Việt Nam và sự Thử Thách
của Xã Hội Chính Trị
Dân Sự
Bộ mộn chính trị Việt Nam đương thời đã bị
chế ngự bởi hai mẫu hình chính: “chính trị
thường nhật” và xã hội dân sự. Bài
viết này chứng tỏ rằng hai mẫu hình “chính
trị thường nhật” và xã hội dân sự đã giảm
thiểu tầm quan trọng của việc tìm hiểu về
các thế lực ủng hộ dân chủ đã và đang đấu
tranh chống lại ngôi vị độc tôn của Đảng
CSVN. Người ta cũng cho rằng các thay
đổi chính trị tại Việt Nam sẽ được định đoạt
một cách đáng kể bởi phương cách mà chính
quyền độc đảng Việt Nam sẽ lựa chọn nhằm để
xoay trở trước các thử thách xã hội chính
trị dân sự đặt ra. Cụm từ
xã-hội-chính-trị-dân-sự ám chỉ mạng lưới mà
các tập hợp chính trị đã liên kết lại thành
một phong trào dân sự vừa nẩy nở với tên gọi
Khối 8406. Các tổ chức chính trị hải
ngoại, như Đảng Việt Tân chẳng hạn, đóng một
vai trò càng ngày càng trở nên quan trọng
trong việc ủng hộ vật chất và tinh thần cho
xã hội chính trị dân sự. Mẫu hình xã
hội dân sự đang bị chỉ trích vì đã bị độc
quyền chiếm hữu bởi các thứ được gọi là “tổ
chức phi-chính-quyền” và đoàn thể nhân dân
được xem như là tác động chủ yếu nhất cho
các thay đổi chính trị. Bài viết này
sẽ kết thúc với một ước tính về các ảnh
hưởng tương lai của xã hội chính trị dân sự
tại Việt Nam cùng các viễn ảnh có thể xảy
đến.
Ông Carlyle A. Thayer là một Giảng viên về
bộ môn Chính Trị tại ĐH New South Wales
thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc Châu ở
Canberra, là một quan sát viên và là nhà
phân tích chuyên về Việt Nam được nhiều
người biết tiếng trên thế giới, hiện ông là
giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Ohio-Hoa Kỳ,
về môn Đông Nam Á Học.
Lời người dịch: Cụm từ “xã hội dân sự”
được dùng trong ngữ cảnh của “civil society”
mà tác giả sử dụng trong bài này. Tác
giả cũng đã nhấn mạnh rằng “xã hội dân sự”
trong quan niệm của nguời Việt không đồng
nghĩa với ý nghĩa của “civil society” của
Tây Phương. Người dịch cũng muốn khuyên bạn
đọc nên so sánh với bản gốc bằng Anh ngữ nếu
cảm thấy cần phải hiểu rõ ý nghĩa của từng
chữ một trong câu văn.
Bài viết này nhắm vào việc thúc đẩy các thảo
luận về tình hình chính trị Việt Nam vượt
qua những nghiên cứu đương thời chỉ chuyên
về hai đề tài “chính trị thường nhật” và “xã
hội dân sự” bằng cách đề xướng khái niệm về
xã hội chính trị dân sự. Xã hội chính
trị dân sự nói về tổ chức chính trị, đoàn
thể đấu tranh dân chủ
[1],
công đoàn, tổ chức tôn giáo, và phong trào
đấu tranh bất bạo động nhằm thúc đẩy nhân
quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo trong một
xã hội độc quyền độc đoán. Danh từ
“chính trị” đã được thêm vào để bao gồm bản
chất hoạt động chính trị trong xã hội dân sự
ở Đông Âu trong hai thập niên 1970 và 1980
khi người dân trở nên tích cực trong việc
thành lập các tổ chức bên ngoài sự kiểm soát
của chính quyền nhằm tạo ảnh hưởng đến môi
trường họ sinh sống, và để tạo sức ép chính
trị lên chính quyền. Tầm quan trọng
của bộ môn nghiên cứu về xã hội chính trị
dân sự phần lớn đã bị giảm thiểu bởi các
viện sĩ có xu hướng đặt nặng vai trò phát
triển của các tổ chức phi chính phủ (TCPCP)
và đoàn thể nhân dân (ĐTND) trong các bài
viết của mình về chính trị Việt Nam.
[2]
Bài viết này sẽ chú trọng vào vai trò của
các “đảng phái chính trị” vừa hình thành và
các hiệp hội thương mại vừa ló dạng trong
năm 2006 và kết thành một liên hiệp chính
trị được biết đến với tên gọi Khối 8406.
Các nhóm này đã tạo nên một số thử thách cho
đảng phái chính trị độc tài CSVN (ĐCSVN)
trước khi họ bị trấn áp. Bài viết này
cũng sẽ phân tích vai trò của các tác động
bên ngoài, như Đảng Việt Tân, trong việc
giúp đỡ tài liệu, tài lực và nhân lực cho
các tập hợp xã hội chính trị dân sự.
Trong quá khứ, các hoạt động của các tổ chức
nhân quyền, đấu tranh dân chủ, và tự do tôn
giáo tương đối bị ngăn cách với nhau.[3]
Nhờ vào mối liên kết gia tăng giữa các tập
hợp xã hội chính trị dân sự, quan hệ chồng
chéo được thiết lập, một phong trào tranh
đấu nẩy sinh và dần dần hình thành, bất chấp
sự đàn áp của chính quyền. Sự phát
triển này xảy ra trong lúc quyền cai trị
chính thống của ĐCSVN đang bị thử thách vì
người dân bất mãn với căn bệnh tham nhũng
thối nát, lạm phát gia tăng, ô nhiễm môi
trường và các bệnh chứng xã hội khác.
Bài viết này sẽ được kết thúc bằng cách lưu
ý rằng Việt Nam có thể đối diện với nguy cơ
xã hội không ổn định nếu chính quyền độc
đảng không thể giải quyết những thử thách xã
hội chính trị dân sự một cách thỏa đáng.
Bài viết này sẽ được chia thành 4 phần.
Phần 1 sơ lược về những đặc tính của nhà
nước độc đảng Việt Nam. Phần 2 thảo luận về
câu hỏi: Xã hội dân sự là gì theo quan điểm
của người Việt? Phần 3 phân tích về sự
trỗi dậy của xã hội chính trị dân sự chủ yếu
bằng cách chú tâm vào các hoạt động của Khối
8406 và Việt Tân. Cuối cùng, phần 4
đưa ra một vài nhận định về thử thách mà các
tiến triển chính trị này đang tạo nên cho
chế độ độc đảng tại Việt Nam.
Thể Chế Chính Trị Độc Đảng của Việt Nam
Trước thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu
chính trị phương Tây không gặp trở ngại gì
trong việc phân loại Việt Nam là một thể chế
chính trị theo chủ nghĩa Lênin. Danh
từ “xã hội chủ nghĩa độc đảng” cũng đã được
dùng để miêu tả thể chế chính trị của Việt
Nam.[4]
Trong một thể chế như thế, Đảng có toàn
quyền điều khiển các cơ quan chi bộ quốc
gia, quân đội, và các hội đoàn khác trong xã
hội bằng cách xâm nhập vào qua hình thức cán
bộ Đảng viên và các ủy ban. Các Đảng
viên lão thành họp thành một bộ phận lãnh
đạo ngay trọng tâm của guồng máy chính
quyền, Quốc Hội, Quân Đội Nhân Dân, và Mặt
Trận Tổ Quốc VN (MTTQVN). Các lãnh đạo
Đảng này được mệnh danh là “thành phần đóng
hai vai trò”.
MTTQVN là một tổ chức bao gồm 29 hội đoàn
lớn và cơ quan chi bộ. Hội Phụ Nữ VN
là một hội đoàn lớn với 12 triệu thành viên
và 300 nhân viên trên toàn quốc, được tài
trợ bởi nhà nước. Các hội đoàn tầm cỡ
khác gồm có Đoàn Thanh Niên Cộng SẢn Hồ Chí
Minh, và Hội
Liên Hiệp Thanh Niên VN với 3.5 triệu và 2.5
triệu thành viên. Lãnh đạo của các hội
đoàn này là thành viên thường trực của Ủy
Ban Trung Ương Đảng.
Liên Hiệp các Tổ Chức Hữu Nghị VN là cơ quan
chính thức có bổn phận quản lý “sự giao tế
giữa-người-và-người”. Liên hiệp này
quản lý Ban điều phối viện trợ nhân dân
(PACCOM), PACCOM sau đó lại giám sát và sắp
đặt tất cả các hội đoàn phi-chính-phủ quốc
tế (INGO) đang hoạt động tại Việt Nam.
Các INGO này làm việc với các chi bộ, cơ
quan kỹ thuật, chính quyền địa phương, và
các hội đoàn lớn của phụ nữ, nông phu, công
nhân, và thanh niên để hỗ trợ các hình thức
phát triển.
Phòng Thương Mại và Công Nghiệp VN (VCCI) là
một tổ chức quốc doanh đại diện cho các công
ty tư nhân ló dạng sau khi tiến hành đổi
mới. Thành viên của VCCI bao gồm các
tổ chức kinh doanh chính phủ, công ty tư
nhân, hội đoàn thương mại với con số tương
đương với nhau. Mặc dù không được tài
trợ bởi chính phủ, VCCI vẫn là một
thành viên của MTTQVN. VCCI là một thí
dụ điển hình cho sự phát triển của một đoàn
thể bên ngoài những hạn chế trong ĐCS.
Tuy là vậy, ủy ban thường trực của Đảng vẫn
phải được thiết lập trong tất cả các tổ chức
kinh doanh tư nhân.
Từ một khía cạnh đối lập khác, ĐCSVN đã từng
cố gắng cải cách chính trị qua hình thức
“dân chủ-nhân dân”. Năm 1998, trước
những nổi loạn lan rộng của thành phần nông
dân tỉnh Thái Bình 1 năm trước đó, Ủy Ban
Trung Ương ĐCSVN đã ra Chỉ thị 30-CT nhằm
xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở, khuyển khích sự tham gia của các tầng
lớp địa phương như công xã, cơ sở, và các tổ
chức kinh doanh chính phủ. Dưới khẩu
hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra”, nghị định số 29/1998/ND-CP của Chính
Phủ nhắm vào mục đích cải tiến sự trong sáng
và tinh thần trách nhiệm của chính quyền địa
phương. Điều khoản thứ 4 trong đó chỉ
thị các viên chức địa phương phải phổ biến
các thông tin về chính sách, luật pháp, các
dự án phát triển định kỳ mỗi năm và dài hạn,
chính sách sử dụng đất đai, và ngân sách
hằng năm.[5]
Người dân phải nắm được tình
hình và tham gian thảo luận, quyết định, và
kiểm tra hoạt động của chính quyền địa
phương. Cuối cùng là nghị định số
79/2003/ND-CP về “Dân Chủ Nhân Dân” cho phép
các hội đoàn xã tham gia trong các hoạt động
phát triển của phường xã.
[6]
Xã Hội Dân Sự có nghĩa gì theo quan điểm của
người Việt Nam?
Với
tiến trình đổi mới trong thập niên 1980, xã hội Việt Nam bắt đầu thay đổi và
theo đó, các mối quan hệ giữa chính quyền và xã hội cũng thay đổi. Khi
được mở cửa với thế giới bên ngoài, các nhà tài trợ và cơ quan viện trợ chính
phủ nước ngoài, cũng như các hội đoàn phi-chính-phủ quốc tế, đổ xô vào để giúp
đỡ Việt Nam bằng cách áp dụng các mô hình phát triển của họ. Các mô hình
này kết hợp chặt chẽ với quan niệm cho rằng việc ủng hộ các tổ chức
phi-chính-phủ tương ứng là biện pháp tốt nhất để dọn đường cho các hoạt động xã
hội dân sự trong các thể chế chính trị độc tài nắm quyền.[7]
Trong thực hành thì đây có nghĩa là hội nhập với với các tổ chức phi-chính-phủ
quốc nội và theo đuổi phương cách tiếp cận “từ dưới lên” nhằm đẩy mạnh đóng góp
phát triển, công bình giới tính và sắc tộc.
