TTXVN (Bắc Kinh 14/6)
 

Báo Trung quốc viết về tình hình kinh tế Việt Nam
 

Trong mấy ngày qua, một số tờ báo về kinh tế-thương mại và có tính tham khảo của Trung Quốc đã ra nhiều bài, tiếp tục thông tin về tình hình khó khăn của kinh tế Việt Nam, đề cập đến diễn biến, nguyên nhân, xu hướng và ảnh hưởng của tình hình này.

Tờ “Thương báo Quốc tế” ngày 11/6 có bài của phóng viên bản báo Lương Ý Nhàn (Liang Yixian) với nhan đề "Mây mù bao phủ bầu trời Việt Nam" và "Các doanh nghiệp Trung Quốc bị liên lụy", viết: "Những ngày gần đây, một nước Việt Nam nhỏ bé ở châu Á với GDP chỉ 70 tỷ USD đã trở thành tiêu điểm chú ý của toàn thế giới. Thị trường hối đoái, thị trường cổ phiếu đều treo đèn đỏ, thậm chí có nhà kinh tế học đã dùng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt nguồn từ Thái Lan năm 1997 để so sánh. Trong thời buổi hội nhập kinh tế toàn cầu ngày nay, là láng giềng có giao lưu kinh tế tương đối mật thiết với Việt Nam, Trung Quốc đã sớm nhận thấy "sự đập cánh" của biến động kinh tế ở quốc gia bên bờ Vịnh Hạ Long".

Bài báo viết về phản ứng của các doanh nghiệp Trung Quốc đối với tình hình kinh tế Việt Nam như sau: Hiện nay, tuyệt đại bộ phận doanh nghiệp vốn Trung Quốc đều ở trong trạng thái chờ xem tình hình đại thể, sách lược họ áp dụng là bằng mọi cách khống chế giá thành, kể cả giảm bớt nhân viên và doanh số. Một công ty Trung Quốc ở Hà Nội đã sa thải 70% nhân viên, 30% là người Trung Quốc, họ đã cơ bản về nước; 40% còn lại là người Việt Nam. Nhung các nhân viên Việt Nam cũng không có phản ứng gay gắt có tính tập thể đối với việc sa thải này, bởi vì họ cũng hiểu đây là do tình thế bắt buộc, doanh nghiệp không thể cưỡng lại được. Sa thải nhân viên cũng là việc bất đắc dĩ của doanh nghiệp.

Giám đốc công ty nói: "Công ty hiện nay chỉ có thể duy trì những hạng mục kinh doanh nhỏ nhất, ví dụ cung cấp một số dịch vụ cho các khách hàng quen. Nhu cầu thị trường hiện nay chỉ bằng 30% của cùng kỳ năm ngoái, mà thị trường còn đang thu hẹp thêm. Ngoài thực phẩm và nhu yếu phẩm đời sống, người ta đều rất ít mua những thứ khác, người có tiền thì càng có xu hướng đổi lấy USD hoặc Nhân dân tệ. Trái ngược với thị trường co hẹp là giá nguyên vật liệu phi mã, doanh nghiệp nếu tiến hành kinh doanh thì rất khó kiểm soát được giá thành".

Mà cho dù có cơ hội kinh doanh thì cũng rất nhiều doanh nghiệp không muốn làm. Bởi lẽ bán hàng ra thì thu về lại là tiền đồng Việt Nam, đổi không được, doanh nghiệp cứ như nắm trong tay một mớ giấy lộn. Bởi vậy, một số doanh nghiệp vốn Trung Quốc hiện nay đang ở trong tình trạng "chẳng làm ăn gì.”

Về sách lược tương lai, vị giám đốc này dự đoán cuộc "chao đảo" tài chính tiền tệ ở Việt Nam này e rằng sẽ kéo dài từ 2 đến 3 năm mới có thể dịu đi. Nếu tình hình này cứ tiếp diễn, kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu hẹp hơn nữa, nhân viên cũng sẽ giảm bớt thêm. Nếu thị trường tiêu điều lâu dài, thì chỉ có thể giữ lại rất ít nhân viên ngồi "trông coi" ở Việt Nam mà thôi.

