Cập
nhật: 15:10 GMT - thứ
tư, 12 tháng 10, 2011
Tổng Bí
thư Đảng cộng sản Việt Nam
Nguyễn Phú Trọng hiện đang
có chuyến thăm chính thức 5
ngày (11/10-15/10) tới Bắc
Kinh.
Ngay
trong ngày đầu tiên 11/10, ông
Trọng cùng Chủ tịch Trung
Quốc Hồ Cẩm Đào đã chứng
kiến việc ký kết một loạt
văn kiện, trong đó có Thỏa
thuận các nguyên tắc cơ bản
giải quyết các vấn đề trên
biển.
Tháp
tùng ông tổng bí thư Việt
Nam là một đoàn đại biểu,
mà theo nhận định của nhà
nghiên cứu Trung Quốc Dương
Danh Dy, thuộc loại hùng hậu
nhất từ trước tới nay.
Ông Dy,
người từng phục vụ lâu năm
trong ngành ngoại giao và
từng giữ chức Tổng lãnh sự
Việt Nam tại Quảng Châu, đã
nói chuyện với BBC từ Hà
Nội.
Chuyên gia Dương Danh Dy:
Đoàn Tổng bí thư Nguyễn Phú
Trọng đi Trung Quốc lần này
trong bối cảnh quan hệ hai
bên đang có nhiều căng thẳng.
Đài
Hoàn Cầu của Trung Quốc
trước chuyến đi của ông
Trọng đã mượn lời bản tin
của Nhật Bản phát đi các
chi tiết như, không giống
người tiền nhiệm Nông Đức
Mạnh, ông Nguyễn Phú Trọng
lên tổng bí thư 10 tháng rồi
mới thăm Trung Quốc, trong khi
ông Mạnh chỉ nhậm chức có
bốn tháng đã đi Bắc Kinh.
Rồi họ
cũng nói ông Mạnh đi Trung
Quốc là nước đầu tiên, trong
khi ông Trọng chọn đi Lào
rồi mới đi Trung Quốc vv...
Dường
như họ muốn nói cho người
dân trong nước biết, ông
Trọng không phải nhân vật
được hoan nghênh như ông Nông
Đức Mạnh.
Một
điều nữa, là nhìn vào
thành phần đoàn thì tôi cho
là từ khi tôi vào ngành
ngoại giao tới nay, chưa bao
giờ tôi chứng kiến một đoàn
đi Trung Quốc mà thành phần
đông đảo và cao cấp như lần
này.
Trong
đoàn có tới bốn ủy viên Bộ
Chính trị, kể cả ông Nguyễn
Phú Trọng, 11 ủy viên Trung
ương Đảng. Rồi tuy là đoàn
của Đảng, nhưng về phía
chính phủ có một phó thủ
tướng và đại diện của bảy
bộ bao gồm sáu bộ trưởng
và một thứ trưởng.
Về phía
Trung Quốc, thì họ cũng
tiếp đón một cách hùng hậu
tương tự. Kể cả ông Hồ Cẩm
Đào, họ cũng có bốn ủy
viên Bộ Chính trị đón tiếp
đoàn, ba ủy viên Quốc vụ
viện, rồi cả ba bộ trưởng
ngoại giao, công an, quốc
phòng đều có mặt.
Không
phải tự dưng mà hai bên lại
bố trí thành phần như vậy,
mỗi bên chắc chắn đầu có ý
đồ.
Ý đồ
của phía Việt Nam, theo tôi
khá rõ, là muốn cho thấy
đây là chuyến đi đông đảo
của tập thể, chứ không phải
chuyến đi của riêng một ông
tổng bí thư.
BBC: Thưa ông,
trong ngày đầu hai bên đã ký
thỏa thuận về các nguyên
tắc giải quyết vấn đề trên
biển. Theo ông, liệu thỏa
thuận này có mang tính đột
phá gì hay không ạ?
Chuyên gia Dương Danh Dy:
Gọi là đột phá thì cũng
hơi mạnh quá, vì chúng ta
thấy trong chuyến đi này hai
bên đã ký tổng cộng sáu văn
kiện, hiệp định, mà thỏa
thuận về các vấn đề trên
biển chỉ là một.