Vào
khoảng thời gian đầu thập niên 1990, hoạt động của các hội đoàn khác nhau ở mọi
tầng lớp bùng nổ tại Việt Nam.[8]
Giáo sư, kiêm luật gia, Mark Sidel của ĐH Iowa ở Hoa Kỳ đã sáng lập được các mô
hình học đầu tiên nhằm nắm vững tính chất phức tạp của sự phát triển này.[9]
Sidel đã phân loại các tổ chức này vào 9 loại khác nhau: (1) các tổ chức
độc lập còn mới mẻ chuyên tìm hiểu và truyền dạy chính sách; (2) các mạng lưới
của các đoàn thể tích cực trong xã hội và các đoàn thể phục vụ xã hội ở TP HCM
và miền Nam VN; (3) các ĐH tư nhân, tựa-tư-nhân/tựa-công-cộng và các trường sư
phạm khác; (4) các đoàn thể được hỗ trợ bởi các lãnh đạo lão thành chuyện tài
trợ các chương trình huấn luyện và nghiên cứu; (5) các tổ hợp chuyên gia, kinh
doanh thương mại; (6) các tập thể và liên hiệp nông dân; (7) các đoàn thể tôn
giáo được chính quyền nhìn nhận, không được nhìn nhận; (8) các hiệp hội thương
mại và hội đoàn tầm cỡ theo truyền thống Đảng-chỉ-đạo; và (9) các tổ chức tranh
đấu chính trị đang thử thách Đảng và nhà nước. Ông Sidel đã từ chối, một
cách rõ ràng và dứt khoát, việc sử dụng cụm từ NGO (tổ chức phi-chính-phủ) để
miêu tả các tổ chức này; thay vào đó, ông ta liệt kê họ như là “các nhóm khởi
xướng và các tổ chức mới mẻ có định hướng theo chính sách hoặc định hướng phát
triển.”
[10]
Trong cùng năm, ông Sidel cũng đã sáng lập
được một mô hình học dùng để liệt kê các đoàn thể người của người Việt vào một
trong 9 loại như sau: chính trị, hội đoàn có tầm cỡ, kinh doanh, thương
mại và chuyên nghiệp, khoa học và kỹ thuật, hội họa và văn hóa, NGO/thiện
nguyện, tôn giáo, các hội đồng hương và đoàn thể lo chuyện quần chúng.[11]
Trong năm 2003, có 2 mô hình học khác được
thiết lập. Tiến Sĩ người Đức Jörg Wischermann và tiến sĩ Nguyễn Quang Vinh
nhận định 4 thể loại (tầm cỡ, chuyên nghiệp, kinh doanh, có định hướng),[12]
trong khi tiến sĩ Thaveeporn Vasavakul nhận định 5 thể loại (chính trị-chuyên
nghiệp, tầm cỡ, nổi tiếng, các trung tâm và trường nghiên cứu độc lập, các hội
đoàn độc lập).[13]
Các
mô hình học này ở nhiều khía cạnh khác nhau đã bị sự phát triển nhanh chóng của
các hội thiện nguyện (phi lợi nhuận) ở tầng lớp nhân dân đuổi kịp. Các hội
đoàn (nhóm) này được các nghiên cứu gia nước ngoài gọi chung là
“đoàn-thể-nhân-dân” (ĐTND). Các ĐTND đã dẫn đầu trong việc quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường, thúc đẩy phát triển đời sống vững
bền, phát sinh thu nhập, và phổ biến kiến thức. Các thí dụ điển hình của ĐTND
gồm có: các tập đoàn thủy điện, các liên hiệp ngân hàng tài chính nhỏ, các nhóm
liên quan đến người tiêu dùng, hợp tác nông nghiệp, các hợp tác với mục đích
khác, tình nguyện viên trong lĩnh vực y tế, các ủy ban phát triển phường khóm và
ủy ban bảo vệ trẻ em lang thang. Tính đến tháng 7 năm 2005, người ta ước tính
Việt Nam có khoảng 140,000 ĐTND, cùng với 3,000 hợp tác (nông nghiệp, công
nghiệp nuôi cá, xây dựng, vệ sinh, và y tế), 1,000 “tổ chức phi-chính-phủ (NGO)”
hợp pháp và 200 hội thiện nguyện.
Sự
phát triển của các ĐTND làm căng thẳng hệ thống luật pháp của Việt Nam trong lúc
hệ thống luật pháp này cố gắng xoay trở tìm một cơ cấu điều hành thích hợp với
tính đa dạng của các ĐTND này. Kết quả có được là hàng loạt những qui định
và luật lệ chắp vá đặc biệt không đủ khả năng để trở thành một cơ cấu luật pháp
toàn diện có thể quản lý sự thiết lập, giấy phép đăng ký, và hoạt động của các
ĐTND này.[14]
Nhiều ĐTND hoạt động tương đối độc lập với
chính quyền nhưng địa vị pháp lý nhập nhằng không rõ ràng của họ luôn đặt họ vào
tình trạng nguy hiểm bởi những nhạy cảm chính trị trong xã hội gây ra.
Chương trình Hỗ Trợ Phát Triển của Liên Hiệp
Quốc (UNDP) và Ngân Hàng Thế Giới đến với Việt Nam với mục đích rõ ràng là hỗ
trợ xã hội dân sự qua hình thức hùng hạp với các đối tác địa phương. Các
NGO quốc tế (INGO) cũng đặt vấn đề xúc tiến xã hội dân sự thành một phần trong
bản tuyên bố mục đích hoạt động của họ nhằm để tìm nguồi tài trợ từ chính phủ
của mình cho các hoạt động bên kia bờ đại dương (tại VN). Nói chung, các
đoàn thể trực thuộc hệ thống của Liên Hiệp Quốc, cũng như các nhà tài trợ nước
ngoài và các INGO, đã nhanh chóng hoạt động ở nhiều tầng lớp khác nhau với các
đoàn thể có tầm cỡ ở trong nước và các đối tác của họ dù cho các đoàn thể tầm cỡ
này không chính xác là các đoàn thể phi-chính-phủ (NGO) theo ý nghĩa Tây phương
của nó. Các đoàn thể tầm cỡ quốc nội này là cánh tay nối dài, nếu
không phải là cơ quan, của chính quyền. Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã
thiếu óc phê bình khi sử dụng nhóm từ các-tổ-chức-phi-chính-quyền (NGOs) để gọi
chung tất cả các đoàn thể, liên hiệp, tổ hợp, hội đoàn đa dạng trong các mô hình
học được nói đến phía trên là “xã hội dân sự”.[15]
Theo ông Joseph Hannah, mô hình xã hội
Mác-Lênin gồm có 3 bộ phận: đảng phái, chính quyền, và nhân dân (Xem biểu đồ 1).[16]
Người Việt Nam có một khẩu hiệu ai cũng biết đến, đó là “Đảng lãnh đạo, dân nắm
quyền, nhà nước quản lý.” Theo quan niệm chính thức, người dân Việt Nam có
quyền thành lập các hội đoàn riêng của họ như các đoàn xã, các hội đoàn theo tên
gọi của mình, các trường đua, các câu lạc bộ, và các đội thể thao. Các
đoàn thể này được xem như là “của dân” và thường được gọi là “các đoàn thể có
tiếng.” Tuy nhiên, chính quyền và các đoàn thể có tầm cỡ, đang hăm hở lôi
cuốn các nguồn tài trợ và sự ủng hộ của nước ngoài, thường gọi họ là các NGO.[17]
Cách gọi này ăn khớp chặt chẽ với chú tâm của các nhà tài trợ nước ngoài và các
NGO quốc tế: thiết lập xã hội dân sự tại Việt Nam bằng cách nổ lực phát triển
các đoàn thể địa phương được gọi là NGO.
Phương cách tiếp cận được sử dụng bởi các cơ
quan Liên Hiệp Quốc, các NGO quốc tế, và các nhà tại trợ nước ngoài đã khiến các
đoàn thể xã hội dân sự trở thành một nhu cầu rất lớn ở Việt Nam. Bất kể sự
thật hiển nhiên rằng các đoàn thể người Việt quốc nội thuộc loại được chính
quyền đỡ đầu tài trợ và là một phần của ma trận đoàn thể trực thuộc MTTQVN, các
đoàn thể này được các tổ chức tương ứng của họ ở nước ngoài gọi là “các đoàn thể
phi-chính-phủ”. Các viên chức chính quyền Việt Nam rất ngại sử dụng nhóm
từ NGO khi phát biểu với người dân quốc nội nhưng không dè dặt gì khi giao thiệp
với các tổ chức tương ứng ở nước ngoài. Ông Salemink đã đề cho rằng một trong
những lý do đằng sau là vì nhóm từ NGO khi được chuyển ngữ sang tiếng Việt, cụm
từ phi-chính-phủ phát âm gần giống như vô-chính-phủ.[18]
Nói một cách khác, nhóm từ NGO theo quốc ngữ ngụ ý tách rời, nếu không phải là
chống đối, chính quyền.

Biểu đồ 1: Quan niệm Mác-Lênin
về Đoàn Thể Nhân Dân. Nguồn:
Joseph Hannah, Các Tổ Chức
Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại
Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội Dân
Sự, và Quan Hệ Chính Quyền-Nhân
Dân (Seattle: Nghị luận tiến sĩ
ĐH Hoa Thịnh Đốn, 2007), trang
54.
Các NGO Việt Nam nhìn nhận vai trò của họ
rất khác biệt so với các đối tác của họ ở
nước ngoài. Trước hết, họ tự xem mình là cổ
phần hùn hạp làm việc trong các kế hoạch
phát triển để ủng hộ chính sách nhà nước.
Thứ nhì, họ tự xem mình là những người đã
chủ trương cho những cải tiến từ chính
quyền. Cuối cùng, họ tự xem mình là đại diện
của các đoàn thể bên ngoài chính quyền và
vận động bên lề nghị viện cho các thay đổi
trong chính sách nhà nước. Trong vai trò
này, các NGO Việt Nam muốn thương lượng và
khuyên bảo viên chức nhà nước thay vì phải
đương đầu với họ để đem đến thay đổi.
Nói một cách khác, những hoạt động của họ
trực tiếp ủng hộ các chương trình đang hiện
hành của Đảng và nhà nước hoặc trực tiếp ủng
hộ các chính sách to lớn hơn đã được chính
quyền phê chuẩn (như phát triển đất nước
hoặc xóa đói giảm nghèo). Thí dụ điển hình
là thành phần lãnh đạo của các tổ chức
phi-chính-phủ VN thường xuyên liên lạc với
các công ty nước ngoài đang hoạt động tại
Việt Nam, các công ty nước ngoài hoặc quốc
nội có sỡ hữu và quản lý các công xưởng, và
các công nhân của những công ty này.
Các NGO Việt Nam đã cố gắng thúc đẩy gia
tăng sức khỏe và đời sống của công nhân bằng
thái độ tránh đối diện hoặc tránh sử dụng
các biện pháp đối đầu. Như ông Hannah
quan sát, “không có khoảng trống xã hội nào
cho các phong trào từ các hội đoàn địa
phương nhằm chống lại các xí nghiệp bóc lột
công nhân thậm tệ”.[19]
Các NGO Việt Nam đã giới hạn hoạt động của
mình trong phạm vi ngôn ngữ của luật pháp.
Theo ước lượng thì có khoảng hơn 30 trung
tâm nghiên cứu phục vụ và giúp đỡ xã hội
bằng các kế hoạch phát triển và chương trình
nghiên cứu ứng dụng.[20]
Các trung tâm nghiên cứu này được thành lập
và quản lý bởi các giảng viên giáo sư kiêm
hội viên của các trường ĐH, cơ sở cấp tỉnh,
hoặc các đoàn thể chuyên nghiệp như Hội Dân
Tộc Học hoặc Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam.[21]
Tuy vậy, các trung tâm nghiên cứu này có địa
vị pháp lý rất yếu. Các trung tâm
nghiên cứu này cũng hoạt động rất chặt chẽ,
họ không tuyển nhập thành viên mới như các
NGO đúng nghĩa khác.