Tuy nhiên, hiện nay khả năng các doanh nghiệp vốn Trung Quốc hoàn toàn rút vốn (khỏi Việt Nam) là tương đối nhỏ. Bởi vì trong giai đoạn Việt Nam tăng trưởng nhanh 2 năm trước, rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã đua nhau đến Việt Nam và đã mua nhà xưởng và thiết bị ở đây, chỉ riêng ngành dệt đã có khoảng 200 doanh nghiệp. Nhưng hiện nay giá nhà đất ở Thành phố Hồ Chí Minh đã sụt 50%, Hà Nội thì đỡ hơn, mà cũng sụt 20% doanh nghiệp rất khó rút đi toàn bộ trong tình thế này. Điều mà những doanh nghiệp vốn Trung Quốc lựa chọn lối đầu tư lâu dài cần làm trong lúc này là suy tính biện pháp ứng phó với khó khăn trước mắt.

- Tờ “Bắc Kinh Nhật Báo” ngày 14/6 có bài của phóng viên Thẩm Diễn Kỳ (Shen Yanqi) nêu ra hiện tượng ngày 13/6 thị trường chứng khoán Việt Nam đã lên điểm trở lại lần đầu tiên sau 25 ngày liên tiếp sụt điểm. Bài báo viết: Công ty Kim Sơn (một công ty vốn Trung Quốc) phân tích rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Việt Nam này, ảnh hưởng chủ yếu đối với các công ty vốn Trung Quốc là ở chỗ khó vay vốn, giá nguyên vật liệu lên cao và giá thành nhân công tăng. Chủ tịch Công ty Phần mềm Kim Sơn Cầu Bá Quân (Qui Bojun) nói: "Nghiệp vụ phần mềm của chúng tôi ở Việt Nam vừa mới bắt đầu, mọi cái đều bắt đầu từ con số không, bởi vậy mà khủng hoảng tiền tệ không gây ra ảnh hưởng thật lớn đối với chúng tôi". Cách nghĩ của công ty Kim Sơn thường ít thấy trong các công ty Trong Quốc đầu tư ở Việt Nam. Một số chuyên gia mậu dịch cũng cho rằng đối với những công ty vốn Trung Quốc đã phát triển ở Việt Nam và có được thực lực tương đối lớn thì không cần thiết phải vội vàng "rút lui". "Chúng ta cần phải đặc biệt chú ý đến các công ty đã tới Việt Nam đầu tư và lấy thị trường trong nước Việt Nam làm mục tiêu tiêu thụ sản phẩm, ủng hộ họ vượt qua cơn sóng gió này. Bởi vì sau khi cơn sóng gió qua đi, địa vị của những công ty còn trụ lại được ở đây sẽ được nâng lên rất mạnh, những doanh nghiệp nước ngoài lúc gian nan không vội rút đi sẽ nâng cao được rất lớn hình ảnh trong xã hội Việt Nam". Chuyên gia Viện Nghiên cứu Kinh tế Mậu dịch Đối ngoại Bộ Thương mại Trung Quốc Mai Tân Dục (Mei Xinyu) khẳng định như vậy.

- Tờ "Báo Tham khảo Kinh tế" của Tân Hoa xã ngày 13/6 đăng bài của phóng viên bản báo Lưu Chấn Đông (Liu Zhendong) với nhan đề "Lấy láng giềng làm gương, cảnh giác tiền nóng lại tràn vào Trung Quốc". Bài báo viết: Phần đông các nhà kinh tế học chú chốt cho rằng khả năng tình trạng “chao đảo tài chính tiền tệ" ở Việt Nam lan sang các nước xung quanh là không lớn, nhưng điều không thể phủ nhận là các nền kinh tế đang phát triển xung quanh cũng đang gặp phải tình hình tương tự ở Việt Nam, như là sức ép lạm phát lớn và có xu thế tăng lên, tiền nóng đổ vào quá nhiều, sức ép về tài sản cố định tăng lên, kiểm soát vĩ mô gặp khó khăn. Nếu những mâu thuẫn này không được xử lý có hiệu quả, thì cũng không loại trừ khả năng lớn rộng tình trạng "chao đảo tài chính tiền tệ" Việt Nam.

