Diễn Đàn
(Paris)
23-1-10
Vụ án "lật đổ" hay bản án chế độ?
Nguyễn Ngọc Giao
Đại sứ Anh tại Việt
Nam, ông David Kent, có lý khi ông cho rằng bản án đối với các ông
Trần Đình Duy Thức (16 năm tù), Nguyễn Tiến Trung (7 năm), Lê Công
Định và Lê Thăng Long (5 năm) tác hại đến "thanh danh của Việt Nam".
Có lý không phải vì ông là đại diện cho một Vương quốc lập hiến,
càng không phải vì Vương quốc "Sư tử già nua" ấy là mẫu mực toàn
bích của dân quyền, dân chủ và nhân quyền. Người Việt Nam không ai
quên rằng, cách đây 65 năm, quân đội Anh cặp bến Sài Gòn với nhiệm
vụ giải giới phát xít Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, đã mang theo dưới
hầm tàu sư đoàn của tướng Leclerc để lập lại chế độ thực dân Pháp ở
Viêt Nam. Cả thế giới đều biết rằng ở Hồng Kông, trong gần suốt 100
năm, dân chủ chưa hề là mối quan tâm của chính quyền Anh. Cho gần
đến ngày Anh phải trao trả "nhượng địa" này cho Trung Quốc... Bất
luận thế nào, ngày nay, dưới lá cờ đỏ 5 sao của Cộng hoà Nhân dân
Trung Hoa, người dân Hồng Kông có trong tay và sử dụng những quyền
dân chủ tối thiểu mà hơn một tỉ người Hoa Lục chưa hề có, và họ
không sẵn sàng để cho Bắc Kinh tước đoạt những quyền cao quý ấy, cho
dù ý đồ của nhà cầm quyền Anh cách đây 20 năm chẳng "trong sáng"
chút nào, chẳng qua chỉ là một trò chơi khăm Bắc Kinh. Nhưng lịch sử
đôi khi cũng là thành quả của những trò chơi khăm. Điều ấy, người
Việt Nam, nhất là những người cộng sản Việt Nam -- ít nhất những
người biết học sử -- cũng biết rất rõ : nếu không có luật
habea corpus và những nhân
tố pháp quyền của nền dân chủ Anh, cách đây 80 năm, một nhà cách
mạng Việt Nam ắt đã bị trao trả cho mật thám Pháp để bị thủ tiêu
trên Biển Đông hay xử tử hình. Nhà cách mạng ái quốc ấy, ngày mồng 2
tháng 9 năm 1945, đã long trọng tuyên bố thành lập một nhà nước dân
chủ đa đảng ở Việt Nam.
Ông Kent có lý, vì
một chính quyền có "đồng thuận cao" ở Quốc hội của một nước hoàn
toàn độc lập từ 35 năm nay, hoà bình liên tục trong suốt 20 năm qua,
có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tuyên
bố làm bạn với mọi người, không thể "vẹn toàn thanh danh" khi bắt
giam, rồi kết án tù mấy cá nhân đơn lẻ, dưới tội danh "âm mưu lật đổ
chế độ" khi mà "vũ khí" duy nhất của họ là bàn phím, và phương tiện
tuyên truyền, tập hợp, tổ chức duy nhất của họ là môt công cụ phi
vật thể: mạng internet.
Người ta có thể tiếc
rằng tuổi trẻ của Nguyễn Tiến Trung khiến anh nông nổi đến mức ngây
ngô khi ca ngợi George W. Bush, người ta có thể ngạc nhiên trước
quan niệm "đa đảng" khá độc đáo của luật sư Lê Công Định (một mình
muốn thành lập hai ba đảng cùng một lúc), người ta có thể thất vọng
khi thấy họ cả tin đối với những bè nhóm ma giáo và ồn ào ở nước
ngoài (trách họ sao được, khi một nhân vật lão thành như ông Hoàng
Minh Chính còn nhẹ dạ hơn họ?), nhưng tiên thiên, không ai có quyền
phủ nhận lòng yêu nước và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phát
triển, dân chủ, cởi mở của họ. Càng không thể chấp nhận chính sách
đàn áp của chính quyền và bản án phi nghĩa ngày 20.1.2010 vừa qua
của Toà án Thành phố Hồ Chí Minh.