Phần lớn các trung tâm này được đăng ký với
tư cách đoàn thể đại diện theo nghị định số
35-CP (1992) nhằm chỉ đạo các đoàn thể khoa
học và kỹ thuật.[22]
Các trung tâm này chủ yếu là các đoàn thể
phi lợi nhuận, hoạt động rộng rãi trong
những phát triển kinh tế xã hội bằng cách
hợp tác với các nhà tài trợ nước ngoài.
Họ có thể hoạt động dựa trên các qua hệ cá
nhân giữa cấp trên của họ và các viên chức
chính quyền.[23]
Một loại NGO khác bao gồm nhân viên quốc nội
của các NGO quốc tế khác làm những việc
tương tự như các trung tâm nghiên cứu.[24]
Nhưng vì họ không chính thức đăng ký hoạt
động, các vấn đề liên quan đến luật pháp
không được rõ ràng minh bạch.
Sự thống trị độc tài lãnh đạo ở Việt Nam đã
lùi dần vào hậu cảnh kể từ thập niên 1990
khi các cơ quan do nhà nuớc làm chủ dần dần
được thương nghiệp hóa. Cũng trong ý
nghĩa này, các NGO của người Việt Nam
bắt đầu xuất hiện để cung cấp các phục vụ mà
chính quyền không còn phụ trách nữa.
Dần đà, vị trí của các NGO này được thay đổi
bởi các NGO quốc tế qua sự phát triển của
các NGO địa phương.[25]
Hoạt động của các đoàn thể bùng phát tại
Việt Nam trong thập niên 1990 không những đã
nhanh chóng lấn áp tình trạng độc quyền toàn
trị của tể chể độc tài XHCN mà nó còn vượt
nhanh hơn những quy chế luật pháp liên quan
đến các đoàn thể nhân dân. Năm 1992
trước sự khởi xướng từ các nhà tại trợ nước
ngoài, Bộ Nội Vụ đã bắt đầu soạn thảo pháp
chế dối với các tổ chức phi-lợi-nhuận nhằm
để quản lý các hoạt động đang nới rộng một
cách nhanh chóng từ các đoàn thể tư nhân
đang được hình thành. Mục đích này đã
trở thành một vấn đề gây nhiều tranh cãi và
trong 7 năm liền, họ đã không đạt được một
sự đồng thuận nào.[26]
Năm 1995, chính quyền nhà nước Việt Nam bắt
đầu soạn thảo một đạo luật cho các tổ chức
phi-lợi-nhuận; chỉ tính đến đầu năm 1996,
bản thảo nãy đã được chỉnh sửa đến hơn 20
lần.[27]
Trong năm 2002, các viên chức Việt Nam lại
thử soạn thảo điều luật cho các tổ chức
phi-chính-phủ (NGO). Và kể đến tháng 7
năm 2005 thì bản thảo đã được chỉnh sửa ít
nhất là 10 lần và đổi tên thành Luật về Hội.[28]
Bản thảo của đạo luật này không bao gồm các
hội đoàn được gọi là NGO của người Việt Nam.
Các chuyên gia quốc gia và hiệp hội thương
mại đã cố gắng hoạt động bên lề nghị viện để
hoàn thiện các phòng bị trong đạo luật này,
làm chậm trễ việc nó được chấp thuận và thực
hiện.
Cũng trong năm 2002, 181 NGO quốc tế đang
hoạt động chính thức hoặc đang hoạt động qua
hình thức có mặt tại Việt Nam đã nhanh chóng
chiếm ưu thế trong khoảng không gian dành
cho xã hội dân sự.[29]
Danh từ “xã hội dân sự” trở thành thông dụng
đối với các nhà tài trợ nước ngoài và các
NGO quốc tế khi đề cập đến Việt Nam và khi
xác nhận rằng các tổ chức được gọi là NGO
của người Việt này những khối cơ bản quan
trọng trong xã hội. Như đã nói
đến phía trên, cách gọi này là một sự lừa
dối vì các đoàn thể của người Việt đang đối
tác với bộ phận tương ứng của họ ở nước
ngoài thật ra chỉ là các cánh tay vươn dài
của chính quyền, hoặc các đoàn thể tầm cỡ
(hoặc có định hướng đặc biệt) dưới sự lãnh
đạo/quản lý của chính quyền.
Thật ra không có định nghĩa thống nhất cho
xã hội dân sự trong cộng đồng trí thức (xem
biểu đồ 2).[30]
Bà Mary Kaldor đã nhận dạng được 5 nhận thức
khác nhau về xã hội dân sự: công dân,
tư sản, tân-tự-do, hoạt động chính trị, và
thành phần chống chủ nghĩa hiện đại.[31]
Tuy vậy, hai chữ “dân sự” vẫn được xem chung
như là chuyện của dân hoặc chủ trương
bất-bạo-động. Những vẫn có những bất
đồng về việc các hoạt động bất-bạo-động có
nên tuân theo pháp luật hay không vì trong
một xã hội độc tài thống trị, như Việt Nam,
rõ ràng là luật pháp được đặt ra để ngăn cấm
các hoạt động như thế. Xã hội dân sự
có thật sự hiện hữu trong một quốc gia không
có một kết cấu dân chủ hoặc một quá trình
tiến triển dân chủ hay không?
Nhận thức của các nhà hoạt động chính trị về
xã hội dân sự xuất hiện cùng lúc với sự sụp
đổ của XHCN ở Đông Âu qua những nổ lực của
Điều khoản 77 ở Cộng Hoà Czech và Tinh Thần
Đoàn Kết ở Ba Lan. Trong ngữ cảnh này,
xã hội dân sự được nâng cấp thành phương
tiện thúc đẩy dân chủ và tự do, quân bình
quyền lực của chính quyền và thành phần tư
nhân, cũng như nâng cao hiệu quả, trách
nhiệm, và sự lãnh đạo cao cả của chính
quyền.[32]
Như tôi sẽ nhắc đến phía dưới, các đoàn thể
đấu tranh dân chủ của người Việt ở hải ngoại
đang chủ trương thúc đẩy phát triển “xã hội
dân sự” như một phần của chiến lược chấm dứt
thể chế độc tài Đảng trị CS ở Việt Nam.

Biểu đồ 2:
Xã Hội Dân Sự qua Hình Thức
Cổ Điển. Nguồn: Joseph
Hannah, Các Tổ Chức
Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại
Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội
Dân Sự, và Quan Hệ Chính
Quyền-Nhân Dân (Seattle:
Nghị luận tiến sĩ ĐH Hoa
Thịnh Đốn, 2007), trang 53.
Thế thì xã hội dân sự có nghĩa gì trong
quan niệm của người Việt Nam? Các nhà
nghiên cứu Bắc Mỹ, hội viên của Nhóm
Nghiên Cứu Việt Nam thuộc Hiệp Hội Châu
Á Học Hoa Kỳ, sau khi thảo luận về việc
xã hội dân sự chuyển ngữ sang tiếng Việt
là gì đã kết luận rằng không có một từ
đồng nghĩa nào như thế cả. Các nhà
nghiên cứu này đã nói thêm rằng có một
vài từ gần như có cùng nghĩa đã được sử
dụng nhưng chúng ý nghĩa của các từ này
hầu như khác ý nghĩa của Tây
phương.[33]
Danh từ xã hội dân sự không được sử dụng
rộng rãi trong các bài thuyết trình của
các nhà nghiên cứu và viên chức Việt
Nam. Có hai nhóm từ trong tiếng
Việt – xã hội dân sự và xã hội công dân
– được sử dụng thường xuyên đại diện cho
“civil society” (xã hội dân sự).
Cho dù vậy, Bộ Nội Vụ đang tìm một danh
từ chính thức để thay thế cho “civil
society” khi chuyển ngữ. Cả hai
nhóm từ đều không được sử dụng trong các
văn bản chính thức khi đề cập đến các
đoàn thể người Việt quốc nội; các đoàn
thể mà người nước ngoài gọi là NGO được
xem như là các đoàn thể nhân dân.
Có bằng chứng chứng tỏ rằng những NGO ở
tầng lớp nhân dân người Việt không đồng
ý với cách giải thích này.
Nhóm từ xã hội dân sự có hai ý nghĩa
khác biệt trong quan niệm của người Việt
Nam hiện nay.[34]
Ý nghĩa thứ nhất là một ý nghĩa kinh tế
nhìn vào xã hội dân sự qua những phục vụ
mà các NGO địa phương cung cấp.
Trong ý nghĩa này, quan niệm về xã hội
dân sự được xem như gắn liền với các tổ
chức thiện nguyện quốc tế và nghị trình
của họ. Lý do là vì trong xã hội
độc tài Đảng trị của Việt Nam, không có
1 xã hội dân sự nào thật sự độc lập hoặc
tự lập từ sự kiểm soát quản lý trực tiếp
của chính quyền.
Ý nghĩa thứ nhì có liên quan đến chính
trị. Theo Hoàng Ngọc Giao, ý
nghĩa này bao gồm các hiệp hội chính trị
chẳng hạn như những hiệp hội là hội viên
của MTTQVN.[35]
Kể từ thập niên 1990, xã hội dân sự có
một ý nghĩa mới đối với Việt Nam.
Các nhà bất đồng chính kiến đã sử dụng
cụm từ này trong công cuộc đấu tranh cho
tự do dân chủ. Trong ngữ cảnh này,
xã hội dân sự mô tả sự hình thành của
một khoảng không trong quần chúng mà
trong đó, thể chế độc tài Đảng trị của
Việt Nam bị thử thách bởi sự huy động
chính trị bất bạo động nơi người dân.
Thí dụ như lời nhà đấu tranh chính trị
Lữ Phương từng nói “công cuộc vận động
xây dựng xã hội dân sự cũng sẽ trở thành
công cuộc vận động cho luật pháp, tự do,
và nhân quyền cơ bản của con người.”[36]
Tổng quát mà nói thì xã hội dân sự trong
quan điểm chính trị nói đến công cuộc
đấu tranh cho dân chủ trước thể chế
thống trị toàn quyền của Việt Nam.
Khái niệm về xã hội dân sự không được
người dân nắm vững một cách rộng rãi
trong xã hội Việt Nam.[37]
Khi cụm từ này được dùng đến lúc thảo
luận với người nước ngoài, nó thường
đuợc dùng để nói đến các đoàn thể, hiệp
hội có liên kết chặc chẽ với chính
quyền. Các đoàn thể, hiệp nội này
đang cố gắng khiến cho người ta nghĩ họ
“chính thực” là các tổ chức xã hội dân
sự được thiết lập theo định hướng độc
lập của riêng mình.
Sự Trỗi Dậy của Xã Hội Chính Trị Dân Sự
Kể
từ 4 đến 5 năm qua, có một sự thay đổi rõ
rệt trong bản chất xã hội chính trị dân sự
tại Việt Nam. Lúc trước, các nhà đấu
tranh chính trị và tôn giáo chỉ hoạt động
riêng rẻ hoặc theo từng nhóm nhỏ cách ly với
nhau.[38]
Nhưng trong những năm gần đây, có một sự
phối hợp giữa những nổ lực từ nhiều phía
nhằm thiết lập các đoàn thể chính trị dứt
khoát chuyên đấu tranh cho dân chủ, nhân
quyền, và tự do tôn giáo. Các tổ chức
chính trị được hình thành với con số chưa
từng có.[39]
Các tổ chức này bị chính quyền xem như là
bất hợp pháp và vì thế, họ không có chổ đứng
nào trong hệ thống chính trị độc Đảng ở Việt
Nam. Trong số các tổ chức, đoàn thể
chính trị này có:
· Đảng Dân Chủ Nhân Dân Việt Nam (ĐDCND).