Về nguyên nhân tình trạng khó khăn tài chính tiền tệ ở Việt Nam, bài báo dẫn lời nhà phân tích thị trường chứng khoán Tiêu Ngạn Minh (Xiao Yanming) nói: Tình trạng này ở chừng mực rất lớn là hậu quả của chính sách kinh tế quá khích. Trước hết, trong điều kiện hệ thống ngân hàng tiền tệ không kiện toàn, dự trữ ngoại tệ ít, Việt Nam đã lại thu hút quá nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tổng lượng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hơi thấp, không bằng một nửa tổng mức nợ nước ngoài. Những chính sách gấp gáp thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho vốn nước ngoài ào ạt đổ vào Việt Nam đã gây tác động thúc đẩy lạm phát. Mà một khi vốn nước ngoài ồ ạt rút ra thì tình trạng chao đảo về tiền tệ là không thể tránh khỏi. Thứ hai là mở cửa thị trường vốn quá sớm. Sau khi gia nhập WTO năm 2006, Việt Nam đã mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thị trường vốn, tư bản nước ngoài được nắm tới 49% cổ phiếu của công ty tham gia thị trường chứng khoán. Vốn nước ngoài đã vào với khối lượng lớn đã trực tiếp đẩy cao giá tài sản của Việt Nam, và hình thành bong bóng thị trường. Sự sụt mạnh thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất hiện nay chính là sự nổ vỡ của những bong bóng đó. Vậy nhưng, sự lan tràn của vốn trôi nổi cũng là nguyên nhân chủ yếu của sự “chao đảo tài chính tiền tệ" Việt Nam. Đầu tư của Chính phủ Việt Nam quá nhiều, các khoản vay thời kỳ trước nhiều quá mức khiến cho vốn trôi nổi tràn lan trong nước, lại cộng thêm với giá lương thực quốc tế lên cao; giá xăng dầu lên mạnh và nhập khẩu quá mức, đã tạo thành lạm phát có tính nhập khẩu, hai hiệu ứng này dồn làm một đã tạo nên tình trạng hiện nay.

Nhà kinh tế học hàng đầu của Công ty Trung Kim Trung Quốc Cáp Kế Minh (Ha Jiming) cho rằng tuy không ít người trên thế giới tỏ ra lo lắng về sự phát triển của "khủng hoảng Việt Nam", nhưng tình hình cơ bản kinh tế châu Á vẫn ổn định, khả năng phát sinh khủng hoảng quy mô lớn tương đối thấp. Đa số nước châu Á có sổ dư tồn khoản thường xuyên lớn và dự trữ ngoại tệ lớn, có thể giảm bót ảnh hưởng của sự chạy vốn ra bên ngoài. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp qua kinh nghiệm cuộc khủng hoảng năm 1997 đã giảm mạnh mức nợ, hệ thống ngân hàng cũng lành mạnh hơn, nguy cơ khủng hoảng thứ cấp cũng không gây ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế mới nổi lên châu Á.. Bởi vậy, nếu có cá biệt nền kinh tế nào gặp sóng gió về tài chính tiền tệ thì năng lực chống trả của các nền kinh tế khác cũng mạnh hơn hồi năm 1997.

Cáp Kế Minh cho rằng kinh tế Trung Quốc và kinh tế Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn. Từ năm 2004 bắt đầu điều chỉnh đến nay, kinh tế Trung Quốc đã phát triển chậm hơn. Ngoài ra, do độ mở cửa nhận vốn nước ngoài không lớn, tỷ lệ vốn nước ngoài tại thị trường chứng khoán Trung Quốc không lớn, mà đã được điều chỉnh. Thị trường nhà đất cũng đang từng bước được điều chỉnh. So với năm 1997, lĩnh vực tài chính ngân hàng tiền tệ Trung Quốc đã được mở cửa hơn nhiều, điều này sẽ giảm thấp nguy cơ đối với Trung Quốc. Ví dụ, ngân hàng đã đổi cơ chế và gia nhập thị trường chứng khoán, khiến cho năng lực kiểm soát nguy cơ của ngân hàng tăng mạnh; sự cải cách về chính sách ngoại hối khiến cho tỷ giá hối đoái đồng Nhân dân tệ gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Nhà phân tích thị trường chứng khoán Trung Quốc Tào Tuyết Phong (Cao Xuefeng) cho rằng gần đây thị trường lo ngại một số nước như Thái Lan, Ấn Độ xuất hiện tình hình như Việt Nam, dự kiến sẽ hoặc đã có khối lượng lớn tiền nóng chạy từ những nước này ra, và có thể chảy vào Trung Quốc; việc dự trữ ngoại tệ Trung Quốc tăng mạnh gần đây có thể liên quan đến việc này, hướng chảy nữa là vào các nước phát triển Âu-Mỹ, vào các thị trường hàng hóa chủ yếu.

