“think
tank”
Trần Hải Hạc
Trong
Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 - Nhật ký
thời bao cấp
(bản 2009, sẽ viết tắt TDKT) và
'Phá rào' trong kinh tế vào đêm trước Đổi
mới (bản 2009, sẽ viết tắt PR),
nhà sử học kinh tế Đặng Phong tạo tính độc
đáo khi vận dụng khái niệm phương Tây « think
tank » để phân tích diễn biến tư duy của
Đảng cộng sản Việt Nam từ kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Tác
giả mở đầu Tư duy kinh tế Việt Nam
với chương nhập đề « Những think tank
xưa và nay », rồi trong lần tái bản đã khai
triển phần « think tank ở các nước xã
hội chủ nghĩa » và thêm tiểu tựa « think
tank về kinh tế Việt Nam » [TDKT,
tr. 32 và tiếp theo]. Trong Phá rào,
chương kết luận (xem
tại đây) nhắc lại đặc điểm của
think tank trong thể chế của Việt Nam và
các nước xã hội chủ nghĩa [PR, tr.
480-481].
1. Trong bối cảnh của Việt Nam, thuật
ngữ think tank được tác giả dùng để
chỉ vai trò của đội ngũ chuyên gia và trợ lý
đối với lãnh đạo chính quyền. Vai trò này
không phải là không quan trọng, nhưng nó
được thực hiện bằng con đường « không chính
thức, bán công khai », theo phương pháp luận
« Ý tứ chuyên gia, qua lời lãnh đạo ». Nó
biểu hiện rõ nét ở cả hai khâu : hình thành
ý tưởng, với việc cung cấp thông tin cho
lãnh đạo; và thể hiện ý tưởng, với việc soạn
thảo văn bản của lãnh đạo. Rồi khi chuyên
gia đưa được ý tưởng của họ vào văn kiện của
Trung ương hoặc vào bài phát biểu của lãnh
đạo thì họ có thể trích lại chính câu đó, và
thêm mệnh đề « nghị quyết... đã khẳng định
rằng... » hoặc « đúng như đồng chí... đã
nói... » [TDKT, tr. 40-41].
Tư
duy kinh tế Việt Nam nhấn mạnh vai trò
của các trợ lý và chuyên gia trong sự « phản
tỉnh » năm 1983 của Trường Chinh (lúc ấy là
chủ tịch nước) khi thâm nhập thực tế, và sự
hình thành của ê-kíp tư vấn (Hà Nghiệp, Lê
Văn Viện, Trần Đức Nguyên, Đào Xuân Sâm...)
đã chuẩn bị và soạn thảo phát biểu của ông,
từ bước « bứt phá về tư duy đầu tiên » tại
Hội nghị Trung ương 6 năm 1984 (với bài phát
biểu trái ngược bản báo cáo chính trị của
tổng bí thư Lê Duẩn) cho đến báo cáo chính
trị của Đại hội VI năm 1986 được viết lại
(sau khi Lê Duẩn qua đời) trong tinh thần
« nhìn thẳng vào sự thật và dám nói lên sự
thật. » [TDKT, tr. 259 và tiếp; 268
và tiếp; 302 và tiếp]. Ngoài ra, phải nói
đến sáng kiến của Nguyễn Cơ Thạch, từ đầu
thập niên 80, đã thành lập ở bộ ngoại giao
những tổ nghiên cứu, dịch thuật, đào tạo, có
kết hợp chuyên gia Việt kiều và cả chuyên
gia phương Tây. Song, táo bạo nhất là các
sáng kiến của Võ Văn Kiệt, từ cuối những năm
70, đã khuyến khích hình thành tại Thành phố
Hồ Chí Minh nhiều nhóm nghiên cứu « bán
chính thức » tập hợp chuyên gia cao cấp và
chuyên viên của chế độ Sài Gòn cũ (Nguyễn
Xuân Oánh, Nguyễn Văn Diệp, Nguyễn Văn
Hảo...) và tổ chức chính thức « Văn phòng
kinh tế của bí thư Thành ủy » do Nguyễn Xuân
Oánh đứng đầu ; những nhóm nghiên cứu bán
chính thức này (nhóm Nguyễn Xuân Oánh, nhóm
chuyên viên kinh tế Thứ Sáu, Câu lạc bộ giám
đốc...) đã duy trì hoạt động và tiếp tục góp
ý kiến với Võ Văn Kiệt khi ông lên làm bộ
trưởng và phó thủ tướng [TDKT, tr.
