tôi rời khỏi giới Công giáo, thậm chí coi tôi mới là người Công
giáo đích danh, nên dễ nhìn những gì tôi viết liên quan đến Phật
giáo đều mang tính chất xuyên tạc, đả kích nhằm tiêu diệt Phật giáo.
Như vậy, xét con người trước dư luận, tôi không thể tự nhận diện
được tôi là ai!
Nhưng ở đây, trong ý định nhìn lại những chặng đường đã đi qua,
nghĩa là những gì tôi viết liên quan đến các giới Việt Nam, tôi
không phiền trách tố cáo lại ai, để phân trần tự biện minh, mà chỉ
cố gắng tìm hiểu phần trách nhiệm của tôi đã gây ra mọi sự do chính
những lựa chọn căn bản có ý thức của tôi và nhất là do những lệch
lạc hay thiếu sót đã không thực hiện đúng, đầy đủ của những lựa chọn
đó.
1. Lựa chọn về và ở lại Việt Nam
Tôi nghĩ rằng nếu tôi có lo lắng, làm gì cho đất nước VN thì tôi
phải sống ở VN trong bất cứ hoàn cảnh nào, dưới bất cứ chế độ chính
trị xã hội nào vì đó là thời đại của tôi, tôi không có thái độ nào
khác để lựa chọn và vì chỉ có một nước VN, một giáo hội VN ở tại VN.
Xin nói ngay đây là một thái độ lựa chọn riêng của tôi và tôi tôn
trọng những lựa chọn khác vì mỗi người có quyền lựa cho mình một lối
sống, nơi sống mà mình cho là thích hợp hơn cả với hoàn cảnh riêng
của mình.
Năm 1955, tôi từ Âu châu về Saigon. Hồi 1967, nhiều giáo sư phái
đoàn đại học Mỹ sang VN có đề nghị tôi sang Mỹ dạy đại học và sẽ lo
chỗ ăn ở cho cả gia đình. Tôi không nhận. Hồi 1975, nếu tôi muốn,
tôi cũng có điều kiện để đi Mỹ. Không những tôi không đi mà còn
khuyến cáo họ hàng nội ngoại không đi. Đây là một đánh giá tình hình
rất sai lầm mà tôi ân hận, vì sau mấy năm, họ hàng và cả con tôi có
đứa quyết tâm ra đi vượt biên. Vào những năm 1990, bạn bè về VN, qua
những trao đổi và xem những bài viết của tôi chưa xuất bản, đã nói
thẳng thừng cho tôi thấy là tôi lạc hậu về nhận thức vì đã bị cắt
đứt với các trào lưu tư tưởng thế giới sau 15 năm. Tôi định đi Âu
châu một chuyến mấy tháng để có dịp tiếp xúc lại. Nhưng chuyến đi
không thành.
Cuối 1993, trách nhiệm làm cha mẹ buộc tôi phải đi theo diện bảo
lãnh vì mấy đứa con quyết tâm đi sẽ không đi được nếu không theo cha
mẹ, nhưng cũng có đứa quyết tâm ở lại. Khi tôi báo tin cho những bạn
bè là ân nhân như một linh mục Dòng Tên, (mà tôi đã quen qua những
chuyến đi thăm những trại tị nạn dọc theo bức màn sắt phân chia nước
Đức) đã nuôi sống gia đình tôi bằng những colis thuốc mẫu để tôi
khỏi phải mánh mung, hoặc những người đã can thiệp đưa tôi ra khỏi
tù, tất cả đều không tán thành, coi việc ra đi của tôi như một đào
ngũ, bỏ cuộc. Họ chỉ an tâm khi tôi cho họ biết đó chỉ là ra đi tạm
thời vì tôi không bán nhà, và chỉ đi đi về về cho đến khi các cháu
nội ngoại khôn lớn không cần ông bà chăm sóc nữa. Chính nhờ đi đi về
về mà tôi hiểu được VN không có năm thực tế mà chỉ có một. Ngoài ra,
trong thời gian ở nước ngoài, tôi có dịp tham gia những sinh hoạt
của những trí thức bản xứ, nhóm khuynh tả tranh đấu xã hội đã cho
tôi nhận ra những kiến thức thu lượm được và những dấn thân cụ thể
vào các hoạt động tranh đãu xã hội thật cần thiết, ích lợi cho VN
trong tình cảnh gọi là toàn cầu hoá hiện nay (như tôi đã bày tỏ
trong bài «Toàn cầu hoá VN», đăng trong tạp chí Đi Tới,
Montreal, Canada, số 10/1996 và đăng lại trong Nhận Định 10).
Dĩ nhiên, những lựa chọn kể trên của tôi không tránh khỏi những hiểu
lầm, dị nghị.
2. Lựa chọn văn chương dấn thân, triết học xuống đường
Tôi đã có thể chỉ cầm bút biên khảo văn học, triết học không dính
dáng gì tới ai, theo đúng tinh thần nghiên cứu truyền thống của giới
đại học; và tôi đã có thể xuất bản những bộ sách biên khảo đồ sộ về
một số vấn đề nào đó. Người đọc có thể đồng ý hay không đồng ý,
nhưng chắc chắn không có chuyện mạt sát mạ lỵ. Nhưng thay vì làm
biên khảo thuần tuý, tôi đã đưa văn chương triết lý vào thời
cuộc,vào đời sống hằng ngày thậm chí liên quan đến chuyện làm tình,
hay những cái thừa thãi của thân xác như đờm, giãi, nước miếng, nước
tiểu... Trong một tình hình văn hoá còn bị những áp lực nặng nề của
những lối sống rập khuôn (conformisme) về đạo lý xã hội, và trong
một hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền
Nam Bắc, những tranh chấp đố kỵ ở miền Nam giữa các phe nhóm chính
trị, tôn giáo, nên những gì đã xảy đến cho tôi là không thể tránh
được và do đó tôi phải nhận lãnh thôi.
Tôi là người của một tạp chí nghiên cứu, không phải theo kiểu hàn
lâm viện, đại học, chỉ bàn những vấn đề muôn thuở, không dính dáng
gì đến thời cuộc, nhưng là nghiên cứu gắn bó với thời cuộc, ngay cả
khi đề cập đến những vấn đề thuộc lịch sử cũng nhằm phục vụ những
mục tiêu hiện tại. Tôi có khả năng qui tụ một số người để làm một
tạp chí. Chúng tôi chỉ cần đồng ý với nhau về một thái độ trí thức,
một hướng chung trong tinh thần tôn trọng những lựa chọn dấn thân cụ
thể về chính trị của mỗi người.
Trong Văn học miền Nam -tổng quan, nhà xuất bản Văn Nghệ ở
Hoa Kỳ, Võ Phiến lấy lại một ý của Nguyên Sa, cho rằng mảng văn học
miền Nam trước 1975 có thể gồm 4 khối lớn: nhóm Sáng Tạo của
Mai Thảo, nhóm Đất Nước của Nguyễn Văn Trung, nhóm Bách
Khoa của Võ Phiến và nhóm thứ tư gồm những nhà văn độc lập (Sđd,
trang 192).
Quả là «khối» Nguyễn Văn Trung có một tầm ảnh hưởng lớn. Cái ảnh
hưởng ấy bắt đầu từ trước tờ Đất Nước ngay từ thời tờ Đại
Học mặc dù Nguyễn Văn Trung không phải là chủ nhiệm tờ báo nầy
(chủ nhiệm là Cao Văn Luận). Tờ Đại Học tiếp tục xuất bản cho
tới năm 1964 nhưng nó đã mất sức thu hút từ khi Nguyễn Văn Trung rời
Huế vào Saigon nhiều năm trước (Sđd, trang 199).