Đảng này được thành lập vào năm 2004 bởi ông
Đỗ Thành Công, một cư dân Mỹ gốc Việt sinh
sống tại bang Cali (Hoa Kỳ), sau 5 năm liên
kết với những người cùng chí hướng trong
nước. Ông Công cũng được biết đến qua
biệt danh Trần Nam. Mạng lưới ĐDCND
bao gồm các vị đứng đầu Hiệp Hội Đoàn Kết
Công Nông (xem phía dưới). Ông Công bị
bắt giữ vào ngày 14 tháng 8 năm 2006 ở Phan
Thiết và bị kết tội âm mưu đánh phá Lãnh sự
quán Hoa Kỳ ở TP HCM. Cáo trạng này
sau đó lại đổi sang phân phát truyền đơn
chống chính quyền. Ông Công bị giam
đúng 1 tháng trong tù trước khi bị trục xuất
ra khỏi Việt Nam. Một thời gian ngắn
sau khi ông Công bị bắt giữ, 6 thành viên
quốc nội của ĐDCND cũng bị câu lưu. 6
thành viên này đã bị xét xử trước Tòa Án
Nhân Dân ở TP HCM. Trong số đó, thành
viên lãnh đạo BS Lê Nguyên Sang, nhà báo
Huỳnh Nguyên Đạo, và LS Nguyễn Bắc Truyền đã
bị kết án 5, 4, và 3 năm tù giam theo thứ
tự.
· Đảng Vì Dân Việt Nam (ĐVDVN).[40]
Lúc đầu chỉ là một nhóm người ở Hoa Kỳ họp
lại với tên gọi ĐVD. ĐVD được sáng lập
ở Houston (Hoa Kỳ) bởi ông Nguyễn Công
Bằng. Trong năm 2005, thành viên của
ĐVD liên lạc với người Việt quốc nội, kể cả
thành viên của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông
(xem phía dưới). Ông Bằng khuyên họ
không nên quá lộ diện để có thể thiết
lập một mạng lưới liên kết bí mật. Ông
Bằng cho rằng vị thế tranh đấu tích cực
trong lúc này chỉ có thể mang đến áp bức và
giảm thiểu khả năng thu nạp nhân lực.
ĐVD chỉ thu hút được 1 số nhỏ thành viên
quốc nội. Có ít nhất 3 thành viên của
họ bị bắt giữ vào năm 2007: Mục sư
Hồng Trung, đại diện của ĐVD tại Việt Nam
(tháng Hai); nhà báo Trương Minh Đức (tháng
Năm); và SV Đặng Hùng (tháng Bảy).
· Đảng Dân Chủ Việt Nam (ĐDCVN): sáng lập
tháng 6 năm 2006, là một nhóm thảo luận
chính trị do Hoàng Minh Chính dẫn đầu.
Đảng này cũng được biết đến với tên gọi Đảng
Dân Chủ Việt Nam thế kỷ XXI (ĐDC XXI).
ĐDCVN tuyên bố họ là sự phục hồi hoạt động
của ĐDCVN sáng lập vào năm 1944, một trong 2
Đảng phi-CS được trình diện trước Quốc Hội
cho đến lúc bị giải thể vào năm 1985.
Hoàng Minh Chính được huấn luyện từ Moscow, là cựu
viện trưởng viện Triết học thuộc Viện Khoa
học Xã hội VN. Hoàng Minh Chính bị cáo buộc tội kêu
gọi cải cách dân chủ theo Liên Xô, bị tù
giam và rồi được thả vào năm 1967.
Hoàng Minh Chính
tiếp tục đấu tranh cho những thay đổi chính
trị và lại chịu cảnh giam cầm năm 1981 và
1995.
Hoàng Minh Chính đã nắm giữ chức vụ Tổng Thư Ký của
ĐDCVN từ năm 1951-1956. Ông đưa ra kế
hoạch khôi phục lại ĐDC bằng cách cách kêu
gọi tinh thần yêu nước của Hồ Chí Minh, một
lập trường xa lại đối với các nhà bất đồng
chính kiến trẻ tuổi. ĐDCVN có thể có
đến 12 thành viên tại Hà Nội và TP HCM.
Hoành Minh Chính đã được phép sang Hoa Kỳ để chữa bệnh
vào năm 2005. Khi ở Hoa Kỳ, ông Chính
đã có điều trần trước Quốc Hội Liên Bang Hoa
Kỳ và mạnh dạng chỉ trích cách chính quyền
CS đối xử với các nhà đấu tranh dân chủ nhân
quyền tại Việt Nam. Khi trở về Việt
Nam, ông
đã được nhiều người ca ngợi cũng như bị đả
kích bởi thành phần ủng hộ chính quyền.[41]
Còn có LS Bùi Thị Kim Thành bị bắt giữ tại
TP HCM trong cuộc đàn áp thẳng tay trước Hội
nghị thượng đỉnh APEC và bị khống chế vào BV
Tâm Thần Biên Hòa.
· Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQVN),
sáng lập bởi BS Nguyễn Văn Đài. Tháng
6 năm 2007, kỹ sư Trương Minh Nguyệt và hai
nhà đấu tranh khác bị bắt giữ vì phân phát
tài liệu tuyên truyền phản động vi phạm Điều
khoản 258 của Bộ luật Hình Sự. Kỹ sư
Nguyệt bị kết án 2 năm tù giam bởi Tòa án
Tỉnh Đồng Nai. Bà Nguyệt, một thành
viên của MLNQVN đã sử dụng mạng Internet để
phát biểu quan điểm của mình về tình hình
kinh tế chính trị Việt Nam.
· Hội Nhà Báo Tự Do của Việt Nam (HNBTDVN)
được thành lập bởi tác giả của các trang
blog người Việt ở hải ngoại, bao gồm một
mạng lưới blogger và các nhà báo bất đồng
chính kiến trong nước. Mạng lưới này
thu thập và phổ biến thông tin lề trái ở
Việt Nam. Năm 2006, DNBTDVN đã thử
thiết lập một tờ báo điện tử phổ biến thông
tin độc lập với nguồn tài trợ từ Viện Quốc
Gia Thăng Tiến Dân Chủ Hoa Kỳ. Công an
an ninh Việt Nam đã bắt giữ và thẩm vấn
nhiều nhà đấu tranh của HNBTDVN và ít nhất
đã cấm cản 1 thành viên tự do xuất ngoại để
tham dự một hội nghị quốc tế về quyền tự do
ngôn luận.
· Khối 8406, thành lập ngày 8 tháng 6 năm
2006 (sẽ nói thêm ở phần sau).
· Đảng Thăng Tiến Việt Nam (ĐTTVN), thành
lập ngày 8 tháng 9 năm 2006 bởi Lê Thị Công
Nhân, Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, và
Hoàng Thị Anh Đào. LM Nguyễn Văn Lý
được đề cử làm cố vấn. Lê Thị Công
Nhân là một luật sư thông thạo Anh ngữ đã
từng được Lãnh sự quán Anh quốc mời bào chữa
cho một phụ nữ Anh gốc Việt bị tố cáo buôn
lậu ma tuý. Chị Lê Thị Công Nhân cũng
là một trong những người đã ký tên vào bản
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ của khối 8406.
Các thành viên sáng lập khác của Khối 8406
cũng cư ngụ tại Huế. ĐTTVN tiêu biểu
cho một thế hệ bất đồng chính kiến với tư
tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 8 tháng 9 năm
2006, ĐTTVN đã công bố Cương Lĩnh Lâm Thời
kêu gọi dân chủ đa nguyên, tự do tôn giáo,
bầu cử tổng quát, và bào vệ tài sản cá nhân.
Năm 2007, ĐTTVN và ĐVDVN đã chính thức hợp
tác và lập thành Liên Đảng Lạc Hồng.
· Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam
(LMDCNQVN), thành lập ngày 16 tháng 10 năm
2006 giữa Khối 8406 và Giáo hội Phật Giáo VN
Thống Nhất. Liên minh này được thiết
lập theo mô hình Liên Đoàn Toàn Quốc vì Dân
Chủ Miến Điện của bà Daw Aung San Suu Kyi.
Sự liên hiệp này được xem là phong trào đấu
tranh lớn nhất chưa từng thấy ở Việt Nam kể
từ khi quốc gia thống nhất năm 1975.
· Công Đoàn Độc Lập Việt Nam (CĐĐLVN), thành
lập ngày 20 tháng 10 năm 2006 và là công
đoàn độc lập đầu tiên của Việt Nam.
Nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Khắc Toàn được
công nhận vào chức vị Chủ tịch Ban Đại Diện
Lâm Thời gồm có 11 ủy viên: ông Nguyễn Công
Lý, ông Ngô Công Quỳnh, bà Nguyễn Thị
Phương, ông Trần Hoàng Dương, ông Phạm Sử
Thiện, ông Nguyễn Xuân Đạo, ông Trần Hiền
Thanh, ông Lương Hoài Nam, ông Lê Trí Dũng,
bà Trần Khải Thanh Thủy, và ông Trần Quốc
Thủy. CĐĐLVN liệt kê 3 mục đích chính:
bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân
Việt Nam; giúp đỡ các công nhân bị tàn phế
hoặc có bệnh vì việc làm; và kêu gọi đoàn
kết trong giai cấp công nhân.
· Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông (HHĐKCN),
thành lập ngày 30 tháng 10 năm 2006 bởi
Nguyễn Tấn Hoành và Trần Thị Lệ Hằng.
Cả hai sáng lập viên này đều có thành tích
tranh đấu kêu gọi công nhân đình công.
Trong giai đoạn thành lập, thành viên của
hiệp hội này đã liên lạc với Đảng Vì Dân với
trụ sở ở bang Houston (Hoa Kỳ). Sau
những khác biệt xảy ra trong đường hướng,
HHĐKCN đã liên kết với một tổ chức khác ở
hoa kỳ, ĐDCNDVN, và giữ lấy địa vị tích cực
hơn theo mô hình của phong trào Đoàn Kết Ba
Lan. Tuy thế, chiến lược chính thức
công bố mời gọi sự đàn áp từ phía chính
quyền. Đến giữa tháng 12 năm 2006, sau
hội nghị thượng đỉnh của khối APEC ở Hà Nội,
10 trong số các thành phần nòng cốt trong
HHĐKCN đã bị giam giữ. Đến năm 2007,
HHĐKCN đã phải trở vào hoạt động bí mật.
· Liên Đảng Lạc Hồng, thành lập tháng 2 năm
2007 từ sự liên kết giữa Đảng Thăng Tiến VN
và Đảng Vì Dân VN.
Nói chung thì các tổ chức chính trị kể trên
không có một số lượng thành viên với trụ sở
trãi rộng khắp nơi trên toàn quốc. Tên
gọi “đảng phái chính trị” mà họ tự đặt cho
mình cũng có vấn đề. Cho dù vậy, mạng
lưới đấu tranh dân chủ của các nhà tranh đấu
và các đoàn thể tranh đấu đã liên hợp thành
trong năm 2006 được xem là một phong trào
chính trị đáng kể, đánh dấu cho một sự phát
triển mới trong chính trị Việt Nam.[42]
Mạng lưới tranh đấu chính trị này đã ban
hành nhiều bản tuyên ngôn kêu gọi chính
quyền nhà nước Việt Nam phải tôn trọng nhân
quyền cơ bản, tự do tôn giáo, và cho phép
người dân tự do thành lập và gia nhập các
đảng phái chính trị khác ngoài Đảng CSVN.[43]
Vào ngày 6 tháng 4 năm 2006, 116 người đã
đồng ký tên vào bản Appeal for Freedom of
Political Association và phổ biến rộng rãi
trên toàn quốc bằng mạng Internet.
Ngày 8 tháng 4, 118 người đã đồng ký tên bản
Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho VN.[44]
Các nhà đấu tranh dân chủ này sau đó được
biết đến với tên gọi Khối 8406, được đặt
theo ngày bản tuyên ngôn ra đời.
Thành viên của Khối 8406 đã xuất bản tờ Tự
Do Ngôn Luận 2 tuần 1 lần, bắt đầu từ ngày
15 tháng 4 năm 2006. Đây là một tờ báo
gồm khoảng 30 trang trên khổ giấy A4 bằng cả
hai dạng in và điện tử. Dạng điện tử
của tờ Tự Do Ngôn Luận được xuất bản theo
dạng PDF cho tiện việc phổ biến. Tờ
báo này do LM Nguyễn Văn Lý, LM Phan Văn
Lợi, và LM Chân Tín biên tập.