Tuy
nhiên, cần phải nói là các
văn kiện đã ký phần lớn
đều không có mấy tính thực
chất, thí dụ không có các
điều khoản cụ thể như đầu
tư bao nhiêu vào đâu, cho vay
bao nhiêu tiền vv... Nói về
quan hệ hữu hảo, rồi 16 chữ
vàng bốn tốt thì lâu nay hai
bên đều nói rất nhiều rồi.
Do vậy,
nhận định chủ quan của tôi
là hình như người ta đã
phải gói rất nhiều chủ đề
vào để làm cho chủ đề nóng
bỏng nhất, gây tranh cãi
nhất (Biển Đông) bớt gay gắt
đi.
Trong
thời gian vừa qua, hai bên
đều thấy nếu không có một
sự giải quyết dứt khoát
thì vấn đề Biển Đông chắc
chắn sẽ bùng nổ.
Muốn hay
không muốn, điều này sẽ
không có lợi cho cả hai
nước, nhất là Trung Quốc vì
từ sau vụ Bắc Kinh cắt cáp
tàu Bình Minh của Việt Nam
hồi tháng Sáu, dư luận thế
giới và khu vực đều tỏ ra
chỉ trích Trung Quốc.
Thêm vào
đó, cũng từ tháng Sáu dư
luận trong nước Việt Nam tỏ
ra bức xúc, nhiều cuộc biểu
tình chống Trung Quốc nổ ra,
báo chí lề phải cũng bắt
đầu được nói về những mặt
trái, phê phán Bắc Kinh...
nên lãnh đạo Trung Quốc nhận
thức được rằng nếu cứ để
tình hình như vậy thì sẽ
rất bất lợi, họ buộc phải
tìm cách thỏa thuận, ngăn
chặn.
Tôi cho
thỏa thuận đó là cái được
nhất của chuyến đi này.
Thế
nhưng tôi muốn nhắc lại
chuyện lịch sử, là hồi năm
1978 trước khi có cuộc chiến
tranh biên giới phía Bắc, ông
Tổng bí thư Lê Duẩn cũng
dẫn một đoàn sang Bắc Kinh
đàm phán. Hai bên cũng nói
chuyện hữu nghị, đoàn kết,
nhưng rút cục tháng Hai năm
1979, Trung Quốc họ vẫn đánh
Việt Nam.
Thế cho
nên giải quyết vấn đề Biển
Đông dần dần như thế là
được, nhưng vẫn phải cảnh
giác, đừng tưởng là chuyện
Biển Đông như thế là xong
được.
BBC: Có một
chi tiết chúng tôi hơi tò
mò, là báo chí chính thống
khi nói về chuyến thăm chỉ
nói đây là 'chuyến thăm
chính thức', chứ không dùng
chữ 'chuyến thăm hữu nghị'
như lệ thường. Liệu chúng ta
có nên bình luận gì về
điều này hay không, thưa ông?
Chuyên gia Dương Danh Dy:
Vâng, nhận xét đó
khá chính xác. Tôi muốn nói
là trước đó báo chí Trung
Quốc, như Tân Hoa Xã, khi đưa
tin về chuyến thăm của ông
Nguyễn Phú Trọng, cũng không
dùng cụm từ 'hữu nghị'.
Chỉ thế
là nói lên nhiều điều rồi,
tôi xin miễn bình luận
(cười).
RFI
12-10-11
Thỏa thuận Việt Trung về Biển Đông : Một bước tiến bị hoài nghi
Trọng Nghĩa
Về hình thức, chuyến công du Trung Quốc của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang lại một “kết quả” thấy rõ. Bắc Kinh cam kết giải quyết tranh chấp Biển Đông với Hà Nội một cách hòa bình. Việc hai bên ghi lại trên giấy trắng mực đen các nguyên tắc hướng dẫn đàm phán, được giới phân tích xem là một tiến bộ. Thế nhưng, căn cứ vào tiền lệ thường thấy liên quan đến vấn đề Biển Đông là lời hứa không đi đôi với việc làm, giới phân tích vẫn dè dặt về hiệu quả thực thụ của thỏa thuận.
