Cảnh báo các nguy cơ
Hôm 15 tháng 10, tờ
Quân đội nhân dân giới thiệu bài viết có tựa
lả “Chủ
động định hướng phát triển tiềm lực và sức
mạnh quốc phòng toàn dân”, của một trung
tướng, có học vị tiến sĩ, tên là Nguyễn Tiến
Bình và sau đó ba ngày, tờ báo này giới
thiệu một bài viết khác có tựa là “Không
có quân đội trung lập, siêu giai cấp”,
của một đại tá, cũng có học vị tiến sĩ, tên
là Nguyễn Đức Độ.
Trong bối cảnh như hiện
nay, các quan điểm được đăng
tải trên tờ Quân đội Nhân dân, cơ
quan ngôn luận của Đảng ủy Quân sự Trung
ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam, có gì đáng
chú ý?
Cả hai bài xã luận
này có nhiều điểm tương đồng trong cách nhìn
nhận, đánh giá về hiện tình Việt Nam cũng
như các đề nghị về giải pháp.
Trong hai bài vừa kể,
cả tướng Nguyễn Tiến Bình lẫn đại tá Nguyễn
Đức Độ cùng cảnh báo về các nguy cơ
được đặt tên là “diễn biến hoà bình” và “tự
diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Theo đó, các
thế lực thù địch đã điều chỉnh chiến lược
chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam để đẩy nhanh việc xóa bỏ sự
lãnh đạo của Đàng CSVN và chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Tại sao các diễn biến
theo chiều hướng hoà bình cũng như những
khuynh hướng vốn có tính tất nhiên, thậm chí
rất phù hợp với quan điểm duy vật biện
chứng, vẫn thường được đề cập trong các
chương trình giảng dạy về triết học
Mác-Lênin, như: tự diễn biến, tự chuyển hoá
lại có thể trở thành nguy cơ?
Tướng Bình giải
thích: “Chiến tranh xâm lược kiểu mới
không phải là xâm chiếm lãnh thổ, mà làm
chuyển hóa bộ máy lãnh đạo, điều hành đất
nước và chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ
nghĩa tư bản. Đối với Việt Nam, các thế lực
thù địch tập trung xóa bỏ sự lãnh đạo của
Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.”
Còn đại tá Độ thì cho
rằng: “Lợi dụng tình trạng quan liêu,
tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ
phận cán bộ, đảng viên và những khó khăn về
kinh tế, xã hội của nước ta, chúng kích
động, gây chia rẽ, hòng làm mất lòng tin của
nhân dân và Quân đội ta vào Đảng Cộng sản
Việt Nam, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp hiện
hành khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với xã hội, đòi thực hiện
‘đa nguyên, đa đảng’, đòi bỏ hệ thống tổ
chức đảng và cán bộ chính trị trong quân
đội.”
Quan điểm mới…
Cho dù đến nay, Quân
đội nhân dân Việt Nam vẫn khẳng định được tổ
chức và hoạt động theo phương châm “từ nhân
dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân
dân phục vụ”, song cả tướng Bình lẫn đại tá
Độ cùng bày tỏ sự lo ngại và lên án các quan
điểm “phi chính trị hoá lực lượng vũ trang”,
“quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội
phi giai cấp”, hoặc các đề nghị như “quốc
gia hoá quân đội”, “luật hóa mọi vấn đề về
tổ chức và hoạt động của quân đội” , “quân
đội chỉ hành động theo pháp luật”, dẫu rằng,
một số đề nghị vừa kể từng được xác định
trong Luật Quốc phòng được ban hành năm
2005.
Sở dĩ tướng Bình lên
án những quan điểm đó, đồng thời xác định
những đề nghị vừa kể là quan điểm của các
thế lực thù địch, phản động, bởi theo ông:
“Thực chất, đó là sự bài xích cơ chế lãnh
đạo của Đảng đối với quân đội, từng bước
tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Sẽ mắc sai lầm rất nghiêm trọng về chiến
lược, nếu xa rời nguyên tắc lãnh đạo của
Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh
và lực lượng vũ trang nhân dân.”
