Tuần Việt Nam
15, 16, 17 tháng 4, 2010
Thăng trầm câu chuyện Giá
- Lương - Tiền
Huỳnh Bửu
Sơn
LTS: Nhiều người còn nhớ,
khoảng giữa năm 1986, những hậu quả
của cuộc cải cách giá - lương - tiền khiến
đời sống kinh tế trở nên vô
cùng khó khăn. Lưu thông hàng hoá bị
đình trệ vì thiếu tiền mặt, đây đó
quay lại phương thức hàng đổi hàng. Để
tự cứu các địa phương càng tăng
cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ
nhằm giữ chặt hàng hoá cho địa phương
mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu
thông hàng hoá lâm vào cảnh bế tắc.
"Nhóm Thứ Sáu" không những khẳng
định những biện pháp cải cách tiền lương
thời đó không phù hợp mà còn cho rằng tình
trạng ngăn sông cấm chợ đã làm lệch
lạc hệ thống giá cả. Họ kiến
nghị chấm dứt tức khắc tình trạng
ngăn sông cấm chợ mà trước tiên là
bãi bỏ các trạm kiểm soát trên các
truyến giao thông. Tuần Việt Nam xin giới
thiệu câu chuyện 3 kỳ của chuyên viên
kinh tế Huỳnh Bửu Sơn nhằm kể
lại những kỷ niệm này.
I. Chuyến đi
Duyên Hải và ý tưởng ban đầu về
hội nhập
Đã từng có một thời, ngăn sông cấm chợ
rất phổ biến ở nước
ta. Đó là thời kỳ nhiều người châm biếm: ta
hiện có 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa (ý nói các quận, huyện khác nhau). Bởi
vậy, sau chuyến đi thực tế xuống
Duyên Hải, chuyên viên kinh tế Huỳnh
Bửu Sơn có ấn tượng khó quên về
cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi
của người dân nơi đầu sóng ngọn gió. Cũng từ
chuyến đi đó, đã hình thành trong ông ý
nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế
như một động lực cho phát triển.
Kỷ niệm đầu tiên đánh dấu việc tôi tham
gia Nhóm chuyên viên Cholimex là chuyến đi
công tác tại Duyên Hải cùng anh Trần Bá Tước
và anh Võ Hùng.
Chúng tôi đi Duyên Hải lần đó với mục
đích là làm một "survey" về tiềm năng xuất
khẩu. Thời đó đường đi từ thành phố đến
Duyên Hải rất khó khăn, phải vừa đi xe lẫn
đi phà. Chúng tôi đến trụ sở huyện thì trời
đã sụp tối. Một anh cán bộ trực tiếp chúng
tôi, xem giấy giới thiệu và chỉ hướng về dãy
nhà mà huyện bố trí cho chúng tôi ở. Lúc đó
khoảng 7 giờ tối, toàn khu đều không có
điện, trời lại mưa lâm râm. Chúng tôi người
mang túi, người xách ba lô (anh Võ Hùng có
một cái ba lô rất xịn) băng qua con đường
đất mà mưa dầm đã làm lầy lội để đến dãy nhà
chìm khuất trong bóng tối và cơn mưa.
Trời tối, đường ngập nước nên chúng tôi
không phân biệt được con đường và đầm lầy,
phải lội bì bõm trong bùn. Một lần tôi bước
hụt chân vào một vũng bùn sâu, đến khi rút
chân lên thì chiếc dép vẫn còn nằm bên dưới.
Tôi phải nhờ anh Tước cầm hộ túi xách rồi
dùng tay mò tận dưới bùn để lôi chiếc dép
lên. Khi đến dãy nhà, chúng tôi ướt lóp
ngóp, căn nhà thì tối thui. May nhờ anh Võ
Hùng có mang theo quẹt lửa (tôi và anh Tước
không hút thuốc) nên chúng tôi gom một mớ
giấy vứt bừa bãi trong phòng làm đuốc.
Phòng này hình như là phòng học nên không
có giường, chỉ có mấy cái bàn học kê lỏng
chỏng. Muỗi rất nhiều. Chúng tôi mắc mùng
vào các chân bàn kê ngược lên trên và trải
giấy báo nằm ngủ dưới đất. Một giấc ngủ ngon
ơi là ngon. Sáng ra, nhìn chung quanh mới
thấy khu đất rất rộng rãi quang đãng. Phía
sau dãy nhà chúng tôi ở đêm qua là khu vực
hồ chứa nước của trụ sở huyện, có đến năm
sáu cái hồ to xây lộ thiên. Còn dọc bờ tường
của dãy nhà trụ sở là hàng chục cái mái đầm
lớn tướng. Chúng tôi đánh răng, rửa mặt
trong tinh thần hết sức tiết kiệm vì biết
rằng nước uống, nước sinh hoạt ở đây quí giá
vô ngần. Vào mùa nắng, phải chờ nước từ
thành phố xuống.
Vào cái thời mà mỗi quận, huyện là một
địa bàn công nông nghiệp hoàn chỉnh, Duyên
Hải cũng phải gắng sức hoàn thành tốt vai
trò của nó để thành phố Hồ Chí Minh có được
cái gọi là tiềm năng hải sản xuất khẩu.
Những ấn tượng về chuyến đi khiến tôi, trong
khi trao đổi với các bạn về tiềm năng của
Duyên Hải, cứ nói đi nói lại mãi về những
vấn đề căn bản mà nó phải được giải quyết
trước khi nói chuyện phát huy tiềm năng, đó
là điện, nước, đường giao thông mà đường
giao thông là quan trọng nhất. Không nối
được mạch máu với quả tim là thành phố Hồ
Chí Minh để tiếp nhận nhựa sống từ đó, Duyên
Hải sẽ mãi mãi chỉ là tiềm năng.