Lối nhìn của Võ Phiến quá đơn giản, không phản ảnh đầy đủ, trung
thực với thực tế và sử dụng những từ như nhóm, khối có thể gây hiểu
lầm theo nghĩa bè phái. Ngoài ra, Võ Phiến không nhắc đến tờ Hành
Trình chỉ ra có 10 số và không giấy phép, gọi là báo lậu, in
ronéo, nhưng gây ra nhiều sóng gió, phản ứng tức thời từ nhiều phía
ở miền Nam và cả ở miền Bắc và ở nước ngoài.
3. Lựa chọn viết tiếng Việt
Đây là một lựa chọn mà ngay từ buổi đầu cầm bút, tôi đã coi là đương
nhiên. Trong thời gian du học, tôi viết bài đăng trong các báo sinh
viên và khi ở Bỉ, chúng tôi đã ra tạp chí Cùng học không phải
chỉ để liên lạc mà còn nhằm trình bày những vấn đề chuyên môn.
Chúng tôi thuộc thế hệ sinh ra trong thời thuộc địa, học tiếng Pháp
và phải đọc tất cả bằng tiếng Pháp, nhưng nhận thấy người Việt mình
không phải dùng tiếng Pháp để nói với nhau, ngay cả những vấn đề tư
tương khoa học như sinh viên các nước Phi châu gồm nhiều thổ dân,
thổ ngữ, không có tiếng nói chung nên buộc phải dùng chữ viết của
nước thống trị để diễn tả.
Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm đô hộ Tàu, hàng trăm năm đô hộ
Tây. Có hàng trăm miền đất đã bị đồng hoá, trừ Giao Chỉ vẫn còn là
một nước riêng. Về văn hoá, thật khó có thể xác định được cái gì là
VN, không phải là Tàu, Tây. Trước 75 và sau 75, tôi đã dự nhiều hội
thảo về đi tìm bản sắc dân tộc, về truyền thống VN, ai cũng đồng ý
cần tìm hiểu để xác định, bảo vệ, nhưng cụ thể là gì thì chẳng ai
đồng ý với ai. Tuy nhiên, có một sự thật hiển nhiên xác định sự khác
biệt là tiếng nói VN và trải qua lịch sử, người Việt vẫn giữ được
tiếng nói riêng của mình. Đó là một thành tích lớn lao hơn cả.
Về nước, tôi không tán thành chủ trương dùng tiếng Pháp ở Đại học
Saigon. Vào năm 1957 Đại học Huế được thành lập, kêu gọi đường lối
giảng dạy bằng tiếng Việt, không phải chỉ ở các ban Văn khoa, Luật
khoa, mà cả ở ban Khoa học và Y khoa. Lúc đó tôi chưa nghĩ đến vấn
đề phê phán các thể chế đại học, mà chỉ chú ý đến việc giảng dạy
bằng tiếng Việt, tôi đáp lại lời kêu gọi của Đại học Huế.
Như vậy, Đại học Huế đã nói với Đại học Saigon có thể dạy bằng tiếng
Việt ở các ngành Toán, Khoa học tự nhiên, và nói với Đại học Hanôi,
không phải chỉ có miền Bắc mới dùng tiếng Việt để giảng dạy ở đại
học. Để củng cố phát huy những cố gắng diễn tả các ngành trên đại
học bằng tiếng Việt, Viện Đại học Huế cho ra tạp chí và nhà xuất bản
Đại Học. Mùa hè, họ tổ chức những đại học hè ở Đà Lạt cho
sinh viên cả ba viện và giáo sư của họ tham dự. Về nhân sự, Đại học
Huế gồm vỏn vẹn vài người độ 26-27 tuổi, vừa du học về, cấp bậc thấp
nhất trong ngành đại học (giảng nghiệm viên, phụ khảo) cộng với một
số học giả địa phương tất cả chỉ là một dúm nhỏ. Nhưng Đại học Huế
là nơi gây cảm hứng, qui tụ những giáo sư, học giả ở Saigon và cả ở
nước ngoài về giảng dạy hay gửi bài, bản thảo về đăng báo, in
sách...
Sau 1955, miền Nam vẫn giữ lề lối giáo dục theo Pháp nên cấp trung
học có dạy Triết ở lớp cuối cùng, còn trên đại học thì có ban Triết
học ở Văn Khoa và Sư Phạm, một phần nhằm đào tạo giáo sư Triết ở
trung học. Mặc dù học theo chương trình Việt, nhưng không vì thế mà
coi thường sinh ngữ. Nói chung sinh viên vào thời kỳ nầy đều có thể
đọc sách báo bằng tiếng Pháp, Anh và cả tiếng Đức, xem như là một
điều kiện bó buộc để tham khảo làm luận án. Do đó có những giáo sư
viết sách triết học, giới thiệu các trào lưu, tác giả triết học Tây
phương. Chẳng hạn Trần Thái Đỉnh ra sách Triết học hiện sinh,
và theo Tràng Thiên (bút hiệu của Võ Phiến), nhà xuất bản Thời Mới
đã bán hết 2500 cuốn, vào thời điểm gọi là cao trào của hiện sinh (Bách
Khoa, số 289, 15/11/1969, trang 39). Trần Văn Toàn viết Tìm
hiểu triết học Karl Marx, và theo Trịnh Viết Đức, phụ trách nhà
xuất bản Nam Sơn, cuốn sách in 3000 quyển đã bán hết và phải tái bản
3000 cuốn cũng bán gần hết. Theo chỗ tôi biết, có lẽ có một vài bài
điểm sách (như tôi đã viết về cuốn của Trần Thái Đỉnh), nhưng không
có ai phê bình, đả kích gì.
Tôi cũng có nói đến hiện sinh, Marx, nhưng nếu tôi đừng ra khỏi
giảng đường, vượt qua ngưỡng cửa đại học, đem triết học xuống đường,
thì chắc chắn không bị những mũi dùi của thứ ngôn ngữ vỉa hè, thứ
văn chương ngoài đường phố xuyên tạc, mạ lỵ, chửi bậy. Cuốn Ca
tụng thân xác không bán chạy bằng Tìm hiểu triết học Karl
Marx, nhưng được biết nhiều hơn ngoài giới đại học và độc giả có
học. Thiệt ra lối đặt tựa như trên dễ bị hiểu lầm, nhưng người đọc
đứng đắn vẫn nhận ra cách viết, quan niệm của tác giả là đưa triết
học vào văn hoá VN, cố gắng dùng những từ ngữ VN để diễn đạt những
khái niệm triết học phương Tây, nhằm đặt những vấn đề liên quan đến
đời sống cụ thể hằng ngày của người đọc và tình cảnh thời đại của
họ, như ông Tam Điểm (bút hiệu của Nguyễn Tử Lộc, tốt nghiệp ĐHSP,
giáo sư Trung học và đã viết một bài dài hơn 20 trang về Ca tụng
thân xác đăng trong tạp chí Sinh viên và Nghiên Cứu
Văn Học số 1, tháng 11/1967). Tam Điểm viết như sau:
Ca tụng thân xác của
Nguyễn Văn Trung ngay sau khi xuất bản đã bị luồng dư luận báo
chí công kích. Mũi dùi dựa vào tính chất khiêu dâm của tác phẩm,
những đoạn văn nho nhỏ được trích dẫn để tố cáo tính cách tục ở
ngòi bút của một giáo sư đại học có tiếng. Tác phẩm đối với quần
chúng được biết và có khi chỉ được đọc trong ý hướng đó của dư
luận mà thôi... Viết bài nầy, chúng tôi không đặt câu hỏi Ca
tụng thân xác có khiêu dâm hay không hoặc luân lý của người
viết cuốn sách đó là gì. Cũng không phải để binh vực hay kết án
nó trong dự định của mình. Chúng tôi chỉ xét vấn đề cuốn sách
nêu ra một vấn đề thật quan hệ cũng như giài pháp cho vấn đề mà
ông Nguyễn Văn Trung đem lại có ý nghĩa gì trong hoàn cảnh xã
hội hiện tại; trong phần đó tính chất khiêu dâm và phương pháp
hiện tượng luận cũng sẽ được đề cập tới....