Giáo sư Đại học Tài chính-kinh tế Trung ương Trung Quốc Quách Điền Dũng (Guo Tianyong) cho rằng tuy về thực lực kinh tế và kiểm soát vĩ mô, Việt Nam không thể bì được với Trung Quốc, nên nguy cơ khủng hoảng đối với Trung Quốc nhỏ hơn nhiều, nhưng Trung Quốc cũng phải rút ra bài học từ tình hình kinh tế tài chính ở Việt Nam, phải cảnh giác về việc đồng Nhân dân tệ lên giá quá nhanh sẽ thu hút nhiều tiền nóng đổ vào Trung Quốc, công phá an ninh của hệ thống tài chính tiền tệ Trung Quốc. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cao đang gia tăng sức ép lạm phát đối với Trung Quốc, trong tình hình này cần đề phòng nguy cơ do sự lên giá quá nhanh của đồng Nhân dân tệ gây ra.

Tờ “Thương báo Quốc tế” Trung Quốc ngày 13/6 đăng bài của phóng viên Trần Tiểu Tam (Chen Xiaosan) nhan đề: "Vì sao Kinh tế Việt Nam bệnh nặng như vậy" dẫn ý kiến của Phó Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Lý luận và Chính sách tiền tệ Viện Tài chính Tiền tệ thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Dương Đào (Yang Tao) cho rằng có 4 căn nguyên dẫn đến bệnh trạng của kinh tế Việt Nam:

Nguyên nhân thứ nhất là mức độ dựa vào bên ngoài về kinh tế quá cao. Nhà hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam tiếp thu quá mức "nhận thức chung Oasinhtơn", dẫn đến tính dựa dẫm vào bên ngoài của kinh tế Việt Nam quá nặng. Một quan điểm cốt lõi của "nhận thức chung Oasinhtơn" là cổ vũ các nền kinh tế mới nổi lên xây dựng chiến lược phát triển loại hình hướng ra xuất khẩu, mà không cần xây dựng hệ thống kinh tế toàn diện. Lâu nay, cán cân thanh toán quốc tế mất cân bằng đã làm khó cho Việt Nam, đổi mới mở cửa năm 1986 đã một dạo làm giảm thấp thâm hụt mậu dịch của Việt Nam, nhưng từ sau năm 1993 lại tiếp tục xấu đi. Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, "nhận thức chung Oasinhtơn" bị đa số các nước mới nổi lên cự tuyệt; song lại được Việt Nam tiếp nhận ở mức độ nhất định, đã xác lập thêm một bước chiến lược kiểu hướng ra xuất khẩu. Tuy điều này khiến cho kinh tế Việt Nam phát triển rất nhanh, nhưng trong hoàn cảnh quốc tế mới hiện nay, đã lại một lần nữa diễn biến thành nhân tố bất lợi.

Do việc công nghiệp hóa trong nước Việt Nam không đủ sức cạnh tranh của doanh nghiệp tương đối yếu, những sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao rất ít, chủ yếu dựa vào xuất khẩu dầu thô, gạo, hàng thủy sản, cà phê, than. Đồng thời, việc xây dựng trong nước đòi hỏi nhiều máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, phần lớn chỉ dựa vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu. Trong quá trình này, giá trị xuất khẩu thấp hơn nhiều so với giá trị nhập khẩu, trên chừng mực nhất định đã chứng tỏ thất bại của chiến lược hướng ra xuất khẩu. Năm 2007, thâm hụt mậu dịch Việt Nam là 12,4 tỷ USD, chiếm 17% GDP, 5 tháng đầu nắm 2008 thâm hụt mậu dịch của Việt Nam đã lên tới 14,4 tỷ USD.