180 và tiếp; 331 và tiếp]. Và đến khi trở
thành thủ tướng, Võ Văn Kiệt trực tiếp tổ
chức, năm 1992, « Tổ tư vấn về cải cách kinh
tế và cải cách hành chính », qui tụ chuyên
gia thuộc nhóm tư vấn của Trường Chinh (Trần
Đức Nguyên giữ trách nhiệm thường trực),
hoặc những nhóm nghiên cứu ở Thành phố Hồ
Chí Minh và người Việt ở nước ngoài (Trần
Quốc Hùng, Trần Văn Thọ, Vũ Quang Việt) ; về
sau, Tổ tư vấn được tổ chức lại thành « Ban
nghiên cứu của Thủ tướng », khi Ban tổ chức
Trung ương không cho phép có thành viên Việt
kiều (trở thành cộng tác viên) .
2. Về các sự kiện nói trên, bộ sách
của Đặng Phong cung cấp nhiều thông tin hữu
ích. Vấn đề là vận dụng khái niệm phương Tây
think tank vào đây có xác đáng hay
không ? Ở các nước phương Tây − như tác giả
ghi nhận -, think tank có đặc điểm là
« độc lập với hệ thống các cơ quan nhà
nước ». Nó là tổ chức nghiên cứu tư nhân,
đưa ra những giám định và đề xuất công khai
về chính sách của nhà nước, « nhưng không
trực tiếp dự thảo các chính sách ». Nó có
thể nhận đơn đặt hàng của cơ quan nhà nước,
song kết quả nghiên cứu của nó « có thể
trùng hợp, nhưng cũng có thể hoàn toàn khác
ý đồ của người đặt hàng » [TDKT, tr.
32]. Trong khi đó, theo Đặng Phong, « think
tank ở các nước xã hội chủ nghĩa » là cơ
quan đảng và nhà nước có tính chất nội bộ và
khép kín. Hoạt động nghiên cứu của nó bị hạn
chế trong khuôn khổ của những định hướng và
huý kỵ từ cấp trên đưa xuống, cho nên « hầu
như không có nhà kinh tế nào có thể đưa ra
những nhận xét độc lập của cá nhân, nhất là
những phát hiện khoa học có tính chất phê
phán đối với thiếu sót, sai lầm trong đường
lối kinh tế » [TDKT, tr. 34]. Ở Việt
Nam, « khái niệm think tank của Lê
Duẩn » chỉ nhóm người được ông huy động để
« chủ yếu là nghe ông nói và sau đó thể hiện
bằng lời văn những tư tưởng của ông ». Một
trong những người được huy động đó, Trần
Việt Phương, kể lại trong Tư duy kinh tế
Việt Nam
cuộc đối thoại thực giữa hai tổng bí thư
Việt Nam và Liên Xô: « Khi Lê Duẩn sang dự
đại hội đảng cộng sản Liên Xô, Brejnev kể
với ông rằng để chuẩn bị cho đại hội này,
phải huy động hàng trăm viện nghiên cứu,
hàng nghìn nhà khoa hoc của nhiều lĩnh
vực. Lê Duẩn liền nói với Brejnev rằng :
'Còn tôi chỉ cần có mấy chú thư ký thôi' » [TDKT,
tr. 77-78]. Nếu thực tế lịch sử quả như Đặng
Phong ghi chép thì từ think tank sử
dùng ở đây có còn ý nghĩa gì không ?