Trầm trọng hơn nữa, không phải người ta chỉ tố cáo
viết văn khiêu dâm mà còn bới móc đời tư, tố cáo tư cách trí thức,
đạo đức của người cầm bút nhằm tố cáo thái độ chính trị nào đó mà họ
gán cho tác giả.
Bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra rằng: giả sử, thay vì viết tiếng Việt,
tôi viết tiếng Pháp, thì dù cho tư cách tôi có thật sự bê bối, tôi
cũng không thể là đối tượng của thứ chủ nghĩa văn chương hạ cấp, vì
trong khuôn khổ văn hoá của nhiều nước phương Tây như nước Pháp,
người tự hạ xuống viết thứ văn chương chữ nghĩa hạ cấp, chính là tự
tố cáo và tự sát về văn hoá. Ngoài ra công luận xã hội cũng không
chấp nhận những người viết thứ văn chương hạ cấp vì tự trọng của tập
thể cộng đồng quốc gia. Cho nên dù đời tư của J.P.Sartre ra sao đi
nữa, những người thù ghét lập trường chính trị của ông không bao giờ
khui đời tư của Sartre ra để đả kích, mạt sát ông. Nhưng VN chưa
phải nước Pháp hay nhiều nước Âu Mỹ khác.
Nhóm Nguyễn Ngọc Giao chủ trương tờ Diễn Đàn ở Paris hiện
nay, hồi còn làm tờ Đoàn Kết cũng thường phê phán chế độ
trong nước. Phần viết bằng tiếng Pháp nói mạnh hơn phần viết bằng
tiếng Việt. Nhưng những gì tôi nghe được từ dư luận hay trực tiếp từ
một vài người lãnh đạo đảng về tờ báo đều xuất phát từ những bài
viết bằng tiếng Việt. Lúc đó, tôi nghĩ một số ít đọc được bài bằng
tiếng Pháp am hiểu chút ít văn hoá Pháp không thể có thái độ trí
thức như những người chỉ có thể đọc bài tiếng Việt.
4. Lựa chọn một loại diễn từ
Bài viết là một diễn từ. Có hai loại diễn từ chính. Loại thứ nhất
nhằm trình bày một vấn đề làm sao tới gần được chân lý khách quan
của thực tại hiện nay hay lịch sử. Loại diễn từ nầy trong ý hướng
viết không phải để gửi cho mọi giới độc giả mà cho các độc giả thuộc
nhiều giới văn hoá, xã hội, chính trị, tôn giáo khác nhau, đôi khi
đố kỵ oán ghét nhau với hi vọng độc giả vượt khỏi những hạn chế, hạn
hẹp lối nhìn của giới mình để tiếp xúc với tác giả theo lương tâm,
trí thức riêng của mình. Một ý hướng viết như vậy dĩ nhiên đưa đến
nhiều ngộ nhận, chống đối đả kích, vì người đọc chỉ phản ứng theo
giới mình, chẳng những không tìm thấy lối nhìn của giới mình qua tác
giả mà còn thấy lối nhìn của giới mình bị phê phán xúc phạm, nhất là
trường hợp tác giả thuộc một giới khác, một giới bị mình đố kỵ oán
ghét.
Loại diễn từ thứ hai nhằm mục đích tìm ra những giải pháp cho một
vấn đề đặt ra trong một trường hợp cụ thể. Loại diễn từ nầy đòi hỏi
người viết những điều kiện khác hẳn thiết yếu liên hệ tới những
người thuộc một giới hay những giới chính trị,xã hội, tôn giáo mà
người viết muốn nêu vấn đề và đề nghị giải pháp. Như vậy, người viết
buộc phải chấp nhận trân trọng những người mình muốn nói với, bất kể
họ thế nào; nếu họ thuộc giới người đang cầm quyền, phải tỏ ra trân
trọng quyền hành của họ, không thể một mặt nêu vấn đề, đề nghị giải
pháp, đồng thời mặt khác làm như thể không thèm nói với những người
mình muốn người ta chấp nhận giải pháp đề nghị và đem ra thực hiện,
thậm chí còn bày tỏ thái độ khinh miệt hoặc hạch tội người ta. Thực
ra, loại diễn từ nầy cũng nhằm nói với người đọc như cá nhân đọc
theo lương tâm trí thức của họ vượt ra khỏi những hạn chế hay lối
nhìn quan điểm của họ. Nhưng làm sao người đọc là một vài cá nhân có
thể được thuyết phục và sau đó thuyết phục những người khác trong
giới của họ nếu trước hết, người viết không chứng tỏ tư cách trí
thức của mình để được họ phải lắng nghe,theo dõi những phân tách
luận điểm trình bày của người viết?
Phân tách, đưa ra luận điểm của người viết không phải để phê phán đả
kích những lệch lạc, sai trái, mà trình bày những hình thành, diễn
tiến xã hội hay lịch sử thế nào rút cục đã đưa đến tình trạng lệch
lạc, sai trái mà người đọc có thể cũng nhìn nhận giữa họ với nhau.
Nói cách khác, giải thích một đường lối chủ trương có thể tốt do
thiện chí thuở ban đầu tại sao bây giờ lại thế nầy.
Sự phân biệt hai loại diễn từ rất quan trọng, ví dụ những người giới
Phật giáo phê phán gay gắt chế độ ông Diệm là Công giáo trị nhằm tạo
đoàn kết lương-giáo mà không đếm xỉa đến người Công giáo, kể cả
những người Công giáo của ông Diệm có thể chấp nhận đối thoại, đoàn
kết được.
Từ 1955 đến 1975, tôi lựa chọn loại diễn từ thứ nhất. Tôi chỉ bận
tâm nêu vấn đề hay đúng ra là đặt lại vấn đề, đưa ra những nhận
định, phân tích, phê phán nhằm gởi tới độc giả thuộc các giới chính
trị, xã hội, tôn giáo khác nhau, đọc theo lương tâm trí thức của họ,
bất chấp những chuyện nhạy cảm của những giới mà tôi đụng tới. Do
đó, thật dễ hiểu tôi gặp chống đối từ phía những người đọc theo giới
của họ. Tôi không thấy phiền hà gì trước những những phản ứng chống
đối, vì tôi đã biết trước không thể tránh được. Tôi vẫn nghĩ tôi
không viết làm gì nếu không buộc được người đọc phản ứng - phản ứng
thế nào cũng được, miễn là có phản ứng, và tôi coi như thế là đạt
được ý định viết vì đã gợi mở điều kiện để người đọc theo lối nhìn
quan điểm của giới mình phải bộc lộ quan điểm của giới họ.
Sau 1975, tôi không còn điều kiện viết những vấn đề liên quan đến
thời cuộc và nói chung, trừ một hai bài viết đăng trên báo chí công
khai gây phiền hà cho những người phụ trách điều hành, tôi giữ im
lặng. Tuy nhiên tôi vẫn viết và viết nhiều theo loại diễn từ thứ
hai. Không phải tự ý viết mà được yêu cầu viết. Tôi viết cho hai
giới: giới công giáo và giới đảng, nhưng không phải cho tất cả cho
mọi người trong hai giới đó, mà chỉ một số người. Một vài vị lãnh
đạo cơ quan đảng đề nghị tôi làm những phân tách kèm theo những biện
pháp về một số vấn đề như phải tiếp thu thế nào những trào lưu tư
tưởng Tây phương (hiện sinh, cấu trúc), chính sách đối với trí thức
cũ, đối với các tôn giáo, đặc biệt công giáo... và đòi hỏi viết theo
lối nhìn, quan điểm của tôi. Nói cách khác, tôi vẫn có thể nói
thẳng, nói thật những điều muốn nói. Những bài viết cũng theo yêu
cầu chỉ để phổ biến hạn chế, lưu hành nội bộ trong giới lãnh đạo. Về
công giáo, tôi viết cho một số trí thức, linh mục, và hạn hẹp hơn
cho một vài giám mục, đặc biệt Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình đã đề
nghị tôi làm consultant riêng từ 1975 đến 1995. Ngoài ra, tôi cũng
có viết một công trình nghiên cứu thuần tuý văn hoá VN không liên
quan gì đến thời cuộc, nên không đụng chạm đến lối nhìn riêng của
mọi giới. Những công trình nầy đến nay chưa xuất bản được cả ở trong
và ngoài nước. Tuy nhiên, khi xuất bản được, nếu có phản ứng, có thể
sẽ chỉ là những góp ý mà thôi.