Chuyến đi Duyên Hải, ngoài ấn tượng khó
quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện
nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió, đã
hình thành trong tôi ý nghĩ ban đầu về hội
nhập kinh tế như một động lực cho phát
triển.
Trong những buổi mạn đàm, có lẽ tôi là
người nặng lời nhất về tình trạng cấm chợ
ngăn sông rất phổ biến vào thời kỳ đó, thời
kỳ mà nhiều người châm biếm rằng ta hiện có
đến 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý
nói các quận huyện khác nhau).
Khoảng đầu năm 1986, tôi bắt đầu sinh
hoạt thường xuyên với các anh em chuyên viên
Cholimex vào thứ Sáu hàng tuần. Chọn chiều
thứ Sáu vì đây là ngày anh em ít bận nhất,
đó cũng là ngẫu nhiên lúc ban đầu. Sau này,
khi sinh hoạt đã đều đặn rồi, anh em chủ
động sắp xếp để không kẹt công việc vào
chiều thứ Sáu, có nhiều anh phải dời ngày
dạy tại các trường đại học để tránh trùng
ngày. Ban đầu, các đề tài xoay quanh những
dự án sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của
công ty Cholimex. Anh Ba Hoà, Giám đốc công
ty có dự họp một vài lần, sau đó uỷ nhiệm
cho anh Phan Chánh Dưỡng là Phó giám đốc
công ty chủ trì luôn.
Thật ra, sáng kiến mời các chuyên viên
cộng tác là của anh Dưỡng và anh Tước, nhưng
cũng cần phải thông qua anh Ba Hoà để hợp
thức hoá vì anh là Giám đốc công ty. Lần đầu
tiên gặp anh Dưỡng, tôi đã có ấn tượng ngay.
Anh nói năng gãy gọn khúc chiết tuy là giọng
Bạc Liêu - Cà Mau có pha chút giọng Hoa
nhưng nghe rất rõ ràng. Anh có những lập
luận đầy thuyết phục và có cách so sánh minh
hoạ rất hình tượng và dễ hiểu để chứng minh
cho lập luận của mình. Về điểm này, anh
Dưỡng và anh Lâm Võ Hoàng rất giống nhau,
tuy cách so sánh minh hoạ của anh Hoàng có
phần chua chát và châm biếm hơn.
Anh Dưỡng là người rất thông minh. Anh
học toán, không phải là dân kinh tế "nòi"
nhưng những vấn đề kinh tế hóc búa nào đã
qua một lần trao đổi là anh đều nắm vững và
khi thảo luận lại anh trình bày quan điểm
của mình về vấn đề đó một cách sâu sắc và
đúng đắn. Anh còn hơn chúng tôi ở chỗ phối
hợp được những lý luận toán học, quy luật
vật lý để chứng minh những vấn đề kinh tế xã
hội bằng những lập luận mang tính thuyết
phục.
Tôi rất thích trao đổi với anh Dưỡng tuy
rằng chúng tôi có rất ít thời gian để nói
chuyện riêng. Chúng tôi tận dụng thời gian
cùng ngồi trên xe đi về nhà để mỗi lần nói
một chuyện. Thôi thì đủ thứ đề tài từ vũ trụ
đến triết học, tôn giáo, binh pháp... quan
hệ đối nhân xử thế xưa nay.
Anh Dưỡng là người siêng đọc, chịu khó
nghiên cứu. Anh có một tập nghiên cứu về vũ
trụ không thời gian với những ý tưởng rất
mới lạ và không phải là không có cơ sở khoa
học. Anh là một người đa tài, có năng lực
nhưng tôi có cảm giác là anh không gặp
thời... Đáng lẽ anh có thể có những đóng góp
nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn cho đất
nước nếu anh được sử dụng đúng tài năng của
mình.
Có thể anh không chia xẻ với tôi cảm giác
đó và cũng như tất cả anh em, chúng tôi hài
lòng về cái mình đã được và đã đóng góp
được, không phải ở kết quả của chúng mà là ở
chỗ chúng đã được diễn đạt. Có khi ở một vị
trí nào đó nghĩ là thuận lợi hơn nhưng lại
không nói được hết ý mình thì sao!
Khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của
cuộc cải cách giá, lương, tiền đã được cảm
nhận ở khắp nơi trên cả nước. Lưu thông hàng
hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, ở các
tỉnh, nhất là ở nông thôn người ta quay lại
phương thức hàng đổi hàng.
Một người quen của tôi ở Vĩnh Long nói
rằng để mua mấy mét vải cho con, anh phải
mang mấy giạ lúa ra đổi. Tiền lẻ thiếu trầm
trọng khiến cho mặt bằng giá bị nâng lên một
cách bất đắc dĩ, càng làm cho hoạt động trao
đổi hàng hoá trở nên đình trệ.
Trong bối cảnh đó, để tự cứu, các địa
phương càng tăng cường các biện pháp ngăn
sông cấm chợ với mục tiêu là giữ chặt hàng
hoá cho địa phương mình, điều này càng làm
cho sản xuất và lưu thông hàng hoá trong
nước lâm vào cảnh bế tắc. Việc cải cách tiền
lương không cải thiện được thu nhập thực tế
của cán bộ công nhân viên vì mặt bằng giá
sau cải cách đã thay đổi.