Khối 8406 tượng trưng cho một mạng lưới bao
gồm nhiều chuyên gia, trí thức khác nhau ở
rãi rác khắp nơi trên toàn quốc. Trong
số các người ký tên vào bản tuyên ngôn có
31% là giảng viên và giáo viên, 14% là các
linh mục Thiên Chúa giáo, 13% là các giáo sư
ĐH, 7% thuộc các nhà văn, 6% là bác sĩ y
khoa và 29% còn lại gồm có các trí thức, kỹ
sư, y tá, các lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo,
thương gia, cựu bộ đội, chuyên viên kỹ
thuật, thường dân, và cả 1 luật sư.
Khối 8406 chủ yếu là một mạng lưới ở khu
trung tâm thành thị, với hơn phân nữa những
người ký tên cư ngụ tại Huế (31%) và TP HCM
(15%), những người ký tên khác quy tụ từ Hải
Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, và Cần Thơ. 4 thành
phố này chiếm 30% chữ ký.[45]
Phần còn lại của các thành viên Khối 8406
nằm rãi rác trên toàn quốc ở Bắc Ninh, Nha
Trang, Phan Thiết, Quãng Ngãi, Vũng Tàu, và
Vĩnh Long.
Hội nghị thượng đỉnh APEC tháng 11 năm 2006
có bao gồm cuộc họp mặt giữa các lãnh tụ
quốc gia. Vì cả thế giới đang chú tâm
vào Hà Nội, nhân viên an ninh VN lúc đầu rất
thận trọng trong cách đối phó với Khối 8406.
Họ đã gây khó khăn cho một vài người trong
số những người nổi bật đã ký tên vào bản
tuyên ngôn ngày 8 tháng 4. Điện thoại
nhà của các vị này bị cắt đứt và họ bị theo
dõi thường xuyên. Những người khác
được mời đến thẩm vấn và bị bắt giữ trong
nhiều khoản thời gian khác nhau. Các
nhân viên bị đe dọa cho nghỉ việc.
Công an cũng đã xông vào nhà các thành viên
ký tên khác, lấy đi các máy tính, điện thoại
di động, và tài liệu cá nhân.
Hành động của CA đã tạo lên một làn sóng
phản đối trong thành phần tranh đấu ủng hộ
dân chủ. Ngày 30 tháng 4, Khối 8406 đã
ra một kháng thư với 178 chữ ký lên án hành
động của CA an ninh. Cho đến ngày 8
tháng 5, số người ủng hộ ký tên trong bản
tuyên ngôn lên đến 424; và cho đến cuối năm,
các quan sát viên nước ngoài cho biết là
khối ủng hộ bản tuyên ngôn của Khối 8406 đã
hơn 2.000, phần nhiều trong số đó dưới 30
tuổi.[46]
Thành viên Khối 8406 đã cố gắng lẫn tránh bị
theo dõi bằng cách sử dụng điện thoại
digital và kỹ thuật mã hóa trên các trang
mạng cung cấp bởi các phần mềm Voice Over
Internet Protocol như Paltalk, Skype, và
Yahoo! Messenger.[47]
Các trang mạng này đã được sử
dụng để thiết lập các buổi thảo luận trong
nước cũng như ở hải ngoại.
Vào
ngày 22 tháng 8 năm 2006, Khối 8406 đã chính
thức công bố một tiến trình dân chủ hóa Việt
Nam gồm 4 giai đoạn và 8 bước nhằm gầy dựng
lại các quyền tự do công dân, thành lập các
chính đảng dân chủ, soạn thảo Hiến Pháp mới,
và tiến hành bầu cử dân chủ cho một Quốc Hội
đại biểu nhân dân.[48]
Ngày 12 tháng 10 năm 2006, thành viên Khối
8406 đã viết một thư mở gửi đến các lãnh đạo
tại hội nghị thượng đỉnh APEC yêu cầu họ
giúp đỡ trong quá trình thúc đẩy xã hội dân
chủ cho Việt Nam. 4 ngày sau đó, Khối
8406 đã định chuyển hóa mình thành một phong
trào chính trị bằng cách liên kết với Giáo
Hội Phật Giáo VN Thống Nhất trong Liên Minh
Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam như đã nói đến
phía trên.
Trước hội
nghị thượng đỉnh APEC, CA an ninh đã bao vây
tư gia của các thành viên Khối 8406 và ngăn
cản họ tự do đi lại. Cùng thời gian,
thành viên của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông
cũng bị bắt giữ và đưa ra tòa sau đó.
Sau hội nghị APEC, Việt Nam tiến hành một
chiến dịch phối hợp với nổ lực đàn áp Khối
8406. Có 7 thành viên bị bắt giam, xét
xử, và kết tội rong tháng 3 và 4 năm 2007,
trong đó có LS Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công
Nhân. Án tù của họ sau đó được giảm
xuống vào tháng 12.
Các nhà
đấu tranh dân chủ khác cũng bị bắt giữ và
xét xử trong cùng năm, nổi bật nhất là LM
Nguyễn Văn Lý. Thành phần lãnh đạo của
Khối 8406 có vẻ như đã bị hóa giải một cách
hiệu quả bởi bộ máy an ninh của Việt Nam.
Rất nhiều trong số những người ký tên vào
bản tuyên ngôn, các kháng thư, kiến nghị đã
đồng loạt im lặng trước sự đàn áp của chính
quyền. Điều này thể hiện rõ nhất qua
kỷ niệm ngày thành lập Khối 8406 năm 2007 và
2008, hai sự kiện đã trôi qua một cách êm ả.
Trong
tháng 6 và tháng 7 năm 2007, các nông dân ở
tỉnh Tiền Giang đã tổ chức một cuộc biểu
tình công cộng kéo dài để kêu oan về việc
đất đai bị tước đoạt. Họ đã quy tụ tại
TP HCM trước tòa Quốc Hội và được tháp tùng
bởi nhiều ủng hộ viên từ 7 tỉnh vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Có một vài điều chung
quanh sự kiện này chưa bao giờ xảy ra: số
người tham gia khiếu kiện, sự hiện diện của
dân từ nhiều tỉnh khác nhau, cùng với
thời gian họ được cho phép để biểu tình và
căng biểu ngữ ở các nơi công cộng.
Cuộc biểu
tình của dân tỉnh Tiền Giang được trực
tiếp theo dõi và thông tin bởi các cơ quan
truyền thông ở hải ngoại. Một số các
người tham gia biểu tình đã trả lời phỏng
vấn trực tiếp bằng điện thoại di động với
phóng viên báo chí nước ngoài ở Hà Nội và
đài Radio Chân Trời Mới do Việt Nam Canh Tân
Cách Mạng Đảng (đảng Việt Tân) quản lý.
Hình ảnh các biểu ngữ của nông dân
biểu tình có thể truy cập được trên trang
mạng của đảng Việt Tân. Cuộc biểu tình kéo
dài của nông dân Tiền Giang sau đó
cũng đã chấm dứt khi CA an ninh bao vây và
ép buộc chở họ đi nơi khác trong đêm khuya.
Điều mới lạ từ các vụ biểu tình này là sự
ủng hộ có được từ Khối 8406 và Hòa Thượng
Thích Quảng Độ từ Giáo Hội Phật Giáo VN
Thống Nhất.
Theo bề
ngoài thì Khối 8406 và các đoàn thể xã hội
chính trị dân sự xuất hiện trong năm 2006 có
vẻ như đã cùng chung số phận với các nhà đấu
tranh chính trị của thập niên 1990.
Tuy nhiên, có một yếu tố cần phải được nói
đến trong sự phân tích này – đó là vai trò
của các nhà tranh đấu cho tự do dân chủ Việt
Nam ở hải ngoại, những người đã bắt đầu liên
kết với đồng hương của mình ở quốc nội để
cung cấp nguồn tài trợ, ủng hộ tinh thần, và
hỗ trợ sách lược đối kháng thể chế chính trị
độc đảng.[49]
Đoàn thể then chốt – nhưng cũng không phải
là duy nhất – trong sự phát triển mới lạ này
là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, còn gọi
là Việt Tân.[50]
Đảng Việt
Tân tuyên bố là họ muốn tranh đấu cho một xã
hội dân chủ tại Việt Nam theo phương châm
bất bạo động trong lúc truyền thông quốc nội
miêu tả họ là một tổ chức khủng bố.[51]
Cả hai phía truyền thông Việt Nam và Việt
Tân đều đồng thời đều hợp nhất về lịch sử cơ
bản của Việt Tân. Việt Tân được sáng
lập bởi Hoàng Cơ Minh, nguyên là phó Đề đốc
Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa.
Ông Minh sáng lập Mặt Trận Quốc Gia Thống
Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN) vào
ngày 30 tháng 4 năm 1980. Sau đó, ông
thành lập Việt Tân vào ngày 10 tháng 9 năm
1982. Cả hai tổ chức lúc đó đều muốn lật đổ
chính quyền CSVN qua chủ trương bạo động.
Cả hai
phía chính quyền VN và những người ủng hộ
Hoàng Cơ Minh đều đồng ý rằng (MTQGTNGPVN)
đã từng âm mưu đánh phá bằng cách đưa người
của mình xâm nhập vào Việt Nam qua đường Lào
và Cam Bốt. Một thành viên của đảng
Việt Tân đương thời cũng đã cho biết rằng
thành viên của Việt Tân sống ở Việt Nam
trong thời điểm hoạt động bí mật (1982-1994)
có trang bị vũ khí.[52]
Phía Việt Nam thì lại tố cáo đảng Việt Tân
đã sử dụng vũ khí bạo động cho đến năm 2002
khi họ thuê mướn tội phạm ám sát các viên
chức chính quyền.
Ngày 19
tháng 9 năm 2004, tổ chức này tuyên bố giải
thể MTQGTNGPVN và cho biết rằng đảng Việt
Tân sẽ chính thức hoạt động công khai.[53]
Các lãnh đạo đảng Việt Tân công
bố cương lĩnh của mình với chủ trương đối
đầu bất bạo động nhằm tranh đấu cho xã hội
dân chủ ở Việt Nam qua sự hợp tác với các tổ
chức cùng chí hướng khác. Kể từ năm
2004, Việt Tân đã trở nên tích cực trong
việc vận động các nghị viên chính trị ở Úc
Châu, Á Châu, và Hoa Kỳ.
Trong quý
4 của năm 2006, thành viên đảng Việt Tân ở
Hoa Kỳ đã tích cực vận động chính quyền của
TT George W. Bush đề cập đến các vấn đề nhân
quyền trước hội nghị APEC ở Hà Nội tháng 11
cùng năm. Một thành viên Việt Tân đã
từng điều trần trước Nhóm Nhân Quyền Quốc
Hội Hoa Kỳ. Việt Tân cũng đã vận động
các nhà tài trợ quốc tế kết hợp tính minh
bạch và trách nhiệm cùng với các chương
trình viện trợ của họ tại Việt Nam.
Tháng 3 năm 2007, Việt Tân tổ chức các buổi
tập họp toàn thế giới để chống đối làn sóng
đàn áp chính trị đang được tiến hành ở Việt
Nam vào lúc đó.
Vào khoảng
thời gian cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm
2007, một rào chắn bằng các bài viết xuất
hiện trên báo chí do nhà nước VN quản lý cáo
buộc Việt Tân là một tổ chức khủng bố.
Nhưng các bài viết này chỉ có thể vỏn vẹn
các chi tiết về hoạt động của MTQGTNGPVN
trước khi mặt trận này bị giải thể.
Các bài báo này không có chi tiết gì về hoạt
động của đảng Việt Tân sau tháng 9 năm 2004.
Thật ra, khi các cơ quan truyền thông nhà
nước Việt Nam bắt đầu chú tâm đến sự phát
triển đương thời của Việt Tân, đảng phái này
đã báo cáo rằng họ đã thiết lập các tổ chức
pháp luật, thương mại, và các chương trình
tín dụng vi mô (microcredit) để phát sinh
nguồn tài trợ cho các hoạt động của họ tại
Việt Nam. Đảng Việt Tân cũng bị tố cáo
là đã kêu gọi tẩy chay các mặt hàng quốc nội
cùng các dịch vụ chuyển tiền về Việt Nam.