Trả lời phỏng vấn nhanh của Ban Việt ngữ RFI về bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” được hai thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc ký kết ngày hôm qua, 11/10/2011, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) trước tiên ghi nhận rằng thỏa thuận này là một bước tiến mới trong tiến trình đàm phán Việt Trung về biên giới :Thỏa thuận nguyên tắc chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp trên biển [giữa Việt Nam và Trung Quốc] đã được mong đợi từ lâu. Vào năm 2008 hai bên đã đồng ý tiến tới thỏa thuận này, và bảy cuộc gặp song phương đã được tổ chức từ năm 2010. Việc loan báo rằng thỏa thuận đã đạt được là một bất ngờ, nhưng rõ ràng là cả hai bên đều muốn trình bày một “thành quả” cụ thể nhân chuyến công du đang diễn ra của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Trung Quốc.
Cho dù thỏa thuận vừa ký kết chỉ mang tính nguyên tắc, tuy nhiên, theo giáo sư Thayer, điểm yếu đầu tiên của văn kiện này là tính chất mơ hồ về thời gian, không quy định thời hạn cho việc tiến hành đàm phán.
Trong thực tế, Trung Quốc và Việt Nam đã từng đạt được một thỏa thuận có tính chất tương tự trong quá trình dẫn đến việc phân định biên giới trên đất liền của họ. Một cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng của hai nước đã ấn định một thời hạn, và sau đó thỏa thuận về biên giới trên bộ đã đạt được. Nhưng không có dấu hiệu cho thấy là hội nghị thượng đỉnh Việt Trung lần này sẽ quy định ra một thời hạn tương tự cho việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa hai bên.
Về mặt nội dung, thỏa thuận Việt - Trung về Biển Đông, theo giáo sư Thayer, đã để ngỏ rất nhiều câu hỏi mà phải có thêm thời gian mới có đáp án. Một trong những câu hỏi là thái độ của Bắc Kinh sẽ như thế nào nếu Hà Nội vẫn tiếp tục thăm dò và khai thác những vùng mà Trung Quốc đòi chủ quyền. Đề nghị mà Trung Quốc thường đưa ra là đồng khai thác trước, trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề chủ quyền, cũng vẫn là một bài toán khó giải quyết :
Thỏa thuận nguyên tắc thể hiện cho một bước tiến, nhưng đó là một bước tiến quan trọng hay không, đó là điều vẫn còn chưa rõ ràng. Các bằng chứng sẽ chỉ được thấy trong những tháng sắp tới đây. Liệu Việt Nam và Trung Quốc có sẽ thực sự khai trương một lĩnh vực nào đó trong số các địa hạt hợp tác được gợi lên hay không ? Nếu có, thì đó sẽ là một dấu hiệu tích cực. Mặt khác, liệu Trung Quốc có sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của họ trên Biển Đông và lên tiếng phản đối khi Việt Nam ký hợp đồng với các công ty dầu hỏa nước ngoài hay không ?
Vấn đề hợp tác đồng khai thác cũng đã được đề xuất từ lâu. Điều này chỉ có thể xúc tiến được nếu cả hai bên đồng ý trên một điều khoản theo đó việc cùng nhau khai thác phát triển không làm phương hại đến các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên. Ngoài ra, Việt Nam sẽ phải cẩn thận xem xét khu vực được chọn để làm nơi đồng phát triển. Khu vực đó không được quyền ảnh hưởng đến một bên thứ ba. Trong vấn đề này, Việt Nam cũng phải chú ý xem là việc chia sẻ dầu khí sẽ được thực hiện trên cơ sở bình đẳng hay là Trung Quốc sẽ dành phần lớn ?
Sau cùng, theo giáo sư Thayer, ngay cả việc thỏa thuận Việt Trung nhắc đến vấn đề lấy Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 làm cơ sở cho các cuộc thương thảo cũng đặt ra nhiều nghi ngại, vì lẽ cho đến nay, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không tuân thủ đầy đủ văn kiện này :
Việc nêu lên giá trị của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển bề ngoài có vẻ rất tốt. Tuy nhiên, cả Trung Quốc, Việt Nam lẫn Philippines đều tuyên bố chủ quyền dựa trên những đường cơ sở quá rộng, vốn không phù hợp với luật pháp quốc tế. Các đường cơ sở đó tạo thành nền tảng của việc phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế.
Sẽ là một bước tiến quan trọng nếu tất cả các bên đều đồng ý vẽ lại các đường cơ sở của mình sao cho phản ánh đúng luật pháp quốc tế. Còn vào lúc này, việc viện dẫn Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển chỉ mang tính chất hình thức mà thôi.