Nền kinh tế đứng trước một nghịch lý: giá
hàng tăng, sản xuất đình trệ, đồng tiền khan
hiếm, đông đảo người dân ở nông thôn không
có tiền, nhưng đồng thời lại phổ biến tâm lý
e ngại giữ tiền đồng, ai có thừa một ít tiền
đồng đều vội vã mua vàng hoặc đô la cất giữ.
Những người thực hiện cuộc cải cách giá -
lương - tiền nghĩ rằng đó là một giải pháp
cho nền kinh tế nhưng không ngờ chính cái
gọi là giải pháp đã tạo ra một bài toán khó,
đòi hỏi một liệu pháp mới.
Vào thời điểm đó, không thiếu những nhận
định đại loại như: "tiền mặt vừa thừa vừa
thiếu, thừa trong dân cư và thiếu trong hệ
thống ngân hàng và trong khu vực Nhà nước"
hoặc "nền kinh tế đang lâm vào tình trạng
lạm phát phi mã". Từ những nhận định như
vậy, nhiều giải pháp đã được đề xuất như
"phải tăng cường giám sát chặt chẽ tiền
mặt", "hạn chế phát hành tiền ra lưu thông",
"kiểm soát chặt chẽ lưu thông hàng hoá,
chống đầu cơ tích trữ, tăng cường quản lý
thị trường"... Khỏi phải nói, những biện
pháp như thế chẳng những không cải thiện
được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm.
Vào khoảng tháng 10 năm 1986 - tôi không
nhớ rõ lắm - anh Hai Chí và anh Năm Nghị có
đến trao đổi với anh em, chắc là do anh Hai
Chí gợi ý và anh Dưỡng nhận lời. Nội dung
cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề giá - lương
- tiền.
Anh Hai Chí nói qua về tình hình của
thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị anh em góp
ý về một giải pháp nhằm giúp thành phố khắc
phục hậu quả khó khăn này. Cuộc thảo luận
rất sôi nổi vì không những nó đặt ra một số
vấn đề về thực tiễn mà còn liên quan đến các
vấn đề về lý thuyết kinh tế. Tôi còn nhớ
mình đã nói với anh Hai Chí rằng vấn đề này
không thể chỉ giải quyết trong phạm vi thành
phố Hồ Chí Minh và hơn nữa bản thân thành
phố không thể tự giải quyết nổi. Cuối buổi
họp, anh Dưỡng thay mặt anh em nhận lời thực
hiện đề tài theo yêu cầu của anh Hai Chí.
Đây có thể nói là một đề tài đầu tiên có
tính chất vĩ mô mà Nhóm nhận thực hiện và
tất cả anh em đều mang một tinh thần hăng
hái nhập cuộc. Tôi vinh dự được anh em tín
nhiệm giao làm chủ đề tài và cùng thống nhất
là đề tài không hạn chế trong phạm vi thành
phố vì nó đụng chạm đến những biện pháp kinh
tế vĩ mô.
Tuy nhiên, vì không có điều kiện tiếp cận
số liệu thống kê kinh tế cả nước nên tôi
phải sử dụng số liệu có được tại thành phố
trước năm 1975 để minh hoạ và chứng minh.
Phải nói rằng việc thu thập số liệu thống kê
vào thời kỳ đó là muôn vàn khó khăn vì số
liệu nào cũng được xem là mật cả. Tuy thế,
với một tinh thần hăng say, các anh em tham
gia đề tài thích cực thảo luận trao đổi, góp
nhặt số liệu, phân tích, đánh giá và đi đến
thống nhất về nhận định tình hình và giải
pháp đề xuất.
Phải nói rằng, quá trình đi đến thống
nhất nhận định là một quá trình hết sức gay
go và thú vị. Mỗi người đều nói hết những
suy nghĩ, những đánh giá của riêng mình, vận
dụng hết những kiến thức ở trường lớp, trong
sách vở và cả những kinh nghiệm thực tế
ngoài đời. Và không phải chỉ có những người
tham gia đề tài mới thảo luận mà mọi anh em
có mặt trong buổi họp đều được mời tham gia
ý kiến.
Các cuộc thảo luận hăng say đến nỗi trước
đây anh em chỉ họp mỗi tuần một lần, thời
gian đó nâng lên mỗi tuần họp đến 3 lần vào
các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu. Vậy mà
buổi họp nào cũng đầy đủ anh em đến dự. Có
hôm trời mưa như trút nước, anh Phan Tường
Vân vẫn đạp chiếc xe đạp lọc cọc đến. Có lúc
anh em cãi nhau căng thẳng, anh Tước và tôi
phải dàn hoà. Vậy mà dần dần các vấn đề được
mổ xẻ bộc lộ ra, sáng tỏ dần và điều đáng
quí nhất là qua các cuộc tranh luận anh em
ngày càng thống nhất với nhau hơn trong cách
nhận thức vấn đề.
II. Việc ngăn sông cấm chợ đã làm
lệch lạc hệ thống giá
Trước hơn hai mươi quan chức,
Nhóm Thứ Sáu quả quyết: “Việc ngăn sông cấm
chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong
nền kinh tế; Việc cải cách tiền lương là
đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp
tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc
cải cách tiền lương. Cuộc cải cách giá –
lương - tiền có thể đã thành công nếu Nhà
nước không đổi tiền”.
Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định
vào niềm tin mỏng manh của người dân vào
đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn
đồng bạc của người dân cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá
của đồng bạc.