Tất cả những lời cáo buộc về các hoạt động
này hoàn toàn có tính chất bất bạo động
trong đó.
Các viên
chức an ninh quốc phòng Việt Nam đã cố tình
đúc kết các hoạt động chống kháng chính
quyền để gán ghép tên gọi khủng bố cho Việt
Tân, kể cả những hoạt động chống đối có tính
chất hòa bình và bất bạo động. Người
ta cũng không rõ rằng chính quyền nhà nước
Việt Nam đã sử dụng điều luật pháp chế nào
để cáo buộc đảng Việt Tân là một tổ chức
khủng bố.
Các sự
kiện của năm 2006 – 2007 tiêu biểu cho sự
lớn rộng của các tổ chức xã hội chính trị
dân sự tại Việt Nam; một sự phát triển
qua thế lực, qua con số, và mạng lưới liên
kết càng ngày càng gia tăng của các tổ chức
này. Bất đồng chính kiến đã trở thành
một hình thức tổ chức to lớn hơn với sự xuất
hiện của các đảng phái chính trị mới lạ và
các liên đoàn thương mại cũng như các tổ
chức có khuynh hướng độc lập khác đại diện
cho các nhà báo tự do, các nhà tranh đấu
nhân quyền, và các cựu tù nhân chính trị.
Sự liên hiệp vẫn còn mới mẻ giữa Khối 8406
và Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, và sự
hình thành của Liên Đảng Lạc Hồng là bằng
chứng tượng trưng là khoảng trống cách biệt
trong quá khứ giữa các tổ chức tranh đấu
hiện nay đã dần dần biến mất.
Tuy nhiên, không có một nhận
thức rõ rệt nào cho thấy rằng phong trào đấu
tranh dân chủ ngày càng vững bền hoặc đang
liên kết thành một thế lực có thể trở thành
một thử thách lớn đối với chính quyền độc
Đảng Việt Nam. Thành phần chủ chốt của
Khối 8406 và các đoàn thể xã hội chính trị
dân sự liên đới đã bị đàn áp bởi hệ thống an
ninh của Việt Nam, các thành viên của họ
buộc phải trở lại hoạt động bí mật. Dù
sao đi nữa thì sự phát triển này là một dấu
hiệu báo trước cho tương lai. Sự xuất
hiện của Việt Tân (và các tổ chức khác ở hải
ngoại), cùng với quyết tâm theo đuổi chủ
trương tranh đấu bất bạo động của Việt Tân,
đã đem lại nguồn tài trợ, đào tạo, và các
tiềm lực khác cho các tổ chức xã hội chính
trị dân sự tại Việt Nam. Điển hình như
việc bắt bớ và xét xử các thành viên Việt
Tân vào tháng 12 năm 2006 và tháng 11 năm
2007 là bằng chứng cho thấy đảng Việt Tân đã
có thể hoạt động tại Việt Nam.
Xã Hội Chính Trị Dân Sự và Chính Quyền Độc
Đảng của Việt Nam
Biểu đồ thứ 3 trình bày sơ đồ nhận diện vai
trò xã hội dân sự của các tổ chức và đoàn
thể đang hoạt động hiện nay tại Việt Nam.
Đa số các tổ chức xã hội dân sự được đề cập
đến trong bài viết này quy tụ ở phía bên
phải của biểu đồ. Phần lớn các tổ chức
và đoàn thể người Việt khác được xác nhận
hình thành xã hội dân sự thật ra có liên hệ
chặt chẽ hoặc gắn liền với chính quyền độc
đảng. Họ hoạt động như các đối tác của
chính quyền để thi hành chính sách nhà nước
trên phương diện tạo lợi ích, phục vụ xã
hội, và xóa đói giảm nghèo.



Biểu đồ 3: Các Vai Trò của Xã
Hội Dân Sự. Nguồn: Joseph
Hannah, Các Tổ Chức
Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại
Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội Dân
Sự, và Quan Hệ Chính Quyền-Nhân
Dân (Seattle: Nghị luận tiến sĩ
ĐH Hoa Thịnh Đốn, 2007), trang
93.
Theo thời gian, các tổ chức này cũng đã nới
rộng vai trò của họ sang tranh đấu cho quyền
lợi cử tri bằng cách khuyến khích thay đổi
cách thi hành chính sách nhà nước. Và
gần đây, một số trong các tổ chức được gọi
là tổ chức xã hội dân sự này đã trở nên tích
cực trong công cuộc vận động thay đổi chính
sách.
Việt Nam vẫn còn chưa thiết lập được các tổ
chức xã hội dân sự có thể đóng vai trò thanh
tra, kiểm soát nhằm vạch mặt sự tham ô của
các lực lượng nòng cốt trong xã hội và viên
chức chính quyền. Trách nhiệm đưa ra
ánh sáng các vụ tham nhũng hối lộ phần lớn
vẫn còn nằm trong tay các nhà báo gan dạ
dũng cảm làm việc cho các tờ báo tiến bộ
như Thanh Niên và Tuổi Trẻ. Truyền
thông Việt Nam đóng vai trò nổi bật trong
việc vạch trần vụ tham nhũng PMU và Bộ Giao
Thông Vận Tải ngay trước Đại hội Đảng X năm
2006. Nhưng các viên chức lãnh
đạo nhanh chóng nhúng tay vào và chận đứng
thông tin không kiểm soát từ phía truyền
thông. Tháng 6 năm 2008, sau khi
Thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải (Nguyễn
Việt Tiến) được thả, hai nhà báo làm việc
cho tờ Tuổi Trẻ và Thanh Niên đã cố gắng
khơi dậy vụ tham ô PMU lần nữa. Vào
tháng 5, hai nhà báo này và 1 tướng CA đưa
tin đã bị bắt và bị khởi tố là đã lạm dụng
quyền lực. Sự đàn áp báo chí gia tăng
vào tháng 8 khi thẻ báo chí của 7 phóng viên
nhà báo và biên tập viên từ 4 tờ báo bị thu
hồi. Hai biên tập viên của tờ Đại Đoàn
Kết, cơ quan báo chí chính thức của MTTQVN,
đã bị đuổi việc vào tháng 10.
Nói chung thì các nhà nghiên cứu nước ngoài
đã ngại không dám nghiên cứu về hoạt động
của các tổ chức, đoàn thể xã hội dân sự nằm
phía bên trái của biểu đồ 3.[54]
Bởi vì Việt Nam không cho phép các tờ báo
hoặc cơ quan truyền thông tư nhân hoạt động,
Việt Nam không có các thông tin báo chí đối
kháng chỉ trích chính quyền và chính sách
của thể chế độc tài Đảng trị.[55]
Các loại thông tin chỉ trích chính quyền chỉ
giới hạn trong phạm vi báo rơi được phổ
biến, phân phát bởi các nhà bất đồng chính
kiến. Trong những năm gần đây, mạng
lưới Internet đã trở thành công cụ phổ biến
quan điểm đối kháng. Thêm vào đó, đài
radio Chân Trời Mới điều khiển bởi Đảng Việt
Tân thường xuyên phát sóng bằng Việt ngữ vào
Việt Nam.
Bài viết này đã minh chứng sự xuất hiện của
các tổ chức xã hội chính trị dân sự với các
vai trò xã hội dân sự nằm phía bên trái của
biểu đồ 3. Các tổ chức, đoàn thể chưa chính
thức đối kháng qua hình thức bất tuân dân sự
hoặc tổ chức các cuộc biểu tình tầm cỡ chống
lại chính quyền. Cho đến nay, họ chỉ
giới hạn mình trong việc công khai chỉ trích
việc chính quyền độc Đảng của Việt Nam không
cho phép người dân thực thi quyền tự do ngôn
luận, tự do bài tỏ chính kiến, cũng như các
quyền tự do khác của con người.
Câu hỏi chính thức cho xã hội Việt Nam trong
tương lai là sự hình thành của xã hội chính
trị dân sự sẽ có ảnh hưởng gì cho chính
quyền độc Đảng của Việt Nam?
Thật không thể chối bỏ được những thành tựu
của Việt Nam sau 22 năm đổi mới. Việt
Nam đã có được một nền kinh tế tăng trưởng
rõ rệt cùng với sự thành công đáng kể trong
việc xóa đói, giảm nghèo. Việt Nam
cũng đã duy trì được sự quân bình nội địa
trong suốt quá trình chuyển tiếp quyền lực
sang thế hệ sau qua các Đại Hội đảng toàn
quốc. Quá trình chuyển tiếp chính trị
này đã xảy ra một cách điều đặn và thận
trọng.
Tuy nhiên, một đường ngoại suy thẳng tắp
tượng trưng cho những phát triển kinh tế và
sự quân bình chính trị kéo dài cần phải lưu
ý đến làn sóng bất đồng chính kiến và những
lời kêu than từ xã hội kinh tế đã tụ hình
trong những năm gần đây. Bên cạnh các
cuộc biểu tình của nông dân và tín đồ Thiên
Chúa giáo về tranh chấp đất đai cùng nỗi lo
âu của đồng bào về căn bệnh tham nhũng thối
nát, mức lạm phát xoay tròn hiện nay của
Việt Nam đã khiến nhiều người dân bất mãn,
nhất là ở những khu thành thị. Công
nghệ dệt và may vá của Việt Nam đã trãi qua
nhiều cuộc đình công táo bạo.
Hoạt động của các đoàn thể, đặt biệt là các
đoàn thể phường xã nhân dân tại Việt Nam đã
có được mức tăng triển bùng phát kể từ cuối
thập niên 1980. Trong nhiều năm gần
đây, nhất là ở các khu đô thị, Việt Nam đã
chứng kiến được sự hình thành của một số tổ
chức đấu tranh chính trị chung quanh các vấn
đề nhân quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo.
Các đoàn thể này có thể sẽ đóng vai trò to
lớn hơn trong nhiều năm sắp tới.
Năm 2006, các nhóm đấu tranh cho dân chủ bắt
đầu kết hợp thành một phong trào nổi bật
được biết đến với tên gọi Khối 8406.
Điều này chứng minh rằng không những chỉ có
một mạng lưới chính trị đang hình thành, mà
còn có sự hợp tác lẫn nhau trên nhiều vấn đề
xã hội. Đường hướng này rất có thể sẽ
được tiếp tục trong tương lai khi cương lĩnh
đấu tranh chính trị của xã hội chính trị dân
sự nới rộng để bao gồm dân oan, nhân công,
nhân quyền, tự do tôn giáo, và quyền lợi của
các dân tộc thiểu số. Các nhà tranh
đấu quốc nội có thể trông cậy vào sự ủng hộ
gia tăng của thành phần yêu nước và các tổ
chức tranh đấu cho xã hội dân chủ ở hải
ngoại.
Trong vài năm tới đây Việt Nam sẽ phải đối
diện với viễn ảnh gia tăng kinh tế bị thuyên
giảm sau một thập niên dài với thành công
đáng kể. Lẽ chính thống trong sự cầm
quyền của chính quyền độc Đảng VN phần lớn
lệ thuộc vào khả năng thực hiện lời hứa của
mình. Đó là, sự thành công trong việc
phát triển kinh tế và duy trì quân bình
chính trị trong xã hội. Các thảm họa
kinh tế cũng như căn bệnh tham nhũng tràn
lan đang lấn áp khả năng thực thi chính sách
nhằm giữ vững sự cầm quyền chính thống của
chính quyền nhà nước Việt Nam. Các
hình thức chính trị chính thống khác, như
tinh thần yêu nước và sự thu hút nơi lãnh
đạo, cũng đã lùi dần theo thời gian.
Chính quyền độc Đảng VN không có được chủ
quyền nhân dân qua các cuộc bầu cử dân chủ
tự do đáng có để giữ lấy lẽ chính thống của
mình.