Nguyên nhân thứ hai là chính sách tài chính khó bền vững. Một mặt, những năm gần đây mục tiêu cải cách "chính phủ tinh gọn" của Việt Nam rõ ràng hơn, không những coi trọng sự tinh giản cơ cấu Đảng và Chính phủ, mà còn tăng tốc cải tạo chế độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, giống như Trung Quốc hồi thập kỷ 1980, sự "trao quyền nhường lợi" này đã khiến cho tỷ trọng thu nhập tài chính trong GDP giảm xuống. Mặt khác, tài chính trung ương dùng để xóa đói giảm nghèo không ngừng tăng lên, và thông qua chiến lược phát triển hàng thay thế nhập khẩu để bù đắp sự bất cập của sự hướng ra xuất khẩu, Chính phủ còn cần phải đầu tư lớn về xây dựng công cộng để tăng thêm sức hấp dẫn đối với vốn nước ngoài. Như vậy, lâu dần, tài chính Chính phủ sẽ khó kham nổi, chỉ có thể dựa vào vay nợ để đảm bảo. Năm 2007, thâm hụt tài chính Việt Nam đạt 5 tỷ USD, tổng quy mô nợ chính phủ chiếm 36,5% GDP.

Nguyên nhân thứ ba là thị trường tài chính tiền tệ hời hợt. Bước đi mở cửa tài chính tiền tệ tăng nhanh trở thành con dao hai lưỡi cho sự phát triển của Việt Nam. Từ khi gia nhập WTO đầu năm 2007, mức độ phát triển tài chính tiền tệ Việt Nam không ngừng nâng cao, ngành ngân hàng và thị trường vốn đều gấp gáp "chào mời" bên ngoài. Trên thực tế, để bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, Việt Nam luôn dựa vào tăng nhanh tự do hóa hạng mục vốn và mở cửa về tài chính ngân hàng để thu hút vốn nước ngoài. Như vậy, trong tình hình cơ sở kinh tế còn mỏng yếu, năng lực giám sát quản lý tài chính ngân hàng tiền tệ còn chưa đủ, đã làm tăng thêm những nhân tố không ổn định trong nền kinh tế.

Có một điều là như các nền kinh tế mới nổi lên khác, Việt Nam cũng một thời chìm đắm trong "ảo giác về giá cả tài sản”, thị trường cổ phiếu và thị trường nhà đất tăng vọt, dường như có nghĩa là sự ra đời của một cường quốc mới về tiền tệ và tài sản, song rút cục thì lại chỉ là một giấc mộng ảo. Điều nữa là "tiền nóng” càng dễ gây nên sóng gió, ngoài những vốn đầu cơ từ Âu-Mỹ, e rằng phần nhiều hơn là luồng vốn ngắn hạn đến từ các nước châu Á, từ đó trợ giúp cho sự xuất hiện hiện tượng hời hợt "xe qua núi" của thị trường tiền tệ Việt Nam.

Nguyên nhân thứ tư là thiếu sự hợp tác tài chính tiền tệ với bên ngoài. Việt Nam tuy luôn mưu cầu nhanh chóng hội nhập hệ thống kinh tế thế giới, nhưng lại có phần trì trệ về mặt tham gia sự hợp nhất tài chính tiền tệ khu vực, điều này có lẽ là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 còn chưa đem lại nỗi đau thấm thía cho Việt Nam. Việt Nam tuy đã tham gia “Sáng kiến Chiengmai" năm 2000 nhưng lại chưa ký kết bất kỳ hiệp định trao đổi tiền tệ song phương nào nhằm đề phòng khủng hoảng tiền tệ, chỉ năm nay mới đạt được ý đồ hợp tác với Nhật Bản. Từ đó xem ra, điều khác biệt với các nước châu Á khác là thiếu sự hợp tác tài chính tiền tệ với bên ngoài, khiến cho Việt Nam mất đi "mạng lưới an toàn" để duy trì niềm tin thị trường, năng lực ứng phó với sự công phá của tiền tệ ngắn hạn bị thấp kém.

Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc gần đây đưa ra báo cáo nghiên cứu trong đó kiến nghị rằng do Việt Nam đến nay chưa hề ký kết bất cứ hiệp định trao đổi tiền tệ song phương với nước nào, nên cần thiết phải có biện pháp đặc biệt giúp đỡ, kiến nghị 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN hiệp thương riêng rẽ sắp xếp các khoản cho vay ngắn hạn đối với Việt Nam.