Khi cả đoàn đã đến Hà Nội (tôi ra trước
bằng máy bay, còn đoàn anh Dưỡng và anh Tước
đi đường bộ), anh Dưỡng liên lạc với văn
phòng ông Sáu Dân báo cho họ biết đoàn đã ra
và hẹn ngày làm việc. Bên văn phòng nói là
họ đã biết việc này và bảo cứ chờ, chừng nào
thu xếp lịch xong sẽ thông báo cho biết.
Lần đầu diện kiến ông Sáu Dân
Chiều hôm đó, mọi người kéo nhau đi ăn
tối, riêng tôi với vợ tôi vì có hẹn đến thăm
nhà chị bạn mới quen nên không cùng đi. Khi
chúng tôi quay về khách sạn, lúc đó khoảng 6
giờ 15 thì gặp anh Dưỡng, hối hả bảo tôi
phải chuẩn bị tài liệu ngay vì ông Sáu hẹn
làm việc lúc 7 giờ. Lúc đó, tôi và vợ tôi
đều chưa ăn tối, nhưng không kịp nữa vì
khoảng 6 giờ rưỡi là khởi hành.
Tôi chỉ kịp xem sơ lại tài liệu, nghĩ
rằng buổi làm việc tối nay cũng chỉ là làm
sơ bộ với các chuyên viên văn phòng của ông
Sáu thôi. Cả anh Dưỡng và anh Tước cũng đều
nghĩ như thế nên giục tôi đi sớm, không cần
phải chuẩn bị nhiều. Thế là tôi ôm cái bụng
đói cùng một mớ tài liệu lên đường. Còn nhớ
ngoài ba anh em còn có cả anh Hai Đoàn và
một anh Trần Ngọc, Phó giám đốc công ty
Cholimex .
Chúng tôi đến khu Quảng Bá, nơi làm việc
của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lúc đó,
trước 7 giờ một chút. Khi bước vào hội
trường, tôi cảm thấy hơi choáng váng, không
biết anh Dưỡng và anh Tước có cùng cảm giác
ấy không. Tôi tưởng làm việc chỉ với năm ba
người chuyên viên cùng với ông Sáu, hoá ra
đêm đó ở hội trường có đến hơn hai mươi
người, trongđó chỉ có một người mà tôi biết
vì đã từng làm việc trước đây là anh Ba
Châu, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, một chức vụ tương đương với Bộ trưởng.
Chúng tôi được giới thiệu với ông Sáu
Dân, đó là lần đầu tiên tôi diện kiến ông
Sáu và ngay từ lần đầu trong tôi đã có một
tình cảm mến mộ và kính trọng đối với ông.
Khi chủ khách an toạ, anh Vũ Quốc Tuấn -
trợ lý của ông Sáu - đứng lên giới thiệu
thành phần tham dự, tôi mới biết những người
có mặt hôm đó gồm toàn Bộ trưởng, Thứ trưởng
các Bộ có liên quan đến tài chính, kinh tế,
các vị trong Ban Kinh tế Trung ương, Ban
Công nghiệp Trung ương, Viện Nghiên cứu Kinh
tế và các chuyên viên có tầm cỡ của Bắc Hà.
Sau đó, ông Sáu có nói vài lời ngắn gọn
về nội dung buổi làm việc là nghe và trao
đổi ý kiến về bản đề cương do các anh em
chuyên viên ở thành phố soạn thảo như một ý
kiến đề xuất về các giải pháp nhằm tháo gỡ
tình hình khó khăn về kinh tế hiện nay. Ông
đề nghị các anh em cứ mạnh dạn nói thẳng,
nói hết ý đừng ngần ngại vì đây là một buổi
trao đổi có tính chất khoa học.
Anh Dưỡng phát biểu trước, giới thiệu về
đề cương và quá trình soạn thảo đề cương,
nêu lên nỗi bức xúc của các anh em chuyên
viên kinh tế ở thành phố về tình hình hiện
nay và những khó khăn mà anh em gặp phải
trong quá trình làm việc như vấn đề tư liệu,
số liệu... Anh phát biểu khoảng 10 phút,
giọng nói khá xúc động. Sau đó anh giới
thiệu tôi trình bày đề cương.
Dùng thực tế đời sống để
chứng minh thực tế
Khi đứng lên để thuyết trình, tôi cảm
thấy thật sự xúc động, nếu không nói là run.
Nhưng sau khi nói vài câu thì tôi bình tĩnh
lại, thấy đầu óc rất sáng suốt (có lẽ nhờ
bụng đói chăng), trình bày vấn đề một cách
rõ ràng, mạch lạc và càng nói càng hăng,
giống như được trút ra những nỗi niềm tâm sự
bị dồn nén bấy lâu nay.
Về giá, tôi
muốn chứng minh rằng tình trạng tăng giá
hàng mà chúng ta đang chứng kiến chỉ là một
sự tăng giá ảo, nó không mang lại sự kích
thích sản xuất hay giải quyết công ăn việc
làm như tác động thường thấy của lạm phát
trong một nền kinh tế đang tăng trưởng. Mỗi
người nhìn hiện tượng giá cả từ góc độ của
mình và đều thấy nó khác nhau, người tiêu
dùng thấy giá hàng tăng nhưng nhà sản xuất
lại thấy giá không bù đắp nổi chi phí, đặc
biệt người nước ngoài xài đô la tại Việt Nam
sẽ thấy giá cả hàng hoá tại đây ngày càng rẻ
hơn. Hầu như giá cả mọi loại hàng hoá đều
giảm so với vàng và đôla.
