|
Vietnam as Asia's first domino (Asia Times, 10-2-10)
Liệu Việt Nam có trở thành quân đô-mi-nô đầu tiên
của Châu Á?
Bản dịch của Tqvn2004
Nhờ có sự tài trợ thiếu hụt khổng lồ của chính phủ, năm ngoái Việt Nam đã thành công hơn so với các quốc gia ngang tầm trong khu vực, với tăng trưởng GDP 5,5%. Để chống lại sự suy thoái kinh tế toàn cầu, chính phủ đã cam kết các gói kích thích kinh tế vĩ đại chiếm tới 8% GDP. Mặc dù chưa tới nửa số tiền hứa hẹn được giải ngân, chi tiêu trong ngân sách và cho vay ngoài ngân sách của ngân hàng nhà nước đã đẩy nền kinh tế qua khỏi cuộc khủng hoảng toàn cầu. Với dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, chính quyền do Đảng CS lãnh đạo đã đưa những dấu hiệu rằng họ sẽ chấm dứt kích thích kinh tế và trở lại con đường phát triển dựa trên xuất khẩu. Nhưng vì không có sự phối hợp chính sách giữa các bộ ngành nhà nước và doanh nghiệp, niềm tin vào khả năng chính phủ có thể kiểm soát lạm phát càng bị bào mòn, tới một mức đáng kể làm mất hiệu lực các nỗ lực từ trung ương nhằm chấm dứt áp lực lên tiền Đồng và thị trường bất động sản quá nóng. Việc ngắt kết nối giữa mệnh lệnh trung ương và sức đề kháng ngoại biên đã tỏ rõ cuối năm ngoái khi nhiều ngành công nghiệp hướng xuất khẩu từ chối không bán USD [mà họ thu được] theo tỷ giá chính thức của ngân hàng nhà nước. Cho đến tháng 10, tỷ giá chính thức và tỷ giá trợ đen đã chênh nhau 9%, và khoảng cách đó đã khiến chính phủ quyết định vào tháng 11 là phá giá tiền Đồng 5% bằng cách tăng biên độ tỷ giá. Ngay cả với lần phá giá đó, các nhà phân tích tài chính quan sát tình hình nói rằng vẫn còn khoảng cách là 5% giữa tỷ giá chính thức và chợ đen. Một yếu tố thúc đẩy sự biến dạng là việc trợ giá lãi suất của nhà nước, được thực hiện vào năm ngoái như một phần của gói kích thích kinh tế để cổ vũ cho vay trong nước nhiều hơn. Chính sách đó đã chính thức làm giảm lãi suất cho vay từ 10% xuống 6,5%, và tạo ra một khối lượng cho vay khổng lồ trị giá 24 tỷ USD, hay gần 23% GDP. Theo Standard & Poor's, một công ty đánh giá tín dụng, thì tăng trưởng tín dụng (loan growth) tính theo năm của Việt Nam tăng lên 37%. Các nhà phân tích tài chính nói rằng, bởi vì các doanh nghiệp nhà nước và công ty tư nhân trong lĩnh vực hướng xuất khẩu - nơi đã nhận được lượng tín dụng khổng lồ kia - hầu như không có nhu cầu sử dụng vốn để hoạt động, do đó họ đã đem phần lớn số tiến quay vòng vào thị trường chứng khoán trong nước. Đồng tiền "dễ dàng" này đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành thị trường hoạt động tốt nhất thế giới trong nửa đầu năm 2009; và nó tụt xuống đáng kể vào nửa sau. Các nhà phân tích tài chính và phân tích nợ nước ngoài không biết rõ bao nhiêu trong số 24 tỷ USD cho vay năm ngoái đã mất vào đầu cơ chứng khoán. Kim Eng Tan, một nhà phân tích nợ nước ngoài và tài chính công tại Standard & Poor's, đã bày tỏ quan ngại ban đầu của mình về tăng trưởng tính dụng 37% của năm ngoái. Ông nói rằng bảng cân đối tài chính của các ngân hàng lớn Việt Nam trông có vẻ "tạm được" vào cuối năm 2008, nhưng rằng "chúng ta cần phải xem chúng thay đổi thế nào sau cơn sóng cho vay mới rồi". Từ góc nhìn của chính phủ, những khoản tiền "dễ dàng" kia nhằm giải quyết tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt vào thời điểm các ngành xuất khẩu cần nhiều sức lao động đã phải đối mặt với sự gần như sụp đổ của thương mại toàn cầu. Các lãnh đạo của Đảng Cộng Sản rõ ràng muốn tránh sự bất ổn xã hội như năm 2008, khi lạm phát vượt quá 25% và tình trạng người lao động đình công nở rộ cả trong doanh nghiệp nước ngoài lẫn địa phương khắp cả nước. Lạm phát phi mã cũng góp phần vào thiếu hụt tài khoản tài