Chính quyền độc Đảng VN rất có thể sẽ bị thử
thách trầm trọng trong tương lai để có thể
thực hiện mục đích của mình trong việc thiết
lập một “quốc gia pháp trị”. Các đoàn
thể xã hội chính trị dân sự sẽ gây áp lực
với ĐCS buộc họ phải thực thi các điều lệ
trong Hiến Pháp cho phép người dân có “quyền
tự do bày tỏ chính kiến, tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tự do thông tin, và tự do lập
hội, đoàn thể cũng như quyền tự do biểu tình
dựa theo các điều lệ của pháp luật đã đặt
ra.” (Điều 69, HP) cũng như quyền tự do tôn
giáo của Điều 70 HP. Việt Nam tương
lai sẽ chứng kiến được nhiều cuộc tranh luận
sẽ xảy ra ở nhiều nơi – trước Quốc Hội,
trước Mặt Trận (MTTQCN), và cả trước chính
nội bộ ĐCSVN - trong lúc các tổ chức,
đoàn thể xã hội chính trị dân sự tiếp tục
theo đuổi cương lĩnh của mình.
Có 5 mô hình thay đổi chính trị hữu ích có
thể dùng làm khuôn khổ để suy đoán những
diễn tiến phía trước:[56]
·
Nguyên trạng: Thành phần chủ yếu của giới
lãnh đạo cầm quyền hiện nay sẽ tranh đấu để
giữ vững địa vị của mình qua các biện pháp
ức chế, đàn áp, và kéo lê gót chân người ta.
Duy trì nguyên trạng có vẻ như không bền
vững trước những thay đổi xã hội kinh tế
đang diễn ra hiện nay.
·
Độc tài cai trị: Suy thoái kinh tế kết hợp
với việc mất quân bình chính trị có thể sẽ
dẫn xã hội đi ngược về chế độ độc tài cai
trị. Tuy nhiên, những mô hình thay đổi
chính trị của Việt Nam trong quá khứ cho
thấy rằng điều này không thể xảy ra và kết
quả có được là ĐCSVN sẽ bị phân đôi.
·
Thay thế:
Các thế lực đối kháng có thể chiếm
thượng phong. Mô hình này cũng khó có
thể xảy ra vì các thế lực đối kháng hiện nay
còn rất yếu và không có sự ủng hộ rộng rãi
của quần chúng. Các thế lực đối kháng
cũng có thể bị chính quyền đàn áp thẳng tay.
·
Chuyển đổi: Sự hợp tác lẫn nhau giữa
các thành phần chủ yếu trong giai cấp lãnh
đạo và các thế lực đối kháng. Mô hình
này cũng khó có thể xảy ra trong giai đoạn
ngắn vì thế lực đối kháng vẫn còn yếu.
Nhưng trên đường dài, rất có thể sẽ thành
tựu.
·
Thay đổi:
Thành phần lãnh đạo nòng cốt khởi xướng thay
đổi. Các bằng chứng cho thấy rằng giới
lãnh đạo của Việt Nam đang thương lượng với
nhau về tốc độ và giới hạn của những thay
đổi. Xã hội Việt Nam rõ ràng đang tiến
dần đến tự do, không phải dân chủ;
Nhưng áp lực từ người dân có thể sẽ khiến
nhiều lãnh đạo nòng cốt thúc đẩy thêm những
thay đổi chính trị tiếp nối.
Kết luận
Chủ đề chính của bài viết này là sự xuất
hiện của xã hội chính trị dân sự tượng trưng
cho một sự phát triển mới trong tình hình
chính trị quốc nội tại Việt Nam. Cho đến
nay, các nhà nghiên cứu nước ngoài chỉ biết
chú tâm vào “chính trị thường nhật” của các
tổ chức được xem như là các đoàn thể xã hội
dân sự ở Việt Nam. Sự nghiên cứu này
đã đem đến nhiều nhận thức sâu sắc đối với
tính chất thay đổi của xã hội Việt Nam và
mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân
trong thời kỳ đổi mới. Vào khoảng thời
gian từ năm 2006 đến 2007, một loạt các đảng
phái chính trị tự phong và các liên hiệp
thương mại vừa mới thành lập đã liên kết
thành một phong trào chính trị, Khối 8406,
và với một sự phát triển chưa từng có đã
trực tiếp đối kháng với nhà cầm quyền độc
tài Đảng trị ở Việt Nam. Ngược lại,
“chính trị thường nhật” cùng phương cách
tiếp cận qua xã hội dân sự chỉ chú trọng vào
các thử thách ở mức vi mô đối với chính
quyền và đem đến một số nhận thức ít ỏi về
các trường hợp thay đổi chính trị có thể xảy
ra trong tương lai.
Bài viết này chứng minh rằng việc xem các
“đoàn thể phi-chí-phủ” người Việt là xã hội
dân sự là lừa dối, không chính xác vì hai lý
do sau đây: Thứ nhất, các tổ chức NGO
của người Việt trong nước phần đông là cánh
tay vươn dài của chính quyền. Thứ nhì,
các nghiên cứu hiện nay chỉ chú trọng và các
đoàn thể nhân dân và hội đoàn của phường, xã
và xem đó như là xã hội dân sự liên quan đến
phát triển chính trị - hoàn toàn loại bỏ các
tổ chức tranh đấu cho thay đổi dẫn đến xã
hội dân chủ.
Bài viết này xác nhận rằng vai trò của xã
hội chính trị dân sự tại Việt Nam rất có thể
sẽ trở nên quan trọng vì hai lý do sau đây:
Thứ nhất, tuy bị chính quyền đàn áp, Khối
8406 đã thành công phô trương tính hiệu quả
của việc phối hợp và liên kết các tổ chức
cùng chí hướng lại với nhau, kết nối tự do
tôn giáo, nhân quyền, và tự do dân chủ thành
một chủ đích bất phân. Thứ nhì là sự
hỗ trợ gia tăng đáng kể từ các tổ chức xã
hội chính trị dân sự của người Việt ở hải
ngoại. Họ đã biết tránh né các hình
thức bạo động và hiện đang cung cấp nguồn
tài trợ và kế sách đối lập chính trị.
Trong 2 năm tới đây, chính quyền độc Đảng
tại Việt Nam sẽ phải đối diện với nhiều thử
thách lớn khi thi hành chính sách nhằm củng
cố lẽ chính thống của mình. Rõ ràng là
căn bệnh tham nhũng tràn lan, ô nhiễm môi
trường, cùng với mức độ phát triển kinh tế
đang trên đà thuyên giảm đang tạo căng thẳng
cho chế độ độc Đảng và kể cả chính ĐCSVN.
Bài viết này được kết thúc bằng cách nêu rõ
rằng thay đổi chính trị tại Việt Nam sẽ được
phần lớn sẽ được quyết định bằng phương cách
chế độ độc Đảng chọn sử dụng để đối phó với
những thử thách được đặt ra bởi xã hội chính
trị dân sự. Trong số 5 trường hợp khuôn mẫu
được nói đến, có hai trường hợp có thể xảy
ra. Đó là sự chuyển đổi dẫn đến bởi
các thành phần lãnh đạo và các thế lực tranh
đấu hợp tác với nhau trong thời gian dài.
Trường hợp có khả năng xảy ra cao nhất là
thay đổi do các lãnh đạo nòng cốt trong
ĐCSVN dẫn đầu khởi xướng thay đổi chính trị.
Chú thích
[1]
Như Liên Hội Cựu Tù Nhân Chính
Trị, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Hội Nhà
Báo Tự Do, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và
Tôn Giáo Việt Nam.
[2]
Xin lưu ý đến việc các đoàn thể xã
hội chính trị dân sự không được đề cập đến
trong bản báo cáo nghiên cứu Các Hình Thức
Hoạt Động giữa Cơ Quan Chính Quyền và các
Đoàn Thể Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam (Hanoi
VUFO-NGO Resource Center, tháng 12 năm
2008). Bản báo cáo này được soạn thảo
cho cộng đồng tài trợ quốc tế và được tài
trợ bởi Bộ Phát Triển Quốc Tế Phần Lan.
Như sẽ được rõ ràng ở phần sau, danh từ NGO
người Việt được sử dụng như đã báo trước.
Đáng lý tôi phải thêm vào nhóm từ “được xem
là” phía trước hoặc đóng ngoặc kép từ NGO.
Nhưng để bài viết được trôi trãi, tôi đã
giới hạn không làm thế.
[3]
Bài viết tựa đề “Bất Đồng Chính Kiến
và Đổi Mới Chính Trị tại Việt Nam, 1997 –
2002” của t/g Carlyle A. Thayer trong quyển
Sức Mạnh của Sáng Kiến: Các Nhận Thức Lỗi
Lạc và Thay Đổi Chính Trị ở Đông Á và Đông
Nam Á, biên tập bởi Claudia Derichs và
Thomas Heberer (Copenhagen: NXB Nordict
Institute và Asian Studies Press, 2006)
trang 115-132.
[4]
“Chủ Nghĩa Xã Hội Độc Đảng và Chính Quyền”
của t/g Carlyle A. Thayer trong Những Chuyển
Đổi Nông Thôn tại Việt Nam, biên tập bởi
Benedict J. Tria Kerkvliet và Dough J.
Porter (Boulder: NXB Westview Press, 1995)
trang 39-64.
[5]
“Xã Hội Dân Sự và các NGO tại Việt Nam: Một
vài Ý Kiến Khởi Đầu về Phát Triển và Chướng
Ngại” của t/g Bach Tan Sinh. Bài viết
được trình bày trong cuộc họp mặt với Hội
Đồng Đại Biểu Nghị Trường Thụy Điển về chính
sách Phát Triển Quốc Tế của Thụy Điển tại Hà
Nội, ngày 2 tháng 3 năm 2001. Trang 4.
[6]
“Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam: Từ Bên Bờ đến
Giữa Nguồn” của t/g Gita Sbharwal và Tran
Thi Thien Huong (CIVICUS: Liên Minh Toàn Cầu
vì Sự Tham Gia của Công Dân, tháng 7 năm
2005). Trang 4.
[7]
“Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội
Dân Sự tại Việt Nam: Câu Chuyện về Những Lầm
Lẫn có Tính Toán.” của t/g Oscar Salemink
trong Môi Giới Phát Triển và Thông Dịch
Viên: Dân Tộc Học vể Viện Trợ và Cơ Quan
Chính Quyền, biên tập bởi David Lewis và
David Mosse (Bloomfield, CT: NXB Kumarian
Inc., 2006) trang 102.
[8]
Một cuộc nghiên cứu chuyên nghiệp thiết lập
tại Hà Nội và TP HCM ghi nhận hơn 700 “đoàn
thể nhân dân”, phần đông được thiết
lập sau 1986; “Mối Quan Hệ giữa các Đoàn Thể
Nhân Dân và Đoàn Thể Chính Quyền tại Việt
Nam: Một Khám Phá Lựa Chọn” của t/g Joerg
Wischerman và Nguyễn Quang Vinh trong Để có
được Sự Ngăn Nắp tại Việt Nam: Xâm
Nhập và Len Lỏi trong Quốc Gia XHCN, biên
tập bởi Ben J. Tria Kerkvliet, Russel H.K.
Heng, và David W.H. Koh (Singapore: Học Viện
Nghiên Cứu Đông Nam Á, 2003). Trang
186.
[9]
“Sự Xuất Hiện của Bộ Phận Phi-Lợi-Nhuận và
Thành Phần Yêu Nước trong CHXHCNVN” của t/g
Mark Sidel trong Xã Hội Dân Sự Đang Ló Dạng
trong Cộng Đồng Châu Á Thái Bình Dương, biên
tập bởi Tadashi Yamamoto (Singapore:
Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á, 1995).
Trang 294-296.
[10]
Ibid., 293-294.
[11]
Thayer, “XHCN Độc Đảng và Chính Quyền”,
trích đoạn trang 54.
[12]
Wischerman và Vinh, “Mối Quan Hệ giữa các
Đoàn Thể Nhân Dân và Đoàn Thể Chính Quyền
tại Việt Nam.”, trích đoạn trang 186.
