Ảnh hưởng môi trường
Giới trí thức trong nước quan ngại rằng khi
nhà máy này đi vào hoạt động sẽ gây những
mối nguy hại cho Việt Nam nhất là về môi
trường. Mặc Lâm phỏng vấn GSTS Phạm Duy
Hiển, nguyên giám đốc Viện Nguyên Tử Việt
Nam để biết thêm chi tiết về vấn đề này.
Mặc Lâm:
Thưa Giáo Sư, được biết Giáo Sư rất quan tâm
đến dự án nhà máy điện hạt nhân sắp được xây
dựng tại tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc và
mối quan ngại của ông chú tâm vào con đường
mà phóng xạ có thể theo vào Việt Nam qua các
cơn gió mùa Đông-Bắc. Xin giáo sư nói rõ hơn
về nhận định này của ông.
GSTS Phạm Duy Hiển: Đường đi của các
khối khí từ phía Bắc về phía Nam vào mùa
đông thì đi ngang qua chỗ Phòng Thành tức là
chỗ người ta chuẩn bị khởi công nhà máy điện
hạt nhân ở đấy, thì thấy rằng về mùa đông
phần lớn khí phóng xạ đấy đi về phía Việt
Nam hơn là đi về phía nội địa của Trung
Quốc.
Vì vậy cho nên có thể nói rằng với nhà máy
điện hạt nhân ở chỗ đấy, nếu mà xét tác động
đến môi trường về lâu về dài thì Miền Bắc
Việt Nam, nhất là vùng ven Vịnh Bắc Bộ, có
khi bị ảnh hưởng nhiều hơn là lục địa của
Trung Quốc. Trên thực tế nếu như nhà máy
chạy một cách bình thường hoặc là chạy tốt
thì có thể không đáng lo ngại lắm, mặc dầu
Móng Cái của ta hoặc Quảng Ninh cũng rất là
gần đó.
Mặc Lâm:
Xin Giáo Sư cho biết liệu khi nhà máy hoạt
động tốt đi chăng nữa thì những ảnh hưởng
phóng xạ của nó có thể di hại cho những thế
hệ sau này hay không?
GSTS Phạm Duy Hiển: Mức độ, lượng của nó
như thế nào thì còn phải tùy theo từng
trường hợp và tùy theo mức độ tác hại của
nhà máy đó.
Trên thực tế thì máy móc, thiết bị hiện nay
khó phát hiện ra được các chất phóng xạ đấy
ở trong một số đối tượng môi trường, nhất là
nếu như nhà máy chạy trong một thời gian
dài, còn người dân thì có thể không bị ảnh
hưởng gì ngay nhiều đâu.
Bây giờ chưa ảnh hưởng gì nhưng vài chục năm
sau một khi mà Trung Quốc đã triển khai toàn
bộ hệ thống nhà máy điện hạt nhân đó ở gần
đất chúng ta thì ảnh hưởng đến đối tượng môi
trường dứt khoát là sẽ có.
Mặc Lâm:
Nhà máy này cách xa 60 cây số và qua nhiều
rặng núi như vậy mà vẫn còn bị cho là nguy
hại vậy thì khi nhà máy Phan Rang xây dựng
xong thì cả Miền Trung của Việt Nam sẽ ra
sao thưa Giáo Sư?
GSTS Phạm Duy Hiển: Nhà máy ở Phan Rang,
những vùng ở phía Nam Phan Rang cho tới
TP.HCM thì nó cũng đại loại như vậy, cũng ở
trong bối cảnh như thế, cho nên rằng nếu nhà
máy chạy tốt thì không có vấn đề gì.