Chứng từ
Trước hết, xin giới thiệu bài "Trả lời phỏng vấn của báo Bách
Khoa về Đại học hè Đà Lạt của tôi, và bài "Đại Học Đalat và kỷ
niệm xa xưa" của Nguyễn Tiến Đức, hiện là giáo sư ở vùng Hoa Thịnh
Đốn. Ông đã là tham dự viên của hai Đại học hè Dalat 1959, 60.
Mấy năm ở Huế là thời kỳ có nhiều kỷ niệm đẹp nhất của đời tôi trong
đại học và ngoài đại học. Nhưng điều xảy ra cho tôi cũng là những
điều xảy ra cho người xứ Huế, rút cuộc tự ý hay bắt buộc phải bỏ
Huế, và như vậy Huế không phải là nơi để ở mà là nơi để nhớ thương.
Người được coi là ngôi sao sáng của Đại Học Huế đã buộc phải bỏ Huế,
đúng hơn nữa bị đuổi ra khỏi Đại Học Huế (Dòng Việt trang
143-6 và Lê Thanh Minh Châu trong «Nhớ Đại Học Huế», Tiếng Sông
Hương, Dallas 1998). Ai đuổi và tại sao, sự kiện ra đi của tôi
đã gây những dư luận tai tiếng quái ác vẫn được nhắc đến như một
bằng cớ để đả kích, mạt sát tôi cho đến hôm nay, mà tôi có dịp sẽ
nói sau.
Sau đó, xin giới thiệu hai bài trả lời phỏng vấn bằng tiếng Pháp năm
1990. Đó là bài phỏng vấn của một nữ sinh viên Pháp gốc Việt làm
luận án tiến sĩ về đề tài: Người VN du học tại Pháp; và bài trả lời
người đại diện tổ chức phi chánh phủ France Libertés do bà Tổng
thống Danielle Mitterand đứng đầu, nói về văn hoá Tây phương, nhân
một dự định đi Âu châu không thành.
Qua các bài phỏng vấn, tôi nói về nguồn gốc đào tạo, vốn văn hoá tôi
tiếp thu được trong thời du học ở Âu châu. Những ai đã ở Âu châu,
Pháp hay ở VN am hiểu văn hoá Âu châu, Pháp đều dễ dàng nhận ra
nguồn gốc đào tạo tiếp thu khi đọc những gì tôi viết bằng tiếng
Việt, đặc biệt liên quan đến vấn đề giao lưu, chuyển dịch, đưa những
lối nhìn khái niệm từ bên ngoài vào văn hoá, văn học, hoàn cảnh xã
hội VN. Nhưng rất tiếc tôi ít được phê bình đùng đắn do những người
am hiểu, có trình độ như Tam Điểm đã phê bình Ca tụng thân xác,
về khả năng thực hiện văn hoá giao lưu kể trên. Phần lớn các bài phê
bình đều có tính xuyên tạc, chụp mũ, vu khống, do những người cầm
bút học hành dang dở. Nhưng bây giờ đọc lại những bài phê bình thuộc
loại đó, tôi nhận ra tôi cũng có trách nhiệm phần nào vì tôi đã chưa
thoát, chưa chuyển hoá hoàn toàn lối nhìn, phương pháp khái niệm Tây
phương vào văn hoá VN một cách sáng tạo làm cho những người kém am
hiểu văn hoá Tây phương không thể nhận ra nguồn đào tạo, vốn tiếp
thu từ bên ngoài, như trường hợp Hồ Biểu Chánh mà tôi đã nhận ra
trong công trình tìm hiểu văn học miền Nam. Tiểu thuyết nào của Hồ
Biểu Chánh lấy chất liệu cảm hứng từ nhà văn Pháp, mà nếu người đọc
không am tường văn hoá Pháp sẽ tưởng rằng đó là những tác phẩm hoàn
toàn Hồ Biểu Chánh.
Khi nói viết cho những độc giả đọc theo lương tâm trí thức của mình,
không phải cho các giới tôn giáo, chính trị, xã hội, thực ra tôi đã
theo cách phân biệt của J.P. Sartre, viết cho des lecteurs
chớ không phải cho le public. Vì thế tôi không để ý đến phản
ứng của các giới, đôi khi còn chọc giận các giới, bất kể là Công
giáo, Phật giáo, Cộng sản...mà tôi cho là bảo thủ, lạc hậu, chật
hẹp, vì chỉ biết tìm mình qua kẻ khác: tìm được thì khen, không tìm
được thì chê. Tôi có nhiều kinh nghiệm về điều nầy. Chẳng hạn như
Giám mục Phạm Ngọc Chi ra Huế chất vấn Linh Mục Cao Văn Luận tại sao
mời tôi là kẻ rối đạo dạy học (chuyện này do LM Luận kể lại với
tôi), nhưng khi Hội đồng giám mục trao lại quyền điều hành cho các
linh mục người ngoại quốc thì đã bị nhiều phản đối mà GM Chi là bị
nhắm vào. Tôi tích cực chống lại quyết định đó tại tòa khâm sứ và đã
góp phần vào việc bải bỏ quyết định trên. Đức cha Chi lên tận nhà
tôi bày tỏ lòng cám ơn: bây giờ mới hiểu thầy là người tha thiết
bênh vực quyền lợi giáo hội Việt Nam.
Tôi đã viết đâu đó trước 75, tự coi mình là người không xếp hàng
ngay cả với những người không xếp hàng, do đó tôi không quan tâm đến
những chống đối và coi đó là đương nhiên. Tôi có ý định tích luỹ nội
dung những hình thức chống đối làm chất liệu suy nghĩ thành sách vè
đề tài: Sự ngộ nhận giữa người với người qua chữ viết.
Sau 75 tôi không thể viết cho những độc giả đọc theo lương tâm trí
thức của mình, nhưng lại có dịp đưa tôi trở lại cảm thông chia sẻ
lối sống, cảm nghĩ của những người thuộc các giới xã hội, tôn giáo
mà trước đây tôi không lưu tâm, coi thường vì cho là bảo thủ, lỗi
thời, chật hẹp... Hồi ở Sở Công An Thành phố (Nha Cảnh Sát Đô Thành
trước 75), ban sớm mai, thỉnh thoảng tôi mới nghe được tiếng chuông
nhà thờ từ xa vọng về, rất nhỏ, không rõ từ nhà thờ nào gần đó. Tôi
bỗng thấy thèm muốn đi xem lễ ở nhà thờ của những đám đông giáo dân
mà trước đó tôi thường xa lánh, bởi ưa đi xem lễ nơi các nhà nguyện
ít người, phần đông là trí thức... Rồi một ban sáng khác, tôi được
nghe tụng kinh Phật, giọng miền Trung, từ một cachot nào đó, giọng
thật truyền cảm của ông đại uý chồng cũ của đào Thanh Nga. Ông bị
tình nghi có dính líu tới vụ sát hại vợ ông! Tôi không hiểu lời
kinh, nhưng chỉ nguyên giọng tụng niệm đã đưa tôi vào tình tự Phật
giáo mà tôi không tìm được qua các sách báo Phật giáo mà tôi đã đọc.
Sau khi được thả, tôi thường đi lễ sớm ở các nhà thờ họ đạo. Tôi đến
chùa Ấn Quang nhờ các nhà tu quen biết gốc miền Trung tìm dùm các
băng cassette bài kinh, nhưng ít ai dám thu băng vào thời nầy. Mãi
khi sang Bắc Mỹ, tôi mới tìm được.