Mặc khác, bằng những con số thực tế, tôi
chứng minh rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ
mà chúng ta tạo ra đã làm lệch lạc hệ thống
giá cả trong nền kinh tế như thế nào: trong
khi giá 1 kg khoai mì lát tại thành phố Hồ
Chí Minh là 2 đồng thì tại Ban Mê Thuật chỉ
là 50 xu. Giá các mặt hàng khác cũng tương
tự. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng mục tiêu
không thay đổi của chính sách tiền tệ tại
các nước kế hoạch hoá tập trung trong đó có
Việt Nam là chống lạm phát bằng cách hạn chế
lượng tiền đưa ra lưu thông nên nó không thể
tạo ra lạm phát đúng nghĩa mà chỉ có thể tạo
ra suy thoái và sự kiệt quệ sức sản xuất.
Và chính vì lượng hàng hoá cung ứng cho
nền kinh tế luôn luôn thấp so với nhu cầu,
tình trạng tăng giá suy thoái xảy ra triền
miên và chúng ta không thể khắc phục tình
trạng này bằng việc tiếp tục hạn chế khối
tiền tệ. Nếu để tình trạng này tiếp tục diễn
ra sẽ dẫn đến hiện tượng phi tiền tệ hoá nền
kinh tế, người dân hoặc sẽ dùng vàng và đôla
làm phương tiện thanh toá, cất giữ hoặc sẽ
trở lại thời kỳ hàng đổi hàng.
Về lương,
việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng
những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã
triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền
lương. Tôi có nói, cuộc cải cách giá - lương
- tiền có thể không gây ra những hậu quả
nặng nề đối với nền kinh tế nếu Nhà nước
không đổi tiền.
Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào
niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng
tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của
người dân cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.
Trong phần kiến nghị, tôi có đề nghị mấy
điểm chính như chấm dứt tức khắc tình trạng
cấm chợ ngăn sông bằng cách trước tiên bãi
bỏ các trạm kiểm soát hàng hoá trên các trục
lộ giao thông, áp dụng một chính sách tiền
tệ tích cực nhằm hỗ trợ cho sản xuất phát
triển, cải tổ hệ thống ngân hàng để tạo sự
tín nhiệm cho người gửi tiền, chuẩn bị những
loại tiền có mệnh giá lớn như 100 ngàn đồng
chẳng hạn và đặc biệt phải công bố cho người
dân biết là Chính phủ sẽ không bao giờ đổi
tiền nữa.
Khi tôi kết thúc phần trình bày, đã gần
8giờ30. Ông Sáu đề nghị nghỉ giải lao 10
phút, trong thời gian đó chúng tôi được
chiêu đãi một chén chè đậu xanh hay hạt sen
gì đó. Thôi thì cũng tạm đỡ đói. Sau đó
trong phần thảo luận, có khá nhiều chuyên
viên Bắc Hà tỏ ra đồng tình với đề cương của
chúng tôi. Cũng có một vài câu hỏi, nhưng
chủ yếu là để làm sáng tỏ vấn đề, không phải
để cật vấn. Chính chúng tôi cũng không ngờ
đạt được một sự nhất trí cao như vậy.
Sau này, anh Dưỡng kể lại có một vài
người gặp anh và nói: "Các anh nói đúng
những điều chúng tôi nghĩ mà không dám nói
ra". Ông Sáu Dân có vẻ rất thích thú, cuối
buổi họp ông đến hỏi thăm từng anh em chúng
tôi, khi được biết trong đoàn, anh Dưỡng và
tôi có đưa bà xã ra thăm Hà Nội, ông liền
dặn trước khi về Sài Gòn mời đoàn đến gặp
ông và mời luôn cả hai phu nhân đi theo đoàn
không chính thức. Lần đầu gặp ông Sáu, tôi
gọi ông bằng bác. Thật ra lúc đó trông ông
trẻ trung và khoẻ mạnh lắm. Ông bảo cứ gọi
bằng anh cho thân mật nhưng tôi nói vì tôi
là đồng nghiệp của con gái ông nên theo lễ
phải gọi ông bằng bác. Sau này, không hiểu
vì sao tôi lại đổi cách xưng hô và gọi ông
là chú Sáu.
Trước khi ra về, anh Ba Châu có đến gặp
và đề nghị chúng tôi đến Ngân hàng Nhà nước
để trình bày thêm cho anh và các vị lãnh đạo
Ngân hàng Nhà nước nghe về đề tài này. Chúng
tôi vui vẻ nhận lời. Ông Nguyễn Văn Trân,
lúc đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh
tế Trung ương cũng đến gặp chúng tôi và ngỏ
lời mời tương tự. Chúng tôi cũng nhận lời và
đề nghị ông bố trí ngày giờ thuận tiện.
Khoảng 10 giờ chúng tôi mới trở về khách
sạn. Trong đoàn ai nấy đều vui vì đánh giá
buổi trình bày là thành công. Về đến khách
sạn, bà xã đưa cho ăn cái bánh gì đó, hình
như là bánh giò với chả lụa, nhưng lúc đó
bụng thấy hết đói rồi.
Những ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục
làm việc cũng về đề tài nói trên tại Ngân
hàng Nhà nước và Viện Kinh tế. Tôi không nhớ
rõ về buổi làm việc tại Viện Kinh tế, chỉ
còn giữ ấn tượng về ông Nguyễn Văn Trân là
một người tầm thước, rất tinh tế và lịch sự.