khoản vãng lai (currency account deficit) khi các công ty tích trữ trong ho hàng đống hàng nhập khẩu để đợi bán ra ăn chênh lệch. Sự đánh mất quyền kiểm soát kinh tế đã dẫn tới việc giảm quyền lực của Thủ tướng theo xu hướng tự do hóa, ông Nguyễn Tấn Dũng, người mà một số nhà phân tích ước tính rằng đã chỉ né được cú sụp đổ do siêu lạm phát nhờ sự tụt dốc của kinh tế toàn cầu và sự tụt giá các mặt hàng cơ bản đi kèm. Một số nhà phân tích tin rằng phe bảo thủ trong Đảng có thể sẽ thắng thế trong Đại hội Đảng XI vào tháng Một 2011. Carlyle Thayer, một chuyên gia về Việt Nam tại Học Viện Quốc Phòng Úc, chỉ ra những báo cáo nói rằng phe bảo thu trong Đảng đã yêu cầu ông Dũng từ chức trong cuộc họp Ban chấp hành Trung Ương Đảng năm 2008, vì cách điều hành nền kinh tế được cho là không đúng cách của ông này. Sự khác biệt về chính sách giữa phe bảo thủ và phe tự do hóa nằm ở tốc độ và phạm vi hội nhập nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam, và ảnh hưởng của sự hội nhập tới ổn định trong nước và khả năng kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế, ông Thayer cho biết. "Phe bảo thủ tìm cách duy trì quyền lực độc đảng, duy trì trật tự và ổn định, và sự kiểm soát của nhà nước trong các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế, mà họ coi là "những con bò sữa" của mình", Thayer viết trong một bức email trao đổi với tờ Asia Times. "Ví dụ rõ ràng là tiến trình cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh đã chững lại. Những người [như ông Dũng] muốn thúc đẩy hội nhập toàn cầu hơn nữa lại muốn bàn tay vô hình của thị trường đóng vai trò quan trọng hơn." Trong khi chương trình tự do hóa tài chính và kinh tế rộng rãi của ông Dũng vẫn lăn bánh, có dấu hiệu cho thấy rằng các yếu tố bảo thủ đang tác động gây ảnh hưởng nhiều hơn vào quản lý kinh tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã yêu cầu các ngân hàng nhỏ, vốn góp phần vào tạo lạm phát qua việc cho vay mạnh tay trong năm 2008, phải tăng gấp ba vốn của họ từ nay cho tới cuối năm, nếu không sẽ phải đóng cửa. Chính phủ cũng ra lệnh đóng tất cả các tiệm giao dịch vàng trong cả nước - một hạn chế sẽ có hiệu lực đầy đủ vào tháng Ba nhằm mục đích ngăn cản việc bán tháo tiền Đồng đổi lấy vàng.
Áp lực và biến dạng Những thử nghiệm kỹ trị mới đang nổi lên với dấu hiệu của lạm phát, thâm hụt thương mại tăng cao và áp lực duy trì tiền Đồng khỏi mất giá trước một đồng Đô-la đang yếu đi trên toàn cầu. Ngay cả với việc phá giá tiền Đồng 5% tháng 11 năm ngoái, và nâng lãi suất cơ bản từ 10% lên 12%, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân vẫn tiếp tục giữ đô-la thay vì chuyển sang đồng, cho thấy trong nước thiếu niềm tin vào khả năng hoặc ý chí của ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát lạm phát. "Ngân hàng trung ương cần phải gửi một tín hiệu khá gay gắt tới thị trường rằng nó sẵn sàng bảo vệ tỷ giá tiền tệ, rất có thể bằng cách tiếp tục nâng lãi suất lên cao hơn", ông Sriyan Pietersz, người đứng đầu nhóm nghiên cứu tại JP Morgan ở Bangkok, đã nói. "Nếu làm như thế, họ có nguy cơ đánh mất luồng vốn FDI [vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp] tiềm năng do một đồng tiền không vững vàng." Một lượt trái phiếu trị giá 1 tỷ USD đã được bán thành công tới các nhà đầu tư nước ngoài vào tháng Một năm nay, nhưng các nhà phân tích nói con số đó chưa đủ để giảm bớt áp lực mới đang đặt lên tiền Đồng. Tiền Đồng có thể sẽ tạm thời thoát hiểm do ngoại hối gửi về vào dịp Tết, nhưng nhiều nhà phân tích tin rằng Ngân hàng Nhà nước cần phải tăng lãi suất ít nhất thêm 3% để tạo ra một kiểu thuế trừng phạt trong nước dành cho những ai đổi đồng sang đô-la.