Tương tự, đại tá Độ
khẳng định những quan điểm cũng như đề nghị
đã dẫn là: “Vô căn cứ, phản khoa học cả
về lý luận và thực tiễn, thực chất nhằm
“chuyển hóa” lập trường chính trị, bản chất
giai cấp công nhân của Quân đội ta.”
Cũng vì thế, tướng
Bình cho rằng: “Cần khắc phục nếp nghĩ
“nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi xây
dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh
và lo đối phó với chiến tranh. Tư duy mới về
quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân
coi việc “nuôi quân” và “dùng quân” luôn
thống nhất hữu cơ, được thực hiện thường
xuyên, liên tục trong cả thời bình và thời
chiến. Thực tiễn đã chứng minh và khẳng
định: Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ
là lực lượng nòng cốt trong sức mạnh của
chiến tranh nhân dân, mà trước hết và thường
xuyên là lực lượng nòng cốt của sức mạnh
quốc phòng toàn dân, trong đấu tranh quốc
phòng và các hoạt động quân sự phi chiến
tranh để giữ nước ngay trong thời bình.”
Qua hai bài viết đã
dẫn, có thể thấy, cả hai sĩ quan cao cấp,
cùng có học vị tiến sĩ, đã đồng nhất hoá vai
trò quốc phòng với công việc bảo vệ bảo vệ
sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng
CSVN. Còn việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ như
khoản 2, điều 4 của Luật Quốc phòng (Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thực hiện chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia bao gồm đất liền, đảo, quần đảo,
vùng biển, lòng đất và vùng trời, sử dụng
các biện pháp chính đáng, thích hợp để ngăn
chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành
động xâm lược bằng bất kỳ hình thức nào) thì
sao?
Trong nhiều năm qua,
ngư dân Việt Nam liên tục bị tàu của hải
quân, cảnh sát biển, kiểm ngư Trung Quốc săn
đuổi, bắt giữ, buộc nộp phạt, thậm chí bị
bắn, bị đánh đập, bị cướp, bị làm nhục.
Người ta chưa thấy quân đội nhân dân Việt
Nam “sử dụng các biện pháp chính đáng, thích
hợp để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm
mưu và hành động xâm lược bằng bất kỳ hình
thức nào” như Luật Quốc phòng qui định.
Tuy lực lượng vũ
trang nhân dân của Việt Nam cũng có Hải
quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng nhưng
đây là một thực tế mà nhiều ngư dân đã xác
nhận với các cơ quan truyền thông cả trong
lẫn ngoài Việt Nam:
“Ở ngoài biển phần
ai nấy biết chứ mô có ai bảo vệ. Bảo vệ là
hồi bão tố, biên phòng ở trong bờ điện ra
nhắc chừng, bảo là Đài báo bão, bảo phải cập
bến thì họ kêu gọi mình vô bờ thôi chứ ngoài
đó làm chi có ai bảo vệ. Làm ăn ngoài biển
mạnh anh mô lo anh nấy. Lo làm ăn thế thôi
chứ không có ai bảo vệ hết.”
Trên đây là ý kiến
của vợ một ngư dân ở Đà Nẵng. Còn đây là ý
kiến của một trong những ngư dân bị hải quân
Trung Quốc cướp, đánh đập khi cho tàu vào
đảo Hữu Nhật, quần đảo Hoàng Sa – vốn thuộc
chủ quyền của Việt Nam - trú bão:
“Nói chung mình
nghe là của Việt Nam nhưng của Việt Nam gì
mà ra nó bắt miết. Việt Nam đi ra đó là phải
né đi ban đêm chứ ban ngày không dám đi, đi
rồi sợ ngang qua đó nó bắt anh ơi!”
Vậy đâu mới thực sự là
mục tiêu của chính sách quốc phòng?