Tôi nhớ đã được xem một phim trong đó có cảnh Chúa đang bị đóng đinh
trên thập tự giá nhưng còn muốn làm tình với mấy người đàn bà, gây
xúc động, phản đối trong số khán giả Ki-Tô giáo. Tôi không tán thành
lối sáng tác nghệ thuật dành cho những khán giả xem với lương tâm
trí thức của họ, bất chấp những nhạy cảm của tôn giáo mà xét về một
mặt, phải tôn trọng ngay cả những niềm tin, lối sống đạo truyền
thống bị coi là bảo thủ. Tôi muốn hỏi những người viết truyện, đóng
phim kể trên, giả sử họ có những bà mẹ, người chị vẫn còn giữ đạo
theo lối truyền thống có đau lòng không khi xem phim của họ, và nếu
có, họ có dám xúc phạm đến những người mẹ người chị của họ hay
không?
Cũng trong tinh thần đó, tôi không tán thành lối viết xúc phạm đến
tôn giáo của nhà văn Salman Rushdie khi ông trả lời phỏng vấn mà có
lẽ trước 75 tôi thích thú: Phép lạ thực sự của văn học là nhờ văn
học, chúng ta không thuộc về ai cả, không ai chiếm đoạt được chúng
ta. Trách nhiệm duy nhất của chúng ta là nói lên điều chính chúng ta
thấy cần phải nói. Những người không ưa chúng ta chỉ việc tìm đọc
sách khác. (Le Nouvel Observateur, số 1682, tháng 9/1996,
tr.50)
Trong bài trả lời phỏng vấn liên quan đến văn hoá Tây phương, tôi
gợi ý việc tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng Marxisme, Léninisme xuất phát
từ triết học. Ánh sáng cách mạng Pháp, xu hướng 1793 mang tính chất
chống tôn giáo, giáo sĩ trị... đã có những hậu quả tai hại thế nào
về văn hoá, chính trị, và đặc biệt đã có những hạn chế nào trong
lãnh vực văn hoá do tình trạng độc quyền văn học của văn hoá Pháp ở
VN, một nước thuộc địa của Pháp. Mấy ý nầy tôi đã khai triển hơn
trong một buổi nói chuyện về phương pháp luận cho lớp chuẩn bị tiến
sĩ của trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh. Chị Tôn Nữ Nha Trang, một
Việt kiều ở Mỹ, làm luận án về văn hoá VN có mặt trong buổi hội
thảo. Tôi đã nhờ chị trả lời câu hỏi: Giả sử VN bị người Anh thay vì
bị người Pháp đô hộ thì nền văn học VN có đi vào một hướng khác, ảnh
hưởng đến tư tưởng cách mạng chính trị, vì nước Anh không có một
truyền thống giống nước Pháp. Bài nói chuyện nầy sau đó đã được đăng
trong tạp chí Văn Học do Nguyễn Mộng Giác chủ biên, tựa đề
là: «Khái niệm và thể loại văn chương» (Văn Học số 100, tháng
8/1994).
VN vì chịu sự khống chế của nền văn hoá Pháp nên kể như không có
giao lưu văn hoá với văn hoá văn học khối Anglo-Saxon và cả văn hoá
Nga. Chỉ về sau, dưới chế độ Cộng Sản, văn hoá Nga qua văn hoá Liên
Xô mới du nhập VN do các sinh viên du học hay đọc sách báo Nga tại
VN. Văn hoá Nga không có truyền thống chống tôn giáo, trái lại dựa
vào tôn giáo, đặc biệt về văn học và ngôn ngữ học. Sự tiếp thu văn
hoá Nga đã tạo điều kiện cho trí thức VN có dịp tìm hiểu văn học,
ngôn ngữ VN qua mảng văn học bình dân, đại chúng là mãng quốc ngữ và
nôm đạo từ thế kỷ 17, trong khi trí thức ở Saigon trước 75 hay ở
Pháp chỉ được thông tin bằng tiếng Pháp qua các nhà văn hoá ngôn ngữ
Đông Âu. Với những lối tiếp cận từ nền văn hoá Nga, tôi đã khám phá
ra mảng văn học đại chúng dân gian của người công giáo VN. Mảng văn
học đó chứng minh một cách không thể chối cãi người Công giáo đã là
VN qua các kinh sách tuyên vận bằng chữ nôm ngay từ thuở ban đầu đạo
Chúa du nhập VN từ thế kỷ 17. Điều trớ trêu là một số trí thức Công
giáo chuyên về ngôn ngữ và văn học và một số trí thức từ miền Bắc
vào cùng nhau nghiên cứu tiếng Việt dựa vào vốn tài liệu quốc ngữ
đạo và nghiên cứu mảng văn học đại chúng Công giáo, đều nhìn nhận và
ca tụng một số văn bản đặc sắc nhất của mảng văn học đó.
Nói tóm lại, quãng từ 1985, tôi bắt đầu lưu tâm tìm hiểu một cách
trân trọng tâm tình giới Công giáo được biểu lộ qua các tài liệu
nôm, quốc ngữ.Tôi đã viết được một số công trình biên khảo cho tất
cả giới Công giáo đọc, không phải chỉ cho một số độc giả đọc theo
lương tâm trí thức của họ và cho các giới khác đọc, đặc biệt cho
giới còn chịu ảnh hưởng lối nhìn cách mạng Cộng Sản, còn rất nhiều
thiên kiến đố kỵ người Công giáo.
Chính trong ý định viết cho các giới đọc, đặc biệt để nói với giới
còn nhiều thiên kiến đố kỵ với Công giáo, và đề ra giải pháp và cùng
với họ tham gia thực hiện giải pháp bằng một vài việc cụ thể mà tôi
đã biên soạn một số công trình về «Công giáo trong cộng đồng dân
tộc». Nhưng cuối cùng mọi việc đều dang dở, chưa thực hiện được trọn
vẹn. Cho tới bây giờ, tôi vẫn không hiểu những lý do và những phiền
hà tôi đã gặp, hỏi ngay những người có thẩm quyền trực tiếp liên hệ
vẫn không được trả lời. Tôi nghĩ rằng có chuyện nội bộ trong cuộc
tiến hành đổi mới và những việc làm được yêu cầu, đề ra ở cấp cao
như Ban kinh tế Trung ương Đảng, nhà xuất bản Sự Thật của Trung ương
Đảng, Ban Tôn giáo chính phủ...; về phía công giáo, Tòa Tổng giám
mục, một số linh mục quản hạt, chính xứ, không được lòng nhà nước.
Hai năm sau, một biên soạn khác cũng về đề tài Công giáo được thực
hiện, có lẽ vì ở cấp dưới và chỉ có một cấp đại học.
Bên cạnh bài trả lời về văn hoá Tây phương, tôi xin nói qua về một
vài thư từ qua lại (không đầy đủ), giữa ông Võ Oanh, Trưởng ban kinh
tế Trung ương Đảng, ông Nguyễn Linh, Phó giám đốc nhà xuất bản Sự
Thật ở miền Nam, và tôi. Gốc gác của những liên hệ giao dịch qua hội
Ái Hữu Cựu Học Sinh Bưởi-Chu Văn An. Tôi quen biết một số vị ở miền
Bắc như Võ Oanh, Thép Ma (đã qua đời), Thiết Vũ qua hội nầy. Tôi
liên lạc với bạn bè ở Pháp, đặc biệt anh Nguyễn Đức Nhuận, viết cho
Le Monde Diplomatique về VN, trước 75, có thời anh về nước
dạy Triết ở Đại học Văn Khoa Saigon. Anh Nhuận có cho tôi biết danh
tánh của một số trí thức Pháp đã can thiệp cho tôi ra khỏi tù và đề
nghị tôi viết thơ cám ơn họ. Qua anh, tôi liên lạc được với các tổ
chức phi chánh phủ và gởi cho tôi những sách báo về kinh tế, lịch
sử, chính trị, triết học, tôn giáo... Tôi cũng nhận được tạp chí
Esprit mà tôi có gần đủ bộ trước 75.