Năm 1986
− theo tác giả - là năm « nở rộ của các
think tank » : trong hệ thống đảng và
nhà nước, xuất hiện hàng loạt những tổ,
những nhóm, những tiểu ban nghiên cứu các
vấn đề cấp bách và có tính chiến lược. Một
không khí tương đối cởi mở, dân chủ hơn thổi
như một luồng gió trong hoạt động tư duy
kinh tế : « Phương pháp làm việc là tự do
ngôn luận, không áp đặt trước những định
hướng, sau đó đúc kết. Những gì kết luận
được thì thì kết luận. Những gì chưa kết
luận được thì tiếp tục nghiên cứu, thảo
luận » [TDKT, tr. 288]. Điều mà Đặng
Phong không nói − có thể vì công trình khảo
cứu của ông ngừng ở năm 1989 - là không khí
thông thoáng nói trên không kéo dài được bao
lâu. Chính vào năm 1989, Nguyễn Văn Linh -
người đã hô hào « cởi trói » trí thức,
« phát huy tự do tư tưởng, tranh luận, thẳng
thắn, dân chủ » [TDKT, tr. 338-339] -
cũng là người dập lại cánh cửa của tự do
ngôn luận và dân chủ trong thảo luận. Rồi từ
đó đến các đại hội đảng tiếp theo, những
vùng cấm kỵ mỗi lần lại mở rộng thêm và, đối
với đội ngũ nghiên cứu trong các cơ quan
đảng và nhà nước, các lĩnh vực được phép
tranh luận công khai cứ thu hẹp dần. Đến đại
hội sau cùng (Đại hội X), khi Nguyễn Tấn
Dũng trở thành thủ tướng, một trong những
quyết định đầu tiên của ông là giải thể Ban
nghiên cứu của thủ tướng được Phan Văn Khải
duy trì cho đến năm 2006. Một sáng kiến khác
của Võ Văn Kiệt, Trung tâm nghiên cứu Saigon
Times (STR), thành lập ở Thành phố Hồ Chí
Minh cuối năm 2007 − do chính ông làm chủ
tịch danh dự và gồm 45 chuyên gia ở trong và
ở ngoài nước -, bị buộc phải chấm dứt hoạt
động chỉ ba tháng sau khi ra đời.
Sau cùng
là quyết định 97 năm 2009 của thủ tướng cấm
tổ chức tư nhân hoạt động nghiên cứu ngoài
danh mục các lĩnh vực mà chính phủ cho phép
(chẳng hạn như kinh tế vĩ mô không nằm trong
danh mục đưa ra), đồng thời cấm tổ chức
nghiên cứu tư nhân công bố công khai ý kiến
phản biện đường lối, chính sách của đảng và
nhà nước (chỉ được chuyển những ý kiến đó
đến cơ quan có thẩm quyền). Quyết định này
của Nguyễn Tấn Dũng nhắm vô hiệu hóa − nếu
không nói là hình sự hóa - hoạt động của
Viện nghiên cứu phát triển (IDS - do Nguyễn
Quang A làm viện trưởng), là tổ chức nghiên
cứu chính sách duy nhất ở Việt Nam có qui
chế tư nhân, được thành lập năm 2007 trong
khuôn khổ của luật về khoa học và công nghệ.
Tập hợp nhiều trí thức đầu đàn (Hoàng Tụy,
Phan Huy Lê, Phan Đình Diệu, Chu Hảo, Nguyên
Ngọc...) và nhiều thành viên của Ban nghiên
cứu thủ tướng trước đây (Phạm Chi Lan, Lê
Đăng Doanh, Tương Lai, Trần Đức Nguyên, Trần
Việt Phương, Nguyễn Trung...), Viện nghiên
cứu phát triển đã ra tuyên bố « tự giải thể
để biểu thị thái độ dứt khoát » với một
quyết định mà nó cho là « không phù hợp với
thực tế khách quan của đất nước », là « trái
với nghị quyết của đảng và vi phạm pháp luật
của nhà nước », là « phản khoa học, phản
tiến bộ, phản dân chủ » (xem
Tuyên bố ngày 14.9 2009 của IDS).