Riêng buổi làm việc tại Ngân hàng Nhà
nước, tôi có cảm tưởng các vị bên ngân hàng
không đồng tình cho lắm về cách đánh giá và
nhận định của đề tài. Họ không nêu ý kiến cụ
thể nhưng có vẻ không hưởng ứng, một vài
người tỏ vẻ nghi ngờ các số liệu trong đề
cương, có anh cho rằng những con số lấy tại
thành phố Hồ Chí Minh không đủ để chứng minh
cho cả nền kinh tế. Riêng anh Ba Châu tỏ ra
rất quan tâm, anh xin một bản copy của đề
cương, cám ơn chúng tôi và hẹn khi vào thành
phố sẽ đến gặp anh em và đặt hàng về một đề
tài khác.
Cũng trong thời gian đó, ông Bộ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho người mời
chúng tôi đến trao đổi với ông một buổi tại
Bộ Ngoại giao. Buổi sáng hôm ấy, ông Thạch
cho xe đón ba người chúng tôi đến Bộ làm
việc trực tiếp với ông và ông Vũ Khoan, lúc
đó là Vụ trưởng. Ông Vũ Khoan không nói gì,
chỉ ngồi ghi chép. Ông Thạch hỏi rất nhiều,
chúng tôi thay phiên nhau trả lời và giải
thích về cơ sở các nhận định của mình trong
đề cương.
Tôi nhớ ông có hỏi một câu về phân phối
lương thực: Nhà nước có nên tiếp tục quản lý
chặt không? Tôi trả lời nếu Nhà nước cứ tiếp
tục ép nông dân phải bán gạo cho Nhà nước
với giá thấp thì sản xuất lương thực sẽ
không tăng được và nước ta tiếp tục thiếu
gạo. Cần phải cho phép người nông dân bán
nông phẩm thặng dư cho bất cứ ai và đến bất
cứ nơi nào. Trước nay ta vẫn có ác cảm với
tư thương, nhưng tư thương là ai? Họ chính
là nông dân hay gia đình của nông dân, hoặc
ít ra cũng là người giúp đỡ nông dân tiêu
thụ sản phẩm.
Ông Thạch có vẻ đồng tình với nhiều ý
kiến của anh em chúng tôi, đặc biệt được
chúng tôi thuyết phục là tình hình tiền mặt
lưu thông lúc đó đang thiếu chứ không phải
thừa. Ông tâm sự rất thích đọc quyển Kinh tế
học của Samuelson và cũng nhận định là cần
phải có một cuộc cải cách mạnh mẽ về kinh
tế.
Những ngày tiếp theo thực sự là những
ngày thảnh thơi. Tôi có cảm giác làm tròn
được một công việc có ý nghĩa. Những
ngày sau đó, vợ chồng tôi la cà thăm viếng
36 phố phường của Hà Nội và được anh Hai
Đoàn đưa đến gặp ông Vũ Kỳ, người giúp việc
cho Bác Hồ trước đây, nay đã là một cụ già
tráng kiện, quắc thước với mái tóc bạc phơ.
Ông kể cho chúng tôi nghe những giai thoại
thú vị về cuộc đời Bác, đưa chúng tôi đi xem
căn nhà sàn nơi Bác làm việc với cách bài
trí hết sức đơn giản, mộc mạc....
Buổi chiều hôm trước ngày về, đoàn có ghé
thăm ông Sáu Dân. Ông tiếp chúng tôi vui vẻ,
thân mật và cho biết đề nghị của chúng tôi
về việc giải toả các trạm kiểm soát hàng hoá
đã được thực hiện. Quả nhiên, khi chúng tôi
xuôi về Nam bằng đường bộ, suốt dọc đường
gần hai ngàn cây số không còn một trạm kiểm
soát nào.
III. Trí thức chế độ
cũ góp sức cải tổ ngành Ngân hàng
Kết quả tốt đẹp của
chuyến đi đã tạo nên một nguồn cảm hứng
khiến chúng tôi làm việc hăng say hơn. Anh
Ba Châu vào gặp anh em và đề nghị xây dựng
đề cương về cải cách hệ thống Ngân hàng với
mục tiêu là biến hệ thống ngân hàng từ một
cấp thành hai cấp. Chúng tôi vui vẻ nhận
lời.
Sau đề tài về
ngân hàng, chúng tôi tập trung nghiên cứu về
việc đổi mới ngân hàng ngoại thương và vấn
đề hội nhập kinh tế từ bên trong (kinh tế
vùng).
Vào tháng
10/1987, theo đề nghị của Ban Kinh tế Thành
uỷ, tôi rời công ty Imexco để tham gia vào
Sài Gòn Công thương Ngân hàng, ngân hàng cổ
phần đầu tiên của Việt Nam. Đây là lần thứ
hai tôi trở về ngành ngân hàng sau 5 năm
công tác trong ngành ngoại thương.
Háo hức tham
gia đề án cải tổ ngành ngân
hàng
Đến năm 1989,
vào khoảng tháng 8, tôi nhận được một giấy
mời ra Hà Nội. Tôi đến Hà Nội vào buổi
chiều, ngay tối hôm đó đã có buổi làm việc
sơ bộ với nhóm chuyên viên được Văn phòng
Chính phủ mời, trưởng nhóm là anh Phan Văn
Tiệm, lúc đó là Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà
nước. Phiên họp hôm đó có cả anh Nguyễn
Thiệu tham dự. Đề tài là cải tổ ngành ngân
hàng, vấn đề này được chính phủ giao cho hai
nhóm chuyên viên phụ trách, một nhóm chuyên
viên của Văn phòng Chính phủ và một nhóm
chuyên viên do Ngân hàng Nhà nước chủ trì
(lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm vừa thay thế anh Ba
Châu làm Tổng giám đốc).
