Tiến sĩ Nguyễn Quang A,
nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát
triển Độc lập, IDS nhận định:
Nhiên liệu, giá năng
lượng nói chung phải để chuyển động theo cơ
chế thị trường thế giới. Đó là chuyện đúng
về nguyên tắc và nói chung là tốt chứ không
phải xấu. Nhưng vấn đề phải tăng lúc nào,
điều chỉnh lúc nào; đó là vấn đề quan trọng.
Trong bối cảnh vừa
Tết xong, giá cả các mặt hàng đều tăng lên
trong dịp Tết (một chuyện cũng là bình
thường), giá xăng tăng lên gần 600 đồng, và
rục rịch tăng giá điện với tỷ lệ khá cao thì
theo tôi không khôn ngoan. Lẽ ra cho tăng
vào những lúc không gây cấn như thời điểm
sau Tết vì tâm lý người ta lo ngại lạm phát.
Đúng vào lúc mọi người lo ngại như thế lại
đẩy tăng giá lên, tức không khác gì ‘đổ dầu
vào lửa’.
Lạm phát là một hiện
tượng rất phức tạp, trong đó yếu tố tâm lý
hết sức quan trọng; bởi vì nếu tất cả mọi
người nghĩ sẽ có lạm phát, thì sẽ có lạm
phát.
Gia Minh:
Theo Tiến sĩ do những bức bách gì mà Tổng
Công ty Xăng Dầu, và Bộ Công Thương Việt Nam
đưa ra biện pháp vào thời điểm theo Tiến sĩ
là ‘không khôn ngoan’ này?
Ts Nguyễn Quang A:
Theo tôi nghĩ chẳng có lý do nào xác đáng
cả. Tôi theo dõi hằng ngày thị trường xăng
dầu thế giới và khu vực suốt mấy tháng nay,
thấy có giao động thế nhưng chưa có giao
động đột biến. Biện pháp cho tăng giá vào
dịp Tết, theo tôi nghĩ, chỉ có thể vì lợi
ích cục bộ mà thôi.
Gia Minh:
Đưa ra những biện pháp có thể dẫn đến những
hậu quả bất lợi cho số đông như thế, không
lẽ các nhà điều hành kinh tế xã hội không
thấy được sao?
Ts Nguyễn Quang A:
Theo tôi có thể có nhiều người thấy; nhưng
họ không có tiếng nói quyết định, không có
quyền quyết định. Còn những nhóm lợi ích rất
hùng mạnh có thể có ảnh hưởng đến những
quyết định rất quan trọng. Trong trường hợp
thế này, theo tôi là những việc làm ‘rất
không khôn ngoan’.
Gia Minh:
Những biện pháp như thế có thể dẫn đến những
hậu quả cụ thể trước mắt thế nào?
Ts Nguyễn Quang A: Chính phủ Việt Nam
nhìn ra một mối nguy cơ rất lớn và đặt ưu
tiên hàng đầu của năm nay : ‘ổn định kinh tế
vĩ mô và chống lạm phát’. Đã có những biện
pháp chính sách được thực hiện theo hướng
đó. Theo tôi như thế tốt; tuy nhiên có những
chính sách, hành động, phản ứng không được
tính toán kỹ lắm.
Nếu tính toán như
thế, bản thân các cơ quan Nhà Nước sẽ làm
khó cho chính họ, và nỗ lực ổn định kinh tế
vĩ mô, chống lạm phát của họ sẽ gặp khó khăn
hơn. Tôi không phải người trong cuộc nên
không hiểu những chính sách như thế được bàn
luận ra sao.
Gia Minh:
Mới đây đồng bạc Việt Nam được phá giá thêm
3,4%, và những biện pháp đó có ảnh hưởng đến
giới sản xuất ra sao?
Ts Nguyễn Quang A:
Cũng tương tự giá năng lượng, việc điều
chỉnh tỷ giá Việt Nam lẽ ra phải được làm
trước đó một thời gian khá dài: ba-bốn-năm
tháng chẳng hạn. Vào thời điểm thuận lợi sẽ
không gây ra những tác dụng phụ. Theo tôi
việc điều chỉnh tỷ giá đồng bạc Việt Nam
cũng đúng hướng nhưng không đúng thời điểm.
Nói chung yêu cầu các nhà hoạch định chính
sách làm gì cũng đúng, cũng hợp thời điểm
hơi khó.
Theo cơ chế thị
trường
Gia Minh:
Mức độ tương thích giữa chính sách điều hành
chung và vận hành theo cơ chế thị trường đến
đâu?
Ts Nguyễn Quang A:
Không thể tách rời lịch sử phát triển của
Việt Nam, đất nước phát triển từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, hoàn toàn do Nhà
Nước điều chỉnh hết. Bước dần dần sang cơ
chế thị trường, trong hơn 20 năm qua, về cơ
bản toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đã vận hành
theo cơ chế thị trường. Vẫn còn có can thiệp
của Nhà Nước ở một số điểm nhưng phần đó
không quá nhiều; tuy một số can thiệp của
Nhà Nước vẫn còn quan trọng tại Việt Nam.
Xét trong quá trình
như thế, chứ còn so với Hoa Kỳ, Tây Âu, Hồng
Kông, Singapore chẳng hạn, còn hơi khó.
Không thể một sớm một chiều thiết lập ngay
được cơ chế như vậy, vì rất phức tạp từ tập
quán làm ăn đến thực thi luật lệ. Cần có
thời gian để tương thích dần, càng ngày càng
phù hợp hơn.
Gia Minh:
Có thể rút ngắn thời gian và loại trừ mâu
thuẫn bằng cách nào?
Ts Nguyễn Quang A:
Đó là vấn đề khác. Nếu chính phủ khôn ngoan,
có chính sách khéo, biết tận dụng tất cả
những cơ hội, quá trình đó có thể rút ngắn
lại. Có thể đẩy nhanh hơn, hoạt động của cơ
chế thị trường hữu hiệu hơn. Từ đó có thể
mang lại phát triển cho đất nước, sung túc
cho người dân.
Người ta luôn nói như
thế và trong mấy năm qua, không thể phủ nhận
việc làm theo hướng đó, nhưng còn nhiều việc
chưa như mong muốn như chuyện vừa bàn đến.
Gia Minh:
Cám ơn Tiến sĩ về những ý kiến và nhận định
về những biện pháp đưa ra hiện nay ở Việt
Nam.