Chỉ có vấn đề lâu dài, có thể vài chục năm,
Trung Quốc không phải chỉ xây có nhà máy đó
đâu mà sẽ xây hàng loạt hàng chục nhà máy,
thậm chí năm sáu chục nhà máy trong vài thập
kỷ sắp đến, tập trung chủ yếu ở vùng phía
Nam, đặc biệt là tỉnh Quảng Đông. Ở đấy là
đầu nguồn gió mùa Đông-Bắc thường mang khí
lạnh đến Việt Nam từ tháng 10 đến tháng 3 -
tháng 4, vì vậy cho nên về lâu về dài với
hàng chục nhà máy như thế thì nó sẽ để lại
các chất phóng xạ trên rất nhiều đối tượng
môi trường ở Việt Nam.
Mặc Lâm: Xin Giáo Sư cho biết
những tác hại cụ thể mà một nhà máy điện hạt
nhân gây ra như thế nào cho môi trường?
GSTS Phạm Duy Hiển: Nó ảnh hưởng đến
chất lượng của nhiều đối tượng môi trường.
Trước hết là đến các chuỗi thức ăn của con
người và động vật bởi vì nó sẽ lắng xuống
biển, lắng xuống các trầm tích, lắng xuống
các cái gọi là phù du ở dưới biển Vịnh Bắc
Bộ, và nó sẽ vào cây cỏ, lúa gạo, vân vân.
Tất cả những cái đó cuối cùng rồi cũng theo
các chuỗi thức ăn mà vào con người.
Và việc đấy tôi lường trước chắc là trong
vòng vài chục năm thì thế nào cũng thấy rõ
ảnh hưởng đó. Mức độ là bao nhiêu, di hại
đến mức nào, cái đấy còn phải xem xét, còn
phải tính toán, nhưng mà dứt khoát là có, và
bởi vì như thế cho nên trên thế giới người
ta cũng quan tâm đến vấn đề này.
Những nước người ta xây dựng các nhà máy
điện hạt nhân chưa dày đặc như mức độ của
Trung Quốc đâu thì người ta cũng phải lo
quan trắc môi trường, lo tất cả các chuyện
đó nó ảnh hưởng như thế nào, diễn biến như
thế nào, và nó có tăng lên hay là không, vân
vân, những cái đó là việc phải làm.
Việt Nam cần phải
làm gì
Mặc Lâm:
Giáo Sư từng nói là Việt Nam cần phải xây
dựng một hệ thống ứng phó khẩn cấp quốc gia
cũng như hệ thống quan trắc phóng xạ môi
trường, tuy nhiên trong hoàn cảnh khoa học
kỹ thuật còn yếu kém như hiện nay của ta thì
làm sao Việt Nam thực hiện được những yêu
cầu này?
GSTS Phạm Duy Hiển: Như tôi vẫn nói
nhiều lần thì vấn đề là ý thức của những
người có trách nhiệm. Ý thức, nếu mà cứ chủ
quan, cứ nghe theo một số các công ty nước
ngoài, nghe theo một số quan chức mà họ
không hiểu lắm về điện hạt nhân, họ cứ nói
an toàn tuyệt đối, nếu mà như thế thì cái đó
mới là cái nguy, còn thực ra khả năng của ta
hiện nay thì cũng không đến mức là nếu như
mà động viên ra thì cũng có thể làm được
những việc đó.
Cả hai việc, việc thứ nhất là có chuẩn bị
cho những tình trạng khẩn cấp, bởi vì cái
này theo luật hạt nhân là quy định như vậy
rồi, không thể khác được; cái thứ hai là xây
dựng hệ thống quan trắc để mà quan sát một
cách rất chính xác và khoa học, thì cái đó
ta cũng có khả năng làm được, chớ không phải
là không.
Vấn đề là ý thức của những người có trách
nhiệm, họ có thấy rằng việc này là việc rất
cần thiết và không nên đi nghe một số người
là điện hạt nhân tuyệt đối an toàn rồi ngồi
yên đấy, không chịu làm gì cả. Thì cái đó là
cái nguy hiểm, chớ không phải nguy hiểm ở
cái chỗ là ta không đủ lực lượng làm việc
này.