Đường lối thô bạo
ấy, ngay trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam cũng không được tán
thành. Theo những nguồn tin đáng tin cậy, việc bắt giam bốn bị cáo
là một quyết định của một thiểu số (4 người) trong Bộ chính trị ĐCS,
mấy người trong cơ quan này (trong đó có ông Nguyễn Minh Triết, chủ
tịch nước) đã bỏ phiếu chống, còn đa số không lựa chọn. Trong đời
sống không mấy lành mạnh từ mấy năm nay của lãnh đạo ĐCS, đã hơn một
lần, người ta biến thành nghị quyết của Bộ chính trị một lời nói
lửng lơ vào cuối buổi họp, không hề được thảo luận (thí dụ điển hình
là việc ông Nông Đức Mạnh, tổng bí thư, vì nghe thày phong thuỷ xúi
bậy, muốn xây toà nhà Quốc hội ở Khu hoàng thành Thăng Long). Nhưng
đây là lần đầu tiên, ý kiến của một thiểu số (4/15) đã bị biến thành
một quyết định của Bộ chính trị, không hề được thảo luận và biểu
quyết trở lại. Chỉ một việc này cũng nói lên tính nghiêm trọng của
tình hình đất nước.
Nghiêm trọng vì tình
hình đất nước đang trải qua một cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh
tế, xã hội, văn hoá và tinh thần. Nghiêm trọng hơn nữa là sự bất cập
của đảng cầm quyền và hành xử của nó trước tình hình ấy.
Cuộc xử án vừa qua
chỉ là một trong muôn vàn chỉ dấu, thậm chí không phải là chỉ dấu
nghiêm trọng nhất (nếu được phép xếp thứ tự cấp bậc nghiêm trọng khi
bàn tới sinh mạng chính trị của những thanh niên và trung niên dũng
cảm). Hành xử của chính quyền trong vụ bauxite Tây Nguyên biểu lộ
khá toàn diện và sâu xa tình huống ấy: cho Trung Quốc khai thác thô
quặng bô-xít tại một vùng chiến lược bằng những phương pháp lạc hậu,
tác hại môi sinh, đời sống và văn hoá của đồng bào Tây Nguyên. Thoạt
tiên là một câu "lãng xẹt" trong một tuyên bố chung năm 2001 (Nông
Đức Mạnh - Giang Trạch Dân). Rồi dưới sức ép vừa thô bạo vừa tinh vi
(kinh tế, tài chính, chính trị, và có lẽ cả sinh hoạt cá nhân) của
Bắc Kinh, nó đã biến thành một "chủ trương lớn", chỉ thị Quốc hội
phải bỏ phiếu "đồng thuận cao". Trong khi đó, từ đại tướng Võ Nguyên
Giáp tới thiếu tướng công an tại chức Lê Văn Cương, từ đảng viên tới
trí thức sinh viên, từ những cơ quan đoàn thể chính thức (Liên hiệp
các Hội khoa học kĩ thuật - VUSTA) cho đến những viện nghiên cứu tư
nhân độc lập (như IDS), đều phản đối mạnh mẽ. Quan trọng hơn, như
chính những người phụ trách công tác tuyên giáo đã báo cáo với Bộ
chính trị: những người phản biện đều đưa ra luận chứng chính xác,
đầy đủ, những người tán thành (đặc biệt là tập đoàn TKV) thì không.
Thật đáng kinh ngạc
là những người cầm quyền đã đối phó như họ đã làm: cấm báo chí phản
ánh, cấm phản biện công khai (quyết định 97, dẫn tới việc IDS tự
giải thể để phản đối)... Chính sự cấm đoán này đã dẫn tới kết quả mà
chính quyền không thể ngờ: số độc giả của báo chí giảm sút, và hơn
17 triệu lượt người vào mạng bauxite Việt Nam để tìm hiểu sự thực,
trong vòng 7 tháng. Lại đối phó: trong khi toà án TP HCM "khẩn
trương" xử và kết án trong vòng một ngày thì ở Hà Nội, giáo sư
Nguyễn Huệ Chi (chuyên gia về văn học Lý Trần) phải "làm việc" từ
sáng đến tối tại cục an ninh.
