Liệu việc tái cơ cấu này có phải là liều
thuốc trị đúng căn bệnh của Vinashin hay
không và chính phủ phải làm gì tiếp theo sau
đó để rà soát lại hiệu quả thật sự của các
tập đoàn kinh tế hiện nay?
Được nhà nước ưu
đãi
Những tập đoàn kinh
tế nhà nước từ trước tới nay vẫn đựơc báo
chí dùng những cụm từ hết sức ấn tượng như
“anh cả đỏ” hay “quả đấm thép” hoặc “xương
sống của quốc gia”... để chỉ sức mạnh tuyệt
đối của chúng trong nền kinh tế thị truờng
nhưng lại định hướng theo xã hội chủ nghĩa
mà Việt Nam vẫn quyết tâm theo đuổi trong
nhiều chục năm qua. Những con số lớn lao về
doanh thu của các tập đoàn này được báo cáo
trước quốc hội hàng năm đã làm nhiều người
an tâm cho sức mạnh của những cỗ xe tập đoàn
đang kéo nền kinh tế Việt Nam.
Thế nhưng phía sau
các con số ấy là những dấu hỏi rất lớn mà
các chuyên gia kinh tế đặt ra, và sự phân
tích chi tiết của họ có thể làm cho người
lạc quan nhất phải giật mình. Các tập đoàn
kinh tế Việt Nam hoạt động dưới cơ chế được
chính phủ giao quyền tự chủ cho ban quản trị
tập đoàn. Cụ thể là chế độ tài chính hiện
nay cho phép Chủ tịch ban quản trị được
quyền sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu
tư vào các mục đích mà tập đoàn này muốn.
Lợi nhuận sau thuế
của các tập đoàn rất lớn, đặc biệt là những
tập đoàn chuyên khai thác tài nguyên thô của
đất nước như dầu mỏ hay than đá. PetroVN và
Tập đoàn Than Khoáng sản VN là hai tập đoàn
không hề do năng lực tự thân mang lại mà chỉ
đơn thuần ngồi yên thu tiền từ tài nguyên
quốc gia. Hai tập đoàn này khai thác chính
sách tài chánh để đầu tư dàn trải trên rất
nhiều khu vực khác và tiền lệ này được các
tập đoàn nhỏ hơn theo sau mà không bị bất cứ
quy định nào của chính phủ trói buộc,
Vinashin là một thí dụ.
Không có nguồn lợi
trực tiếp từ tài nguyên thô nên Vinashin
phải trông cậy vào những yếu tố ưu đãi của
nhà nước. Vinashin trong những bước đầu
tương đối thành công nhờ năng lực và sức
sáng tạo của công nhân lành nghề trong lĩnh
vực đóng tàu. Thay vì phát triển thế mạnh
này Vinashin lại chạy theo các đàn anh trong
lĩnh vực đầu tư vào tài chánh, bất động sản,
dịch vụ...và hậu quả là sau 5 năm ngắn ngủi,
con tàu Vinashin đang tiến dần tới tảng băng
mà con tàu nổi tiếng thế giới Titanic đụng
phải vào năm 1912.
Tảng băng trước mũi
Vinashin này đang được nhà nước nỗ lực phá
vỡ bằng biện pháp chẻ nhỏ ra làm nhiều mảnh,
giao lại cho PetroVN và Vinaline, là hai tập
đoàn hiếm hoi tương đối vững vàng hiện nay.
Liệu những món nợ mà nhà nước giao cho
PetroVN và Vinaline có làm nhẹ gánh cho
Vinashin để nó có thể chuyển hướng tránh
tảng băng phá sản đang trôi về mũi của nó
hay không. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia
nghiên cứu kinh tế tài chánh cho biết ý kiến
của ông về biện pháp tái cơ cấu của nhà
nước, giống như đập băng cứu tàu:
Tôi rất ngạc nhiên
về quyết định tái cơ cấu đó. Một quyết định
tái cơ cấu thường phải dựa trên sự phân tích
hết sức sâu sắc về kinh tế, về kỹ thuật, về
công nghệ và về các mối liên quan. Trước đây
đã có hai lần hoãn phái đoàn thanh tra về
Vinashin, bây giờ thì lại có quyết định tái
cơ cấu. Vinashin chia làm ba và trong đó
chuyển cho Vinaline, PetroVN.