Về đề nghị của nhà xuất bản Sự Thật, bạn bè ở Paris cho biết họ muốn
có những tín hiệu cụ thể về quyết tâm đổi mới trong lãnh vực khoa
học, tôn giáo. Do đó ông Nguyễn Linh đề nghị tôi biên soạn để xuất
bản một quyển sách về tôn giáo. Tôi nói với ông Nguyễn Linh nếu thực
hiện được một tọa đàm về quyển sách nầy một cách nghiêm chỉnh thì đã
là một tín hiệu đáng tin cậy rồi. Tôi sẽ nói sau về nội dung cuốn
sách và buổi tọa đàm nầy. Tôi nghĩ rằng có thể buổi tọa đàm nầy là
nguyên nhân làm ngưng trệ các cố gắng «đổi mới hay là chết» vào thời
đó.
Trong buổi tọa đàm nầy, những trí thức do tôi mời đều dè dặt, ít
nói, nhưng những người của nhà xuất bản Sự Thật có người phát biểu
mạnh bạo về đòi hỏi đổi mới. Nói cho đúng, ở VN, bên nầy hay bên kia
sử dụng những cặp đối lập tiến bộ/bảo thủ, tả/hữu về chính trị có lẽ
không xác thực, vì những đối lập đó thiếu cơ sở về giai cấp xã hội
mà chỉ có những tranh giành quyền hành chính trị giữa các phe nhóm.
Tôi biên thư cho ông Vỏ Oanh không được trả lời, sau đó ông nhờ
người vào nói với tôi rằng thư từ giữa ban bí thư cũng bị kiểm
duyệt, và ông Võ Oanh bị khó khăn vì bị nghi theo phe nầy phe nọ.
Củng có khó khăn phức tạp về nhiều thể chế chồng chéo ít nhiều có
quyền hành, đảng, chính phủ, mặt trận, công đoàn. Những việc liên
quan đến tôn giáo thường phải thông qua Mặt trận, Ủy ban Đoàn Kết.
Việc chúng tôi cộng tác với nhà xuất bản Sự Thật, Ban tôn giáo của
chính phủ thực sự qua Mặt Trận, bộ phận phụ trách tôn giáo lại làm
công khai, lộ liễu. LM Nguyễn Hưng có đóng góp vào bản thảo của tôi,
đứng ra vận động các linh mục góp tiền, vàng trong kỳ cấm phòng hàng
tháng của các linh mục để in, được phép và có sự cổ vỏ của TGM
Nguyễn Văn Bình. Khi tôi bị Công an kêu lên làm việc vài buổi không
hề nhắc tới những vi phạm đó mà chỉ yêu cầu tôi giải thích nguồn
gốc, diễn tiến sự việc như thể tôi chủ động và buộc tôi đi thu hồi
các bản thảo in ronéo nội dung buổi tọa đàm. Họ chỉ yêu cầu về phía
tôi mà không đụng gì đến phía nhà xuất bản Sự Thật, vì chắc nhà Sự
Thật không phổ biến, trong khi bạn bè tôi đã chuyền cho nhau đọc,
đem photocopie ra, và như vậy là đã vi phạm qui định phổ biến hạn
chế, lưu hành nội bộ.
Bây giờ nhìn lại chuyện hồi đó, nếu chúng tôi thận trọng tuân giữ
một số qui định, mặc dù không đồng ý như tôi nói trong bài phỏng
vấn, có thể cuốn sách đã được xuất bản trong thời điểm đổi mới còn
sôi nổi, chưa có những biến cố Ba Lan, Đông Âu, và có thể có những
vang dội trong nước lẫn ngoài nước. Ngày nay, nếu có xuất bản, nhiều
phần đã trở nên lỗi thời và chỉ còn để ghi lại một cố gắng đổi mới
về tư tưởng tôn giáo đã thất bại.
Giáo sư Luguern, người phụ trách tổ chức France Libertés ở khu vực
Đông Nam Á đã đề nghị tôi cho phép đăng bài phỏng vấn trên báo Pháp.
Tôi không thuận vì tôi không muốn tạo cơ hội cho những ai ở hải
ngoại chống chế độ tại VN: một trí thức như ông Nguyễn Văn Trung, ở
lại VN, đã sẵn sàng đáp lại lời yêu cầu của chính giới lãnh đạo cao
cấp, nhưng rốt cuộc chẳng làm được điều gì ra hồn và chỉ chuốc lấy
những phiền hà, thế thì những người ỏ nước ngoài hi vọng làm được gì
đáp lại lời kêu gọi VN tham gia xây dựng đất nước!
Cũng trong thời gian nầy, giáo sư Phan Công Chánh, dạy Triết ở Đại
học San José về thăm nhà, ngỏ ý nhờ tôi thực hiện một vidéo giới
thiệu những công trình nghiên cứu văn hoá VN từ 75. Nhưng rồi trước
khi GS Chánh trở lại Hoa Kỳ, tôi đã yêu cầu giáo sư huỷ bỏ băng
vidéo cũng vì lý do như trên.
Nói chung, tôi đã không lên tiếng, trả lời phỏng vấn hay cậy nhờ cơ
quan nầy tổ chức nọ can thiệp vào những khó khăn thử thách mà tôi đã
gặp từ 75 cho đến nay (năm 2000) để giới lãnh đạo phải trực diện với
những gì đã xảy ra mà không thể mượn cớ, dựa vào bất cứ lý do ngoại
tại nào nhằm biện hộ cho những việc làm dang dở, thất bại, và do đó
phải nhận trách nhiệm về phần mình.
Bây giờ, có phổ biến công khai bài phỏng vấn chỉ là để nhắc lại một
sự kiện đã qua trên 10 năm để đáp lại lời yêu cầu của GS Luguern và
để các độc giả người Việt nói tiếng Pháp thuộc thế hệ trẻ có thể
biết được.
5. Lựa chọn một thái độ trí thức
Nói về người trí thức và thái độ trí thức, vẫn thường có những phát
biểu tranh luận bày tỏ những cách hiểu khác nhau. Tôi tôn trọng cách
nhìn của giới khác. Phần tôi, tôi có cách hiểu người trí thức và
biểu lộ thái độ trí thức theo lối nhìn của tôi. Có người không đồng
tình phê phán và tôi tôn trọng quyền phê phán đó.
Tôi hiểu người trí thức không nhất thiết phải là người có kiến thức
tiếp thu được ở nhà trường cấp đại học hay hậu đại học vì có những
người có những kiến thức chuyên sâu nhờ đọc sách báo, kinh nghiệm
tiếp xúc... Thực ra điều cốt yếu đáng nói không phải là vốn kiến
thức mà là thái độ trí thức đối với chính cái vốn kiến thức và nhất
là đối với những vấn đề cuộc sống trước mặt đặt ra.
Trong gần 50 năm cầm bút, tôi đã bày tỏ nhiều lần ý kiến của tôi về
vấn đề người trí thức và thái độ trí thức, chẳng hạn viết bài phân
tách «Sứ mệnh người trí thức», sau đó là bài «Đọc cuốn Đi tìm một
căn bản tư tưởng của ông Nghiêm Xuân Hồng» (Nhận Định 2),
bài «Người vong bản trí thức», trong Nhận Định 3).