Mạng Bauxite Việt
Nam do Nguyễn Huệ Chi điều hành đã bị đánh sập từ cuối tháng
12.2009. Chưa biết nhóm côn đồ internet này ở đâu (Việt Nam, Hồng
Kông...), nhưng ở tu viện Bát Nhã, rõ ràng côn đồ không xuất phát từ
Hồng Kông... Tại Đồng Chiêm, phá thánh giá dựng trên một điểm cao
(chính quyền nói là xây dựng trái phép, có thể) là cả một lực lượng
cảnh sát hùng hậu (mang khiên đề chữ to CSDC, rồi cả POLICE nữa, như
trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng). Thật khó giải thích cách hành xử
thô bạo và thất sách này, khi người ta nhớ rằng trong vụ "Toà Khâm"
ở 42 Nhà Chung, chính quyền đã khôn ngoan biết chuyển bại (mưu đồ
của quan chức thành phố Hà Nội biến thửa đất này thành khách sạn,
chia chác tiền phát mãi) thành vườn hoa (nghĩa là thành "thắng" cho
người dân, cả lương lẫn giáo).
Người ta có thể
"nhân bản" những thí dụ cho thấy sự bất cập của chính quyền trong
thời gian vừa qua để xử lý trăm công nghìn việc của đất nước (vụ bà
Tư Hường chiếm đất ở Nha Trang, các vụ biểu tình bảo vệ chủ quyền ở
Hoàng Sa - Trường Sa, các vụ Trung Quốc hãm hại và làm tiền ngư dân,
vụ xi-căng-đan Huỳnh Ngọc Sĩ, các vụ việc lớn nhỏ về giáo dục, nhà
đất, tham nhũng, vụ Đào Duy Quát...). Với tình hình hiện nay (và với
triển vọng Đại hội XI của ĐCS họp đầu năm 2011), có thể tin chắc
rằng các vụ việc sẽ tiếp tục, ngày mỗi nhiều và nghiêm trọng hơn,
báo chí tuy đã được ép vào "lề phải" một cách nghiệt ngã sẽ không
thể nào bịt kín.
Vấn đề là sự ứng phó
và khả năng của chính quyền.
Chính sách đàn áp,
xiết chặt báo chí, ngăn chặn internet... tiến hành từ mấy năm nay
chứng tỏ nhà cầm quyền thấy rõ triển vọng tình hình và hiểu rõ họ
không còn uy tín trong dư luận xã hội (kể cả trong đa số đảng viên).
Cách đây 20 năm,
trước sự đổ sụp của Liên Xô, trong lãnh đạo ĐCSVN đã có một xu hướng
không lành mạnh là dựa vào Trung Quốc (cuộc họp Thành Đô, giải pháp
"Cam pu chia đỏ"...), tuy không thành nhưng cũng đã để lại những bài
học chua xót. Song nhờ tiếp tục đổi mới về kinh tế, và nhờ sự thoả
hiệp mặc nhiên với xã hội dân sự (để cho người dân chủ động làm ăn,
sản xuất), người dân cũng như chính quyền (và các cường quốc) đều
không muốn có sự đảo lộn..., Việt Nam đã chuyển từ một chế độ mệnh
danh "xã hội chủ nghĩa" sang hình thái tư bản chủ nghĩa hoang dại
với chế độ độc đảng chuyên quyền, với những thay đổi to lớn theo cả
hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Lịch sử 20 năm qua cho thấy
chế độ cực quyền đứng vững và đạt được những thành quả đáng kể vì
song song với trấn áp, nó biết tạo ra và nương dựa vào một sự đồng
thuận nhất định của xã hội.
Sự đồng thuận ấy
đang cạn kiệt, trấn áp đơn thuần chỉ dẫn tới thất bại và hỗn loạn.
Xã hội Việt Nam có thể, và chỉ có thể vượt qua được cuộc khủng hoảng
hiện nay, đất nước Việt Nam chỉ có thể đứng vững trước hiểm hoạ
"quyền lực cứng và quyền lực mềm" của chủ nghĩa đại hán trên bộ,
trên biển, trong nội bộ và trên quốc tế, trên cơ sở một đồng thuận
mới. Đó là sự đồng thuận về quyền lợi của quốc gia, lợi ích lâu dài
của các thế hệ, về sự tồn tại và phát triển của xã hội dân sự và
công dân.
Sự đồng thuận ấy tuỳ
thuộc vào nhận thức của toàn xã hội cũng như vào sự thức tỉnh từ
chính quyền.
Nguyễn Ngọc Giao
http://www.diendan.org/viet-nam/vu-an-lat-111o-hay-ban-an-che-111o/ |