Mặc Lâm:
Giáo Sư cũng đưa ý kiến là cần sự hợp tác
với Trung Quốc để tránh tình trạng xấu khi
mà nhà máy điện gây ra; Nhưng thưa Giáo Sư,
Việt Nam đã có quá nhiều kinh nghiệm với họ
từ việc phân cắm cọc biên giới cho tới tranh
chấp biển và hải đảo, vân vân. Trong hoàn
cảnh như vậy làm sao họ có thể hợp tác với
Việt Nam một cách thiện chí trong khi Trung
Quốc đang là nước đói năng lượng nhất trên
thế giới hiện nay, thưa ông?
GSTS Phạm Duy Hiển: Tôi nghĩ đây là một
việc khoa học mà những nhà khoa học và những
nhà công nghệ Trung Quốc họ thừa hiểu việc
đấy. Đã có các hiệp định quốc tế rồi! Cái
thứ hai là họ thừa hiểu rằng khi mà nhà máy
hạt nhân hoạt động thì có thể xảy ra chuyện
này chuyện khác, trong bình thường cũng như
khi có sự cố, vì vậy tôi tin rằng tiếng nói
của tôi là tiếng nói của nhà khoa học và tôi
cũng tin là phía Trung Quốc cũng có các nhà
khoa học họ thấy việc đấy mà việc đấy là
bình thường.
Còn bây giờ nói các
chuyện cũ như những chuyện mà lâu nay ta vẫn
nói: chuyện biên giới đất đai, Hoàng Sa -
Trường Sa, vân vân, những chuyện đấy đôi khi
người ta có thể nghĩ rằng là họ có thể cãi
nhau, nhưng đây là việc nó sờ sờ ra như vậy,
chả có vấn đề gì mà khúc mắc trong chuyện
này cả, do đó cho nên rằng là phải ngồi bàn.
Khi mà đề ra luật về vấn đề là trong luật có
nói tới chuyện đất nước xây dựng những hệ
thống để đối phó với những trường hợp khẩn
cấp thì cái đó trong luật có đề ra. Khi mà
xây dựng luật đấy thì nhiều người xây dựng
luật hoặc là khi thông qua quốc hội có khi
người ta không nghĩ rằng đấy là việc làm của
mình để mà đối phó với mình. Nhưng thực ra
bây giờ là mình đối phó với những tác động
từ bên ngoài cũng cần phải có những việc
đấy. Và những nhà khoa học Trung Quốc người
ta hiểu rất rõ việc đấy. Tôi tin là như vậy.
Do đó cho nên tôi nghĩ rằng vấn đề trên một
cơ sở rất thành thật, tôn trọng lẫn nhau,
hoàn toàn có thể ngồi lại với nhau. Tôi nói
ngay việc quan trắc chất phóng xạ môi trường
ở vùng Vịnh Bắc Bộ và vùng chung quanh đó,
việc đấy chính thiết thân với Trung Quốc,
bởi vì một nước tổ chức ra các nhà máy điện
hạt nhân, xây dựng nó lên, thì ai cũng phải
quan tâm đến việc chiều kích của nó, tác
động của nó đến môi trường. Cái tác động đến
môi trường trong trường hợp này cốt yếu nhất
là vùng ven bờ Vịnh Bắc Bộ, phải khảo sát
cái vùng đấy. Cho nên có thể đặt vấn đề ra
với Trung Quốc là hai bên hợp tác với nhau
làm việc này, thậm chí là Trung Quốc có thể
giúp Việt Nam trong một số các phương tiện
thiết bị nào đó, vân vân, thí dụ những
chuyện như vậy là có thể đặt ra được. Nếu mà
tôi là nhà khoa học Trung Quốc, tôi sẵn sàng
làm việc đấy.
Mặc Lâm:
Xin cám ơn Giáo Sư đã dành cho chúng tôi
cuộc phỏng vấn đặc biệt ngày hôm nay.
GSTS Phạm Duy Hiển: Vâng. Cảm ơn anh.