Bất chấp sự kiểm soát tiền tệ, doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ
lượng ngoại hối thanh toán bằng đô la có trị giá ước tính khoảng 10
tỷ USD. Đáng chú ý là, họ gần đây đã phản kháng lại một thông tư do
chính phủ ban hành nhắm vào 10 doanh nghiệp nhà nước, bao gồm Tập
đoàn Dầu Khí Việt Nam, Tập đoàn Than Khoáng Sản, Tổng công ty Hóa
Chất Việt Nam, yêu cầu các doanh nghiệp này bán đô-la nắm giữ để lấy
tiền Đồng. Trong khi Việt Nam rõ ràng sao chép phản ứng tài chính đặc biệt của Trung Quốc trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Hà Nội lại tương đối thiếu khả năng kiểm soát từ trên xuống mà Bắc Kinh có để phanh các chương trình kích cầu của mình một cách quyết đoán hơn. Và như trò chơi kéo co trong tỷ giá hối đoái cho thấy, các doanh nghiệp nhà nước lớn của Việt Nam thường được điều hành sở thích cá nhân của các đảng viên cao cấp của Đảng CS, và có đủ ô dù để thách thức những chỉ thị từ trung ương. Một số nhà phân tích biện hộ rằng họ yên lòng hơn khi thấy các doanh nghiệp nhà nước vốn thua lỗ lâu nay, bây giờ đã nghĩ tới việc ưu tiên "kiếm lợi" hơn là giải quyết nhiệm vụ "xã hội" mà chính phủ giao phó. Đối với một số khác, điều này càng làm rõ sự thiếu minh bạch và trách nhiệm đã diễn ra từ lâu của các doanh nghiệp nhà nước lớn, và đặt ra những câu hỏi mới đáng lo lắng về việc những khoản vay trị giá hàng tỷ đô-la họ nhận được năm ngoái đã được dùng để làm gì? Việc cho vay có sự khuyến khích của nhà nước vào năm ngoái đã được dồn sang đầu cơ thị trường chứng khoán bây giờ biến thành một máy bơm tốc độ cao thúc đẩy giá cả tiêu dùng, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh. Điều rõ ràng hơn cả là Việt Nam vẫn thiếu sự phối hợp chính sách có hiệu quả giữa các bộ ngành chính phủ và doanh nghiệp tại thời điểm mà người quản lý kinh tế cần chứng tỏ cho thị trường rằng mình quyết tâm duy trì ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô. Sự thiếu kiểm soát cũng đưa ra những câu hỏi về cách điều hành chắp vá của ngân hàng trung ương trong vụ lạm phát gia tăng năm 2008, và khả năng kỹ trị của nó trong việc giảm bớt áp lực lạm phát đang nổi lên hiện nay, bao gồm cả thị trường bất động sản. Pietersz của JP Morgan nói rằng các cấp chính quyền có liên quan là những người "rất thông minh và quyết tâm", nhưng vẫn còn "vừa làm vừa học" trong việc quản lý nền kinh tế. Những người khác nói rằng họ không rõ liệu chính quyền, vốn đang có sự chia rẽ trong nội bộ, có đủ ý chí trính trị để rút lại các biện pháp kích thích kinh tế năm ngoài - vào thời điểm đấu tranh dành quyền lực chính trị hướng tới Đại hội Đảng năm tới. "Xét cho cùng, chính phủ không thể đóng cửa nền kinh tế hoàn toàn... nhưng kỳ vọng lạm phát sẽ phải được giữ lại ở một mức nào đó", ông Tan của Standard & Poor's nói. "Nếu lạm phát quá cao trong một thời gian dài, đó có thể là một điểm yếu nghiêm trọng." Một nhà phân tích thuộc một ngân hàng đầu tư Châu Âu ước tính ngày "phán xét cuối cùng" của Việt Nam là "không thể tránh khỏi do chính phủ bất lực trong việc tăng doanh thu", và quốc gia này sẽ phải đối mặt với nhiều lần "phá giá chấn động" cho tới khi ngân hàng trung ương được phép độc lập hơn khỏi những gánh nặng của Đảng. Bất chấp áp lực gần đây lên tiền Đồng, Tan nói Việt Nam không có dấu hiệu của "một cuộc khủng hoảng tiền tệ cổ điển" bởi vì "vay mượn bên ngoài vẫn nằm trong vòng kiểm soát" và "FDI vẫn đổ vào nhiều". Không giống như các quốc gia say sưa nợ nầm bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-98, gánh nặng nợ nần của Việt Nam là khá khiêm tốn bởi vì nó được tạo phần lớn bởi các khoản nợ dài hạn, ít rủi ro và mang tính ưu đãi. Tuy nhiên, khi mà sự chỉ trích của thị trường đối với các khoản tài chính công đang gia tăng ở Châu Âu, đánh giá rủi ro giữa các quốc gia Châu Á sẽ được quyết định ngày càng nhiều bởi nhận thức của nhà đầu tư về việc chính phủ quản lý và chi tiêu các biện pháp tài chính gần đây như thế nào. Người dân trong nước đã chứng tỏ rõ ràng họ mất lòng tin vào sự quản lý của chính phủ và lịch sử cho thấy cách nhìn của nước ngoài thường trễ hơn, nhưng sẽ theo các gợi ý của người bản xứ tại các thị trường mới nổi lên có độ rủi ro. Khi nỗi sợ hãi một nạn dịch tài chính do chính phủ tạo ra ở Châu Âu, Việt Nam dường như là ứng cử viên hàng đầu cho một cuộc khủng hoảng niềm tin diễn ra song song ở Châu Á. Shawn W. Crispin là biên tập viên khu vực Đông Nam Á của tờ Asia Times Online. Độc giả có thể liên hệ với ông qua email: swcrispin@atimes.com |