3. Kinh nghiệm của IDS và Quyết định
97 của Nguyễn Tấn Dũng càng làm rõ câu hỏi
đặt ra cho công trình sử học của Đặng Phong
khi nó sử dụng khái niệm think tank
vào điều kiện của Việt Nam. Trước tiên, cần
trở lại định nghĩa của thuật ngữ này. Trong
Tư duy kinh tế
Việt Nam
và Phá rào, từ think tank được
dùng để chỉ những nhóm tư vấn cung cấp ý
tưởng cho lãnh đạo chính quyền. Nếu nội dụng
quả đơn giản như vậy thì người đọc không thể
hiểu vì sao lại cần dùng đến một từ ngữ
phương Tây để chỉ định nó. Think tank,
thật ra, chỉ một định chế đặc thù của những
xã hội trong đó có sự tách biệt giữa nhà
nước và xã hội dân sự. Chính xác hơn,
think tank là một định chế thuộc xã hội
dân sự (định chế tư), độc lập với hệ thống
nhà nhà nước (một cơ quan như Hội đồng tư
vấn kinh tế của tổng thống Hoa Kỳ không thể
gọi là think tank). Tuy là nghiên cứu
và giám định chủ trương, chính sách của nhà
nước, nhưng đối tượng trực tiếp của think
tank không phải là nhà nước, mà xã hội
dân sự : hoạt động của think tank
nhằm trước hết là tạo ra công luận và, từ
đó, tác động đến người làm ra chính sách.
Cho nên hoạt động của think tank
không chỉ là sản xuất ra ý kiến và đề nghị,
mà còn là công bố công khai những ý kiến và
đề nghị đó trong xã hội. Có thể nói rằng
think tank khác với các nhóm tư vấn cung
cấp ý tưởng cho lãnh đạo chính quyền ở hai
điều : quy chế của nó là tư nhân, độc lập
với chính quyền (dù nó có thể cùng quan
điểm, lập trường với chính quyền), và hoạt
động của nó là công khai, hướng tới công
luận. Ở Việt Nam, nơi xã hội dân sự đang
thành hình, thành lập think tank như
IDS trở thành đòi hỏi khách quan của xã hội.
Cho nên có thể khẳng định rằng quan điểm của
Quyết định 97 là phản động, theo nghĩa nó
xuất phát từ một ý muốn - nhưng cũng là ảo
tưởng - có thể ngăn chặn chiều hướng tiến
triển của nhận thức khoa học và của dân chủ
trong xã hội Việt Nam.
Nếu cho
khái niệm
think tank nội dung đúng của nó thì có
thể kết luận rằng : trước IDS, Việt Nam chưa
hề có think tank ; và sau IDS, Việt
Nam không thể có think tank khi nào
Quyết định 97 còn tồn tại. Tái bản năm 2009,
Tư duy kinh tế
Việt Nam
mở đầu với bài « Nhân đọc cuốn Tư duy kinh
tế Việt Nam » của Trần Phương trong đó người
từng làm viện trưởng viện Kinh tế và phó thủ
tướng nhận định : « Nếu tiếp tục tìm tòi,
tranh luận theo kiểu ấp úng, né tránh, kiêng
kỵ như mấy thập kỷ vừa qua thì không biết
đến bao giờ chúng ta mới tiếp cận được chân
lý. Phải có những nhóm nghiên cứu, những
diễn đàn, những câu lạc bộ, những think
tank với tinh thần cởi mở, chỉ lấy chân
lý làm trọng, không kiêng kỵ, không cho phép
bất cứ ai lên giọng dạy đời, chụp mũ »
[TDKT,
tr. 17-18]. Điều rõ ràng là từ
think tank sử dụng ở đây chỉ sự mong
đợi, chứ không phải là hiện thực, và càng
không thể là một hiện thực của lịch sử Việt
Nam gần đây. Ở điểm này, công trình sử học
kinh tế thật lý thú của Đặng Phong như để
lại cho người đọc cảm nhận về một cái gì đó
sai niên đại.
Trần Hải Hạc