Tôi được biết lý
do phải tổ chức hai nhóm là để công trình
nghiên cứu mang tính khách quan và bao quát,
phía Ngân hàng Nhà nước thì có chuyên môn
trong lĩnh vực ngân hàng, phía nhóm chuyên
viên Văn phòng Chính phủ (lúc đó gọi là Văn
phòng Hội đồng Bộ trưởng) thì có tầm nhìn
kinh tế vĩ mô rộng hơn.
Sau buổi trao
đổi đêm đó, anh Tiệm và chúng tôi thống nhất
mỗi thành viên sẽ trình bày một đề cương và
hẹn gặp nhau lại để thống nhất đề cương,
trình ông Sáu Dân duyệt rồi sẽ phân công
triển khai.
Hôm sau, tôi còn
đang ở nhà khách thì có một cán bộ Ngân hàng
Nhà nước đến gặp và gửi cho tôi giấy mời của
Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị tôi
đến làm việc.
Tôi được ông
Nguyễn Văn Đạm, Phó Tổng giám đốc thứ nhất
của Ngân hàng Nhà nước tiếp (lúc đó anh Cao
Sĩ Kiêm đang công tác ở nước ngoài). Ông Đạm
cho biết Ngân hàng Nhà nước có thành lập một
tổ chuyên viên cải tổ ngân hàng và đề nghị
tôi tham gia. Tôi trình bày với ông là tôi
đã được bố trí tham gia nhóm anh Tiệm, nhưng
ông Đạm nhấn mạnh rằng tôi vốn là người của
ngành ngân hàng, vả lại hiện nay đang công
tác trong ngành, không lý gì khi ngành đang
cần tôi lại không tham gia.
Cuối cùng, tôi
đành phải nhận lời tham gia cả hai tổ, trong
thâm tâm tôi nghĩ rằng có khi điều này cũng
có lợi vì tôi có thể làm gạch nối cho hai tổ
và làm cho những khác biệt giữa hai nhóm có
thể giảm đi.
Hôm trước khi
về, tôi đến chào ông Sáu Dân và báo cáo về
các buổi làm việc với anh Tiệm và anh Đạm.
Ông đồng tình việc tôi tham gia vào hai tổ
và hỏi tôi có giới thiệu thêm ai có thể
tham gia vào chương trình này không? Tôi
nghĩ ngay đến anh Lâm Võ Hoàng hiện đang
cộng tác với Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố
và giới thiệu đôi nét về anh Hoàng với ông
Sáu. Ông lập tức dặn anh Thiệu chuẩn bị giấy
mời anh Hoàng tham gia tổ do anh Tiệm chủ
trì. Thế là trong chuyến đi Hà Nội tiếp theo
sau đó để thông qua đề cương, tôi đi cùng
với anh Hoàng và hình như đó cũng là lần đầu
tiên anh Hoàng ra Hà Nội. Khi diện kiến ông
Sáu Dân lần đầu tiên, tôi thấy anh rất phấn
khích.
Sau đó, cả anh
Hoàng cũng được mời tham gia hai tổ công
tác, một do anh Kiêm chủ trì, một do anh
Tiệm. Đó cũng là một điều may vì bản dự thảo
đề cương cải tổ do tôi soạn, cùng với bản dự
thảo của anh Lê Xuân Nghĩa đều được cả hai
tổ thảo luận và đi đến thống nhất. Kết quả
là các sự khác nhau ban đầu giữa quan điểm
cải tổ của hai nhóm đã thu hẹp đáng kể và
cuối cùng đi đến nhất trí trình Hội đồng Bộ
trưởng trong một đề cương chung vào cuối năm
1989, sau chưa đầy hai tháng làm việc với
những cuộc tranh luận sôi nổi hào hứng, đôi
khi rất kịch liệt và căng thẳng trong mỗi tổ
và giữa hai tổ. Sau này, chúng tôi và các
anh em chuyên viên Bắc Hà đều trở thành
những người bạn thân thiết.
Đó là các anh
Phan Văn Tiệm, Phan Quang Tuệ, Lê Xuân Nghĩa
ở Tổ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng,các anh
Cao Sỹ Kiêm, Nguyễn Văn Chuẩn, Nguyễn Quang
Liên, Ngô Tuấn Kiệt, Lê Văn Tư, Lê Trọng
Khánh, Cao Cự Bội, Lê Hoàng, Trịnh Bá Tửu,
Trang Sĩ Liêm... Ở Tổ chuyên viên Ngân hàng
Nhà nước và đặc biệt là anh Nguyễn Thiệu (tổ
VPHĐBT) sau này trở thành người bạn tâm giao
của tôi dù anh lớn hơn tôi đến một con giáp
.
Sau khi đề cương
đã được hai tổ hoàn thành và trình trước cho
ông Sáu, một hôm ông Sáu cho gọi anh Lâm Võ
Hoàng và tôi đến làm việc với ông tại nhà,
hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu, để hỏi thêm
về một số vấn đề chưa rõ trong cả hai đề
cương. Trong buổi gặp mặt đó, anh Hoàng và
tôi báo cáo với ông những nhược điểm hiện có
của hệ thống ngân hàng một cấp trong đó nổi
cộm nhất là sự nhập nhằng giữa chức năng
ngân hàng và ngân sách (cho vay và cấp
phát), cũng như giữa vai trò quản lý của
Ngân hàng Nhà nước và vai trò kinh doanh của
các ngân hàng thương mại (điều mà anh em
chúng tôi hay gọi là vừa đá bóng vừa thổi
còi).