Hiện nay người ta
chưa thấy được cơ sở pháp lý cũng như các
vấn đề chuyển nợ, gán nợ. PetroVN nhận nợ
bao nhiêu, và Vinaline nhận nợ bao nhiêu là
chưa rõ ràng. Bởi vì rất có thể PetroVN đã
cho Vinashin vay rất nhiều và sẽ coi như các
doanh nghiệp đó gán nợ và không sẵn sàng
lãnh nhận thêm các món nợ mà họ không tự gây
ra. Cho nên đây là một vấn đề cần phải tiếp
tục được theo dõi và dư luận hiện nay đang
rất quan tâm theo dõi.
Chữa cháy không
đúng chỗ
Quốc hội Việt Nam đã
biết rất rõ sự tuột dốc của Vinashin. Chính
phủ cũng biết rất rõ điều này khi đơn thưa
của các nạn nhân tập đoàn này liên tiếp gửi
vào văn phòng thủ tướng. Quốc hội không đủ
sức mạnh để các câu hỏi của mình được chính
phủ tôn trọng còn chính phủ thì lại do dự và
được tư vấn sai lạc tiếp tục nuôi dưỡng
Vinashin với các biện pháp chữa cháy không
đúng chỗ. Biết Vinashin mang quá nhiều mối
nợ không trả nổi nhưng Thủ tướng chính phủ
cũng đặt bút bảo lãnh cho tập đoàn này được
phép bán trái phiếu cho ngoại quốc trị giá
750 triệu đô la để Vinashin tiếp tục hoạt
động.
Động thái ưu ái này
một lần nữa khiến Vinashin và nhiều tập đoàn
khác cảm thấy sự quan trọng của chúng và
càng mạnh tay hơn vung tiền vào các dự án
không liên quan gì đến chức năng được chính
phủ giao cho. Vai trò chủ đạo của các doanh
nghiệp nhà nước vẫn được chính phủ lặp đi
lặp lại và báo chí theo đó cổ võ một cách
nhiệt tình. Nhà nước đứng ra làm kinh tế có
gì bất ổn hay không, và có thật vai trò của
các tập đoàn quan trọng đến nỗi nhà nước
phải tập trung tất cả nguồn lực quốc gia cho
họ. TS Nguyễn Quang A, một nhà nghiên cứu
độc lập, nguyên viện trưởng viện IDS nói:
Thực sự đây là một
vấn đề thuộc về nhận thức rất sâu sắc cần
phải thay đổi. Nguồn lực của quốc gia không
nhất thiết phải thuộc về nhà nước. Khi nhà
nước đứng ra làm kinh tế tức là có những
doanh nghiệp riêng của mình và được ưu ái
nên tôi nghĩ rằng đây là cách làm không tốt.
Những nguồn lực ấy nếu cải tổ một cách hợp
lý thì nhà nước không mất đi một đồng xu nào
cả. Vẫn là tài sản của nhà nước.
Tôi lấy thí dụ,
khi một doanh nghiệp được bán đi hoặc cổ
phần hóa một cách triệt để thì tài sản đó
của nhà nước chuyển thành tiền và số tiền
đấy thu về kho bạc của nhà nước và nhà nước
có thể sử dụng tài sản ấy dùng vào những
việc như phát triển giáo dục, y tế hay hạ
tầng cơ sở. Trong khi đó doanh nghiệp họ
hoàn toàn tự chủ, làm công việc kinh doanh
của họ. Đấy là cách mà tôi cho rằng hữu hiệu
hơn cách nhà nước trực tiếp điều khiển.