[13]
“Từ Phá Rào đến Kết Nối:
Đường Hướng, Đoàn Thể Nhân Dân, và những Ảnh
Hưởng Chính Sách trong thời Hậu XHCN Việt
Nam.” của t/g Thaveeporn Vasavakul trong Để
có được Sự Ngăn Nắp tại Việt Nam, biên tập
bởi Kerkvliet, Heng và Koh. Trang
26-28.
[14]
Các văn bản luật pháp then chốt gồm có: NĐ
35-CP (1992), “Chỉ Đạo và Định Hướng
Các Hoạt Động Khoa Học và Kỹ Thuật”; NĐ
29/1998/NĐ-CP (11.5.98); NĐ
71/1998/NĐ-CP (8.9.1998); NĐ 07/1999/NĐ-CP
(13.2.1999); NĐ 177 (1999) về hội thiện
nguyện và các nguồn viện trợ xã hội; và Điều
Luật về Khoa Học Kỹ Thuật (2000).
[15]
“Lấp Đầy Khoảng Trống: Sự Xuất Hiện của Xã
Hội Dân Sự tại Việt Nam.” của t/g
Irene Norlund. (CIVICUS: Liên Minh Toàn Cầu
vì Sự Tham Gia của Công Dân, tháng 1 năm
2007). Trang 11.
[16]
Các Tổ Chức Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại
Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội Dân Sự, và Quan
Hệ Chính Quyền-Nhân Dân của t/g Joseph
Hannah, nghị luật Tiến Sĩ ĐH (Seattle:
ĐH Hoa Thịnh Đốn, 2007). Trang 54.
[17]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”.
Trích đoạn trang 117-118.
[18]
Ibid, trang 106.
[19]
“Các Diễn Viên và Hoạt Động
Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam: Kết Quả Sơ
Bộ và Những Phát Họa từ Cuộc Tranh Lận đang
Tiến Triển” của t/g Joseph Hannah trong
Hướng Về Xã Hội Tốt Đẹp: Các Diễn Viên Xã
Hội Dân Sự, Chính Quyền và Tầng Lớp Thương
Gia ở Đông Nam Á - Kẻ Giúp Ích hay Gây Trở
Ngại cho một Xã Hội Vững Bền, Dân Chủ, và
Công Bằng? (Berlin: Heinrich Böll Stifflung,
2005) . Trang 105
[20]
Các thí dụ điển hình gồm có Trung Tâm Phục
Vụ Phát Triển Nông Thôn thành lập năm 1994;
Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội, Tư
Vấn, Nghiên Cứu, và Rèn Luyện Phát Triển
Cộng Đồng thành lập năm 1996.
[21]
Vasavakul, “Từ Phá Rào đến Kết Nối”, trang
28.
[22]
Hannah, “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội
Dân Sự tại Việt Nam”, trang 107-108.
NĐ 35-CP được đặt tên “Một Vài Chỉ Đạo nhằm
Định Hướng Hoạt Động Khoa Học Kỹ Thuật.”
[23]
Trích lời của Kathrin Perdersen trong
“Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội
Dân Sự tại Việt Nam” của t/g Salemink, trang
118.
[24]
“Tạo Lập Xã Hội Dân Sự? Sự Xuất Hiện
của các NGO tại Việt Nam” của t/g Michael
Gray trong tờ Phát Triển và Thay Đổi 30, số
thứ 4 (tháng 10, 1999): 698.
[25]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trích đoạn
trang 119.
[26]
Hannah, “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội
Dân Sự tại Việt Nam”, trang 107. Tác
giả viết rằng những cố gắng nhằm để soạn
thảo Điều Luật cho các NGO là một nổ lực
được giữ kín kéo dài 15 năm.
[27]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trích đoạn
trang 120.
[28]
Hannah, “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội
Dân Sự tại Việt Nam”, trang 107 và Sabharwal
& Trần Thị Thiên Hương, “Xã Hội Dân Sự tại
Việt Nam: Từ Bên Bờ đến Giữa Nguồn”, trang
4.
[29]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Vìệt Nam”,
trang 105-106.
[30]
Có rất nhiều dữ liệu về đề tài này. Để
thao khảo tổng quát, xin xem Xã Hội Dân Sự
và Thay Đổi Chính Trị ở Á Châu: Nới Rộng và
Thu Hẹp Khoảng Không Dân Chủ của t/g Muthiah
Alagappa. (Stanford: ĐH Standford – HK,
2004) và “Đổi Mới Chính Trị tại Việt Nam:
Đổi Mới và Sự Xuất Hiện của Xã Hội Dân Sự”
của t/g Carlyle A. Thayer trong Sự Phát
Triển của Xã Hội Dân Sự trong các Thể Chế
Cộng Sản, biên tập bởi Robert F. Miller
(Sydney: NXB Allen & Unwin, 1992)
trang 110-129.
[31]
Tóm lược trong “Xã Hội Dân Sự và các NGO tại
Việt Nam” của t/g Bach Tan Sinh”, trang 2-3.
[32]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang
102-104.
[33]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 105
và “Chính Quyền, Đoàn Thể Địa Phương, và
những Tính Chất Dân Sự khác ở Nông Thôn Bắc
Việt.”của t/g Hy V. Luong trong Đời Sống Dân
Sự, Toàn Cầu Hóa, và Thay Đổi Chính Trị ở Á
Châu: Sắp Xếp giữa Gia Đình và Chính Quyền,
biên tập bởi Robert P. Weller (London:
Routledge, 2005). Trang 123-147.
[34]
Phần này được rút tỉa từ bài
“Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội
Dân Sự tại Việt Nam” của t/g Salemink, trang
104 và bài “Sự Kết Hợp của Xã Hội Dân Sự ở
Việt Nam” của t/g Hoàng Ngọc Giao,
tháng 1 năm 2007, trang 1. Bài viết
này được đăng trên trang mạng của Dự Án Hỗ
Trợ Cải Cách Pháp Luật (LERAP)
<http://www.lerap.org/en/node/91>
[35]
Trong bài “Sự Kết Hợp của Xã Hội Dân Sự ở
Việt Nam”, Hoàng Ngọc Giao nhận xét rằng mặc
dù Điều khoản 69 của Hiến Pháp cho phép
người dân tự do lập đoàn thể tổ chức, hoat
động của các tổ chức đoàn thể có thể bị
chính quyền ngăn cấm. Ông Giao
không có nghi ngờ gì về sự độc tài toàn trị
của chính quyền độc Đảng Việt Nam.
[36]
“Xã Hội Công Dân: Từ Triệt Tiêu Đến Phục
Hồi” của t/g Lữ Phương. Một phần của
bài này đã được chuyển sang Anh ngữ và đọc
tại hội thảo “Vietnam Update 1994: Đổi Mới,
Nhà Nước, và Xã Hội Công Dân” do Viện Nghiên
Cứu Đông Nam Á Thái Bình Dương thuộc ĐH Quốc
Gia Úc ở Canberra tổ chức, ngày 10-11 tháng
11 năm 2004. Chính quyền VN đã ngăn
cản không cho ông Lữ Phương tham dự buổi hội
thảo này.
[37]
Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực
Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang
121-122.
[38]
Trích dẫn bài viết “Bất Đồng Chính Kiến và
Đổi Mới Chính Trị tại Việt Nam, 1997 – 2002”
của t/g Carlyle A. Thayer.
[39]
Đoạn này được rút tỉa rất nhiều từ công
trình nghiên cứu của Bill Hayton, sẽ được
xuất hiện trong quyển sách sắp xuất bản của
ông, Một Việt Nam Mới (New Haven: NXB ĐH
Yale – Hoa Kỳ, 2009). Hayton là cựu
thông tín viên báo chí của đài BBC ở Hà Nội.
[40]
For the People’s Party (FPP)
[41]
Cụ Hoàng Minh Chính từ trần
ngày 7 tháng 2 năm 2008.
[42]
“Việt Nam: Đại Hội Đảng lần thứ 10 và sau
đó” của t/g Carlyle A. Thayer trong Các Vấn
Đề Đông Nam Á năm 2007, biên tập bởi Daljit
Sigh và Lorraine C. Salazar (Singapore: Viện
Nghiên Cứu ĐNA, 2007) trang 381-397.
Phần nói về Khối 8406 tiếp theo sau được rút
tỉa từ bài viết này.
[43]
“Việt Nam: Phong Trào Dân Chủ Đang Cất Cánh
bị Đe Dọa” của Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới,
ngày 10.5.2006.
[44]
“Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho VN năm 2006”,
ngày 8 tháng 4 năm 2006. 1 trong những
người ký tiên đã rút chữ ký của mình lại, và
có thêm 3 người nữa ký vào, nâng con số tổng
cộng lên thành 118.
[45]
14 vị LM Thiên Chúa giáo ở Huế đã đồng loạt
ký tên vào bản tuyên ngôn. Trong số 9
người từ Hà Nội có LS Nguyễn Văn Đài, nhà
bất đồng chính kiến Hoàng Minh Chính, 3 cựu
sĩ quan bộ đội (trong đó có cựu biên tập
viên của tạp chí Lịch Sử Quân Sự). Vợ
của hai nhà bất đồng chính kiến trong đó là
nhà văn và một giáo viên.
[46]
“Số Người Bất Đồng Chính Kiến Gia Tăng tại
Việt Nam” của t/g Matt Steinglass, tạp chí
Tiếng Nói Hoa Kỳ phát hành 16.10.2006.
[47]
“Tiếng Nói Bất Đồng Chính Kiến” của t/g Kay
Johnson, tờ Time Asia, 29.9.2006.
[48]
“Việt Nam Lo Ngại Trước Tiếng Nói Ủng Hộ Dân
Chủ Đang Ló Dạng”, đài Radio Free Asia,
26.9.2006.
[49]
Vai trò của ĐDCNDVN và Đảng
Vì Dân đã được nói đến trong phần trước. Có
thể cho rằng họ không phải là Đảng phái
chính trị đáng tin cậy tại ViệtNam vì nguồn
gốc lúc đầu ở hải ngoại. Nhưng trong
thời đại toàn cầu hóa với vai trò của các
cộng đồng không có uy tín này càng ngày càng
được xem như rất quan trọng, việc loại bỏ họ
vì lý do trên chỉ tùy người mà thôi.
[50]
Tài liệu về Đảng Việt Tân được trích từ bài
“Một bài viết về đảng Việt Tân” của t/g
Carlyle A. Thayer, BBC World Service,
4.5.07.
[51]
“Tổ chứng khủng bố phản động phủ bóng mờ lên
xã hội Dân Chủ” của Quốc Minh, Vietnam News
Service, 30.3.2007 và bài bình luận “Các
đoàn thể hải ngoại đi ngược lại chính sách
quốc gia”, đài Tiếng Nói Việt Nam, 2.4.2007.
[52]
“Phản hồi Lời Tố Cáo đảng Việt Tân của báo
chí ĐCSVN”, đảng Việt Tân, 1.4.2007.
[53]
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, đài truyền hình
ABC ở Úc Châu trình chiếu một buổi phỏng vấn
1 thành viên Việt Tân và tuyên bố rằng đây
là lần đầu tiên tổ chức này được công nhận
tại Việt Nam.
[54]
Abuza là một ngoại lệ. Tìm
đọc “Đối Lập Trung Thành: Sự Nổi Dậy
của các Nhà Bất Đồng Chính Kiến VN” của t/g
Zachary Abuza, tạp chí Harvard Asia
Quarterly (2000) và bài “Phục Hồi Chính Trị
trong XH Việt Nam Hiện Đại” của t/g Zachary
Abuza (Boulder: NXB Lynne Rienner, 2001).
[55]
"Truyền Thông và sự Xuất Hiện của một ‘Xã
Hội Công Dân’”, bài viết được đọc trước
[56]
3 mô hình khuôn mẫu cuối về thay đổi chính
trị được sử dụng bởi Samuel P. Huntington
trong Làn Sóng Thứ Ba: Tiến Trình Dân Chủ
Hóa Cuối Thế Kỷ 20” (Norman: ĐH Oklahoma –
HK, 1991) trang 109-163.
http://danchimviet.com/articles/1192/1/Vit-Nam-va-Th-Thach-Xa-Hi-Chinh-Tr-Dan-S-/Page1.html
|