Chúng tôi cũng
đề nghị xác lập vị trí độc lập của Ngân hàng
Nhà nước với chức năng của một Ngân hàng
Trung ương đối với việc xây dựng và thực thi
chính sách tiền tệ. Nhưng ông Sáu cho rằng
bước đi như thế là quá nhanh và chưa thích
hợp với tình hình và điều kiện hiện nay.
Riêng đối với đề xuất về việc thiết lập cơ
chế Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nhà nước thì
ông ủng hộ. Việc thay đổi danh xưng của
người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng được
ông nhất trí, thay vì gọi là Tổng giám đốc
như trước đây (dễ gây lầm lẫn) thì gọi là
Thống đốc cho thống nhất với cách gọi phổ
biến của nhiều nước.
Sau này, khi
trình bày đề án trước Hội đồng Bộ trưởng,
phải nói là nếu không được sự đồng tình của
ông Sáu Dân, cả hai tổ nghiên cứu khó mà
thuyết phục được một số vị lãnh đạo trong
Hội đồng Bộ trưởng vẫn quan niệm rằng cơ chế
Hội đồng Quản trị chẳng khác nào một Chính
phủ trong một Chính phủ, còn danh xưng Thống
đốc sao mà nghe "sặc mùi đế quốc".
Hôm đó, chúng
tôi làm việc với ông Sáu từ 10 giờ sáng đến
tận 2 giờ trưa, và dùng cơm trưa "dã chiến "
cùng ông, đây có thể là buổi làm việc lâu
nhất với ông Sáu và ông đã chỉ đạo một việc
mà tôi cho là rất quyết định đối với công
cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng Việt Nam:
yêu cầu chúng tôi tập trung dự thảo Luật
Ngân hàng.
Dấu ấn: Pháp
lệnh Ngân hàng 1990
Trong suốt hai
tuần lễ giữa tháng 10/1989 tôi đã tham khảo
chủ yếu 2 Luật Ngân hàng trước năm 1975, đối
chiếu với các quy định hiện hành về ngân
hàng và điều kiện kinh tế vào lúc đó, có
tham khảo thêm các luật của Pháp, Đức, Anh,
Mỹ và đã hoàn tất sơ bộ hai dự thảo pháp
lệnh, một cho Ngân hàng Thương mại, một cho
Ngân hàng Trung ương, đồng thời nhờ dịch cả
hai sang tiếng Anh và tiếng Pháp.
Vào tháng
3/1990, anh Nguyễn Thiệu, anh Lê Văn Tư và
tôi, ba người được ông Sáu cử đi Pháp và
Thái Lan với sự tài trợ của hai ngân hàng
BFCE và IndoSuez để tham khảo ý kiến của các
giới ngân hàng ở Pháp và Thái Lan về hai
pháp lệnh (đặc biệt với Banque de France và
Ngân hàng Trung ương Thái Lan). Cũng nhân
chuyến đi đó, tôi đã gặp ông Berth, đại diện
IMF tại Pháp và nhờ IMF cho ý kiến về dự
thảo pháp lệnh ngân hàng. IMF đã đánh giá
cao dự thảo hai pháp lệnh ngân hàng và đã có
bản góp ý rất quan trọng. Chính trên cơ sở
đó mà sau này khi đề cương cải tổ hệ thống
ngân hàng được cả hai tổ thống nhất việc
thảo luận dự thảo luật đã có thể tiến hành
ngay và mặc dù có nhiều thay đổi, dự thảo
cuối cùng đã được Chánh phủ thông qua vào
tháng 5/1990 và trình Chủ tịch nước ban hành
dưới hình thức Pháp lệnh Ngân hàng (tháng
10/1990). Phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Ngân
hàng đã được thông qua trong một thời gian
ngắn có thể nói là kỷ lục vào lúc đó.
Thời gian làm
việc cho đề án cải tổ ngân hàng và soạn thảo
pháp lệnh dưới sự chỉ đạo của ông Sáu Dân là
một thời gian có ý nghĩa nhất trong đời làm
việc của tôi và cũng là thời gian mà Nhóm
Thứ Sáu làm việc cật lực. Hầu như mọi vấn đề
gút mắc đều được mang ra thảo luận trong các
buổi sinh hoạt và những góp ý của các anh em
trong Nhóm đã giúp làm sáng tỏ rất nhiều vấn
đề, cung cấp cho chúng tôi những lý luận
mang tính thuyết phục để có thể nhanh chóng
đi đến việc hoàn chỉnh đề án cải tổ.
Tuy nhiên, tôi
cũng nhận thấy sẽ có những trở ngại chủ quan
làm chậm tiến trình cải tổ và sẽ không dễ gì
vượt qua những trở ngại ấy với các điều kiện
về nhận thức vào thời điểm đó. Nhưng trong
tinh thần thực tế và không cầu toàn, tôi đã
cùng với các anh em chuyên viên Bắc Hà vượt
qua được những cuộc tranh luận chuyên môn
tưởng chừng như bế tắc (nhiều lúc phải đạp
chân nhắc anh Hoàng không nên đi quá xa) và
cuối cùng đã cùng nhau đạt đến một sự hoàn
chỉnh nhất định cho cả đề án lẫn pháp lệnh.
|