Hồi 1966, viết bài phỏng vấn của nhật báo Xây Dựng ngày
8-8-1966 mà tôi nhắc lại ở đây trong phần Chứng từ. Sau 1975, tôi
viết một bài dài đáp lại yêu cầu cho biết ý kiến về chính sách đối
xử với trí thức chế độ cũ. Trong bài phân tách nầy, tôi đã sử dụng
lý luận của một vài người thiên tả hay Mác xít như Paul A. Baran và
A. Gramsci (1980). Tôi sẽ nhắc đến bài nầy trong phần 2 (1975-1995)
của tập Nhìn lại những chặng đường đã qua. Năm 1993, tôi lại
nói về trí thức, lần nầy chú trọng vào người trí thức trong đảng
Cộng Sản (đảng có trí thức hay không) trong bài viết đáp lại cuộc
tham khảo ý kiến một số trí thức thành phố về đổi mới, trí thức.
Nhìn lại những chặng đường đã đi qua, ở đây chỉ xin nhắc tới 10 tập
Nhận Định, trong đó 6 tập đã xuất bản trước 1975, 3 tập viết
trong thời 1975-1995, chưa xuất bản được và tập 10 (1994-1998) gồm
một số bài viết ở nước ngoài và trong thời gian về nước.
Vào những năm cuối cùng trước 1975, tôi viết mục Bút ký hằng tuần
cho nhiều nhật báo: Tin Sáng, Hòa Bình, Dân chủ mới... Loạt
bài nầy khá nhiều, chưa được gom lại xuất bản trong Nhận Định
trước 75, và chính loạt bài nầy mới bộc lộ rõ hơn cả một thái độ trí
thức đối với thời cuộc. Thái độ trí thức được bày tỏ trong các tập
Nhận Định đúc gọn như thể một tuyên ngôn đăng nơi trang bìa 4
của tất cả các tập Nhận Định :
Triết lý là một nỗ lực nhận thức về cuộc đời.
Nhưng bởi cuộc đời là một thực tại vô cùng phong phú, sống động
và con người luôn luôn phải sống ở một vị trí nhất định mà nhìn
cuộc đời cho nên ý hướng nhận thức của người bao giờ cũng chỉ
lãnh hội được một vài khía cạnh trong muôn ngàn của cuộc đời đó.
Như thế cuộc đời toàn diện, chân lý tuyệt đối trở thành một nhãn
giới mà con người càng vươn tới, nhãn giới càng lùi xa... Và
triết lý có nghĩa đi tìm hơn là tìm thấy. Đó không phải là lý do
để thất vọng, vì nếu sự thật đã tìm thấy, sẽ không cần đi tìm
nữa, đằng khác cái say mê cũng không phải hẳn ở chỗ tìm thấy
nhưng ở chỗ đang tìm.
Trong viễn tượng đó, không nên đưa ra những phán đoán thanh toán
vấn đề, chấm dứt cuộc tìm hiểu, nhưng chỉ nên có những Nhận
Định, nhận những ý kiến đề nghị để trao đổi, đối thoại với
những bạn đường khác cũng đang đi tìm một mình.
Ở cái thời độc tài, bạo động chia rẽ vì ai cũng cho mình nắm
được chân lý toàn diện, thiết tưởng cần đề cao sự hoài nghi,
phản kháng và gặp gỡ, trao đổi, đối thoại.
Tác giả muốn đứng ở phía những người yêu chuộng sự trao đổi đó.
Điều tôi thực sự lo ngại xảy đến cho tôi là sự lão
hoá trong sinh hoạt suy tưởng. Lúc còn trẻ, tôi biết một số đàn anh
vào tuổi 60,70 đã trở thành bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời mà không hay,
vì những người thuộc các thế hệ đàn em kính trọng tuổi già không dám
nói ra ngay trong chỗ riêng tư. Bây giờ tôi ở lứa tuổi 70, tôi cũng
thấy một số người cùng lứa tuổi đã lão hoá trong sự nghiệp cầm bút
của mình. Tôi tự hỏi: còn tôi thì sao? Tôi mong được các người cầm
bút thuộc các thế hệ đàn em nói thẳng với tôi. Tuy nhiên, một cách
chủ quan, tôi cảm thấy chưa đi vào xu hướng lão hoá về tư tưởng một
cách nghiêm trọng, có lẽ vỉ hai lý do sau đây :
Tôi tra hỏi cuộc đời, nhưng cuộc đời của tôi cũng xuất hiện như một
tra hỏi không ngừng. Trong chủ trương tiếp cận với thực tại, tôi cho
rằng chỉ có thể từ một vị trí và do đó chỉ có thể nhìn thấy một khía
cạnh của thực tại. Nếu thay đổi vị trí sẽ nhìn thấy một khía cạnh
khác và không bao giờ lãnh hội được thực tại một cách toàn diện,
hoàn tất. Lối nhận thức đó đưa tới một quan niệm tương đối về chân
lý và một thái độ khiêm tốn không bao giờ được tự cao, tự mãn.
Những nhận định từ những cái nhìn theo khía cạnh liên tiếp được đề
nghị với người khác như bạn đường để gợi ý, thúc đảy họ thực hiện
cuộc hành trình tư tưởng của chính họ. Ngay cả tư thế người dạy học,
tôi vẫn cố gắng tránh sự áp đặt. Chị Hồng Khắc Kim Mai, một sinh
viên cũ, gần đây có cho tôi biết một sự việc. Tôi đã cho điểm cao
bài thi của chị, và chị đã hỏi tôi tại sao. Chị đã thuật lại câu trả
lời của tôi lúc đó: Mấy đứa kia trả bài như con vẹt, đôi lúc còn
hiểu sai và xuyên tạc nữa. Còn cô ít nhất cô đã tỏ ra honnête, không
học bài và đã trám vào bằng một câu chuyện với những lý luận không
ra gì nhưng mà hay. Ít nhất cô cũng biểu lộ được một cá tính đặc
biệt.
Tôi hay qui tụ bạn bè cầm bút thực hiện một công trình chung, như ra
một tạp chí. Trong trường hợp nầy, chẳng qua cũng như trải ra một
chiếc chiếu, ngồi chung với nhau trên một đồng thuận nào đó, vào một
thời điểm nhất định trong tinh thần tôn trọng những xác tín, lựa
chọn cụ thể của từng người. Sự qui tụ đó không có nghĩa một mưu đồ
thành lập nhóm nầy nhóm nọ, để xưng tụng lẫn nhau. Tôi nhìn nhận có
những người trẻ hơn, chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng và lối viết
của tôi, nhưng tôi không bao giờ xem họ là đồ đệ. Họ trưởng thành và
đôi khi cũng bày tỏ công khai những phê phán, chứng tỏ họ đã vượt
qua các đàn anh của họ. Tôi vẫn đặc biệt ghi nhớ và hãnh diện 6 số
Sinh Viên do những người đã tốt nghiệp đại học thực hiện vào
những năm 1966-68 ở Saigon, nhất là số 6, số chót dành cho việc phê
phán các đàn anh của họ về triết học, lập trường xã hội, do những
cây bút trẻ sinh viên thời đó: Trần Triệu Luật, Nguyễn Tử Lộc,
Nguyễn Trọng Văn...
Tự bản thân tôi, tôi luôn bất mãn với những gì mình viết ra, thích
thú trong việc đi tìm khai phá hơn là tìm thấy và an nghỉ trong
những cái đã tìm thấy. Vì vậy, nếu không có đồ đệ để được xưng tụng,
làm sao có thể bám víu vào quá khứ để trở nên lạc hậu lỗi thời?
Nhưng lý do quan trọng hơn là số người cầm bút điểm sách, phê bình
tỏ ra có hiểu biết, và nhìn nhận một cách nghiêm chỉnh thật ít so
với đa số thích đả kích, mạt sát, chửi rủa đôi khi quá thậm tệ...