Báo cáo này chỉ ra rằng cái mà Việt Nam đang gặp phải hiện nay chỉ là "khủng hoảng tiền trôi nổi" có tính tạm thời, chứ không phải "khủng hoảng vốn không trả nổi nợ” có tính lâu dài. Cộng thêm với việc đại bộ phận các nền kinh tế châu Á vẫn giữ được thặng dư mậu dịch và có dự trữ ngoại tệ dồi dào (đến tháng 4/2008 có 4.310 tỷ USD), nên cuộc khủng hoảng Việt Nam lần này chính là cơ hội tốt để thúc đẩy hợp tác tiền tệ châu Á. Theo số liệu thị trường Việt Nam cần có sự hỗ trợ cho vay từ 30 đến 50 tỷ USD, cho Việt Nam vay khoản tiền này đối với các nước Đông Nam Á khác nào "góp một thùng nước để loại trừ một cuộc hỏa hoạn tiềm tàng, vừa có lợi cho sự phồn vinh ổn định của châu Á, vừa có thê làm tăng tình đoàn kết của châu Á”.

Tờ “Thương báo Quốc tế” ngày 14/6 đăng bài của của Bình luận viên Thanh Vân (Quing Yun) với đầu đề "Khủng hoảng Việt Nam không thể xem thường", viết: Việt Nam trong những năm gần đây quy mô chi tài chính tương đối lớn, bởi vậy, Việt Nam đã đi vào con đường của chính sách tiền tệ mở rộng. Mà căn nguyên của sự dễ đổ vỡ về tài chính của Chính phủ là ở chỗ quy mô đầu tư quá lớn, cũng là ở chỗ bù trợ không xác đáng, trong đó có sự bù trợ về giá năng lượng, nhất là bù trợ về giá dầu thành phẩm đặc biệt nổi bật, sự bù trợ này không chỉ khiến cho tài chính phải trả giá lớn, mà còn vi phạm nguyên tắc về hiệu quả kinh tế và công bằng, làm tăng nguy cơ tiềm tàng về khủng hoảng tiền tệ. Không chỉ Việt Nam, mà cả Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia cũng đều tồn tại vấn đề này, thậm chí còn nghiệm trọng hơn Việt Nam. Ấn Độ, Inđônêxia sở dĩ bị không ít người, trong đó có tác giả, đưa vào trong danh sách khủng hoảng tiềm tàng, một phần nguyên nhân chính là ở đó.

Tờ “Nhân Dân Nhật Báo - Hải ngoại" Trung Quốc ngày 14/6 có bài của phóng viên bản báo Dương Tử Nham (Yang Ziyan) nhan đề "Thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam chao đảo", viết: "Mùa hè năm 1997, vốn trôi nổi quốc tế tiến công ồ ạt vào đồng Bạt Thái Lan, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lan rộng nhanh chóng ở châu Á. Giờ đây 11 năm sau đó, cảnh tượng tương tự ở Việt Nam hiện nay lại khiến người ta sửng sốt".

Về nguyên nhân tình cảnh ở Việt Nam, với tiêu đề "Sai lầm về chính sách và đầu cơ quốc tế", bài báo viết: "Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lần này, Chính phủ Việt Nam khó thoát khỏi liên lụy. Để kích thích kinh tế phát triển, Chính phủ Việt Nam ra sức thu hút lớn đầu tư nước ngoài, nhưng lại không muốn tài sản bị mất mát lớn, cho nên ra sức nâng đỡ các doanh nghiệp nhà nước làm lớn làm mạnh, đảm bảo cho họ có được các khoản vay lãi thấp, kết quả là dẫn đến chính sách cho vay tiền tệ lỏng lẻo quá mức, đầu tư quá lớn, kinh tế quá nóng khó bề kiềm chế".

Thực ra ngay từ đầu tháng 3/2007, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã cảnh báo với Việt Nam về về nguy cơ của thị trường chứng khoán, nhưng Việt Nam đã không áp dụng biện pháp gì cả. Cuối năm ngoái, giá năng lượng và lương thực đều tăng cao, lúc đó Chính phủ Việt Nam đã muốn khống chế quy mô đầu tư, kiềm chế kinh tế quá nóng, tránh lạm phát và khủng hoảng tài chính tiền tệ, kinh tế, nhưng để giữ được "thành quả cải cách" của mình, họ đã thiếu quyết đoán về vấn đề này, bỏ lỡ cơ hội tốt, dẫn đến không kiểm soát nổi lạm phát.