Việc thành lập các tập đoàn của nhà nước
được TS Lê Đăng Doanh nhìn nhận còn nhiều
bất cập và thiếu tính khoa học:
Việc thành lập tập
đoàn là một thí điểm mà đã là thí điểm thì
về mặt khoa học mà nói thì là thì nghiệm có
giới hạn về không gian, thời gian với các
điều kiện nhất định. Sau đó được đánh giá để
lượng định mô hình đó có thể sử dụng và mở
rộng hay không. Cho đến nay, quá trình thí
điểm đó đã diễn ra sáu năm và được thực hiện
với quy mô rất lớn mà không thấy có đánh giá
gì các cơ chế, khung pháp luật hoạt động của
các tập đoàn.
Trong nhiều năm về
trước, nhà nước gom các công ty quốc doanh
trong đó có không ít công ty từng thất bại,
để thành tập đoàn. Thủ tướng chính phủ chỉ
định một nhóm đảng viên vào các chức vụ quan
trọng, lãnh đạo tập đoàn như lãnh đạo một tổ
chức đảng. Với cách làm này nhiều chuyên gia
kinh tế độc lập cho là sai lầm vì không tận
dụng đựơc khả năng lãnh đạo thật sự của
người am hiểu về kinh tế. Hai nữa vì thiếu
giai đoạn gây dựng và phát triển nguồn vốn
cũng như nhân lực, các tập đoàn quốc doanh
không thể tự đứng trên đôi chân của mình mà
luôn phải nhờ vào các ưu đãi của nhà nước.
Cái gốc của vấn đề này được TS Nguyễn Quang
A chia sẻ:
Chừng nào đảng
Cộng sản Việt Nam vẫn còn xem kinh tế nhà
nước phải giữ vai trò chủ đạo. Rồi kinh tế
nhà nước phải là kinh tế tập thể thì tôi
nghĩ cái gốc của nó không thể giải quyết và
các vấn đề tương tự cũng sẽ còn lập lại.
Quay trở lại với sự
sụp đổ của Vinashin, liệu tác động của nó có
thể gây hiệu ứng domino hay một cuộc khủng
hoảng dây chuyền cho nền kinh tế Việt Nam
hay không TS Nguyễn Quang A đưa ra nhận xét:
Tôi không nghĩ
rằng cái việc đổ vỡ của Vinashin sẽ kéo theo
một cuộc khủng hoảng. Thật sự đây là một bài
học cần phải nghiên cứu một cách hết sức
thấu đáo và có những thay đổi tận gốc rễ về
tư duy thì sẽ làm cho sự phát triển của đất
nuớc tốt hơn lên, hiệu quả hơn lên.
Nếu vì một lý do
chính trị mà không thể buông tay đối với tập
đoàn thì trong thời gian tới, liệu nhà nước
có nên lấy mô hình của Trung Quốc để áp dụng
vào cách quản lý tập đoàn của Việt Nam nhằm
kiểm soát chúng hiệu quả hơn hay không. TS
Lê Đăng Doanh nói:
Trung Quốc có
những tập đoàn rất lớn họ có những kinh
nghiệm về quản lý như họ ký một hợp đồng với
ông chủ tịch Hội đồng quản trị rằng, ông
phải cam kết tăng năng suất lao động bao
nhiêu phần trăm. Phải tiết kiệm điện, năng
lượng bao nhiêu phần trăm. Phải nâng cao
xuất khẩu bao nhiêu phần trăm.....Nếu ông
đồng ý ký vào đó thì tới thời hạn mà ông
không thực hiện được thì ông sẽ mất chức.
Kinh tế Việt Nam mặc
dù đang khởi sắc và tương đối ổn định trong
nhiều năm qua, nhưng về lâu về dài nhiều tổ
chức tài chánh uy tín quốc tế nhận định mối
lo tiềm ẩn của Việt Nam vẫn là sự sụp đổ của
các tập đoàn kinh tế nhà nước. Vinashin chưa
phải là bài học cuối cùng và tác hại của nó
không thể xem thường như nhiều giới chức
trong bộ máy kinh tế chính trị Việt Nam
tuyên bố.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vinashin-a-ship-without-a-destination-part-1-Mlam-07082010152108.html
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/kinh-te/Vinashin-a-ship-without-a-destination-Part%202-MLam-07092010083511.html