Một vài người khác cũng có thái độ tương tự Mai Thảo, thường không
bị một niềm tin, xác tín tôn giáo hay ý thức hệ nào chi phối. Trái
lại, tôi thực sự gặp chống đối, phủ nhận nơi những người phê bình
Nhận Định thuộc giới những người có niềm tin tôn giáo (Công giáo
hay Phật giáo) hay ý thức hệ Mác xít, vì không thể chấp nhận một
thái độ trí thức dựa trên quan niệm tương đối về chân lý. Nhận
Định I tái bản đến lần thứ tư, tôi đã bỏ bài «Từ bi Phật giáo,
Bác ái Công giáo» đã in trong lần xuất bản đầu tiên, vì sự chống đối
của Phật giáo, chẳng hạn qua bài «Đạo Phật không có từ bi?» hay của
Đường Minh trong tạp chí Nhân Loại, cả sự chống đối của Công
giáo qua bài kiểm thư của tạp chí Ra Khơi, tháng 1,2/1958, cơ
quan ngôn luận in ronéo của Đại Chủng Viện Bùi Chu.
Nhận Định 2, tái bản lần thứ ba, gặp sự chống đối mãnh liệt
của Hà Nội sau lần xuất bản đầu tiên về văn học và triết học Mác xít
qua các bài của ông Nguyễn Văn Hoàn và cuốn sách của ông Trần Văn
Giàu (Nhận định về quyển Nhận Định, một tác phẩm duy linh nhân vị
nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác xuất bản ở miền Nam (nhà xb Sự
Thật, Hà Nội, 1962).
Nhận Định 4 tập trung các bài về chủ đề Chiến tranh, Hòa
bình, Cách mạng. Qua bài «Đọc Nhận Định 4 của NVT» của Tam Thanh,
đăng trong tạp chí Trí thức mới số tháng 6 (12/1966), xuất
bản trong khu. Bài nầy nhẹ hơn so với bài của Trần Văn Giàu và các
tác giả ngoài Bắc. Tôi sẽ trở lại những phê bình của giới Cộng Sản
trong một chương sau.
Sau đây tôi xin giới thiệu hai bài điểm sách về Nhận Định 1
mà tôi xem là đã hiểu đúng ý hướng, chủ đích viết Nhận Định
của tôi.
Nhận Định của Nguyễn
Văn Trung (Nguyễn Du xuất bản)
Gồm những bài đăng trên tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa, Gió Mới
và Thông Cảm (cơ quan của một nhóm sinh viên Công giáo),
tập sách trình bày một số vấn đề văn chương, giáo dục, triết lý
và tôn giáo, theo nhận định riêng của tác giả. Điều nầy được ghi
rõ trong lời mở đầu: biểu lộ một nỗ lực giải quyết những thắc
mắc của một người trong một hoàn cảnh riêng biệt của mình. Người
đọc đã có một ý niệm rõ rệt về dụng ý của tác giả. Ông không
thuyết phục, đòi hỏi một sự thống nhất quan điểm, cũng không có
tham vọng xây dựng một phương pháp nhận định gương mẫu, duy
nhất. Trái lại, ông chỉ chủ quan phân tích một số vấn đề trước
hết thiết yếu đối với riêng ông và không chờ đợi gì hơn là sự
thông cảm, sự chú ý, và những ý kiến chúng ta sẽ phát biểu về
những vấn đề đó. Ý hướng triết học do quan niệm nầy được ông
giải thích như một hiện tượng gắn liền với đời sống, và sẽ mất
hết ý nghĩa khi tách rời khỏi đời sống. Triết lý thể hiện nỗi lo
lắng tìm kiếm không ngừng, không nghỉ của con người.
Đó là một thái độ đúng. Và tiến bộ nữa. Chính nhờ có thái độ nầy
tác giả có được một cái nhìn trong sáng, một lối nhận định linh
động, trực tiếp về chân tướng và bản thể sự vật. Không phải do
nơi kiến thức sâu rộng, học vấn uyên bác, mà bởi lòng chân thành
nơi con người tìm thấy sự thực, phô diễn dưới muôn vàn hiện
tượng khác biệt và giá trị tương đối. Lòng chân thành ở đâu, sự
thực và chân lý ở đó. Tác giả đã có sự chân thành nầy khiến cho
tác dụng của tập sách không nằm trong những ý được nêu ra, mà
trong cái thái độ của người đã nêu ra những ý kiến đó. Một vài
vấn đề khác biệt, lẻ tẻ đề cập đến những lãnh vực quá ư rộng
lớn, chưa thể xác định được ở đây, một nhà triết học lỗi lạc,
nhưng đã giới thiệu được với chúng ta một con người có một đời
sống tinh thần phong phú, một niềm tin mãnh liệt và một căn bản
vững vàng.
(Trích trong mục: «Qua các bộ
môn văn nghệ», tạp chí Sáng Tạo).
Đọc sách
Ông Nguyễn Văn Trung, giáo sư Triết học thường cộng tác với các
báo Sáng Tạo, Bách Khoa, Gió Mới với bút hiệu Hoàng Thái
Linh vừa cho phát hành cuốn Nhận Định về một số vấn đề
văn chương, triết. Ba cuốn sách trước ông đã soạn theo khuôn khổ
mực thước của sách giáo khoa về triết học, giáo dục, tôn giáo.
Cuốn Nhận Định nầy là cuốn sách thứ tư của Nguyễn Văn
Trung xuất bản tại VN. cố gắng vượt ra ngoài phạm vi gò bó của
loại sách giáo khoa kể trên.
Thật ra Nhận Định là tuyển tập những bài báo mà Nguyễn
Văn Trung đã cho đăng trên các báo chí đô thành. Vì những bài
báo đó bàn về đủ mọi vấn đề nên người đọc thoạt đầu hơi bỡ ngỡ
không tìm thấy tính cách liên tục của cuốn sách. Nhưng đi sâu
vào nội dung thì hẳn ta cũng tìm thấy sự nhất trí của tác giả.
Dù đọc những bài báo về triết lý, giáo dục, hay tôn giáo, văn
chương, ta vẫn thấy một con người Nguyễn Văn Trung duy nhất xuất
hiện. Đó là một con người đùng trong hoàn cảnh phức tạp của xã
hội nên muốn nhìn bốn phía, muốn nhận đýnh cho rõ những hoàn
cảnh bao quanh mình. Nhưng dù nhìn về trước mặt hay nhìn lại sau
lưng, nhìn những người tuổi trẻ hay những vấn đề siêu hình, bao
giờ NVT cũng đứng trên quan điểm triết gia công giáo, chịu ảnh
hưởng một cách sâu sắc những tư tưởng hiện tượng luận hiện đại.
Về giá trị của từng bài, từng chương trong cuốn sách, người đọc
giữ lại một cảm tưởng tổng quát: có những bài có giá trị trung
bình, nhưng cũng có bài xuất sắc. Những bài bàn về giáo dục của
Nguyễn Văn Trung sẽ là những bài văn chóng tàn vì chúng liên lạc
trực tiếp với những sự kiện có tính cách thời sự. Chúng sẽ bị
thời gian vượt qua chẳng bao lâu. Trong bài so sánh Phật giáo và
Công giáo, tác giả đã tỏ ra khe khắt với thuyết nhà Phật. Đó là
một quan điểm cần phải xác định lại. Trái lại, loại bài về Cái
nhìn, Tự tử, E lệ của NVT xứng đáng cho ta khuyên bên cạnh một
nét son rất đậm. Đó là những bài khảo luận của một người am hiểu
triết lý thực sự và cố gắng góp một phần tư tưởng vào lâu đài
triết học. Qua những bài đó, ta thấy NVT có một lập luận vững
chắc, một lập trường cởi mở, nhân bản.
Nhận xét một cách tổng quát, ta vẫn phải nói rằng cuốn Nhận
Định của Nguyễn Văn Trung là một cuốn sách có giá trị. Giá
trị của cuốn sách và cố gắng của tác giả càng đáng đề cao hơn
nữa trong tình trạng văn hoá hiện tại, khi mà sách vở triết lý
quá hiếm hoi đến nỗi có những người vốn làm hề mà dám viết nên
những cuốn sách triết lý để lòe bịp người đời.
Nguyễn Linh
(trích : Gió Mới, 20/1/1958)
CÒN TIẾP
|