Ngoài ra, những hành vi đầu cơ quốc tế cũng làm tăng cuộc khủng hoảng này. Những năm gần đây Chính phủ Việt Nam mở cửa quá nhanh tài khoản vốn nước này, trần vốn bên ngoài cho công ty tham gia thị trường chứng khoán được nâng lên tới 49%, do tích lũy vốn quốc dân Việt Nam có hạn, nên nhân tố chủ yếu thúc đẩy giá tài sản tăng lên là vốn trôi nổi đến từ bên ngoài. Dưới sức ép lạm phát ngày càng nghiêm trọng, vốn trôi nổi bên ngoài lợi dụng cục diện lạm phát đã thực hiện "chiến thuật máy rút tiền" ở thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán: Nếu Chính phủ Việt Nam bỏ mặc đồng tiền Việt Nam mất giá, thì tiền nóng quốc tế có thể có được lợi nhuận trên thị trường ngoại hối. Nếu Chính phủ Việt Nam giữ vững chính sách tỷ giá hối đoái và lãi suất, thì lạm phát sẽ tiêu hao lớn doanh lợi doanh nghiệp, thì rút cổ phiếu cũng có thể kiếm lời.

Có một số người cho rằng Việt Nam sẽ sa vào vết xe đổ của cuộc khủng hoảng đồng Bạt Thái Lan năm 1997. Nhưng cũng có người có quan điểm ngược lại, cho rằng do mức độ mở cửa của Việt Nam còn tương đối thấp, cho nên sự mất giá của đồng tiền Việt Nam không phải do sự rút vốn khối lượng lớn dẫn đến, mà là do lạm phát, mọi người đều đem đồng tiền Việt Nam đi đổi lấy USD hoặc những đồng tiền khác để giữ lấy giá trị, tất nhiên sẽ gây ra sự mất giá lớn của đồng tiền nước này. Cho nên vấn đề chủ yếu của Việt Nam là lạm phát, chứ không phải khủng hoảng tài chính tiền tệ.

Người sáng lập Quỹ Lượng tử (Quantum Funds), nhà thương nghiệp lớn Soros cho rằng hầu như có rất ít người Việt Nam đầu tư ở bên ngoài, cho nên thị trường chứng khoán Việt Nam ảnh hưởng đến bên ngoài rất ít. Ngoài ra, cũng có nhà phân tích cho rằng các nước châu Á sau khi trải qua cuộc khủng hoảng năm 1997 đã tăng cường năng lực phòng ngừa khủng hoảng. Mà đa số nước và khu vực đều có số dư tài khoản thông thường lớn và dự trữ ngoại tệ phong phú, hệ thống ngân hàng cũng từng bước được hoàn thiện, có thể giảm thấp ảnh hưởng của sự chảy máu tư bản. Cho dù Việt Nam thúc sự xuất hiện khủng hoảng, các nước châu Á khác cũng có thể ứng phó được với ảnh hưởng của nó.

- Tờ “Tin điện Tân Hoa hàng ngày” của Tân Hoa xã, và tờ "Tin tức Tham khảo” cũng của Tân Hoa xã ngày 14/6 đã đăng bài của phóng viên Tân Hoa xã tại Hà Nội Hoàng Hải Mẫn (Huang Haimin) trong đó nhận xét dân chúng Việt Nam vẫn tương đối bình tĩnh trước tình hình khó khăn hiện nay, "thị trường hiện vẫn phồn vinh, hàng hóa cung ứng đầy đủ, vẫn chưa thấy làn sóng tranh mua hàng hóa nào; người dân địa phương phổ biến cho rằng lạm phát gây cho họ nhiều khó khăn bất lợi, song khó khăn này chỉ là tạm thời. Bài báo đã nêu ra 12 biện pháp của Chính phủ Việt Nam nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm dân sinh và tăng trưởng bền vững; dẫn lơi Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận định rằng khả năng xảy ra khùng hoảng tiền tệ ở Việt Nam hết sức nhỏ bé, và phê phán dư luận bên ngoài chỉ nhìn vào hiện tượng bề mặt để đưa ra những nhận định sai về kinh tế Việt Nam./.


Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn Xã Việt Nam ngày 19/6/2008.